Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại một số nhà thờ công giáo huyện Xuân Trường, Nam Định dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về huyện Xuân Trường, Nam Định
Xuân Trường là huyện ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, Phía Bắc giáp huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp huyện Hải Hậu, phía Đông giáp huyện Giao Thủy, phía Tây giáp huyện Trực Ninh.
Diện tích: Diện tích tự nhiên 112,8 km
Dân số: Trên 19 vạn người, trong đó đồng bào theo đạo Thiên Chúa giáo chiếm khoảng 30%, mật độ dân số khoảng 1.696 người/km2 (cao hơn bình quân chung của tỉnh). Dân số trong độ tuổi lao động có gần 10 vạn người (trong đó lao động nông nghiệp chiếm khoảng 72%). Nhìn chung, người lao động Xuân Trường có trình độ văn hóa, cần cù, sáng tạo trong lao động, nhiều người có tay nghề cao, là tiền đề quan trọng để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Các đơn vị hành chính: huyện gồm 19 xã và một thị trấn là Xuân Bắc, Xuân Châu, Xuân Đài, Xuân Hòa , Xuân Hồng, Xuân Kiên, Xuân Ninh, Xuân Ngọc, Xuân Phong, Xuân Phú, Xuân Phương, Xuân Tân, Xuân Thành, Xuân Thủy, Thọ Nghiệp, Xuân Thượng, Xuân Tiến, Xuân Trung, Xuân Vinh và Thị trấn Xuân Trường.
Điều kiện tự nhiên: Là huyện thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, được bao bọc bởi 3 con sông lớn: phía Bắc là sông Hồng, phía Tây là sông Ninh Cơ, phía Đông là sông Sò, trên địa bàn huyện còn có hệ thống sông ngòi, mương máng thuận tiện cho giao thông vận tải và tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Lịch sử hình thành: Huyện Xuân Trường từ xa xưa vốn là một phần đất do biển bồi tạo nên của hương Giao Thủy. Vào thế kỷ XIII (thời Trần), huyện Giao Thủy (gồm cả Xuân Trường và Giao Thủy ngày nay) là một trong bốn huyện thuộc Phủ Thiên Trường. Năm 1862 phủ Thiên Trường được đổi thành phủ Xuân Trường, như vậy tên Xuân Trường xuất hiện từ thế kỷ XIX nhưng không chỉ địa danh như hiện nay mà là địa danh của một phủ. Tới năm 1934 (đời vua Bảo Đại) phủ Xuân Trường chỉ còn là đơn vị hành chính cấp huyện, cùng với huyện Giao Thủy thuộc tỉnh Nam Định. Cho tới năm 1948 chính thức đổi phủ Xuân Trường thành huyện Xuân Trường.
Tháng 12/1967 theo Quyết định của Chính phủ, hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy hợp nhất thành huyện Xuân Thủy.
Sau 30 năm hợp nhất, ngày 16/02/1997 Chính phủ đã có Nghị định 19/NĐ-CP chính thức tách huyện Xuân Thủy thành 2 huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Huyện Xuân Trường tái lập, chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 01/04/1997 đến nay.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.1 Về phát triển kinh tế: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Là một huyện trọng điểm lúa của tỉnh Nam Định, Xuân Trường có khoảng 8.000 ha đất nông nghiệp trong tổng số 11.047ha đất tự nhiên (chiếm khoảng 71%). Người nông dân ở Xuân Trường có truyền thống thâm canh lúa nước, tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất nên năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi đã không ngừng tăng lên trong những năm qua. Xuân Trường nổi tiếng với gạo Tám xoan ấp bẹ Xuân Đài, hay còn gọi là gạo “tiến vua” được ưa chuộng trong nước.
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ của huyện có bước phát triển mạnh kể từ sau khi tái lập huyện đã và đang trở thành khâu đột phá chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội của huyện với các ngành sản xuất chủ yếu là cơ khí, dệt may, vận tải thủy. Hiện trên địa bàn huyện đã hình thành 4 cụm công nghiệp tập trung với tổng diện tích 52 ha, đã thu hút 53 doanh nghiệp đầu tư, tạo việc làm cho hơn 5.000 lao động. Toàn huyện hiện có gần 300 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động. Các làng nghề truyền thống của huyện gồm làng nghề cơ khí (xã Xuân Tiến), thêu ren (xã Xuân Phương), dệt chiếu cói (xã Xuân Ninh), chế biến lâm sản (xã Xuân Bắc), vận tải thủy (xã Xuân Trung), sản xuất lúa tám thơm (xã Xuân Đài)…được duy trì và phát triển, đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động với thu nhập ổn định.
2.1.2 Về văn hóa – xã hội:
Xuân Trường là huyện có truyền thống văn hóa và cách mạng, có Chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1930 và có nhiều nhà hoạt động cách mạng xuất sắc, giữ các trọng trách của Đảng, Nhà nước, Quân đội, tiêu biểu trong số đó là Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Trường Chinh. Đến nay, toàn huyện có 16 sỹ quan cấp tướng, 11 anh hùng LLVT nhân dân, 2 anh hùng Lao động. Huyện và 11 xã, thị trấn trong huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND thời kỳ chống Pháp; Hợp tác xã nông nghiệp xã Xuân Phương được phong tặng danh hiệu AHLĐ trong thời kỳ đổi mới.
