Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch

1/5 - (7 bình chọn)

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp khai thác hát đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng phục vụ hoạt động du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào và bất cứ mùa nào cũng có những những giá trị văn hóa riêng mang đậm bản sắc dân tộc. Gắn liền với bước đi của lịch sử, lễ hội như một bảo tàng bách khoa phong phú về đời sống và tinh thần, văn hóa của dân tộc, có sức lan tỏa và tác động sâu sắc tới tâm hồn, tâm tư, tình cảm, cốt cách của bao thế hệ.

Trong nhiều năm vừa qua, lễ hội truyền thống ở Việt Nam có những thăng trầm: Có khi lắng xuống, có khi lại phát triển ồ ạt, thiếu tính tổ chức. Trong những nguyên nhân của thời kỳ lắng xuống ấy có thể kể đến những nguyên nhân khách quan như chiến tranh hay kinh tế nước nhà còn nhiều khó khăn; trong những nguyên nhân chủ quan phải kể đến nhận thức và cách thức quản lý của các nhà quản lý văn hóa – xã hội. Có lúc lễ hội bị coi là một sự lãng phí, tốn kém tiền của của nhân dân, là mê tín dị đoan… nên đã đưa ra những quyết định quản lý lễ hội nặng về cấm đoán hành chính, thiếu căn cứ khoa học. Chính vì thế, nhiều lễ hội truyền thống không được vận hành theo đúng qui luật của văn hóa, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của lễ hội theo đó cũng bị mai một. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Lễ hội đã đóng góp một phần không nhỏ vào hoạt động du lịch. Do đó vấn đề đặt nên hàng đầu trong thời kỳ đất nước ta bước vào con đường hội nhập hiện nay. Đó là làm sao khai thác được các lễ hội theo hướng bền vững cho hoạt động du lịch, mà không mất đi giá trị truyền thống vốn có của nó. Đây là một lý do thực tiễn góp phần không nhỏ vào việc định hướng những bước đi lâu dài trong việc phát triển du lịch góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước.

Huyện Thủy Nguyên thuộc Thành Phố Hải Phòng được cả nước biết đến không chỉ là một vùng đất anh hùng trong kháng chiến mà còn là một thành phố anh hùng trong công cuộc công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Luôn vững bước đi lên trong đó có phần đóng góp không nhỏ của ngành Du lịch. Khi du lịch được coi là “con gà đẻ trứng vàng” thì nhân tố không nhỏ góp phần thúc đẩy du lịch Thủy Nguyên nói chung và Hải Phòng nói riêng với các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc riêng của khu vực.

Thủy Nguyên là một trong những vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, là nơi có nhiều lễ hội trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước trong đó có các giá trị văn hóa phi vật mang đậm bản sắc dân tộc trong đó có Hát đúm là hoạt động được nhà nước và thế giới công nhận là di sản văn hóa phi vật thể hiện nay đang được tiến hành khai thác một cách có hiệu quả để phục vụ cho nhu cầu du lịch. Tuy nhiên chưa được tiến hành khai thác một cách bền vững trong hoạt động du lịch.

Xuất phát từ lý do trên, em đã chọn đề tài Thực trạng và giải pháp khai thác hát Đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng phục vụ hoạt động du lịch” làm khóa luận tốt nghiệp, với mong muốn góp phần phát triển hoạt động du lịch của thành phố, tận dụng triệt để các giá trị của văn hóa phi vật thể trong hoạt động du lịch cũng như tìm ra các giải pháp bảo tồn, tránh bị tổn thất và mai một những giá trị truyền thống vốn có của nó, từ đó đưa ra những giải pháp trong việc khai thác các giá trị văn hóa mang tính bản sắc dân tộc trên địa bàn Thủy Nguyên- Hải Phòng. Khi lựa chọn đề tài trên làm khóa luận em luôn ý thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của đề tài là mang giá trị phục vụ cho hoạt động du lịch, nhằm thỏa mãn tâm nguyện của em về việc khai thác các lễ hội của thành phố Hải Phòng nói riêng của cả đất nước Việt Nam nói chung theo hướng bền vững trong hoạt động du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động văn hóa nghệ thuật hát đúm trên địa bàn Huyện Thủy Nguyên. Trong đó chú trọng đến việc đánh giá về giá trị của các hát đúm, thực trạng của há Đúm tới hoạt động du lịch.

3. Mục đích nghiên cứu

Thực hiện bài khóa luận về đề tài “Thực trạng và giải pháp khai thác hát Đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng phục vụ hoạt động du lịch” nhằm mục đích nâng cao những hiểu biết, những nhận thức về hoạt động du lịch trên địa bàn.

Vận dụng những kiến thức lễ hội, các giá trị di sản văn hóa vào mục đích nghiên cứu của đề tài, nâng cao nhận thức, tri thức trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, đồng thời mở rộng thêm kiến thức mình còn hổng.

Nhằm cung cấp nguồn tư liệu, hiểu biết về thực tiễn và lý luận, góp phần tìm hiểu, tôn vinh các giá trị của hát đúm để phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Cung cấp tư liệu nghiên cứu cho các bạn sinh viên khóa sau và những ai muốn tìm hiểu về vấn đề trên.

4. Nhiệm vụ của đề tài

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về các giá trị, thực trạng cho việc bảo tồn và khai thác các lễ hội tại Thủy Nguyên Hải Phòng theo hướng bền vững trong hoạt động du lịch. Từ đó nêu ra các giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả các duy trì và bảo tồn hát đúm theo hướng bền vững cho phục vụ khai thác phát triển du lịch. Đồng thời trên cơ sở đó sẽ xây dựng các tour du lịch lễ hội, các di sản văn hóa tại địa bàn kết hợp với các điểm du lịch trong thành phố, với các huyện và tỉnh lân cận để tạo thành một quần thể du lịch thống nhất. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

5. Thời gian nghiên cứu

Bài khóa luận được hoàn thành trong khoảng thời gian từ 15/10/2018 đến 5/1/2019. Các số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài được lấy từ những năm gần đây, đặc biệt là năm 2015, 2016, 2017.

6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã sử dụng một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu sau:

6.1. Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: khi nghiên cứu về các giá trị, thực trạng của lễ hội thì phải đặt trong sự vận động và phát triển của chính các lễ hội đó của từng địa phương, cùng với các thành tố của các thành phần khác. Nghiên cứu các lễ hôi trong quá trình lịch sử, hiện tại và dự báo cho tương lai, đồng thời khi nghiên cứu phải dựa trên quá trình vận động của xã hội.

Quan điểm hệ thống: Vận dụng quan điểm này để sắp xếp tài liệu trong bài viết. Đánh giá các lễ hội Hải Phòng trong lễ hội Việt Nam, đặt lễ hội du lịch Hải Phòng trong lễ hội cả nước.

