Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác phát triển du lịch đối với chùa An Phú dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Tổng quan về chùa An Phú

Chùa thường được gọi là chùa Miểng Sành, tọa lạc ở số 24 đường Chánh Hưng, phường 10, quận 8, TP. Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993. Hòa thượng Thích Từ Bạch sinh năm 1926, thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 41. Ngài xuất gia từ lúc 6 tuổi. Qua 60 năm tu học và hành đạo, ngài là một vị cao tăng đã cống hiến nhiều trong công cuộc hoằng pháp và vận động thống nhất Giáo hội.

Thượng tọa trụ trì Thích Hiển Đức tiếp tục công việc trùng tu ngôi chùa vào ngày 25-4-1998 và đã tổ chức lễ khánh thành vào ngày 01-4-1999 dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Chùa An Phú nổi tiếng là một công trình kiến trúc mang tính dân gian. Hầu như toàn bộ ngôi chùa đều được dán bằng mảnh sành, mảnh sứ với những đề tài chính là của nhà Phật như : tượng Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Quán Thế Âm, chữ vạn, hoa sen …

Điểm độc đáo ở đây là lòng kiên nhẫn của toàn thể chư Tăng Ni và Phật tử của chùa trong nhiều năm xây dựng vì phải chọn lựa, cắt dán những mảnh sành phế liệu thu mua từ nhiều nơi về theo những đề tài và những mảng màu sắc thích hợp. Số thống kê của chùa cho biết, từ năm 1961 đến năm 2004, chùa đã sử dụng hơn 30 tấn sành sứ phế liệu các loại với khoảng 20.000 ngày công lao động thực hiện gắn miểng sành trên diện tích 3.886m2.

Nằm ở trung tâm quận 8 , thành phố Hồ Chí Minh chùa An Phú luôn thu hút du khách bởi kiến trúc độc đáo do được ốp bằng mảnh sành, mảnh sứ. Ngôi chùa này cũng đã được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác nhận là ngôi chùa được tạo táo từ mảnh sành nhiều nhất Việt Nam. Đặc biệt hơn ngôi chùa này được tạo dựng nên nhờ sự kiên trì của Tăng ni Phật tử với ý nghĩa có những thứ bỏ đi, tưởng chừng vô dụng nhưng nếu biết tận dụng thì cũng trở lên hữu ích.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Ngành Du Lịch

1. Lịch sử hình thành Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Được xây dựng từ năm 1847 chùa An Phú đã tồn tại được hơn 170 năm , chùa thuộc hệ phái Bắc Tông do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trở qua 7 đời sư trụ trì, đời trụ trì thứ 6 là Ni sư Thích nữ Huệ Thông là cháu nhiều đời của Hòa Thượng Thích Thanh Đức nối tiếp sự nghiệp cuộc các bậc đi trước. Trong thập niên 60 của thế kỷ 20 ngôi chùa xuống cấp trầm trọng, đổ nát, hầu như không có tín đồ đến chiêm bái, tiếp quản ngôi chùa là Hòa Thượng Thích Từ Bạch ở quận 6. Do là có tài thi phú làm thơ văn, hội họa Hòa Thượng đã tự mình viết sách bán cho các tỉnh miền tây để lấy tiền làm kinh phí gom góp mua đồ tái tạo chùa. Từ quá trình tu bổ chùa Hòa Thượng mới nảy sinh ý nghĩ về một ngôi chùa có kiến trúc độc đáo

Thượng tọa Thích Hiển Đức là đệ tử của Hòa Thượng Thích Từ Bạch và là trụ trì hiện nay của ngôi chùa chia sẻ:

“Trong quá trình xây dựng ngôi chùa Hòa thượng mới suy nghĩ là những mảnh chai, mảnh chén , bát là những thứ mà người ta vứt bỏ đi trong xã hội, khi di chuyển qua lại nếu không cẩn thận rất dễ bị thương. Cho nên Hòa thượng mới suy nghĩ làm sao để xây dựng xây dựng một ngôi chùa vừa mang tính lịch sử vừa mang giá trị nghệ thuật. Do đó Hòa thượng cho đạo chúng đi đến các bờ sông, rạch thu gom những mảnh chai, mảnh sảnh đã vỡ. Hòa thượng cũng gặp những người thu mua ve chai để trao đổi mua lại”. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Điều đặc biệt ở đây là toàn bộ việc gắn các mảnh sành chai, mảnh chai lên tường đều do các Tăng ni, Phật tử thực hiện chứ không phải do thợ chuyên nghiệp. Bước đầu ai chưa biết thì Hòa thượng sẽ hướng dẫn, các đề tài chính của nhà Phật như tượng Bồ tát Di lặc, Bồ tát Quan thế âm, chữ vạn, hoa sen… đều được các Tăng ni, phật tử gắn từ những mảnh sành, mảnh chén đã vỡ một cách tỉ mỉ, tinh tế một cách rất khéo léo. Điều này cũng thể hiện sự kiên nhẫn miệt mài của Tăng ly, Phật tử khi họ miệt mài cắt ghép những mảnh sành phế liệu được thu mua từ nhiều nơi về từ năm này qua năm khác theo những mảng đề tài và màu sắc thích hợp. Chính cách làm dân dã này lại tạo ra sự khác biệt với các công trình sành sứ mang tính chuyên nghiệp.

Khác với việc cắt ghép những mảnh sành, mảnh chai trong các công trình kiến trúc ở miền Trung đặc biệt là lăng vua Khải Định ở Huế và nhiều những lăng tẩm khác mang một tầm cỡ quốc gia với phong cách của cung đình, vua chúa khác với đặc thù của ngôi chùa An phú này rất giản dị, đơn thuần đại diện cho tầng lớp bình dân trong xã hội cũng một phần phản ánh đạ tính cách chung của con người Nam bộ. Điều đặc biệt hơn nữa là trong suốt quá trình sáng tạo và xây dựng chùa Hòa thượng không cho phép đập vỡ bất cứ chiếc bát, chén nào còn lành lặn, nguyên vẹn mà chỉ cho dùng các mảnh bát, bình hoa đã nứt mẻ, bỏ đi. Độc đáo hơn nữa là trong cách ghép mảnh sành mảnh bát vỡ hoàn toàn không dùng máy móc, hay các vật dụng mài dũa mà chỉ dùng với hai chiếc kìm. Một chiếc dùng để cắt, một chiếc dùng để bấm gọt lại sao cho từng miếng không bị sắc cứa đứt tay, sau đó trộn một hợp chất kết dính theo tỷ lệ cứ một tô cát phải dùng đến năm tô xi măng, thay vì một tô xi măng với bốn tô cát như các công trình khác để chét lên bồ mặt kiến trúc rồi ốp các miếng sành lên. Công việc tưởng chừng như đơn giản này thực ra lại rất công phu, vì nếu không kiên trì khéo léo thì không thể tạo ra các miếng hình khối có màu sắc và ý nghĩa trong nơi thờ tự tôn nghiêm này. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Thượng tọa Thích Hiển Đức chia sẻ: Tôi cũng có một ý niệm là mình phải đào tạo một thế hệ kế thừa, được khoảng có bốn, năm người nhưng họ thấy làm công việc này rất vất vả “ khi ngồi xuống thì không muốn đứng lên, đứng lên thì không muốn ngồi xuống”.