Với bề dầy lịch sử đáng tự hào, Xuân Trường có nhiều công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo độc đáo với 29 di tích lịch sử văn hóa được Nhà nước xếp hạng, tiêu biểu là Quần thể lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh; Di tích chùa Keo được xây dựng từ thế kỷ XIII với nhiều giá trị kĩ – mĩ thuật nổi tiếng; Tiểu vương cung Thánh đường Phú Nhai, Tòa giám mục Bùi Chu – Trung tâm điều hành công giáo của các huyện phí Nam tỉnh Nam Định, đó là tiềm năng, lợi thế quan trọng về phát triển du lịch, phát triển kinh tế xã hội. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Người dân Xuân Trường vốn thông minh, sáng tạo, giàu ý trí, nghị lực và khát vọng vươn lên. Nhiều thế hệ đã hun đúc lên truyền thống hiếu học và học giỏi – một trong hai mũi nhọn truyền thống của Xuân Trường. Từ xưa, nơi đây đã có nhiều người đỗ đạt cao, tiêu biểu là các sĩ tử của làng Hành Thiện, Trà Lũ, Nghĩa Xá, Ngọc Tỉnh… Trong đó có nhiều học giả nổi tiếng, nhiều nhà nho yêu nước, nhà hoạt động cách mạng đầy nhiệt huyết đã để lại cho hậu thế những truyền thống tốt đẹp nhiều cuốn sách hay, những kinh nghiệm quý. Trong dân gian, từ lâu vẫn lưu truyền câu ca “Xứ đông Cổ Am, xứ Nam Hành Thiện” chính là nhắc tới làng Hành Thiện (xã Xuân Hồng) nổi tiếng cả nước về truyền thống học hành đỗ đạt. Thời nho học huyện có 11 người đỗ Đại khoa; sau cách mạng tháng Tám, sự học của người Xuân Trường tiếp tục được coi trọng và phát triển, đến nay toàn huyện có 91 người có học hàm Giáo sư, Phó giáo sư; 263 người có học vị Tiến sĩ.
Các lễ hội truyền thống tiêu biểu: Lễ hội Đền – chùa Kiên Lao xã Xuân Kiên (05 tháng Giêng), Lễ hội làng An Cư xã Xuân Vinh (06- 07 tháng Giêng), lễ hội chùa Thọ Vực xã Xuân Phong (15 tháng Giêng), Lễ hội làng Nhân Thọ xã Thọ Nghiệp (15 tháng Giêng), Lễ hội làng Ngọc Tỉnh thị trấn Xuân Trường (11 tháng Giêng), Lễ hội làng Xuân Bảng thị trấn Xuân Trường (12/02- AL), Lễ hội Chùa Nghĩa Xá xã Xuân Ninh (01/3-AL), Lễ hội làng xã Xuân Bắc (15/3-AL), Lễ hội Đền Xuân Hy xã Xuân Thủy (20/8-AL), Lễ hội chùa Keo Hành Thiện xã Xuân Hồng (12-15/9-AL).
2.1.3 Về khí hậu Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Huyện Xuân Trường nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 290C, tháng thấp nhất có nhiệt độ khoảng 6,80C, tháng cao nhất khoảng 39,50C. Tổng tích ôn từ 85500C-86500C; Cho phép gieo trồng 2-3 vụ cây ngắn hạn trong năm.
Tổng số giờ nắng trong năm dao động khoảng từ 1600 – 1700 giờ vụ hè thu có giờ nắng cao nhất chiếm khoảng 70% số giờ nắng trong năm.
Năm mưa cao nhất 2754mm; năm mưa thấp nhất chỉ đạt 978mm. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1750 – 1800mm được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Độ ẩm độ không khí bình quân năm khoảng 80 – 85%, độ ẩm cao tuyệt đối 93% và độ ẩm thấp tuyệt đối là 34%.
Hướng gió chủ yếu là hướng Đông – Bắc, Đông – Nam với tốc độ bình quân 3-5m/s.
Nằm trong vành đai khí hậu của khu vực Vịnh Bắc Bộ nên thường xảy ra bão lớn gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống.
2.1.4 Về tài nguyên khoáng sản
Qua tài liệu thu thập được có thể đánh giá khoáng sản trên địa bàn huyện Xuân Trường nghèo về chủng loại và ít về số lượng, chỉ có một số khoáng sản phi kim loại có thể khai thác phục vụ cho phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng ở địa phương như:
Đất làm gạch ngói nằm rải rác khu vực bãi ven sông Hồng và sông Ninh Cơ, trữ lượng đạt hàng chục triệu tấn có thể khai thác nhiều năm để sản xuất vật liệu xây dựng, nhất là gạch ngói. Các mỏ cát xây dựng tập trung ve n sông Hồng và sông Ninh Cơ với chiều dài hơn 20km được bồi tụ thường xuyên, đây là nguồn nguyên vật liệu lớn làm vật liệu xây dựng. Hàng năm cát xây dựng khai thác khoảng 100 ngàn m3/năm. Nguồn đất làm gạch ngói tập trung chủ yếu ở Xuân Hồng, Xuân Ninh, Xuân Châu… Riêng ở Sa Cao (Xuân Châu) trữ lượng khoảng 5 – 10 triệu tấn.
Khoáng sản cháy: Dầu mỏ và khí đốt đã được thăm dò có ở khu vực xã Xuân Hồng, Xuân Thuỷ tuy nhiên trữ lượng ít. Khả năng đầu tư khai thác hiệu quả thấp.
2.2. Các nhà thờ Công giáo tiêu biểu trong huyện Xuân Trường Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
2.2.1 Khái quát về Giáo phận Bùi Chu
Nhà thờ Bùi Chu là nhà thờ chính tòa của giáo phận Bùi Chu (Việt Nam có 26 nhà thờ Chính tòa tương ứng với 26 Giáo phận).Đây là “nhà thờ Mẹ” của tất cả các nhà thờ trong toàn tỉnh Nam Định.