Quan điểm phát triển du lịch bền vững; trong bài viết cần phải vận dụng các quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu các quan điểm phát triển bền vững trong việc phát triển của đề tài.

Quan điểm kế thừa: khi nghiên cứu vấn đề này em đã sử dụng những kiến thức và các ưu điểm của các công trình nghiên cứu của các khóa trước để tránh lãng phí về thời gian, công sức và tài chính.

Quan điểm chính sách và phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển và bảo tồn văn hóa của Nhà nước.

6.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thực địa và thu thập tài liệu Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Đây là phương pháp dùng để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn liền với thực tiễn bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn. Quá trình thực địa giúp cho em sưu tầm và thu thập tài liệu được phong phú thêm. Để việc học tập và nghiên cứu có hiệu quả cao gắn lý thuyết với thực tiễn. Đây là phương pháp quan trọng giúp người viết tiếp cận được các thông tin chính xác, thiết lập được ngân hàng số liệu cho việc hoàn thiện đề tài.

Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp này dùng để phỏng vấn các du khách tham gia hoạt động du lịch tới các lễ hội trên địa bàn thành phố Thủy Nguyên – Hải Phòng, những người làm công tác quản lý, tổ chức các hoạt động trong lễ hội và những người trực tiếp tham gia vào bảo tồn và phát triển các giá trị của lễ hội. Nhằm nắm được tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương cũng như nhu cầu của khách, từ đó có cái nhìn chính xác về việc sử dụng tài nguyên cho việc phục vụ khai thác phát triển du lịch.

Phương pháp bản đồ tranh ảnh

Phương pháp này cho phép thu thập những thông tin mới, phát hiện phân bố không gian đối tượng nghiên cứu. Từ đó có thể nhận thức đầy đủ hơn các giá trị của lễ hội. Đặc biệt phương pháp này còn là phương tiện để cụ thể hóa biểu đạt kết quả nghiên cứu trên thực tế, có điều kiện đối chiếu, bổ sung vào các thông tin đề tài.

Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu vấn đề về lễ hội thì việc trưng tập ý kiến của các chuyên gia có uy tín là rất cần thiết. Ý kiến của các chuyên gia giúp cho bài nghiên cứu của em sâu sắc và sát thực tế hơn.

Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp

Phương pháp này nhằm định hướng, thống kê, phân tích cho người viết tính tương quan để phát hiện ra yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu. Việc phân tích, so sánh tổng hợp các thông tin và số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn được người viết tiến hành một cách hệ thống. Kết quả của phương pháp này là mang lại cho người viết cơ sở khoa học cho việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các định hướng, các chiến lược và giải pháp phát triển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mà em đang thực hiện.

7. Kết cấu của khóa luận Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Trong khóa luận, ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài và tổng quan về hoạt động hát Đúm tại Thủy Nguyên
  • Chương 2: Thực trạng hát Đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
  • Chương 3: Một số giải pháp cho việc bảo tồn và khai thác hát Đúm theo hướng bền vững trong hoạt động du lịch.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HÁT ĐÚM TẠI THỦY NGUYÊN

1.1. Một số vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn về du lịch và việc khai thác các loại hình văn hóa nghệ thuật phục vụ du lịch

1.1.1. Khái niệm du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo C.Mac: Thước đo văn minh của một con người là sử dụng khoảng thời gian rỗi bổ ích. Do đó có thể hiểu du lịch là sử dụng thời gian rỗi của con người vào việc tham quan, giao lưu văn hóa.

Dưới con mắt các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”.

Tóm lại “Du lịch” có thể được hiểu là:

Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng.

Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Du lịch, theo nghĩa nguyên tiếng Hán là đi chơi có lịch trình, trong đó “du” có nghĩa là rong chơi, ngao du, còn “lịch” có nghĩa là lịch trình, là sự sắp xếp về thời gian. Chính vì nội dung này nên người ta mới có thể phân biệt được du lịch với các hình thức rời khỏi nơi cư trú thường xuyên khác như du học, đi học xa, làm xa…

Du lịch là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu đời và hình thức ban đầu của nó có lẽ là hoạt động du mục, du canh, du cư đi tìm những nguồn thức ăn trong tự nhiên của người nguyên thủy, rồi đến các hoạt động đi khai phá, tìm kiếm những vùng đất lạ của các lãnh chúa phong kiến. Người ta thường coi Christophor Columbur là người đầu tiên đi du lịch khi ông khám phá ra Châu Mỹ. Ngày nay, các loại hình du lịch ngày càng được đa dạng hóa, chuyên môn hóa để đáp ứng một cách tốt nhất, đầy đủ nhất cho nhu cầu đi du lịch của du khách. Với sự phát triển mọi mặt về đời sống kinh tế xã hội, du lịch đã trở thành một nhu cầu quan trọng của người dân nhiều nước trên thế giới. Muốn du lịch thực sự phát triển, khách du lịch ngày càng đông hơn, thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực từ nhiều mặt của nhiều bên. Trước tiên là phải phát triển kinh tế của người dân vì kinh tế là một phần thiết yếu cấu tạo nên hành trình du lịch. Sau đó là sự quản lý của nhà nước về du lịch, sự tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường quảng cáo tuyên truyền, thu hút khách của nhà nước, của các hãng lữ hành.

Đối với nước ta là một nước đang phát triển do vậy có thể nói một cách khách quan là điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở đón tiếp khách, các dịch vụ bổ sung và các loại hình du lịch như là du lịch mua sắm, du lịch tiêu dùng còn hạn chế. Nhưng bên cạnh đó, nước ta có những điều kiện thuận lợi đó là tài nguyên du lịch thiên nhiên như rừng, biển của nước ta rất phong phú và có giá trị, nước ta lại có bề dày lịch sử văn hóa với nhiều công trình kiến trúc tuy không to lớn đồ sộ nhưng rất tinh tế, độc đáo, nước ta còn có rất nhiều những phong tục tập quán đặc biệt có giá trị nhân văn sâu sắc. Đó chính là những điều kiện thuận lợi để nước ta phát triển thế mạnh của mình là du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa. Với định hướng của Đảng và Nhà nước là phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cùng với việc đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì việc phát triển du lịch đặc biệt là du lịch văn hóa đang trở thành điểm nóng, thành sự quan tâm của nhiều người, nhiều ngành.

1.1.2. Tài nguyên du lịch và phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hoá – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thế lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kĩ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp tạo ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Theo các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: “Tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”.

Khoản 4 (Điều 4, chương 1) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hoá – lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của cong người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”. “Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường” (Bùi Thị Hải Yến). Trong các định nghĩa trên em thấy định nghĩa về taì nguyên du lịch của cô Bùi Thị Hải Yến là phù hợp nhất với nội dung nghiên cứu trong khóa luận của mình. Định nghĩa đó nêu được: Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên và các đối tượng văn hoá, lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch; Tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên đã, đang và tài nguyên chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch, nó càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao bao nhiêu thì càng có sức hấp dẫn đối với du khách bấy nhiêu và đem lại hiệu quả kinh doanh du lịch cao.