2. Kiến Trúc

2.1 Cổng Tam Quan

Cổng tam quan chùa An Phú được xây dựng lại vào năm 1989, gồm ba lối vào, tượng trưng cho “không quan, giả quan, trung quan” và còn có ý nghĩa của “tam giải thoát ấn”, “tam pháp ấn” (không, vô tướng, vô nguyện). Mỗi cổng đều có mai che, lợp ngói, các đầu đao gắn hoa văn trang trí, diềm mái lá đề màu xanh thẫm nổi bật bên cạnh hàng ngói đỏ. Trên cổng giữa khắc ba chữ Hán: “An Phú tự”, hai bên chạm hai câu đối có chữ đầu và chữ cuối hợp lại là “TỔ ĐÌNH AN PHÚ”:

AN lạc quảng khai từ thiện đồng lai qui hướng TỔ, PHÚ vĩnh phổ nhuận ngộ mê cộng hưởng tuệ vi ĐÌNH.” Dịch là:

Chùa ở Việt Nam xưa kia không có cổng tam quan. Xưa kia ở miền Bắc, ngăn cách chùa và các khu vực chung quanh thường là những lũy tre. Sau đó trong quá trình trùng tu chùa, cổng tam quan được dựng lên.

Tam là bà, quan là cửa ải, cửa ô, điểm then chốt. Tam quan là tên gọi cổng vào chùa, có ba lối đi, gồm lối chính giữa, bên trái và bên phải. Từ ngữ Tam quan xuất phát từ “Lăng Nghiêm tam quan” và Hoàng Long tam quan”. Theo bộ Đại Chính tân tu, tam quan là ba câu hỏi của pháp sư Từ Vân Tuân Thức hỏi vị quan chú giải kinh Lăng Nghiêm. Vị quan không trả lời được, Ngài bèn ném bản thảo chú giải vào lửa. Từ đó có danh từ “Lăng Nghiêm tam quan”. Theo bộ Vạn Tục quyển 138, trang 326 thượng, Tông Môn Thống Yếu Tục tập II, (chương Hoàng Long Huệ Nam, Ngũ Đăng Hội Nguyên -17, Nhân Thiên Nhãn Mục 2) thì Hoàng Long tam quan là ba câu hỏi về Sanh Duyên, Phật thủ và lư cước, dùng để khai thị học tăng đến cầu pháp. Tam quan là cổng vào chùa được được thiết kế ba lối vào, theo tinh thần giáo lý Phật giáo, tượng trưng cho không quan, giả quan, trung quan.

Không quan có ý nghĩa xét sự vật đều không có thật tính, thật tướng, mọi pháp vốn không. Thể hiện tư tưởng về tánh không trong Phật giáo. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Giả quan có ý nghĩa xét sự vật, chư pháp đều biến hóa, giả tạm, vô thường. Thể hiện quan điểm vô thường trong giáo lý Phật giáo.

Trung quan có ý nghĩa quán sự vật theo tư tưởng trung đạo trong giáo lý Phật giáo. Không thiên lệch về một cực nào, tả cũng như hữu. Sau này, cổng chùa còn được thiết kế có hai cổng vào gọi là nhị quan, hoặc năm cổng vào gọi là ngũ quan.

Như vậy, chúng ta thấy, theo nghĩa hẹp, trên đường đạo cũng như trên đường đời, thường con người phải đi qua nhiều cửa, nhiều ải. Nhưng chỉ có một con đường duy nhất đến với chân lý. Đối với Thiền tông, người tu không nên bám vào lời dạy của thầy, không nên bám vào văn tự kinh điển, vì nếu bám vào đấy là bám vào ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy đạo, không thể chấp ngón tay chỉ mặt trăng là mặt trăng. Người theo Thiền tông phải biết nhận ra cái gì thầy muốn chỉ dạy ngoài câu nói, không nằm trong câu nói. Nếu cứ bám vào văn tự thì không thể đến với đạo được.

Sân trước chùa có nhiều công trình kiến trúc như : đài Di Lặc; đài Quan Âm; lầu Linh Sơn Thánh Mẫu; tháp Hòa thượng Thích Từ Bạch; cột phướn có hình chiếc thuyền rồng ghép sành, trên có tượng thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh; và hai hòn giả sơn lớn có đặt thờ nhiều vị Phật, Bồ tát, Hộ Pháp, Quan Thánh Đế Quân …

Số thống kê của chùa cho biết, từ năm 1961 đến năm 2004, chùa đã sử dụng hơn 30 tấn sành sứ phế liệu các loại với khoảng 20.000 ngày công lao động thực hiện gắn miểng sành trên diện tích 3.886m2.

Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 30-11-2007: Chùa An Phú – Ngôi chùa được tạo tác bằng miểng sành nhiều nhất Việt Nam. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Tuy cùng là công trình kiến trúc Phật giáo, có thể cùng cả hệ phái Bắc Tông nhưng chùa An Phú lại có không ít những điểm khác biệt từ cấu trúc, kiến trúc đến cách bài trí tượng thờ so với những ngôi chùa ở miền Bắc, miền Trung. Cấu trúc chùa là một trong những yếu tố làm nên vẻ đẹp của ngôi chùa cũng là một thành tố của kiến trúc tôn giáo

Trong khi chùa miền Bắc có cấu trúc được xây dựng theo mỗi hình Hán tự hoặc chữ Nho như: chùa chữ Đinh (Chùa Hà), chùa chữ Công (Chùa Keo), chùa chữ Tam (chùa Tây Phương) và chùa kiểu Nội Công Ngoại Quốc (chùa Dâu, chùa Trấn Quốc). Tuy nhiên cũng có chùa có kiến trúc đặc biệt, hiếm có như chùa Một Cột (một bông hoa sen) hoặc những ngôi chùa mới xây dựng được xem như một quần thể chùa (chùa Bái Đính). Thì chùa miền Nam cũng như chùa An Phú có cấu trúc đơn giản hơn. Chùa ở Sài Gòn, hệ phái Bắc Tông thường có cấu trúc đơn giản hơn mang nhiều yếu tố hiện đại hơn.

2.2 Chính điện Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Ngôi chính điện là một bảo tháp hình chữ nhật, tượng trưng núi Tu Di, các tầng mái có các chim thần nâng đỡ. Điện Phật đặt trên lầu. Có bốn pho tượng đức Phật Thích Ca lớn đặt ở trung tâm quay về bốn mặt, cây bồ đề sau lưng đức Phật cũng tỏa bóng bốn bên. Chùa An Phú nổi tiếng là một công trình kiến trúc mang tính dân gian. Hầu như toàn bộ ngôi chùa đều được dán bằng mảnh sành, mảnh sứ với những đề tài chính là của nhà Phật như : tượng Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Quán Thế Âm, chữ vạn, hoa sen …

Chùa Miền Nam tôn thờ Ðức Phật Thích Ca hoặc Đức Phật A Di Ðà làm chủ đạo và thường thờ Tổ ngay trong không gian thờ Phật.

Có thể lý giải như sau: Phật giáo Tịnh Ðộ Tông tôn thờ Ðức A Di Ðà làm giáo chủ với cách tu Phật dễ nhất, chỉ cần niệm nhiều lần tên A Di Ðà Phật diệt trừ tham, sân, si là có thể được tiếp dẫn về thế giới Cực lạc của Phật

Còn Đức Phật Thích Ca là Giáo chủ cõi Ta bà (đau khổ) – là thế giới mà chúng ta đang sống. Ngài giới thiệu Nhân địa và Công hạnh của đức Phật A Di Đà ở cõi Tây phương Cực lạc cho chúng sanh cõi Ta bà được biết, để niệm danh hiệu Ngài mà cầu sanh về cõi đó.

Với con người Nam Bộ lao động lo cho hiện thực cuộc sống thì Phương pháp niệm “A Di Đà Phật” này là cách hiệu quả nhất để theo Phật.