Cơ sở hình thành
Lược sử về Giáo phận Bùi Chu: Bùi Chu là mảnh đất được diễm phúc đón nhận hạt giống Tin Mừng đầu tiên tại Việt Nam. Theo Khâm Định Việt Sử:
Giatô, dã lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hoà nguyên niên, tam nguyệt nhật, Dương nhân danh Inêxu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thủy chi Trà Lũ âm dĩ Giatô tả đạo truyền giáo – Tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Inêxu lén lút đến làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy và làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân, ngấm ngầm truyền tả đạo Giatô» (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 5-6). Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Trước kia, vào khoảng năm Nguyên Hoà (1533-1548) đời Lê Trang Tông, Inêxu, người Tây Dương, mới đem đạo ấy vào vùng ven biển, thuộc huyện Giao Thuỷ, huyện Nam Chân, lén lút truyền giáo, gọi là “đạo Thiên Chúa” cũng gọi là “Thập tự giáo”. Giáo lý này dùng thiên đường địa ngục để phân biệt báo ứng về điều thiện, điều ác, cũng gần giống đạo Phật, có thêm vào thuyết xưng tội, rửa tội nữa» (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XLI, tờ 24-25).
Sự kiện này đã ghi đậm một dấu mốc lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Nó không chỉ khai mở công cuộc truyền giáo ở Việt Nam, mà còn đặt Bùi Chu vào những trang đầu và trở thành trung tâm truyền giáo ở giáo phận Đàng Ngoài trong những thế kỷ kế tiếp.
Bùi Chu còn thêm vào trang sử hào hùng của Giáo Hội Việt Nam: 26 vị thánh tử vì đạo sinh quán tại giáo phận Bùi Chu và 18 vị phục vụ tại đây trong số 117 vị thánh tử vì đạo nước Việt Nam. Đó là 44 vị hiển thánh tử vì đạo đại diện cho 514 tôi tớ Chúa và khoảng 16.500 vị anh hùng tử vì đạo đã chết để làm chứng cho Chúa, thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và giáo dân trong giáo phận Bùi Chu.
Ngày 9/9/1659, khi Toà Thánh chính thức thành lập 2 Giáo phận đầu tiên tại Việt Nam thì vùng đất của Giáo phận Bùi Chu đã có đông giáo hữu thuộc giáo phận Đàng Ngoài do các thừa sai dòng Tên rồi đến các cha dòng Đa Minh phục vụ.
Năm 1668, Đức cha Pierre Lambert de la Motte đã truyền chức linh mục cho 4 thầy người Việt đầu tiên tại Xiêm (Thái Lan), trong đó có cha Gioan Huệ (1668-1671) được cử về phục vụ ở Kiên Lao giáo phận Bùi Chu.
Ngày 19/2/1670, Đức cha đã lập dòng Mến Thánh Giá tại Kiên Lao và chủ lễ khấn dòng cho hai nữ tu tiên khởi là chị Paola và chị Anê. Cũng năm đó, Kiên Lao là giáo xứ có đông giáo hữu nhất trong Giáo phận Đàng Ngoài (hơn 2000 tín hữu) và cha Simon Kiên (nguyên quán), 1 trong 7 linh mục thuộc lớp linh mục người Việt thứ hai được truyền chức tại công đồng Phố Hiến (Hưng Yên), đã phục vụ rồi qua đời tại đây (1670-1684). Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Ngày 15/11/1679, giáo phận Đàng Ngoài được chia thành hai: giáo phận Đông do Đức cha Deydier Điển coi sóc và Giáo phận Tây do Đức cha Bourges coi sóc. Suốt thời gian 1679-1848, Toà giám mục thường được đặt tại Lục Thủy Hạ (Liên Thủy), Trà Lũ, Trung Linh và Bùi Chu. Từ năm 1757, Toà Thánh trao Giáo phận Đông cho các cha dòng Đa Minh coi sóc và đảm nhiệm việc truyền giáo.
Năm 1848, Toà Thánh tách Giáo phận Đông Đàng Ngoài: một giữ tên Giáo phận cũ và một lấy tên Giáo phận Trung (nằm giữa Giáo phận Đông và Tây). Giáo phận mới tuy nhỏ bé về địa lý nhưng giáo dân lại nhiều gấp ba lần Giáo phận Đông (139.000 tín hữu).
Trong thời gian này, Giáo Hội Việt Nam gặp biết bao gian nan thử thách, do các sắc chỉ cấm đạo của các vua quan, đặc biệt là đời các vua Minh Mạng và Tự Đức. Tưởng chừng Kitô giáo bị xoá sổ tại Bùi Chu, thì vào năm 1858, Đức cha Valentinô Berrio Ochoa Vinh và cha chính Emmanuel Riaño Hoà đã khấn dâng giáo phận cho Đức Mẹ : “Vì lời cầu bầu của Đức Mẹ, khi Thiên Chúa cho giáo dân thoát khỏi cơn bắt bớ đạo và được sống bình an, thì sẽ xây cất một thánh đường xứng đáng dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và nhận Người làm bổn mạng của giáo phận”. Sau nhiều lần xây dựng, Đền thánh Phú Nhai hiện nay (xức dầu thánh hiến trọng thể ngày 7/12/1933) là chứng tích tình Mẹ che chở Giáo phận và lòng yêu mến của toàn thể con cái Bùi Chu đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Ngày 3/12/1924, tất cả các Giáo phận ở Việt Nam đều được đổi tên theo địa hạt hành chính nơi đặt Toà giám mục, Giáo phận Trung được đổi tên thành Giáo phận Bùi Chu do Đức cha Pedro Muñagorri Trung coi sóc.