Dựa vào các cách phân loại trên, tài nguyên du lịch được chia làm 2 loại chính:

Tài nguyên du lịch tự nhiên: Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, nguồn nước, thực và động vật.

Tài nguyên du lịch nhân văn: Các di tích lịch sử-văn hoá, kiến trúc; các lễ hội; các đối tượng gắn liền với yếu tố dân tộc học; các làng nghề thủ công truyền thống; các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác.

1.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình lịch sử tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch. Nhóm tài nguyên này có giá trị nhận thức hơn giá trị giải trí, ít phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, thường tập trung ở các khu vực quần cư và thu hút du khách có mức thu nhập, có trình độ văn hoá, nhận thức cao hơn. Bao gồm:

Các lễ hội

Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ, khát khao mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.

Lễ hội gồm có hai phần: Phần lễ và phần hội

Phần lễ với những nghi thức trang nghiêm, trọng thể, mở đầu ngày hội, mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về lịch sử hay một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển xã hội. Nghi thức lễ hội nhằm bày tỏ tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hoà và sự phồn vinh, hạnh phúc.

Phần hội: được diễn ra với các hoạt động điển hình, tượng trưng cho tâm trí cộng đồng, văn hoá dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với lịch sử, xã hội và thiên nhiên. Trong lễ hội thường có các trò chơi, thi hát…Đình làng thường là nơi diễn ra các lễ hội, các lễ hội làng thường vào mùa xuân.

Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công truyền thống là những nghề mà bí quyết về công nghệ sản xuất ra các sản phẩm mang những giá trị thẩm mỹ, tư tưởng triết học, tâm tư tình cảm, ước vọng của con người.

Nghề thủ công truyền thống là nghề sản xuất mà các nghệ thuật do nghệ nhân dân gian sáng tạo, gìn giữ phát triển và truyền từ đời này sang đời khác cho những người cùng huyết thống hoặc cùng làng bản. Sản phẩm được tạo ra chủ yếu bằng các công cụ sản xuất thô sơ và bằng tài nghệ tinh xảo, khéo léo của các nghệ nhân. Các sản phẩm thủ công truyền thống không những mang giá trị sử dụng mà còn có giá trị mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài nghệ, tâm tư, ước vọng của người làm ra chúng. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Chính vì vậy, nghệ thuật sản xuất hàng thủ công cổ truyền và các làng nghề thủ công truyền thống là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quý giá hấp dẫn du khách quốc tế đến từ các quốc gia công nghiệp phát triển nơi mà nghề và làng nghề thủ công cổ truyền đã bị mai một nhiều.

Làng nghề thủ công truyền thống có thể được quan niệm: “là những làng nghề có các nghề sản xuất công cụ hàng hóa bằng các công cụ thô sơ và sức lao động của con người đã được hình thành một thời gian dài trong lịch sử, nghệ thuật sản xuất hàng hóa được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở trong làng. Sản phẩm hàng hóa được sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong làng mà còn được bán ở thị trường trong nước và quốc tế”.

Trong quá trình sản xuất và sinh sống, nhiều truyền thống văn hóa đặc sắc của làng nghề thủ công truyền thống đã được hình thành, bối đắp, bảo tồn như: những quy định, hương ước của làng, truyền thống văn hóa ứng xử, văn hóa nghệ thuật. Khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao là những điều kiện để xây dựng các di tích lịch sử văn hóa, đường sá…

Khi du khách đến tham quan nghiên cứu ở các làng nghề thủ công truyền thống, họ không chỉ tìm hiểu, thưởng thức những giá trị nghệ thuật, sản xuất nghề, mua những sản phẩm thủ công quý làm quà cho người thân của mình mà còn là dịp để du khách tìm hiểu, trải nghiệm, hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của các làng nghề thủ công truyền thống.

Văn hoá nghệ thuật

Trong quá trình lịch sử phát triển ở mỗi quốc gia, các nghệ nhân dân gian cùng với nhân dân đã sáng tạo, nuôi dưỡng, bảo tồn được nhiều làn điệu dân ca, điệu múa, bản nhạc, các loại nhạc cụ, các loại hình biểu diễn nghệ thuật nói chung…

Những giá trị văn hóa nghệ thuật là những món ăn tinh thần của nhân dân , thể hiện giá trị thẩm mỹ, truyền thống và bản sắc văn hóa, tâm tư, tình cảm, ước vọng của con người.

Nếu phân loại theo đối tượng phục vụ là công chúng, hay giai cấp vua, quan hay theo những quy định về màu âm, ca từ, diễn viên, nhạc cụ, các loại hình biểu diễn, các bản nhạc, không gian diễn xướng, thì các nhà nghiên cứu phân văn hóa nghệ thuật truyền thống thành hai loại hình: nhã nhạc và dân ca. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Nếu phân loại theo thời gian ra đời và sự phát triển, các nhà nghiên cứu phân thành hai loại là văn hóa nghệ thuật truyền thống và văn hóa nghệ thuật hiện đại.

Các giá trị văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là những kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền miệng của thế giới, không những góp phần tạo ra sự đa dạng về sản phẩm du lịch, mà còn có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách. Bởi vì, tài nguyên du lịch văn hóa nghệ thuật vừa mang lại cho du khách sự thư giãn, vui vẻ, nâng cao đời sống tinh thần, làm lãng quên bao lo toan, vất vả thường nhật, vừa mang lại sự nhận thức, cảm nhận cái đẹp, giúp cho du khách có thể tận dụng thời gian rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm.

Văn hoá ẩm thực

Ăn uống là nhu cầu cấp thiết không thể thiếu được đối với mỗi người. Nhưng khi nói tới văn hóa ẩm thực hay nghệ thuật ẩm thực thì không chỉ nói đến nhu cầu ăn no, ăn đủ chất mà còn nói đến cái đẹp, nghệ thuật chế biến món ăn, không gian, thời gian ăn uống, cách ăn uống của con người, quan niệm triết học và nhu cầu ăn uống được nâng lên thành nghệ thuật.

Mỗi một vùng đất, một quốc gia có điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa riêng nên cũng có nhiều món ăn, đồ uống đặc sản riêng. Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hóa của mỗi quốc gia được sáng tạo, bảo tồn, bồi đắp qua nhiều thời đại, là dấu ấn của mỗi vùng đất đối với du khách.