Một số ngôi chùa Nam Tông chỉ tôn đức Thích Ca trên Phật điện và các vị A la hán dưới hình dạng người Ấn Độ. Những ngôi chùa Nam Bộ là những không gian phong phú gây lên ấn tượng thiêng liêng về Phật cứu độ chúng sinh, về luân hồi chuyển kiếp, về ở hiền gặp lành. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Phật Thích Ca lớn ngồi thiền giới gốc cây bồ đề cách bài trí không chỉ riêng chùa An Phú mà còn là của các tỉnh miền nam. Hình tượng cây bồ đề mang những ý nghĩa thiêng liêng của nó. Cây Bồ đề có tên khoa học là Ficus religiosa. Theo các điển tích về Phật giáo, cây Bồ đề đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật. Đức Phật đã ngồi thiền định dưới gốc cây bồ-đề và từng bước giác ngộ được các giáo lý của Phật giáo.Sau khi giác ngộ, Đức Phật đã đi khắp châu Á để dạy mọi người cũng như theo đạo Phật. Chính vì vậy, cây bồ-đề được trồng khắp nơi trên thế giới và tượng trưng cho may mắn.Trước khi Phật giáo xuất hiện, cây Bồ đề được coi là một loài cây thiêng liêng và người dân lưu truyền rất nhiều truyền thuyết về nó. Loài cây này tượng trưng cho học vấn, khả năng sinh sản, giác ngộ, và bảo vệ.Cây Bồ đề đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiều nghi lễ tôn giáo và vẫn được trồng ở một số nơi trên thế giới để mang lại may mắn và hạnh phúc, an lạc

Chùa còn được nhiều hãng truyền hình, báo chí, các công ty du lịch trong nước và nước ngoài giới thiệu về cặp nến lớn nhất Việt Nam. Cặp nến (đèn cầy, đèn sáp) đặt ở điện Phật nặng hơn 1.800kg, cao 3,4m, trên thân được chạm trổ hình rồng uốn quanh từ chân đến đỉnh, dưới đế khắc hình 5 con rồng nhỏ rất đẹp, gọi là “Ngũ Long Chầu Đăng” là cặp nến lớn và nặng nhất Việt Nam. Sau đó, chùa tiếp tục thực hiện cặp nến chạm rồng có trọng lượng 2.100kg, cao 3,83m và chính thức phá kỷ lục so với cặp nến trước đó.

Theo ông Nguyễn Văn Hưng, để thực hiện cặp nến khổng lồ thì phải mua ít nhất hơn 2 tấn sáp, và thực hiện các công đoạn trong vòng 1 tháng. Chi phí để làm ra cặp nến khoảng 150 triệu đồng. “Trước tôi làm thợ mộc, sau này có duyên nên chuyển qua làm đèn cầy và gắn bó gần 20 năm nay. Mỗi nghề có 1 khó khăn riêng, làm đèn cầy đòi hỏi khéo léo, cẩn thận vì chất liệu mềm nên dễ sứt mẻ”. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố. Chùa do Hòa thượng Thích Thanh Đức sáng lập, đã trải qua 6 đời trụ trì. Hòa thượng Thích Từ Bạch đã tổ chức trùng tu chùa từ năm 1960 đến năm 1993. Hòa thượng Thích Từ Bạch sinh năm 1926, thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 41. Ngài xuất gia từ lúc 6 tuổi. Qua 60 năm tu học và hành đạo, ngài là một vị cao tăng đã cống hiến nhiều trong công cuộc hoằng pháp và vận động thống nhất Giáo hội.

Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 02-02-2005 cho Thượng tọa Thích Hiển Chơn, Phó Trụ trì chùa An Phú là Kỷ lục gia thực hiện cặp nến cao và nặng nhất Việt Nam.

Các vị La Hán chùa An Phú được đặt dọc hai bên hành lang chính điện. Bộ lớn đặt trên, bộ nhỏ đặt dưới, trên bàn thờ nhị cấp (hai tầng). Mỗi bên hành lang đặt chín vị lớn và chín vị nhỏ. “Bộ nhỏ cao 50cm, ngang giữa hai gối 32cm, đặt trên bệ cao bảy cm, được tạo tác vào giữa thế kỷ XVIII, từ khi lập chùa. Bộ lớn cao 80cm, ngang giữa hai gối 45cm, bệ cao 15cm, được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX, trong lần trung tu lần thứ nhất của chùa. Cả hai bộ tượng đều được tạc bằng gỗ mít nài.” Bộ tượng La Hán nhỏ, nhiều đường nét tạo tác thể hiện sự ảnh hưởng của mỹ thuật Phật giáo Trung Quốc. Bộ tượng La Hán lớn, những đặc điểm ảnh hưởng của mỹ thuật Phật giáo Trung Quốc đã giảm hẳn. Tượng La Hán chùa An Phú, mỗi vị một tư thế: có vị tay cầm cây như ý, có vị nâng tháp bốn tầng, có vị cầm bình hồ lô, có vị ngồi ngoáy tai, có vị ngồi tư thế “tay xé ngực chỉ Phật tại tâm”.

Bộ tượng La Hán chùa An Phú có một giá trị lịch sử lớn. Là hiện vật trong ngôi cổ tự lâu đời nhất thành phố nên tượng La Hán chùa An Phú cũng cao tuổi hơn so với các tượng La Hán khác. Bộ tượng còn chứng minh cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam Bộ, từ những ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo Trung Quốc, đã dần dần xác lập được một dòng mới, mang đặc điểm dân tộc và hoàn toàn của người Việt. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Nhà Trai

Nơi đây đặt hai dãy bàn theo chiều dọc thờ Phật tử quá vãng, có ảnh và bài vị. Ngoài ra, tại đây còn đặt ba dãy bàn dài dùng tiếp khách, đãi ăn vào các ngày lễ lớn, bàn cho chư Tăng dùng cơm mỗi ngày. Đầu bàn chư Tăng thọ thực là bàn thờ Chuẩn Đề.

Nhà Giảng

Tiếp nối nhà trai, cách một sân Thiên Tĩnh, là nơi học tập của các Tăng sĩ.

2.3 Nhà thờ Tổ

Sau điện Phật là Tổ Sư đường thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma mang một chiếc dép đây là nét chung của không riêng gì các phía Nam mà là còn là nét chung của các chùa theo phái Bắc Tông.

Bồ Đề Đạt Ma, tiếng Phạn là Bodhidharma, là vị tổ thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ, nhưng lại là vị tổ đầu tiên khai sáng Thiền tông ở Trung Quốc. Ông thuộc dòng Sát Đế Lợi, một dòng dõi quý tộc ở Nam Ấn Độ. Sau khi cha mất, ông xin xuất gia với tổ Bát Nhã Đa La (Prajnadhara), học phép Thiền định (Dhyana). Ông sang Trung Quốc vào năm 520, ghé Quảng Châu, sang Lạc Dương, trụ tại chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn, tỉnh Hà Nam, phát triển Thiền tông. Ở đó ông tu phép tham thiền, ngồi yên lặng, quay mặt vào vách suốt chín năm liền. Con đường đạo học phát triển nên lập ra phái Thiền tông của Trung Hoa. Từ đó ông trở thành vị tổ thứ nhất (sơ tổ) của tông phái này. Ở Trung Quốc gần chín năm, ông thị tịch vào năm 529, nhập tháp tại chùa Định Lâm, trên núi Hùng Nhĩ. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Sau vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp Bồ Đề Đạt Ma tại núi Thông Lãnh, thấy tay xách một chiếc dép, một mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi thì Bồ Đề Đạt Ma cho biết về Ấn Độ. Trở về, Tống Vân tâu lại vua Hiếu Trang đế. Vua ra lệnh mở nắp quan tài, quả nhiên quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua cho đưa dép về chùa Thiếu Lâm thờ tự. Đến năm 728 đời Đường, môn đồ dời dép về thờ tại chùa Hoa Nghiêm.