Giáo phận Bùi Chu trở nên quá lớn đối với một chủ chăn. Ngày 9/3/1936, Toà Thánh chia Giáo phận làm hai : Giáo phận Bùi Chu do Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, vị giám mục bản quốc thứ hai cai quản, và Giáo phận Thái Bình vẫn do các vị thừa sai dòng Đa Minh cai quản. Điều đó chứng tỏ Giáo phận Bùi Chu đã có sự trưởng thành khá vững chắc. Khi đó, giáo phận gồm 6 huyện tỉnh Nam Định, dân số 944.900, số giáo dân 230.000 (24,45%), 100 linh mục (không kể linh mục thừa sai dòng Đa Minh), 390 thầy giảng, 520 thánh đường.
Cho đến năm 1954, Giáo phận Bùi Chu đã là một giáo phận có sự trưởng thành khá vững chắc với 178 linh mục triều, 14 linh mục dòng, 78 đại chủng sinh, một số lớn nữ tu và khoảng gần 210 ngàn giáo dân trên tổng số gần 900 ngàn người trên địa bàn và 103 giáo xứ. Biến cố ngày 20/7/1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước: Đức cha, cha chính, cha văn phòng cùng với phần lớn các cha (khoảng 142 cha) trong đó có cha giám đốc, ban giáo sư đại chủng viện và chủng sinh, các bề trên và các hội dòng: Gioan Thiên Chúa, Đồng Công, Khiết Tâm (thầy giảng Bùi Chu), Mân Côi, Đa Minh, Mến Thánh Giá và dòng Kín Cát Minh đã di cư vào miền Nam cùng với trên 100.000 giáo dân. Giáo phận rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Cả Giáo phận còn lại 35 linh mục hầu hết là già yếu, nhiều cha đã về hưu nay phải trở lại coi xứ cùng với 54 thầy giảng và 90 nữ tu.
Trong hoàn cảnh đó, Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi đã cử cha văn phòng Giuse Phạm Năng Tĩnh trở về miền Bắc với tư cách là đại diện tông toà rồi giám quản Giáo phận và được tấn phong giám mục ngày 10/11/1960, tức là trước ít ngày thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam (24/11/1960) với tông hiến Venerabilium Nostrorum của Đức Thánh Cha Gioan XXIII. Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh đã cho thành lập chủng viện Mẫu Tâm với hơn 200 chủng sinh. Ngày 27/11/1960, ngài phong chức linh mục cho 4 thầy giảng trong đó có thầy Giuse Vũ Duy Nhất, sau này làm giám mục. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Từ khi giáo phận tông toà Bùi Chu được nâng lên Giáo phận Chính toà ngày 24/11/1960, với sự tài tình khôn ngoan của Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, Giáo phận đã từng bước vượt qua những chặng đường gian khó. Ngày 8/12/1963 đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức cha đã truyền chức linh mục cho 29 thầy tại Đền thánh Phú Nhai. Sự kiện đó như ngày phục sinh của Giáo phận, nhiều giáo xứ đã có chủ chiên coi sóc sau nhiều năm không người chăn dắt.
Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh đã chu toàn các nhiệm vụ khác nhau của một vị mục tử khôn ngoan và thánh thiện. Với tư cách là giám mục, giáo sư đại chủng viện, nhà đào tạo cho các chủng sinh và tu sĩ, chăm sóc mục vụ cho 7 giáo xứ với số giáo dân tới 2 vạn người, viết sách và dịch sách…, cuộc đời của ngài thật bề bộn. Vì quá vất vả và thời thế khó khăn, ngài đã lâm trọng bệnh và tạ thế ngày 11/2/1974 lúc tuổi đời vẫn còn trẻ (57 tuổi), trong sự tiếc thương vô vàn của mọi thành phần dân Chúa.
Sau hơn 1 năm trống toà, ngày 29/6/1975, cha chính giáo phận Đa Minh Lê Hữu Cung được thụ phong giám mục với khẩu hiệu “Adveniat regnum tuum”. Ngài đã phó dâng giáo phận cách đặc biệt cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và cổ võ việc sùng kính Thánh Tâm. Vì thế ngài đã nhận tu hội Thánh Tâm vào Giáo phận năm 1980. Ngài đã truyền chức linh mục cho 13 thầy trong thầm lặng và đã nhờ các Đức cha khác truyền chức linh mục cho 3 thầy tại miền Nam. Ngoài ra ngài cũng nhường cho Đức cha phó Giuse Vũ Duy Nhất truyền chức linh mục cho 6 thầy cũng trong thầm lặng. Với tuổi cao và dày công phúc, Chúa đã gọi Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung về với Chúa ngày 12/3/1987. Trên bia mộ tại gian cung thánh nhà thờ Chính toà Bùi Chu, có ghi: “Nguyện xin cho Nước Chúa trị đến, mục tử trung thành, tông đồ Thánh Tâm Chúa”. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Sau khi Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung qua đởi, Đức cha phó Giuse Vũ Duy Nhất (tấn phong giám mục 8/8/1979) lên làm giám mục Chính toà (1987-1999) trong lúc đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới. Ngài đã canh tân cơ cấu tổ chức của Giáo phận, phát động các phong trào học hỏi giáo lý, cổ võ và khôi phục các hội đoàn trong Giáo phận. Ngài đặc biệt quan tâm việc đào tạo các linh mục. Từ năm 1989, Giáo phận có các chủng sinh theo học tại đại chủng viện Hà Nội. Tính đến nay đã có 25 linh mục của các khóa. Cùng lúc đó, được sự giúp đỡ của Đức ông Gioan Trần Văn Hiến Minh, Đức cha đã gửi các chủng sinh vào học trong đại chủng viện Đức Ái tại Sài Gòn, một chủng viện ngoại trú liên giáo phận, học tập và tu luyện theo hiến pháp và chỉ nam gia đình Đức Ái, được Toà Thánh khích lệ với sự giúp đỡ của các vị chủ chăn và các giáo sư chuyên viên tại Sài Gòn, đặc biệt là Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình và nhóm các giáo sư gốc Bùi Chu. Có 7 khóa đã tốt nghiệp. Năm 1999, Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất đã truyền chức cho 20 linh mục trong âm thầm. Sau khi hoàn tất công việc của người đầy tớ khôn ngoan và trung thành, ngài đã được Chúa gọi về vào ngày 11/12/1999.