Khi đi du lịch, du khách không chỉ mong muốn được đáp ứng nhu cầu đi lại, lưu trú, mua sắm, chiêm ngưỡng nâng cao nhận thức về các loại tài nguyên du lịch mà họ còn mong muốn được thưởng thức những món ăn, đồ uống đặc sắc của những địa phương, nâng cao nhận thức giá trị nghệ thuật của nhiều quốc gia khác.

Thơ ca và văn học

Các tác phẩm thơ ca, văn học là quốc hồn, quốc túy của mỗi quốc gia.

Thơ ca và ca và văn học là nghệ thuật sử dụng ngôn từ để phản ánh cái đẹp, tình yêu của con người với thiên nhiên, con người với nhau, với quê hương, đất nước và đời sống xã hội – sản xuất của con người. Kho tàng thơ ca văn học dân gian phong phú đồ sộ, nhiều bài thơ, truyện kể dân gian ca ngợi vùng đất, danh lam thắng cảng cũng tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với du khách.

Văn hoá ứng xử và những phong tục tập quán đẹp Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Sản phẩm du lịch là những sản phẩm hàng hóa đặc biệt rất khó có thể đo lường chất lượng bằng các thiết bị kỹ thuật một cách chính xác và thường được xác đinh bằng một số tiêu chí đánh giá xếp hạng và bằng sự cảm nhận qua các giác quan, tình cảm, sở thích của du khách.

Do vậy văn hóa ứng xử, phong tục, tập quán sinh sống, sản xuất khác lạ, tốt đẹp các địa phương, các quốc gia trở thành tài nguyên du lịch quý giá, vừa góp phần tạo nên môi trường xã hội, môi trường tự nhiên tốt đẹp, vừa tạo ra sự đa dạng, độc đáo của sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách.

Ngoài việc ứng xử có văn hóa với du khách thì truyền thống văn hóa tốt đẹp, lối ứng xử thân thiện, văn minh lịch sự của con người với nhau, của con người với thiên nhiên tại các điểm đến cũng tạo ra môi trường du lịch hấp dẫn du khách.

Tài nguyên du lịch gắn với văn hoá tộc người

Mỗi dân tộc có một điều kiện sống, đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng và có địa bàn cư trú nhất định. Khi khoảng cách về không gian địa lý được rút ngắn rất nhiều nhờ những thành tựu trong lĩnh vực giao thông, viễn thông và internet, trên Trái Đất không còn những nơi bí ẩn, những nơi chưa được khám phá. Nhưng về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau. Đó chính là sức hút trong du lịch dân tộc học.

Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục lạ về cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc …

Trên thế giới, mỗi dân tộc đều thể hiện những sắc thái riêng của mình để thu hút khách du lịch. Việt Nam với 54 sắc tộc vẫn giữ được những phong tục tập quán, hoạt động văn hoá văn nghệ đặc sắc, những làng nghề truyền thống, nghệ thuật ẩm thực phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc.

Các hoạt động mang tính sự kiện Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Các hoạt động mang tính sự kiện như liên hoa phim ảnh, ca nhạc quốc tế, các giải thể thao lớn…Các địa phương, các quốc gia đứng ra đăng cai tổ chức các sự kiện lớn đó cũng là những đối tượng hấp dẫn du khách và là điều kiện, tài nguyên quan trọng để phát triển loại hình du lịch MICE (tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event) là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác…).

1.1.4. Vai trò tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể với phát triển du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể góp phần đa dạng về loại hình hình du lịch chung của ngành du lịch.Bên cạnh đó tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể còn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Sự phát triển tài nguyên du lịch nhân văn phi vật đem lại hiệu quả kinh tế cao do trước hết nó khai thác những giá trị tài nguyên sẵn có cả về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Trong quá trình khai thác những tài nguyên du lịch không bị mất đi nếu biết bảo tồn gìn giữ và cũng không gây ra ô nhiễm môi trường như sản xuất công nghiệp và một số ngành kinh tế khác. Có lẽ đó là là lý do du lịch được gọi là ngành công nghiệp không khói.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể của mỗi quốc gia mang nét đặc trưng riêng của dân tộc đó, không thể bắt chước hay tạo ra được. Nhưng giá trị tài nguyên thiên nhiên là do quá trình kiến tạo hàng nghìn năm của trái đất còn giá trị tài nguyên nhân văn là do con người tạo ra từ đời này sang đời khác. Chính do những ưu điểm này, Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể được coi là cứu cánh của một số quốc gia, góp phần vực dậy nền kinh tế yếu kém và què quặt của họ. Do vậy có thể thấy tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể là một phần quan trong của ngành du lịch, nó góp phần quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và kinh tế đất nước nói chung. Vì vậy cần phải gìn giữ, bảo tồn và tiếp tục phát huy thế mạnh vốn có của ài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể.

1.2. Giới thiệu chung về huyện Thủy Nguyên Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Thủy Nguyên là một huyện lớn nằm bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Phía Bắc, Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh; phía Tây Nam giáp huyện An Dương và nội thành Hải Phòng; phía Đông Nam là cửa biển Nam Triệu. Địa hình Thuỷ Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, vừa có núi đất, núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc. Đây chính là những điều kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thuỷ Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng về ngành nghề bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản và du lịch.

Vị trí địa lý: Nằm ở cửa ngõ phía Bắc thành phố Hải Phòng

  • Diện tích tự nhiên: 242,7 km2
  • Dân số: Trên 31 vạn người
  • Đơn vị hành chính: 35 xã, 2 thị trấn, trong đó có 7 xã miền núi

Thuỷ Nguyên, không chỉ với những người con xa quê lâu ngày mà ngay chính những người dân nơi đây cũng cảm thấy ngỡ ngàng trước sự đổi thay, phát triển nhanh chóng của vùng đất này. Nhiều công trình công nghiệp, dân dụng mọc lên san sát, đường sá được nâng cấp, mở rộng, đời sống nhân dân ngày một cải thiện. Một chiếc áo với những gam màu mới đang khoác lên mình huyện Thuỷ Nguyên, mở ra một hướng phát triển mới, một diện mạo mới với vị thế của một trong những trung tâm đô thị hành chính của thành phố Cảng trong tương lai không xa theo quy hoạch điều chỉnh của thành phố Hải Phòng đến năm 2020.

Tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề, Thuỷ Nguyên đã nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển mạnh về số lượng và quy mô. Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Hiện nay, trên địa bàn huyện có hơn 20 xí nghiệp, nhà máy, hàng trăm cơ sở sản xuất – kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động đã tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh sôi động, cạnh tranh lành mạnh, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng trên địa bàn huyện. Cùng với những thành tựu đạt được, Thuỷ Nguyên còn đón nhận nhiều dự án lớn đang được đầu tư trên địa bàn như: tuyến Quốc lộ 10 từ Bến Kiền, Đá Bạc sang Quảng Ninh; nhà máy nhiệt điện 600 MW (xã Tam Hưng); Nhà máy Xi măng Hải Phòng (thị trấn Minh Đức); mở rộng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Nam Triệu…. Đây sẽ là những nền tảng cơ bản cho sự phát triển của Thuỷ Nguyên trong tương lai.