Vào thế kỷ XVII, Phật giáo Đại thừa Trung Quốc có tác động mạnh mẽ đến xứ Đàng Trong qua sự truyền bá trực tiếp của các Thiền sư Trung Quốc, mang phái Thiền Lâm Tế vào Đàng Trong. Hình thức tín ngưỡng tôn thờ các vị tổ, đặc biệt là vị sơ tổ sáng lập ra dòng Thiền, càng được đặc biệt tôn kính. Chính vì vậy, hầu hết các chùa ở Nam Bộ, dù là ngôi chùa cổ hay mới vừa được xây dựng gần đây, trên bàn thờ tổ, thường đặt tượng Bồ Đề Đạt Ma để ngưỡng vọng.

Phía sau cùng là bàn thờ tượng đức Đa Bảo Như Lai bằng đồng. Tầng dưới cũng đặt thờ bốn pho tượng đức Phật Thích Ca như tầng trên, hai bên có tượng Bồ tát Quán Thế Âm và Bồ tát Địa Tạng, tiếp sau là sân lễ và tháp Dược Sư, sau cùng là bàn thờ Hòa thượng Thích Từ Bạch – là người có công lao lớn trong việc xây dựng và phát triển chùa An Phú như ngày nay

3. Các tác phẩm nghệ thuật trong chùa An Phú Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

3.1 Hoành phi

Chùa có tất cả 19 bức hoành phi. Hầu hết các bức hoành này đều được các nơi (chùa, Hòa thượng, Phật tử, các quan chức trong vùng,…) gửi đến biếu cúng nhân dịp chùa có trai đàn, cúng lễ lớn, đặc biệt là các lễ lạc thành sau hai đợt trùng tu. Một vài bức hoành phi tiêu biểu là “Đạo Mạch Trường Hưng”, “Bồ Đề Thọ Trưởng”, “Tả Phất Vi Chân”, “Tổ Ấn Trùng Quang”, “Hữu Vệ Vi Chính”, “Cảnh Tự Trường Xuân”, “Phật Pháp Trường Hưng”, “Đạo Tràng Vĩnh Thịnh”, “Vĩnh Thụy Đức Trạch”,…

Phần lớn các bức hoành phi có niên đại sớm nên mang phong cách Trung Quốc rất đậm; điều này thể hiện qua tên gọi, chữ viết, hoa văn,…; đa số các chữ, cả chính và phụ, đều bằng chữ Hán, lối viết từ phải sang trái, từ trên xuống dưới; hoa văn thể hiện bửu bối trong bát bửu còn nói lên sự phối hợp, ảnh hưởng của Đạo giáo với Phật giáo. Một số ít hoành phi có niên đại muộn đã có sự phá vỡ phong cách cũ, trong nội dung đã đưa vào một ít chữ Việt, năm tháng tạo tác,… Như vậy, toàn bộ các bức hoành đều có giá trị lịch sử, góp phần vào việc chứng minh cho sự mờ dần của ảnh hưởng Trung Quốc trong các hiện vật, trong tư tưởng người biếu cúng. Mặt khác, các bức hoành còn có giá trị văn hóa, nói lên tính “Tam giáo đồng nguyên” (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) của giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nay và đặc biệt là tính chất dung hợp cao của Phật giáo ở Việt Nam cũng như Nam Bộ

3.2 Bao lam Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Bao lam (cửa võng), các tác phẩm điêu khắc gỗ độc nhất vô nhị. Chùa có 58 bao lam lớn nhỏ, đáng kể nhất là bao lam Bách Điểu, nghệ nhân đã khéo léo sắp xếp tới gần 100 con chim lớn nhỏ. Ngoài những chim thường gặp trong các đình chùa khác như loan, phụng, công, trĩ… người ta còn thấy đông đủ các loài chim quen thuộc trong sân vườn, đồng ruộng của miền Nam như: cò, chim sẻ, chào mào, họa mi, chích chòe, bói cá, le le,… với đủ mọi tư thế sinh động trong không khí náo nhiệt của loài chim: con bay, con đậu, con đang tranh mồi, đang nô đùa, có những con lại đang tỏ tình âu yếm… Bộ bao lam này có thể nói là hiếm gặp ở Nam Bộ, nghệ thuật trang trí ở đây làm cho người xem cảm giác đang sống trong đời thực với những chi tiết cụ thể, gần gũi với đời sống nông thôn, biểu lộ óc quan sát tinh tế và tình yêu thiên nhiên của các nghệ nhân.

Tấm bao làm Thập bát La Hán cũng rất đặc biệt. Các đám mây được tạc làm nền gắn các tượng La Hán lại, mỗi bên bao lam có 9 vị; mỗi vị cưỡi một con vật như: bò, dê, nai, heo, chó, hươu, đến rồng, lân, báo, cọp, mèo; với tư thế ngồi, chân co, chân duỗi khác nhau; tay mỗi vị cầm một vật tượng trưng cho tính cách của mình: chày, thẻ bài, vòng kim cô, đĩa trái cây, có vị lại ngồi ngoáy ráy tai cười vui vẻ… Tấm bao lam này đã thể hiện phong cách nghệ thuật mới, độc đáo, đặc sắc và đầy sáng tạo, đó là ngoài việc để thờ phụng, các vị La Hán đã được các nghệ nhân đưa lên bao lam để trang trí. Tấm bao lam này mang lại nét vui tươi cho người xem qua gương mặt các vị La Hán hiền hòa, phúc hậu vui tính… không thể tìm thấy được nét ưu tư, khắc khổ, phiền não như các vị La Hán ở những chùa phía Bắc. Điều này nói lên được tính phòng khoáng cộng với sự sung túc, no đủ của cư dân vùng đất mới. Các con vật cưỡi và phong cách của các vị La Hán đã mang lại cho Phật giáo một tính cách dân dã, bình dị.Còn nhiều bao lam nổi tiếng với kỹ thuật chạm khắc công phu như: Tô Vũ chăn dê, Lã Vọng câu cá, Khỉ bắt chim, Ngư tiều canh mục…, đặc biệt là bao lam Hoa điểu tại nhà Trai gồm có 3 bức tượng chạm lộng cả hai mặt với đề tài chim muông cây cảnh và các loại hoa trái được khắc họa khéo léo, tài tình. Người xem có thể thấy được những sợi lông đuôi chim và các lá cây bay nghiêng theo chiều gió, những cành tre nhỏ xíu thể hiện được cả đường gân, gai, đốt mà khi nhìn vào ta có thể thấy được là tre già hay non, các loại trái cây đang mùa chín rộ, cành cây nặng trĩu xuống… Nhìn chung các đề tài của bao lam chùa An Phú có phân theo công thức cổ nhưng họa tiết, cả về hình dáng và nội tâm, thì lại là của những người dân ở vùng đất mới phương Nam. Sự phá bỏ công thức này đã thể hiện rõ nhất ở chỗ nghệ nhân không chỉ để các vị thần cưỡi các linh vật như long, lân, quy, phụng… mà cả trâu, bò, dê, heo… thậm chí cả những chú chó nghịch ngợm. Quả là Phật ở đây không chỉ gọi là dân gian hóa mà có thể được gọi là “Nam Bộ hóa”, chất Nam Bộ ở đây thể hiện rất rõ nét trong hầu hết các bao lam của chùa An Phú.