Sau hơn 1 năm trống ngôi, ngày 8/8/2001 Giáo phận Bùi Chu có vị chủ chăn mới là Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm. Với nhiều sáng kiến canh tân cơ sở vật chất và đường hướng mục vụ, Giáo phận mang một diện mạo mới. 120 linh mục giáo phận đã được phong chức dưới thời ngài. Đợt phong chức nhiều nhất vào năm 2007 gồm 64 linh mục, trong đó có 45 linh mục thuộc Bùi Chu. Ngài cũng gửi nhiều linh mục, tu sĩ và chủng sinh du học, làm nhân sự cho Học viện Thần học và Đại Chủng viện Bùi Chu, được Toà Thánh ban phép thiết lập năm 2009. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Ngày 24/12/2012, Đức cha Tôma Vũ Đình Hiệu được Toà Thánh bổ nhiệm làm giám mục phó Giáo phận Bùi Chu. Lễ nhậm chức được diễn ra ngày 01/2/2013, tại nhà thờ Chính toà Bùi Chu. Ngày 17/8/2013, Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm qua đời, Đức cha Tôma Vũ Đình Hiệu lên kế vị. Tiếp nối công việc của các vị tiền nhiệm, ngài dần đưa Giáo phận vào ổn định về cơ cấu tổ chức, tăng cường nhân sự cho các ban ngành.
Nhờ lời cầu bầu của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Bùi Chu và của Cha thánh Đa Minh, cùng với những hy sinh lơn lao các vị chủ chăn và mọi thành phần dân Chúa, Giáo phận Bùi Chu đã vượt qua những chặng đường gian nan, với bao thăng trầm của lịch sử, để có được những thành quả tốt đẹp như ngày hôm nay.
Sắc chỉ thành lập: việc thành lập giáo phận Bùi Chu đã được Toà Thánh chính thức ban sắc chỉ ba lần:
- Ngày 5/9/1848, Đức Thánh Cha Piô IX ban sắc lệnh Apostolatus Officium, tách Giáo phận Đông Đàng Ngoài thành Giáo phận Trung gồm tỉnh Hưng Yên, Thái Bình và 6 huyện của tỉnh Nam Định, phần còn lại vẫn mang tên
Giáo phận Đông.
- Ngày 3/12/1924, Đức Thánh Cha Piô XI ban sắc lệnh Ordinarie Indosinensis đổi tên Giáo phận Trung thành Giáo phận Bùi Chu.
- Ngày 9/3/1936, Đức Thánh Cha Piô XI ban sắc lệnh Proecipuas inter Apostolicas chia Giáo phận Bùi Chu thành Giáo phận Thái Bình (tỉnh Hưng Yên và Thái Bình) và Giáo phận Bùi Chu (2/3 tỉnh Nam Định).
2.2.2. Tên gọi và chức năng Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Các tôn giáo đều có cơ sở thờ tự riêng, lịch sử Công giáo ban đầu các cơ sở Công giáo chỉ là các hoang toại đạo (Nơi có các mộ Thánh). Mãi đến thế kỷ IV mới xuất hiện các thánh đường đầu tiên. Tòa Thánh Vatican định nghĩa: “Nhà thờ được hiểu là nơi thánh, dùng vào việc thờ Phụng Thiên Chúa mà các tín hữu có quyền lui tới để làm việc thờ Phụng, nhất là nơi công cộng” ( Khoản 1214 , giáo luật Công giáo 1986). Hiện tại ở Việt Nam, các nhà thờ Công giáo được chia làm 3 loại: Nhà thờ Chính toà (nhà thờ Mẹ của một Giáo phận, có đặt ngai Đức Giám mục), nhà thờ xứ đạo (nhà thờ của một xứ đạo – đơn vị cấp cơ sở của Giáo phận) và nhà thờ họ đạo (Nhà nguyện ở các họ đạo – đơn vị cấp cơ sở của giáo xứ)
2.2.3. Giá trị độc đáo của Lễ hội Công giáo
Lễ hội Công giáo cũng mang đầy đủ các đặc điểm của một lễ hội truyền thống Việt Nam, nhưng lễ hội Công giáo có đôi phần khác biệt. Ngay trong việc sinh hoạt nghi lễ mang tính lễ hội cũng mang đủ hai phần lễ và hội, tuy nhiên không có sự tách biệt như lễ hội truyền thống của Việt Nam. Đó là hình thức “Rước Kiệu”, đây cũng là một hình thức khá quan trọng trong đời sống tinh thần của người Công giáo. Trong nghi lễ này, người ta tổ chức rước kiệu đi xung quanh nhà thờ hoặc xung quanh làng. Kiệu được sử dụng là kiểu cổ truyền (Kiệu Vàng ). Đi theo kiệu thường là các hội đoàn đạo đức, mỗi hội đoàn có kiểu màu đều có trang phục riêng của họ nên tạo ra một bức tranh sinh động. Các hội đoàn nối theo kiệu chia làm hai hàng, cứ đi một đoạn ban kim nhạc (kèn Tây)và đội nam nhạc (hội trống)sẽ thay phiên biểu diễn nhứng bài nhạc đã tập trước. Trong khi đi, giáo dân đọc kinh cầu nguyện, sau đó ca đoàn sẽ hát thánh ca không nhạc một cách