Bên cạnh đó, phát huy lợi thế của vùng ven đô giáp hải cảng, Thuỷ Nguyên có điều kiện phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ với nhiều thắng cảnh đẹp như: hồ Sông Giá, hang Lương, hang Vua, khu vực núi Tràng Kênh… và nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đền thờ, miếu mạo đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng cùng với những lễ hội truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.

Có thể nói, bức tranh kinh tế Thuỷ Nguyên trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thuỷ Nguyên được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hoá giáo dục.

Công tác y tế, dân số và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa. Đến nay, huyện đã hoàn thành chương trình đưa bác sỹ về cơ sở, sửa chữa các trạm y tế xã, đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại, phục vụ tốt công tác khám, chữa bệnh. Đặc biệt, công tác giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em được quan tâm thường xuyên bằng hành động thiết thực như duy trì tốt hoạt động giảng dạy ở các lớp học tình thương, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hoà nhập cộng đồng.

Các hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ. Công tác xã hội hoá thể thao được đẩy mạnh từ cấp huyện đến cơ sở, góp phần rèn luyện sức khoẻ nhân dân. Các môn bơi lặn, bóng đá thiếu niên nhi đồng, điền kinh trong sân đều đạt thành tích cao.

Về xây dựng cơ bản, huyện chỉ đạo các ban ngành thực hiện xong quy hoạch chi tiết thị trấn Núi Đèo, thị trấn Minh Đức, khu đô thị Bắc Sông Cấm và lập dự án khai thác tài nguyên hồ Sông Giá. Ngoài ra, huyện còn tiến hành xây dựng 2 nhà máy nước loại nhỏ ở xã Tân Dương, Lập Lễ, hệ thống cấp nước ở Lại Xuân, xây dựng 60 bể xử lý chất thải chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Hệ thống giao thông vận tải phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý phương tiện, giải toả hành lang an toàn giao thông được tăng cường, thường xuyên thực hiện chế độ duy tu, sửa chữa hệ thống đường sá. Đến nay, huyện Thuỷ Nguyên đã cơ bản hoàn thành việc bàn giao lưới điện trung áp ở các xã, thị trấn, đưa vào sử dụng 5 công trình bằng nguồn vốn phụ thu và một phần đóng góp của nhân dân trị giá 644 triệu đồng. Bênh cạnh đó, ngành Bưu điện Thuỷ Nguyên cũng đạt được nhiều bước tiến vượt bậc

Thuỷ Nguyên – khởi nguồn của dựng xây, của những tín hiệu mới đang ngày một khởi sắc. Mảnh đất này, chẳng bao lâu nữa, sẽ trở thành một trung tâm đô thị hành chính của Thành phố Cảng. Trong thời gian tới, khi quy hoạch của thành phố được triển khai, Thuỷ Nguyên sẽ hứa hẹn nhiều điều bất ngờ, đột phá trong tốc độ phát triển kinh tế và văn hoá – xã hội

1.3. Vai trò của du lịch với phát triển kinh tế xã hội huyện Thủy Nguyên

Đóng góp vào GDP, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ngày nay, du lịch được xác định như là một ngành dịch vụ, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Sự phát triển du lịch đem lại hiệu quả kinh tế cao do trước hết nó khai thác những giá trị tài nguyên sẵn có cả về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Trong quá trình khai thác những tài nguyên du lịch không bị mất đi nếu biết bảo tồn gìn giữ và cũng không gây ra ô nhiễm môi trường như sản xuất công nghiệp và một số ngành kinh tế khác. Có lẽ đó là là lý do du lịch được gọi là ngành công nghiệp không khói. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Phát triển du lịch là sự phát triển dựa trên lợi thế so sánh. Tài nguyên du lịch của mỗi quốc gia mang nét đặc trưng riêng của dân tộc đó, không thể bắt chước hay tạo ra được. Nhưng giá trị tài nguyên thiên nhiên là do quá trình kiến tạo hàng nghìn năm của trái đất còn giá trị tài nguyên nhân văn là do con người tạo ra từ đời này sang đời khác. Chính do những ưu điểm này, du lịch được coi là cứu cánh của một số quốc gia, góp phần vực dậy nền kinh tế yếu kém và què quặt của họ.

Đẩy mạnh phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Du lịch phát triển góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, vì hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát triển. Đó là các ngành bổ trợ hay liên quan đến du lịch như: Nông nghiệp, công nghiệp, thủ công truyền thống, ngân hàng… Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa. Du lịch chính là thị trường tiêu thụ lớn và ổn định các sản phẩm cho các ngành kinh tế trên. Sự phát triển du lịch không chỉ đơn thuần dựa vào các tài nguyên du lịch mà phải trên cơ sở cung ứng tốt tất cả các nhu cầu của khách. Ngành nông nghiệp cung cấp cho du lịch lương thực, thực phẩm, ngành tiểu thủ công nghiệp cung cấp hàng hóa làm đồ lưu niệm, ngành ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính, phương thức thanh toán… Việc tiêu thụ các sản phẩm này chính là một hình thức xuất khẩu tại chỗ.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại. Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại – dịch vụ, đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Ngày nay, du lịch ngày càng đóng góp một tỷ trọng không nhỏ vào tỷ trọng GDP của toàn xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao chất lượng sức lao động và nâng cao thu nhập của người lao động.

Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của quốc gia đó. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Sự phát triển của du lịch – ngành công nghiệp không khói, được Nhà nước chọn là ngành kinh tế mũi nhọn – đang tạo ra hàng triệu việc làm mỗi năm, góp phần tăng cao tỉ lệ lao động có việc làm, nâng cao chất lượng đời sống của người dân. Trước hết hoạt động du lịch đòi hỏi nhiều lao động dịch vụ với nhiều ngành và nhiều trình độ khác nhau, do đó du lịch càng phát triển thì càng có nhiều cơ hội có việc làm cho xã hội, góp phần giải quyết một vấn đề bức xúc nhất của xã hội hiện nay, thu hút một số lượng lao động rất lớn, nâng cao mức sống của người dân. Đối với nhiều người, du lịch được nhìn nhận như một nghề kinh doanh béo bở, dễ làm. Vì vậy, xu hướng chuyển đổi hay chuyển hướng sang kinh doanh du lịch là một động cơ tốt để mọi người trau dồi, bổ sung các kiến thức cần thiết như ngoại ngữ, giao tiếp, văn hóa, lịch sử.