3.3 Liễn đôi Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Liễn đôi – Câu đối nhà Phật được sử dụng trong việc để xây dựng chùa, tịnh xá, thiền viện, tịnh thất, niệm Phật đường, rất nhiều nơi như: cổng tam quan, chánh điện, tháp tổ,vv…

Chùa có tất cả 86 câu đối.Cầu mong cho “lợi lạc quần sinh”, “phong điều vũ thuận”, “quốc thái dân an”,… là chủ đề chính trong các câu đối ở chùa An Phú. Điều này góp phần đem lại cho các câu đối một giá trị lịch sự to lớn. Đó là mối quan hệ gắn bó giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa (thờ cúng Thần Nông, cầu mong mưa thuận gió hòa,…). Về giá trị văn hóa, các câu đối cũng thể hiện mối quan hệ, sự kết hợp của tư tưởng Phật giáo và Nho giáo. Trong chùa An Phú có những cặp liễn đôi có thể kể tới như sau:

  1. Sắc tướng vốn không, nương cảnh huyễn độ người mê muội; Tử sanh nào có, mượn thuyên từ với kẻ trầm luân.
  2. Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ; Trăm điều lành, ngàn điều nhịn, thong dong tấc dạ rứa mà vui.
  3. Tánh lặng đất trời chung một cõi; Tâm không trăng gió trải muôn phương.
  4. Biển ái lấp bằng, Tịnh độ đi về đâu mấy chốc; Sông mê tát cạn, Niết bàn an trú vốn không xa.
  5. Ngộ thấu nguồn chơn, tâm danh lợi trôi theo dòng nước; Rõ cùng lý đạo, niệm thị phi bay lẫn chòm mây.
  6. Cảnh Phật trang nghiêm, mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo; Cửa thiền thanh tịnh, chuông chùa ngân vọng tiếng từ bi.

3.4 Pháp khí

Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dâng cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu tập. Pháp phục là những y cụ cần thiết cho tu sĩ. Nghi Lễ trong đạo Phật có rất nhiều pháp khí như: Chuông, trống, bảng, khánh, tràng hạt, bình bát, cà sa, tích trượng v.v… mỗi thứ đều có một công dụng và ý nghĩa khác nhau.Một trong những tác phẩm mỹ thuật Phật giáo có đóng góp giá trị vào di tích lịch sử – văn hóa chùa An Phú ngày nay chính là những pháp khí. Từ những phương tiện dùng để sử dụng trong nghi lễ, các pháp khí đã trở thành những dấu ấn về sinh hoạt Phật giáo tại vùng đất Gia Định xưa. Có nhiều loại và mỗi loại còn có nhiều hình dáng, chất liệu khác nhau, góp phần mang lại nét mới mẻ, sinh động cho văn hoá Phật giáo ở Gia Định, góp phần làm rõ thêm tính lịch sử, tính dân tộc, tính địa phương. Một số pháp khí ta có thể dễ thấy khi bước chân vào chùa An Phú như: Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Đại hồng chung:

Xuất xứ: Theo như trong kinh Tăng nhất a hàm có chép: Mỗi khi nghe tiếng chuông ngân lên, thì các hình phạt trong các ác đạo tạm thời dừng nghỉ, chúng sanh nào đang chịu những hình phạt ấy cũng được tạm thời an vui. Nghe được tiếng chuông là phiền não nhẹ vơi đi.

Theo kinh Tăng A Hàm, quyển 24 Ðức Phật bảo ngài A Nan: “hãy đánh chuông lên để tập họp chúng, nhân ngày rằm tháng 7”. Vậy chuông là một pháp khí để tập họp Tăng Chúng và thức tỉnh Chúng Sinh đã có từ thời Phật tại thế.

Chuông chùa An Phú được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Cao khoảng 1.50m, đường kính khoảng 6 tấc. Được trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt Nam thường dùng từ “Ðại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật lớn, gần như không còn có quy định, có nơi được tính theo tiếng ngân dài của chuông.

Chuông báo chúng:

Cũng còn gọi là Hoán chung, Tiểu chung, Bán chung, kích thước bằng ½, hình dáng giống như Hồng Chung, thường để một góc trong chánh điện của chùa, được treo trên giá và di chuyển dễ dàng, Chuông này cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. Hình thái cũng như chuông U minh, được treo ở trai đường, dùng để báo tin trong lúc họp chư Tăng biết vào những lúc: Nhóm chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện, báo hiệu cho quý vị Tăng Chúng biết sắp đến giờ hành lễ và xử dụng trong các buổi pháp hội.. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Chuông gia trì:

Chuông xử dụng chung với mõ để tụng kinh, hành lễ hằng ngày trước bàn Phật của Chùa. Hình dáng như ½ quả cầu hay một cái tô để ngửa. Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám. Tiếng chuông gia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật. Cũng thường đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.

Trống:

Khi bước chân vào chánh điện chùa An Phú chúng ta sẽ thấy trống Bát Nhã rất lớn bên trái chánh điện.

Xuất xứ: Trong kinh Kim Quang Minh có chép: Một hôm người Tín trưởng Bồ tát nằm mộng thấy một cái trống bằng vàng. Trống ấy có chiếu ra hào quang sáng rực như mặt trời. Trong hào quang có rất nhiều đức Phật đang ngồi trên tòa sen lưu ly đặt dưới những gốc cây quý. Chung quanh các đức Phật đều có trăm nghìn ức vị đại đệ tử đang ngồi nghe pháp. Lúc ấy có một đạo sĩ Bà la môn đang cầm dùi trống đánh mạnh vào chiếc trống vàng, tiếng trống vang rền nghe như lời kinh sám hối. Khi đã tỉnh mộng, ngài Tín trưởng Bồ tát liền đem những điều ấy mà mình đã thấy nghe trình lên đức Thế tôn.”.

Trong kinh Lăng nghiêm cũng có chép: Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Đức Phật dạy:

Này A Nan, ngươi hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong tinh xá Kỳ đà hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”. (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)

Trống nhỏ (trống kinh): Nằm bên trái phía dưới trống Bát Nhã trong chùa. Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh (tiếng bình dân thường gọi là trống cơm). Ngoài việc dùng đánh để tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện, trống tiểu còn dùng để hòa âm trong cổ nhạc Phật giáo và cổ nhạc Việt nam. Trống tiểu thì khó đánh hơn trống lớn. Bài học để xử dụng cho trống tiểu rất nhiều, phức tạp và khó học. Có rất nhiều thể điệu khác nhau như là thể điệu thiền khi tụng kinh, thể điệu ai khi dùng vào đám táng, chẩn tế cô hồn, … Nếu không học thì không thể xử dụng…;mới trông qua giống cái trống Cơm, nhưng hơi khác : tiếng dòn và trong hơn, cái đùi đánh trống gọi là roi trống

Mõ:

Trong chùa An Phú mõ được đặt bên phải ngay dưới pho tượng Thích ca tại Chánh điện. Xuất xứ: Trong bộ sách Sắc tu Thanh quy Pháp khí về chương mộc ngư có chép rằng:

Lời Tương truyền: Loài cá luôn thức không bao giờ ngủ và rất hoạt động. Vì vậy khi tạo loại pháp khí nầy thì mõ được chạm trổ theo hình con cá với thâm ý là muốn thức tĩnh con người cũng như chúng hữu tình đang còn trong mê muội, u trầm.

Trong sách Chính ngôn đời nhà Đường thì chép: Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lão ở Thiên trúc rằng: Tại sao các Tăng xá đều có treo mõ? Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Vị trưởng lão trả lời:

  • Vì để cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.

Người bạch y hỏi tiếp:

Nhưng tại sao lại tạc hình con cá?

Vị Trưởng lão không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:

Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.

Bảng và Khánh:

Được treo phía trước nhà Tổ chùa An Phú. Xuất xứ: Bảng và Khánh là một trong những thứ pháp khí của nhà Phật. Hai loại này được thường dùng trong ngày các chùa, viện. Từ xưa đến nay đều dùng làm hiệu lệnh như báo tin giờ học, tụng kinh, thọ trai, chấp tác của chư Tăng.

Tích trượng:

Được mang nhiều tên khác nhau như: Thanh Trượng, Minh Trượng, Trí Trượng, Ðức Trượng…là một cây gậy, ở đầu gậy có những vòng thiếc, khi rung phát ra tiếng. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Xuất xứ: Theo kinh Tích trượng có chép: Này các Tỳ Kheo, các ngươi nên thọ trì tích trượng, vì rằng tích trượng là một pháp khí mà ở đời các Như Lai đã có thọ trì.