trang nghiêm. Nghi lễ này sẽ được thực hiện trong các ngày lễ quan trọng diễn ra quanh năm như: Kiệu hoa Đức Maria trong tháng hoa (tháng 5), kiệu Chúa Phụ Sinh, kiệu thánh Quan Thầy, kiệu Thánh Thể, kiệu Chúa Giáng Sinh. Điều đặc biệt khách tham quan cũng có thể tham gia vào đoàn rước, kể không cùng niềm tin Công giáo. Và đỉnh cảo của phần lễ chính là rước kiệu vào trong nhà thờ để cử hành thánh lễ (Lễ Misa). Lịch trong Phụng vụ của người Công giáo được chia là 5 mùa (mùa Giáng Sinh, mùa Thường niên , mùa Vọng, mùa Chay ,mùa Phục Sinh)trong đó mùa Thường niên là dài nhất. Các nhà thờ trong Giáo phận Bùi Chu đều nhận một Thánh để làm Quan Thầy (Đấng bảo trợ) cho nhà thờ của mình, nhưng nhà thờ Chính tòa là “nhà thờ Mẹ” của tất cả nhà thờ trong toàn Giáo phận Bùi Chu. Nên Quan Thầy của nhà thờ Chính tòa là một ngày lễ trọng, là một ngày lễ vui tươi náo nhiệt được giáo dân mong chờ, họ chuẩn bị kỹ lưỡng. Ngoài ra còn có nhiều ngày lễ quan trọng khác như mang tính toàn cầu như Lễ Chúa Giáng Sinh hay còn gọi là Noel(Đêm 24 rạng sáng 25/12). Đây là dịp lễ được nhiều khách du lịch tham quan vì họ muốn xem và thưởng thưởng cách bài trí tái hiện lại ngày Chúa sinh ra đời nơi hang đá máng cỏ…. và tổng thể nhà thờ điện sáng rực rỡ lung linh như một tòa lâu đài tráng lệ. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Ngoài ra tối 24 còn tổ chức các chương trình hoan ca văn nghệ để mừng Chúa giáng sinh làm kiếp con người. Sau chương trình là giờ canh thức mừng Chúa giáng sinh được diễn ra trang nghiêm, mọi người đều chìm dần trong khoảnh khắc dành cho Chúa. Đỉnh cao là Thánh Lễ mừng Chúa giáng sinh và sau đó mọi người cùng chiêm ngắm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, nghe những bài thánh ca trong cái lạnh cuối đông.
Như vậy với các nghi lễ Công giáo bằng hình thức lễ hội mang nhiều ảnh hưởng của lễ hội truyền thống Việt Nam, lễ hội Công giáo giúp giáo dân tại những nhà thờ sống đạo rất gần gũi, thân thương. Chính vì vậy mà giáo dân ở các nhà thờ trên toàn quốc, cách riêng các nhà thờ trong huyện Xuân Trường rất háo hức. Chuẩn bị đến những ngày lễ quan trọng Giáo dân họ tình nguyện và nhà thờ dọn dẹp, trang trí, tập hát, tập kèn, tập múa … tạo nên một không khí vui tươi náo nhiệt. Đó là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng, đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhau, có trật tự. Vì vậy lễ hội ở một số nhà thờ Công giáo huyện Xuân Trường cũng có tiềm năng du lịch không hề thua kém bất kỳ một lễ hội nào trên dải đất hình chữ S mà còn có nhiều giá trị độc đáo.
Như vậy cùng với giá trị độc đáo của các công trình kiến trúc, các lễ hội Công giáo đặc sắc đã là cho các nhà thờ trong huyện thực sự là hội tụ những giá trị văn hóa, giá trị nhân văn sâu sắc, đến với các thánh đường còn tham gia dự vào thánh lễ, tham gia vào các cuộc rước, du khách có thể thực sự hòa mình vào để thấy và cảm nhận được niềm tin tôn giáo của giáo dân ở đây mạnh mẽ và nhiệt thành đến như thế nào.
2.2.4. Nhà thờ chính tòa Bùi Chu Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Nhà thờ Bùi Chu là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Bùi Chu (Việt Nam có 26 nhà thờ Chính tòa tương ứng với 26 Giáo phận). Đây là nhà thờ Mẹ của tất cả các nhà thờ trong toàn Giáo phận Bùi Chu.
Làng Bùi Chu là nơi đã được đón nhận Tin Mừng vào khoảng năm 1670 do nỗ lực rao giảng của các cha thừa sai dòng Tên, nhất là cha chính François Deydier Điển (đến Bắc Kỳ năm 1666) rồi sau đó là các vị thừa sai dòng Đa Minh. Từ năm 1676, các cha dòng Đa Minh được cử đến vùng Sơn Nam Hạ (trong đó có làng Bùi Chu) để chăm sóc mục vụ và truyền giáo.
Năm 1763, toà giám mục tạm thời chuyển về làng Bùi Chu, giáo xứ Bùi Chu chính thức được thành lập lấy tên làng Bùi Chu đặt cho giáo xứ, hay còn gọi là Kẻ Bùi.