Góp phần tạo vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Mặc dù ra đời sau các ngành kinh tế khác nhưng du lịch đã sớm khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Ngày nay, khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng cao hơn thì du lịch là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội. Du lịch ngày càng phát triển hơn và được chú trọng đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi của con người. Đối với Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định: phát triển du lịch trở thành một ngành mũi nhọn. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai thác về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống lịch sử văn hóa, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ trong khu vực. Để thực hiện được mục tiêu đó thì trước tiên cần phải có đủ vốn, vì vậy khi du lịch ngày càng phát triển thì nó sẽ tạo tiền đề cho việc tạo ra nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Góp phần hiện đại hóa cơ sở vật chất – kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Du lịch là ngành “sản xuất” nhiều và đa dạng về thể loại dịch vụ, hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch do vậy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch gồm nhiều thành phần khác nhau. Việc tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch đòi hỏi phải có một hệ thống các cơ sở, công trình đặc biệt… Tài nguyên du lịch chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tiêu dùng của khách du lịch. Việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống các công trình. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành kinh tế quốc dân tham gia phục vụ du lịch: thương nghiệp, dịch vụ… cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Phát triển du lịch sẽ mở mang và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng… Giao thông, thông tin liên lạc là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế, và đóng vai trò rất quan trọng đối với du lịch, là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Vì vậy, khi du lịch ngày càng phát triển thì mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc ở mỗi quốc gia, mỗi tỉnh thành phố sẽ không ngừng được hoàn thiện, nâng cao chất lượng để đáp ứng ngày càng tốt hơn cho công tác du lịch.

Tạo điều kiện mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả nhất cho các nước chủ nhà. Xét về mặt kinh tế, các hàng hóa nội địa bao gồm các hàng công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp… được giới thiệu tại chỗ đến khách du lịch, họ sẽ tuyên truyền đến người thân, bạn bè và từ đó có cơ hội mở rộng con đường xuất khẩu cho các mặt hàng này. Còn xét về mặt xã hội, đây là kênh để quảng bá về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người, phong tục tập quán… Đặc biệt du lịch văn hóa ngày càng đông, khách du lịch thiên về tham quan các khu di tích, lịch sử…vì vậy, góp phần làm tôn tạo các ngành nghề thủ công mỹ nghệ nhiều hơn, tô đậm nét văn hóa qua các sản phẩm này.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là du lịch làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau.

1.4. Bài học kinh nghiệm trong khai thác các loại hình văn nghệ dân gian để phục vụ du lịch ở Việt Nam và trên thế giới 

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Hoạt động của ngành kinh tế này không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng của người dân mà còn đóng vai trò quan trọng “xuất khẩu tại chỗ” các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Nhiều nước đã coi khai thác du lịch là ngành “công nghiệp không khói”, mang lại lợi ích vô cùng lớn. Khai thác du lịch không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, mà còn tạo động lực phát triển các ngành kinh tế khác, tạo nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cho người dân, là phương tiện quảng bá hiệu quả hình ảnh đất nước, Vì vậy khai thác các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian để phục vụ du lịch Việt Nam và thế giới là vô cùng cần thiết

Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch. Việt Nam 

Với 54 dân tộc sinh sống trên khắp chiều dài của đất nước, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có phong tục tập quán, truyền thống văn hóa khác nhau. Chính sự đa dạng và phong phú này là điều kiện để Việt Nam có thể phát triển các chương trình văn hóa nghệ thuật để phục vụ phát triển du lịch.

Điển hình là ở Thủ Đô Hà Nội thời gian vừa qua nhiều nhà hát trên địa bàn Thủ Đô đã thực hiện lên rất nhiều những chương trình mới, đọc đáo nhằm hướng đến du khách trong và ngoài nước. Đơn cử ví dụ như Nhà hát múa Rối Thăng Long đỏ đèn 366 ngày. NSND Nguyễn Hoàng Tuấn giám đốc nhà hát mú Rối Thăng Long cho biết, mỗi tháng nhà hát đón gần 10.000 lượt khách quốc tế, 3000 lượt khách nội địa, trong đó lượng khách đi theo tour chiếm 70-80%. Ngoài số giờ diễn cố định, nhà hát còn phục đón tiếp theo yêu cầu của khách, bất kể giờ giấc. Hiện nay nhà hát đã có mối quan hệ hợp tác với hơn 300 công ty lữ hành. Những nỗ lực cầu thị từ phía nhà hát trong việc xây dựng chương trình và thường xuyên tham khảo ý kiến từ các công ty lữ hành để biết được nhu cầu của khách, và thời gian phù hợp với khách. Điểm quan trọng đó là du khách tất cả các nươc sóc thể hiểu được ngôn ngữ chung nhất là hành động.

Nhà hát Cải lương Hà Nội (số 72 phố Hàng Bạc) đã nghiên cứu, thí điểm phục vụ khách du lịch nước ngoài nghe thuyết minh tiếng Anh qua hệ thống tai nghe chuyên dụng cho vở diễn “Mệnh đế vương”. Từ thành công bước đầu ấy, nhà hát đã mạnh dạn xây dựng những chương trình nghệ thuật thử nghiệm bằng tiếng Anh với các tiết mục: “Trống hội”, “Dạ cổ Hoài lang”, “Lý Ngựa ô”, kịch ngắn “Kẻ trộm đêm giao thừa”, múa Chăm, bài hát tân cổ “Tình yêu trên dòng sông Quan họ”, múa sáo… Đến nay, sân khấu Nhà hát Cải lương Hà Nội luôn sáng đèn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến xem. Các nghệ sĩ sẽ biểu diễn bằng tiếng Việt, khán giả nước ngoài nghe bản dịch bằng tiếng Anh thông qua tai nghe đã được cài đặt sẵn trên ghế, giúp cho du khách hiểu thêm về nghệ thuật truyền thống của Việt Nam.

Khác với Nhà hát múa Rối Hà Nội hay Nhà hát Cải Lương cách đây không lâu trong một chương trình khởi động cho chương trình nghệ thuật đồng hành cùng du lịch với sự tham gia của Nhà hát Chèo, Nhà hát Tuồng Việt Nam… Thế nhưng, sau buổi gặp gỡ nhà hát Chèo Hà Nội không đón được nhiều khách từ các công ty du lịch đưa tới. Nhà hát Tuồng Việt Nam cũng lên lịch được 2 buổi/tuần để phục vụ khách quốc tế, nhưng thu hút được rất ít du khách. Từ đó có thể thấy rằng việc đưa văn nghệ dân gian vào du lịch là một bài toán không hề đơn giản và gặp khá nhiều những khó khăn.