Ý nghĩa: Tiếng Phạn gọi là Khiết khí la. Tàu dịch là Tích trượng, tức là cái gậy của các vị Tỳ kheo dùng để đi đường hay đi khất thực.

Tích trượng còn có tên là Đức trượng, nghĩa là chiếc gậy trí tuệ và đức độ nầy mà người xuất gia học đạo giải thoát được vững tiến và hướng đến quả vị giải thoát. Trong kinh Tích trượng có chép:

Ngài Ca Diếp bạch Phật:

Bạch đức Thế Tôn, thế nào gọi là tích trượng? Đức Phật dạy các ý nghĩa sau đây:

  • Tích có nghĩa là Khinh, có nghĩa là nhờ chiếc gậy đức hạnh và trí tuệ nầy mà phiền não được nhẹ đi và sớm ra khỏi cảnh sanh tử luân hồi. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.
  • Tích cũng có nghĩa là Minh, nghĩa là được trí huệ sáng suốt, là hết khổ não.

Đường kính của chiếc tích trượng thì vừa đủ cho vòng tay của người xử dụng. Cũng còn được gọi với những tên: Thỉnh trượng hay Minh trượng. Vì, trong khi đến nhà ai, vị sa môn cần gõ tích trượng xuống đất để người trong nhà biết. Trên đầu tích trượng có bốn cái gọng và 12 cái vòng. Đó là biểu tượng cho tứ diệu đế và thập nhị nhơn duyên., buộc các tỳ kheo luôn luôn phải nhớ nghĩ, luôn luôn phải thực hành. Ngoài ra còn có loại tích trượng trên đầu chỉ có hai cái vòng và sáu cái khâu, thì nó tượng trưng cho chơn đế, tục đế và lục độ. Tích trượng nầy do đức Phật Ca Diếp chế ra. Tất cả hai loại tích trượng ấy đều không cao quá đầu người . Trong chùa An Phú có hai cây tích trượng của Thượng tọa trụ trì được trưng trong nhà tổ và chỉ được sử dụng trong các ngày lễ lớn

Pháp loa:

Được trưng bài trong tủ kính đặt tại nhà thờ tổ tại chùa An Phú. Thường goị là Tù Và làm bằng loại vỏ ốc lớn, phiên âm từ tiếng Phạn là Thương Khu dịch nghĩa là Kha Bối (vỏ con Kha nói tắt của chữ Sankha) tức là vỏ ốc, vỏ sò. Tiếng thổi vào vỏ ốc vang đi rất xa, lấy đó để ví với tiếng thuyết pháp của Ðức Phật vang xa bao trùm khắp đại chúng, tiếng thổi vỏ ốc nghe mạnh mẽ, biểu hiệu sự hùng mạnh của đại pháp. Thế tục dùng vỏ ốc thổi làm hiệu lệnh ba quân, cũng ví như lời thuyết pháp của Ðức Phật có sức mạnh hàng phục ma quỷ. Còn như nghi thức thổi vỏ ốc trong Phật sự; Theo Mật Tông giải thích: vỏ ốc có hình Tam Muội Da cuả Ðức Vô Lượng Âm Phật Ðỉnh Tôn là chẩn mực pháp âm của Ðức Phật, nghe tiếng thổi vào vỏ ốc thì Thiên Thần, Chư Thiên đều hoan hỉ mà hưởng ứng, người thế tục nghe tiếng ốc thì diệt trừ được các tội chướng. Do đó trong hình Ðức Phật Quan Âm nghìn cánh tay, có một tay cầm Pháp Loa.

3.5 Lư hương. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Lư Hương là khí cụ dùng để thắp hương xông hương cúng Phật, ngày nay lư hương được sử dụng phổ biến trong tục thờ cúng gia tiên để tạo ra mùi hương trầm thơm, bởi theo quan niệm từ xưa thì hương thơm thể hiện lòng thành, sự thanh khiết cao quý. Chính vì thế, lư hương với những khói trầm toả ra có tác dụng thanh lọc khí vô cùng hiệu quả, không những hoá giải được hung khí mà còn tăng thêm cát khí, đem lại cảm giác nhẹ nhàng, bình an…

Các lư hương trong chùa (33 cái) thuộc loại lớn, trung và nhỏ, đều bằng đồng và mặt trước lư có khắc nổi ba chữ Hán: “An Phú tự”, mặt sau có ba chữ: “An Phú tự”.

3.6 Bàn thờ.

Trong chùa có tất cả 45 bàn thờ, đa số đều được tạo tác tại chùa, vào đầu thế kỷ XX, được làm bằng cây gõ (bàn Phật) và cây thau lau (bàn vong). Trừ một số ít bàn vong không chạm khắc hoa văn, tất cả các bàn thờ khác đều có bao lam.

Các bàn thờ này là những hiện vật quý, có giá trị về mặt lịch sử, cung cấp cho nhà nghiên cứu nhiều loại hiện vật phong phú về kiểu dáng chạm khắc.

4. Lễ hội Phật giáo được tổ chức tại chùa An Phú Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Theo tinh thần của giáo lý Phật giáo, đạo Phật là đạo của sự giải thoát. Thực hành những điều trong giáo lý đề cập chính là đem lại niềm vui cho mọi người và giúp mọi người hết khổ. Chính vì vậy, trong Phật giáo bao gồm nhiều nghi lễ, nhưng hai nghi lễ quan trọng nhất chính là nghi lễ cầu an và cầu siêu.

Tương ứng với hai nghi lễ này, trong năm Phật giáo tổ chức một số lễ hội quan trọng. Nhưng trước kia, nghi lễ cầu an và cầu siêu được tiến hành đơn giản tại chùa. Tình trạng cúng lễ đơn giản ấy kéo dài cho đến đầu thế kỷ XIX. Bắt đầu cho các lễ hội Phật giáo lớn ở Gia Định đầu thế kỷ XIX có lẽ là các trường hương. Lễ hội kéo dài suốt ba tháng mùa hạ, tập họp tăng sĩ đến tu học tại chùa. Gia Định thành thông chí đã ghi nhận vào năm 1918, giới đàn đã được mở rộng tại chùa Giác Lâm, thiện nam tín nữ đến quy y rất đông. Ngoài các lễ hội quy tụ nhiều tăng sĩ Phật tử như Trường Hương, Trường Kỳ, tại các chùa, đặc biệt là tại các tổ đình của dòng phái, còn có lễ kỵ giỗ tổ, lễ xá tội vong nhân vào dịp Trung nguyên, Lễ cúng rằm tháng giêng, lễ cúng rằm tháng mười… là những lễ hội chính bên cạnh ngày Đản sinh của Đức Phật vào rằm tháng 4 âm lịch.

Nếu như mức độ và tính chất văn hóa trong các lễ này có phạm vi rộng, thu hút nhiều người, nhiều chùa thì còn có những buổi lễ có số người tham dự tuy không ít, nhưng không diễn ra thường xuyên, như lễ Trà tỳ, lễ Tảo tháp, lễ cung nghinh xá lợi Phật

4.1 Lễ thượng nguyên: Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Tết Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng) là ngày lễ hội cổ truyền tại Trung Quốc và là tết Thượng Nguyên tại Việt Nam. Lễ hội trăng rằm từ giữa đêm 14 (đêm trước trăng rằm) trọn ngày 15 (ngày rằm) cho đến nửa đêm 15 (đêm trăng rằm) của tháng giêng Âm lịch. Những ngày này Phật tử xa gần hành hương đến chùa An Phú rất đông.