Từ năm 1848, Toà giám mục được đặt tại giáo xứ Bùi Chu. Nhà thờ của giáo xứ Bùi Chu nhận tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi làm quan thầy (8-8 dương lịch).Hàng năm vào ngày 8 tháng 8, ngày lễ quan thầy của Giáo phận, có nhiều giáo dân tập trung về dâng lễ. Trong những năm bị bách hại, nơi đây đã nhiều lần là Toà giám mục của Giáo phận Đông Đàng Ngoài.
Nhà thờ Chính toà Bùi Chu được xây dựng và khánh thành vào năm 1885 thời Đức cha Wenceslao Oñate Thuận (1884-1897) với chiều dài 78m, chiều rộng 22m, chiều cao 15m và 2 tháp chuông cao 30m. Nhà thờ có chiếc đồng hồ cổ kính, sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng ở Pháp từ năm 1922. Máy đồng hồ có kích thước 1,2m x 0,7m, hoạt động theo nguyên tắc sử dụng thế năng. Ðồng hồ dùng ba quả tạ bằng kim loại, mỗi quả chừng 50 kg. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu là một trong những nhà thờ cổ kính nhất ở các tỉnh phía Bắc, có lịch sử tương đương Nhà thờ Đức Bà ở Sài Gòn (ra đời năm 1880) và Nhà thờ Lớn Hà Nội (ra đời năm 1886). Đây là nơi lưu dấu ấn lịch sử truyền giáo, giao thoa văn hóa Đông – Tây ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, là công trình có giá trị đặc biệt về phương diện lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc.
Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ này vẫn đứng vững với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn mang dấu ấn kiến trúc phương Tây.Cha chánh xứ hiện tại của nhà thờ Chính tòa là cha Giuse Nguyễn Đức Giang.
Trên gian cung thánh là nơi an nghỉ của bảy vị giám mục đã từng coi sóc giáo phận Bùi Chu (Đức cha Wenceslao Oñate Thuận, Đức cha Pedro Muñagorri Trung, Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung, Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất và Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm).
Cho đến nay, nhà thờ vẫn còn giữ được những nét cổ kính ban đầu, xứng đáng là nhà thờ Mẹ của các nhà thờ trong Giáo phận. Việc trùng tu cũng sắp được tiến hành.
Các cơ sở
Đại chủng viện Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Sau hơn nửa thế kỷ bị đóng cửa, đại chủng viện Bùi Chu đã được mở cửa trở lại. Đây là đại chủng viện liên Giáo phận, được Toà Thánh phê chuẩn qua văn thư số 52-2/09, đề ngày 7 tháng 12 năm 2009, do Đức Hồng y Ivan Dias, Tổng trưởng Bộ Rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc ký. Phía Nhà Nước Việt Nam, với văn thư 35/TGCP-CG, Thủ tướng Chính phủ cũng chấp thuận việc thiết lập này. Thể theo sự hướng dẫn của Toà Thánh và chiếu theo các quy định của Bộ Giáo luật, ngày 2 tháng 2 năm 2010, Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm, giám mục Giáo phận Bùi Chu đã long trọng công bố sắc lệnh thiết lập Đại chủng viện Bùi Chu, đồng thời ngài cũng ban hành sắc lệnh thiết lập ban giám đốc và ban linh giám. Đại Chủng viện được đặt dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Thánh Cả Giuse và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Hiện nay có 172 chủng sinh, chia làm 8 lớp: tu đức, triết I, triết II, thử và ngoại khoá.Ngoài phần lớn các chủng sinh đến từ Giáo phận Bùi Chu, còn có các chủng sinh đến từ các Giáo phận lân cận, như Hải Phòng, Hưng Hóa, Lạng Sơn và một số hội dòng tu.
Cô nhi viện Thánh An Bùi Chu
Cuối Nhà Thờ Chính Toà Bùi Chu về phía Tây Bắc có một cơ sở bác ái xã hội khá lâu đời, chính là nhà Dục Anh, được Thánh Giám mục Tử đạo Diaz Sanjurjo An (1852-1857) thành lập năm 1852. Vào giai đoạn đầu có ba dãy nhà được xây cất với mục đích thu lượm và đem về nuôi dưỡng những trẻ nhỏ dưới 12 tuổi,bị bỏ rơi vì cha mẹ mất sớm hoặc gia cảnh quá túng thiếu. Khi đó gọi là “Nhà Thiên Thần”. Đang khi nuôi dưỡng, những gia đình hiếm muộn con cái,có thể đón nhận về làm con nuôi. Các em không ai bảo lãnh, nhà Dục Anh nuôi cho ăn học, dạy nghề để các em có thể sống tự lập, xây dựng gia đình khi các em trưởng thành. Thời gian cấm đạo, cả ba dãy nhà bị phá bình địa, gỗ gạch cũng bị tịch thu đem đi xây nhà cho người khác.
Năm 1866, Đức Cha Barnabas Cézon Khang (1861-1880) lại tái thiết. Năm 1880,Đức Cha Emmanuel Rianno Hoà xây dựng thêm.Đến năm 1914, Đức Cha Munagorri Trung (1907-1936) cho xây dựng lại toàn bộ chắc chắn hơn,rộng rãi hơn,gồm: một nhà hai tầng, 3 nhà một tầng. Trung bình mỗi năm nhà Dục Anh đón nhận được khoảng 2000 em nhỏ (xem Sử ký Địa Phận Trung trang 237-238, khi đó còn cả Giáo Phận Thái Bình ngày nay). Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Năm 1993,được sự uỷ thác của Đức cố Giám mục Giuse Vũ Duy Nhất, Ban Lãnh Đạo Cô Nhi Viện đã củng cố và hoàn thiện đội ngũ những anh chị em thiện nguyện để phục vụ tại Cô Nhi Viện.