Một điển hình tiếp theo tại Nam Bộ chính là tỉnh An Giang. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

An Giang được thiên nhiên ưu đãi khi hình thành địa hình đồng bằng lẫn đồi núi, cùng với đó là cộng đồng 4 dân tộc: Kinh, Chăm, Hoa, Khmer cùng sinh sống, hòa thuận, chia sẻ cách làm ăn, cùng nhau phát triển… Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa đặc trưng riêng nhưng lại phối trộn hài hòa, tạo nên một bức tranh văn hóa đầy màu sắc. Nếu biết phát huy nền tảng vốn có này để phục vụ cho việc phát triển du lịch, chắc chắn hành trình đến An Giang sẽ tạo nên điểm nhấn riêng biệt trong lòng du khách. Trong đời sống sinh hoạt người dân An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung, loại hình đờn ca tài tử (ĐCTT) trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu, tạo sức hút đối với du khách gần xa và dần “góp mặt” nhiều hơn vào các tour DL. Ở TX. Tân Châu, Câu lạc bộ ĐCTT của địa phương với nhiều nghệ nhân và nghệ sĩ “gạo cội” rất tự hào vì mình là những người giữ nghề.

Ngoài biểu diễn trong chương trình nghệ thuật, sự kiện, giao lưu trong và ngoài tỉnh, đây còn là đội ĐCTT được yêu thích được mời diễn hợp đồng trên các tàu DL đến từ TP. Hồ Chí Minh…ĐCTT là sản phẩm đặc biệt mang giá trị tinh thần nghệ thuật cao quý, được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại nên sẽ rất ý nghĩa khi phát triển thành sản phẩm du lịch đặc thù.

Bên cạnh đó, lịch sử phát triển của đồng bào Khmer ở An Giang mang nét riêng rất độc đáo vì nó gắn liền với tập quán sinh hoạt, văn hóa , tôn giáo…

Với bà con Khmer, chùa được xem là “điểm sáng văn hóa” của phum, sóc; còn dàn nhạc ngũ âm là “linh hồn” của đồng bào Khmer. Dàn nhạc ngũ âm được tổng hợp từ 5 loại chất liệu, cấu tạo thành 9 loại nhạc khí khác nhau nên mỗi loại nhạc cụ đều có đặc trưng về âm thanh riêng biệt.

Khi dàn nhạc ngũ âm cùng hòa hợp sẽ hỗ trợ cho nhau, tạo thành bản nhạc vô cùng độc đáo. Để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc của đồng bào Khmer Nam bộ nói chung, đồng bào Khmer Bảy Núi nói riêng, nhạc ngũ âm đã được đưa vào dạy tại Trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh và Trường Trung cấp Nghề Dân tộc nội trú tỉnh.

Với tiếng trống bập bùng, âm vang chủ đạo làm thay đổi hẳn không khí lễ hội, lúc như thúc giục, khi thì khoan thai, cuốn hút mọi lứa tuổi. Đây là nét văn hóa độc đáo, nếu biết kết hợp với du lịch sẽ là điểm nhấn trong hành trình khám phá vùng đất Bảy Núi.

“Khách nước ngoài rất hứng thú tìm hiểu văn hóa, lịch sử về chiều sâu hơn là nhu cầu nghỉ dưỡng, kể cả trong dịch vụ ăn uống, giải trí. Du khách muốn đắm mình nhiều hơn vào không gian văn hóa, ngắm nhìn nhạc cụ nhằm lưu lại những dấu ấn, kỷ niệm đáng nhớ” – chị Bùi Phương Thảo, hướng dẫn viên một công ty du lịch khẳng định.

Theo ông Tôn Thất Đính (Hợp tác xã nông nghiệp và du lịch xã Mỹ Hòa Hưng) người dân Nam Bộ thật thà, chất phác, hào sảng là nét thu hút với du khách nước ngoài. Chính vì vậy, để có thể giữ chân du khách cần phải giữ gìn những nét văn hóa riêng, không để mai một các làng nghề truyền thống.

Trên là hai ví dụ điển hình cho việc khai thác văn nghệ dân gian phục vụ cho du lịch. Từ đó có thể thấy rằng du lịch Việt nam đang trên một bước chuyển mình mới cả về sản phẩm và tư duy. Chính vùi thế sở Văn hóa và Du lịch luôn tạo điều kiện cho các tổ chứ cá nhân, các công ty du lịch phối hợp đưa các loại hình văn nghệ dân gian vào các tour cho du khách mà còn kết hợp tổ chứ nhiều chương trình lớn giới thiệu quảng bá về những nét đắc sắc riêng về từng vùng miền.

Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch. Thế giới

Không chỉ riêng ở Việt nam mà một số nước trên thế giới cũng rất ưu tiên việc phát triển văn hóa nghệ thuật dân dân trong phát triển du lịch. Khu vực châu Á thì phải kể đến đất nước mặt trời mọc Nhật Bản

Kịch Noh

Kịch Noh có thể nói là loại hình nhạc kịch nghệ thuật cổ xưa nhất của Nhật Bản. Câu truyện trong nhạc kịch không chỉ diễn ra bằng lời thoại mà cả bằng hát (utai), nhạc đệm và múa. Kịch Noh là loại hình biểu diễn có cốt truyện. Cốt truyện được thể hiện thông qua lời hát gọi là utai và diễn viên được phân chia thành Waki là diễn viên chính, Shite là diễn viên phụ. Những diễn viên mang mặt nạ sơn dầu bằng gỗ, diễn viên chính luôn được mặc các bộ quần áo thiêu bằng lụa có màu sắc rất sặc sỡ.

Hình thức nghệ thuật cổ điển này được biểu diễn tại Nhà hát quốc gia Noh Tokyo, Nohgakudo Hosho, Nohgakudo Kanze, và Nohgakudo Kita. Trong vùng Kansai, kịch Noh được dàn dựng và tổ chức tại Kaikan Kanze ở Kyoto và Osaka Nohgaku Kaikan. Tuy nhiên, kịch Noh được đánh giá cao nhất là tại các buổi biểu diễn ngoài trời tại các ngôi chùa được tháp đuốc sáng rực.

Kabuki Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Kabuki là chương trình kịch cổ điển thế tục của Nhật Bản với gương mặt được trang điểm sinh động, trang phục đẹp mát và cảnh dựng lôi cuốn cộng với hành động gây cấn đầy kịch tính như đấu kiếm, khiêu vũ và thậm chí các diễn viên còn bay từ phía khán giả vào sân khấu và ngược lại.

Tokyo, nơi lý tuởng nhất để xem kịch Kabuki là Kabukiza ở Ginza. Nhà hát này luôn có những vở diễn quanh năm. Tương tự, ở Ginza cũng có Shimbashi Embujo là Nhà hát Quốc gia gần Cung điện Hoàng gia thỉnh thoảng tổ chức cho các công ty du lịch.

Tại Châu Âu

Xứ sở Bạch Dương Nga, không phải ngẫu nhiên mà Nhà hát lớn ở Thủ đô Moscow được ví như một tấm danh thiếp của nước Nga, là một biểu tượng văn hóa cổ điển và trang trọng.