Ý nghĩa giá trị thiêng liêng của Buổi lễ Thượng Nguyên và tâm nguyện cầu an đầu năm:

Ngày đầu năm, Phật tử cùng nhân dân khi lên chùa lễ Phật hay có suy nghĩ cần cúng sao, giải hạn, mong giải được oan kết từ nhiều đời của mình, mong mỏi được sự bình an trọn vẹn cả năm nhưng cần phải kiểm tra lại xem việc nào đúng với chánh pháp, thực sự đem lại cho chúng ta bình an, chúng ta cần suy nghĩ cho kỹ. Nhiều người nghĩ năm nay mình sao Thái Bạch, sao La Hầu, sao Kế Đô và cho là sao xấu, tâm bất an nên trí tuệ không phát huy được. Vấn đề sao hạn trong giáo hội Phật giáo được nhắc nhở rất nhiều vì đây không phải là chuẩn mực.Trong ngày Rằm tháng Giêng cũng là ngày mà người Phật tử về chùa lễ Phật, sám hổi, phát nguyện, nỗ lực tinh tấn tu tập mong trọn vẹn năm ấy được phúc lành nhưng khi quý Phật tử phát nguyện, hồi hướng thì cần phải có ấn tượng sâu sắc với những lời đó, nhờ vậy sẽ giúp cho trong một năm hoàn thiện mình, xây dựng phúc đức để cả năm gặt hái quả lành, đây là điều các Phật tử nên lưu tâm. Người đệ tử Phật muốn cầu an lạc giải thoát không gì bằng gieo phúc lành cho mình và mọi người. Chùa An Phú cũng như các ngôi chùa khác thường tụng kinh Dược Sư, kinh Vạn Phật nhằm mục tiêu tiêu giảm nghiệp chướng, tiêu tai tật bệnh… và khuyên các Phật tử cùng tụng niệm và hồi hướng công đức để thế giới được an lành. Khi Phật tử vào chùa sẽ được các quý sư tặng những bao li xì nhỏ và những lời chúc may mắn.

4.2 Lễ Phật Đản

Theo Thượng tọa trụ trì chùa An Phú lễ Phật Đản của chùa An Phú thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần (thứ 7, Chủ Nhật) từ khoảng từ (8-15/4) nhằm mục đích chúc mừng, tán thán và thể hiện lòng biết ơn với Đức Phật đã hạ thế. Chùa luôn cố gắng tổ chức Đại lễ Phật đản hằng năm vào các dịp cuối tuần nhằm tạo điều kiện cho các quý Phật tử, các bạn học sinh, sinh viên có điều kiện tham gia lễ Mộc dục và đồng thời có nhiều thời gian lắng nghe chia sẻ những lời Pháp thoại từ các quý thầy nhau ôn lại lịch sử của Đức Phật Thích ca. Qua đó truyền tải những thông tin, những bài học lớn lao về sự tu tập, rèn luyện đạo đức, giữ giới, sông theo lời Phật dạy, tin theo nhân quả… Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Phật Đản (chữ Nho 佛誕 – nghĩa là ngày sinh của đức Phật) hay là Vesak (tiếng Phạn: Vaiśākha, Devanagari: ववववव, Sinhala: වෙසක්ව ෝය) là ngày kỷ niệm Phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm sinh ra tại vườn Lâm-tì-ni năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm.

Theo truyền thống Phật giáo Bắc tông và ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, ngày này chỉ là ngày kỷ niệm ngày sinh của đức Phật Thích Ca; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (kỷ niệm Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Ngày Phật Đản hay là lễ Vesak, Tam Hiệp được kỷ niệm vào các ngày khác nhau tùy theo quốc gia.

Một số quốc gia với đa số Phật tử chịu ảnh hưởng Bắc tông (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam) thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Các quốc gia theo Nam tông thường tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 4 âm lịch hay là ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch. Có những năm có 2 ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch như năm 2007, có nơi tổ chức ngày Vesak vào ngày trăng tròn đầu tiên (ngày 1 tháng 5) trong khi tại nơi khác lại kỷ niệm. Lễ Phật đản được công nhận là một ngày nghỉ lễ chính thức tại miền Nam Việt Nam bắt đầu từ năm 1958 do chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa của chính thể Việt Nam Cộng hòa thông qua, vào ngày này thường có diễn hành xe hoa trên đường phố. Khi Việt Nam thống nhất sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975, thì ngày này không còn là ngày lễ quốc gia.

Ngày lễ này ngày càng được Phật giáo Việt Nam tổ chức long trọng trên cả nước với nhiều hoạt động phong phú như diễn hành, rước xe hoa, văn nghệ mừng sự ra đời của Đức Phật và các hoạt động từ thiện khác. Đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc – Vesak đã được tổ chức tại Việt Nam vào các năm 2008, 2014, 2019. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Những năm gần đây, ngày Phật Đản được coi là một ngày lễ hội quan trọng, thu hút sự tham gia không chỉ của Phật tử mà còn là của người dân trên mọi miền của Việt Nam. Ngày này cũng nhận nhiều sự quan tâm của chính quyền, thực tế mọi buổi lễ Phật đản chung của các huyện đều có sự tham gia của chủ tịch huyện và các chuyến thăm của chủ tịch mặt trận Tổ quốc, sự hỗ trợ kinh phí trong công tác tổ chức Phật đảng vào ngày trăng tròn thứ 2 (ngày 31 tháng 5)

Vào ngày này, các Phật tử không được sát sinh, mọi người đều cung kính ăn chay, dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và trang trí bàn thờ Phật thật đẹp. Ngoài ra, các Phật tử có thể lên chùa đọc kinh, nghe thuyết giảng để tâm thanh tịnh.

4.3 Lễ Vu lan

Theo Thầy Thích Hiển Chơn phó trụ trì chùa An Phú lễ Vu Lan hằng năm tại chùa An Phú thường được tổ chức vào các ngày cuối tuần (thứ 7, Chủ Nhật) từ khoảng từ (8-15/7) Âm lịch nhằm mục đích biết ơn tưởng nhớ công lao dưỡng dục cao lớn tựa trời biển của cha mẹ, thể hiện sự tri ân đến những người đã mất và sâu xa hơn là để thể hiện sự biết ơn đến ngài Mục Kiền Liên và Đức Phật. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Nói đến Lễ Vu Lan, thì mỗi người trong chúng ta, ai cũng biết và cũng đã từng đến chùa tham dự đại lễ này. Lễ Vu Lan diễn ra vào ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch hằng năm. Năm nay lễ rơi vào ngày thứ Ba 05/9/2017 đúng vào ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch. Các chùa khắp nơi trên thế giới đều long trọng tổ chức đại lễ Vu Lan, tạo cơ hội cho các Phật tử về chùa dâng hương cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được khoẻ mạnh bình yên và cha mẹ bảy đời quá khứ được thoát khổ địa ngục, sanh về cõi Trời an vui. Cho nên hễ nói đến Lễ Vu Lan là người ta nghĩ ngay đó là ngày Lễ Báo Hiếu Cha Mẹ.

Không phải tự dưng cứ đến ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch hằng năm, Phật giáo long trọng tổ chức “đại lễ Vu Lan-Báo Hiếu” thật trang nghiêm, từ hình thức cho đến nội dung nhằm mang ý nghĩa nhân văn trên bình diện tâm linh và văn hoá của con người. Lễ hội này phát xuất từ sự tích Phật giáo được ghi lại trong kinh Vu Lan Bồn.

Vu Lan: Danh từ gọi tắt của “Vu Lan Bồn”, tiếng Phạn là “Ullambana”.

Ullam: dịch là “treo ngược” (đảo huyền), ví cho sự thống khổ của người chết như bị treo ngược. Chữ “bồn” tiếng Phạn là “bana” tạm dịch là “cứu giúp”. Như vậy chúng ta có thể hiểu từ “Vu Lan Bồn” có nghĩa là giải cứu người bị tội treo ngược.

Báo hiếu: Nghĩa là sự báo đáp, đền đáp công đức sinh thành dưỡng dục của người con đối với cha mẹ hiện tiền và cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Theo trong kinh thì Lễ Vu Lan của Phật giáo phát xuất từ thời Đức Phật. Ngài đã dạy phương thức báo hiếu cho cha mẹ ở đời này và nhiều đời khác. Người đầu tiên tiếp nhận chính là Tôn giả Mục Kiền Liên, Ngài là một trong 10 vị đệ tử xuất chúng của Đức Thế Tôn.

Theo kinh “Vu Lan Bồn” thì ngày xưa, khi Bồ Tát Mục Kiền Liên tu thành chánh quả, lúc tưởng nhớ mẫu thân, đã dùng tuệ nhãn kiếm tìm khắp nơi trong trời đất, liền thấy mẹ mình đang ở trong loài ngạ quỷ, bị đói khát hành hạ rất khổ sở. Thương mẹ, Ngài đã vận thần thông xuống cõi ngạ quỷ dâng bát cơm đầy cho mẹ. Rất tiếc, bà Thanh Đề hãy còn quá sân tham và bởi ác nghiệp thọ báo còn quá nặng nên khi bốc cơm đưa vào miệng thì cơm biến thành lửa. Tôn giả Mục Liên không có cách nào cứu được mẹ nên Ngài liền quay về hỏi Đức Thế Tôn.

Đức Phật dạy rằng: “Dù ông có thần thông quảng đại như thế nào cũng không đủ sức cứu mẹ ông, chỉ có một cách là nhờ sự hợp lực của chư tăng khắp nơi, sau 3 tháng an cư kiết hạ cùng tập trung chú nguyện mới có thể chuyển hoá được nghiệp lực giúp mẹ ông thoát khỏi cảnh khổ”.

Nhưng Bạch Thế Tôn,  làm sao con thỉnh được  chư Tăng khắp  mười phương về để cúng dường cùng một lúc như vậy được?

Đức Phật dạy: “Ngày Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ của chư Tăng. Ngày đó dù các vị ở trong thiền định hay thọ hạ kinh hành, hay hoá độ nhân gian, cũng tập trung lại để cùng Tự Tứ. Đây là ngày thích hợp để cung thỉnh chư Tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó.” Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Tôn giả Mục Kiền Liên y theo lời Phật mà làm. Sau đó mẹ của Ngài được giải thoát. Trong dịp này Đức Phật cũng dạy: Chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu-Lan-Bồn Pháp) mà làm”. Từ đó, ngày Lễ Vu Lan ra đời.

Kể từ những năm tháng đầu tiên, khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, các chùa đã tổ chức Lễ Vu Lan. Ngày nay, Lễ Vu Lan không còn đơn thuần chỉ có ý nghĩa tôn giáo thiêng liêng ca ngợi lòng hiếu thảo đối với mẹ không thôi mà đã trở thành “lễ hội” mang tính cách nhân văn nói lên lòng hiếu kính của tất cả mọi người đối với cả mẹ lẫn cha hiện tiền, hay ông bà cha mẹ đã quá vãng nhiều đời nhiều kiếp. Lòng trân trọng hiếu kính mẹ cha, phụng thờ tổ tiên ông bà, chính là sợi dây liên kết giữa người còn kẻ mất, là truyền thống cao đẹp nêu cao tình người của dân tộc Việt.

Khi tham gia lễ Vu Lan báo hiếu tại chùa An Phú cũng như các ngôi chùa khác trên cả nước vào dịp Vu lan , người đến tham dự sẽ được ban tổ chức lễ hội cài bông hồng hiếu hạnh trên ngực áo. Nghi thức bông hồng cài áo không chỉ gợi lên lòng tôn kính cha mẹ mà còn là dịp thắp lên ngọn lửa ấm áp của lòng nhân từ để lan tỏa tình thương trong cuộc sống.

Nghi thức Bông hồng cài áo theo Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam xuất phát từ áng văn viết về Mẹ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh được viết vào những năm 1960.

Trong một chuyến công tác tại đất nước Nhật Bản, Thiền sư lấy làm lạ khi thấy người Nhật thành kính cài tặng ông một bông hoa trắng lên ngực áo. Sau khi tìm hiểu và biết được ý nghĩa cao đẹp của việc này, ông đã chọn bông hoa hồng làm biểu tượng cho lễ Vu Lan báo hiếu của nhà Phật và viết ấn phẩm “Bông Hồng Cài Áo” vào tháng 8 năm 1962.

4.4 Ý nghĩa nghi thức bông hồng cài áo lễ Vu Lan

Bông hoa hồng được chọn là biểu tượng của tình yêu, sự cao quý và ngát hương. Việc nhớ về bậc sinh thành và cài lên ngực bông hoa cao quý là tình cảm đẹp nhất, là chữ Hiếu mà con cái gửi đến bậc sinh thành. Với ý nghĩa đó, nhiều người Việt Nam cứ đến ngày Vu Lan đều cài một bông hoa màu hồng lên áo, ấy là biểu tượng của việc còn Mẹ – Cha. Ai đã mất mẹ thì cài hoa trắng. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

Người có hoa hồng hẳn sẽ tự hào vô cùng vì trên đời này còn có Mẹ – Cha. Ai mang hoa trắng sẽ thấy như một sự nhắc nhở, rằng mình đã lỡ mất những gì quý giá nhất, từ đó mà hành động sao cho phải với lương tâm. Vu Lan là dịp đặc biệt để giới trẻ sống chậm lại và yêu thương nhiều hơn.

Những người đến chùa đều không quên dừng lại để cài lên ngực một bông hồng, để nhắc nhớ về công ơn của cha mẹ. Bông hồng màu đỏ cho những ai may mắn còn cha mẹ trên đời, bông hồng màu hồng cho những người còn mẹ mất cha và bông hồng trắng cho những người kém may mắn khi không còn cha và mẹ trên đời.

Bông hồng là biểu tượng của tình yêu, sự cao quý. Việc nhớ về bậc sinh thành và cài lên ngực hoa hồng cao quý là tình cảm đẹp nhất, kính trọng nhất đối với bậc sinh thành. Mang ý nghĩa sâu sắc đó, nhiều người Việt Nam khi đến ngày Vu Lan đều cài một bông hồng trên áo.

5. Vai trò của lễ hội với người dân địa phương

Với người trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh các lễ hội của Phật giáo được tổ chức hằng năm không chỉ riêng ở chùa An Phú mà còn ở các chùa khác trong thành phố mang những ý nghĩa lớn lao. Bởi đây là dịp để cho mỗi người tìm về một phần của mình đó là phần tâm linh trong mỗi con người. Cửa chùa luôn rộng mở đón chào tất cả chúng sinh “ Ngã Phật từ bi”. Mái chùa, chăm chút nuôi dưỡng những hạt giống thiện lành để góp phần làm cho xã hội trở lên tốt đạo hơn, lối sống trở lên, lành mạnh có đạo đức hơn. Thông qua những lễ hội chùa An Phú, cũng như các chùa khác trên cả nước đứng sau là các Tăng ni luôn hy vọng xây dựng được một thê giới cực lạc ngay tại thế gian, cứu giúp giúp những chúng sinh ra khỏi biển khổ mê lầm, đang chìm đắm trong tham , sân, si hướng dẫn chúng sinh tu tập, mở mang kiến thức, hành trì giới luật, giữ gìn căn lành để lại cái phúc sau này. Cuộc sống ngày càng trở lên hiện đại hơn, vội vã hơn con người càng dễ đắm chìm trong những đam mê, danh vọng, tiền tài, sắc dục vì vai trò của Phật pháp trong đời sống ngày càng trở nên quan trọng. Khóa luận: Tổng quan du lịch đối với chùa An Phú.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng khai thác phát triển đối với Chùa An Phú

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537