Hơn 2 thế kỷ qua, Nhà hát lớn ở thủ đô Moscow, Liên bang Nga xứng danh là thánh đường nghệ thuật. Bên cạnh bề dày lịch sử hơn 200 năm và vẻ đẹp kiến trúc, điểm làm nên thương hiệu của nhà hát này chính là thế giới opera và múa ballet gắn liền với tên tuổi những người nghệ sĩ Nga nổi tiếng.

Gần 140 năm trước, lần đầu tiên vở ballet “Hồ thiên nga” của Traikovski đã được trình diễn trên sân khấu Nhà hát lớn Moscow. Đến nay, đây vẫn là một trong những kiệt tác được biểu diễn thường xuyên tại đây trên sân khấu âm nhạc Nga. Nhà hát lớn Moscow mang một sứ mệnh văn hóa rõ ràng là giới thiệu đến công chúng những tác phẩm kinh điển của cả Nga và phương Tây. Nhà hát không chỉ đáp ứng nhu cầu xã hội về nghệ thuật cổ điển, mà còn tạo nên thị hiếu khán giả, giúp công chúng gần hơn với những thành tựu xuất sắc.của sân khấu âm nhạc thế giới. Tuy nhiên nhà hát lớn Nga không phải ai cũng có thể vào được Nhà hát lớn bởi đó là nghệ thuật đỉnh cao và không dễ dàng để mua được vé. Chính vì thế ở Nga người ta đã cho xây dựng 170 nhà hát với mức độ và quy mô khác nhau để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của du khách trong và ngoài nước.

Một bài học rút ra được khi nhìn từ thế giới và Việt Nam để chương trình nghệ thuật tạo được ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè quốc tế, để nghệ thuật truyền thống thực sự là mũi nhọn thu hút du khách, phải nâng cấp cơ sở vật chất và nội dung chương trình. Nên thúc đẩy xã hội hóa, khuyến khích các doanh nghiệp trong nước góp vốn đầu tư xây dựng điểm diễn và tổ chức dàn dựng chương trình nghệ thuật quy mô. Nghệ thuật truyền thống cần những bước đi mới, những chiến lược xúc tiến du lịch để đưa nó vượt qua những rào cản khó khăn, thực sự là hạt nhân phát triển thu hút đông đảo du khách, đặc biệt là du khách quốc tế. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Cung cấp các dịch vụ du lịch chất lượng

Chất lượng dịch vụ hoàn hảo, cách làm du lịch chuyên nghiệp là một trong những ưu thế vượt trội thu hút khách du lịch. Các dịch vụ du lịch, từ dịch vụ chuyên chở khách du lịch, dịch vụ lưu trú đến hướng dẫn du lịch và các dịch vụ bổ trợ cho ngành du lịch cũng được thực hiện một cách chu đáo và hoàn hảo, tạo thuận lợi tối đa cho khách du lịch. Vì vậy cần cung câp các dịch vụ du lịch với các loại hình du lịch văn hóa nghệ thuật dân gian vào các tuor du lịch, từ đó tu hút lượng lớn khách du lịch đến tham quan và sẽ trở lại trong tương lại.

Hiện nay, nước ta đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải cách những thủ tục liên quan đến khách du lịch như thủ tục hải quan, thủ tục visa… Chúng ta cần tiếp tục đơn giản hoá các thủ tục xuất nhập cảnh, quá cảnh đối với người và hành lý của khách du lịch phù hợp với khả năng quản lý của nước ta và thông lệ quốc tế. Cải tiến quy trình, tăng cường trang thiết bị hiện đại tại các cửa khẩu quốc tế trong việc kiểm tra người và hành lý; sửa đổi, bổ sung các quy định về đồ giả cổ, đồ thủ công mỹ nghệ dân gian; mở thêm các dịch vụ thuận tiện cho khách du lịch (đổi tiền, thu trực tiếp ngoại tệ, cửa hàng miễn thuế, quầy thông tin du lịch…).

Cho đến nay Việt Nam đã miễn thị thực cho công dân của các nước ASEAN và một số nước khác. Điều này đã có một tác động rất lớn thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch. Trên cơ sở những bước đầu như vậy, Việt Nam cần nghiên cứu và xúc tiến để miễn visa cho khách du lịch ở những thị trường trọng điểm khác.

Có thể thấy, chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố cơ bản tạo ưu thế vượt trội và lợi thế cạnh tranh to lớn, là nền tảng vững chắc để phát triển du lịch quốc tế. Vì vậy, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần thiết phải nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch của mình, từ dịch vụ đón đưa khách đến các dịch vụ hướng dẫn du lịch và lưu trú nhằm thoả mãn những nhu cầu của khách, thu hút khách du lịch quốc tế đến với đất nước xinh đẹp của chúng ta.

Loại hình du lịch đa dạng Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

Trong kinh doanh du lịch, quan trọng nhất là biết tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút được nhiều lượt khách du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch. Một trong những biện pháp hữu hiệu là đa dạng hoá sản phẩm du lịch. Việc đa dạng hoá sản phẩm du lịch và dịch vụ du lịch hướng tới làm phong phú và đảm bảo chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ có thể kích thích được nhu cầu tiêu dùng của khách du lịch.

Để thu hút khách du lịch đến với đất cần không ngừng nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch và đa dạng hoá các hình thức du lịch. Trong một tour du lịch kết hợp các loại hình du lịch khác nhau để có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách du lịch.

Việt Nam và thế giới cũng có những phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, những điểm tham quan lý thú, những loại hình du lịch nhân văn đậm bản sắc dân tộc…Nhưng hiện nay ở Việt Nam, loại hình du lịch sinh thái chưa phát triển. Hầu hết chỉ là sự phát triển tự phát và manh mún, chỉ lợi dụng những gì sẵn có mà không có sự đầu tư lâu dài cũng như kế hoạch bảo vệ và phát triển những nguồn tài nguyên đó. Vì vậy, trong điều kiện nguồn vốn còn hạn hẹp, Việt Nam cần phải có kế hoạch phát triển cụ thể cũng như quy hoạch địa bàn phát triển loại hình du lịch này.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trên đây là một số khái niệm về du lịch, các hình thức du lịch tại Việt Nam trong đó đề tài tập trung và việc khai thác văn hóa nghệ thuật phục vụ cho các hoạt động du lịch góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Chỉ ra được vai trò của du lịch đối với Việt Nam nói chung và trên Thế giới đặc biệt nhấn mạnh vai trò du lịch đối với huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng trong việc phát triển kinh tế. Một số những điển hình tiêu biểu trong việc áp dụng khai thác văn hóa nghệ thuật vào du lịch của Việt nam và nước ngoài. Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Khóa luận: Khai thác hát đúm Thủy Nguyên phục vụ du lịch […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537