Trước hiện trạng những ngôi nhà bị xuống cấp trầm trọng vì thời gian và gió bão, từ năm 1995, Ban Lãnh Đạo đã tiến hành nâng cấp và xây dựng thêm cơ sở hạ tầng theo quy hoạch mới, để có đủ tiện nghi nuôi dạy các em cho phù hợp.Các em được nuôi tại Cô Nhi Viện và tại Cộng Đồng không phân biệt tôn giáo, xa gần. Hiện nay đã có những em thuộc các tỉnh: Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Ninh, Phú Thọ, Cao Bằng, Bắc Giang, Bắc Cạn, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Tĩnh, Đắc Lắc, Đồng Nai được hưởng nhờ. Từ hơn một trăm năm nay, có một cô nhi viện vẫn ngày ngày thu nhận, nuôi dưỡng những trẻ em khuyết tật, bị bỏ rơi không nơi nương tựa bởi tấm lòng từ bi của các cha, sự yêu thương của những “người mẹ” đã cống hiến đời mình nơi nhà Chúa.
Nhà nguyện Tòa giám mục
Nguyện đường cao 35m- ngọn tháp vươn cao với Thánh Giá được nâng lên bởi tòa tam cấp, có dáng dấp Đông Phương lại Gô- Tích. Phần trên tòa nhà được dẫn vào bởi những bậc thang rộng. Bên tay phải cầu thang là tượng Thánh Giuse cõng Chúa Con trên vai mà không đâu có tượng này, ý nghĩa “Tình Cha”. Đối diện với tượng Thánh Giuse là tượng Đức Mẹ Sầu Bi ôm Con “Nghĩa Mẹ”. Cửa nhà nguyện 4 cánh, mỗi cánh là một công trình đầy ý nghĩa của các Bí Tích: Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa Giải. Vào trong nhà nguyện, như lạc vào động tiên không gian cao vút với tượng ảnh, bàn thờ, màu sắc… được sắp đặt một cách hài hòa. Tầng dưới nhà nguyện là nhà hầm các Thánh tử vì Đạo. Bên cạnh còn có 6 mẫu nữ tu: Đa Minh, Mân Côi, Trinh Vương, Thăm Viếng và Mến Thánh Giá. Khi vào hay khi ra khỏi phòng các Thánh, du khách có thể điểm vài tiếng chiêng cồng, sản phẩm của Hội An, Đà Nẵng để ghi nhớ cuộc viếng thăm này. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Ngay tại gian giữa, nhiều người sửng sốt và cảm động, lần đầu tiên thấy tượng Đức Mẹ cho Con bú. Đức Mẹ bồng con ngồi trên võng tía, võng được móc vào hai cây trúc sơn son thếp vàng. Đây là một bức tượng có một không hai
Việt Nam. Đức Mẹ Việt hóa với áo dài hồng nhung kim tuyến, quần trắng sa tanh, chân đi hài kiểu quý phái, mái tóc đen óng ánh. Cặp mắt mẹ âu yếm nhìn Con đang khát sữa. Trên đầu tượng Đức Mẹ có dòng chữ “…Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú”. Nhiều người mẹ đã đến đây để cầu xin cho có sữa nuôi con và biết cách dạy con. Phía trần nhà trên đầu Đức Mẹ là một bức phù điêu tuyệt tác, tả khung cảnh vinh hiển của các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam trước vị vua Vinh Hiển là Đức Kitô Phục Sinh.
Vườn Kinh
Mở cửa vườn, chúng ta sẽ gặp một Cỗ Tràng Hạt rất lớn, nặng 2,2 tấn. Mỗi hạt kinh nặng 25kg. Trên cao có tượng Đức Mẹ bằng đá cẩm thạch nặng hơn 2 tấn, ngay sau lưng tượng Đức Mẹ là cây nến 7 ngọn cao 10m.
Bên phải là một bức tường cao, trên đó gắn sẵn những bản kinh Ave Maria, tức là bản kinh “Kính Mừng Maria” bằng các thứ tiếng trên khắp thế giới. Tổng số bản kinh là 150, làm bằng đá cẩm thạch, mỗi bản kinh có kích thước 2,20mx1,2m. Trong vườn Ave Maria còn có một số tượng lớn: Thánh Francis với con chó sói. Ở phía giữa hành lang là pho tượng Đức Mẹ cao 5m với những em nhỏ dâng hoa cho Đức Mẹ. Xa hơn ở cuối hành lang là tượng Thánh Don Bosco cao 3m và Thánh Đa Minh Savio (St.Dominic Savio). Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Trong vườn còn có tượng “Người mẹ Bùi Chu”, hình ảnh của một người mẹ tại Giáo phận Bùi Chu xưa kia, trên đường đi chợ, tay dắt đứa con nhỏ đến trường, đầu đội cái thúng có nải chuối và con gà, tay kia cầm tràng hạt, vừa đi vừa lần chuỗi.
Nhạc khí tại Giáo phận là những nhạc cụ được chế tác độc đáo công phu mang nhiều ý nghĩa: Trống cái, kèn đồng, đàn lira, chiêng cồng…
Đàn Lira hay đàn Harpe hay đàn Vua David, vì trong hình vua David hay chơi thứ đàn này. Đàn được đặt trong một tòa nhà tròn theo kiểu Bắc Kinh, và được đặt trên một trống đồng đường kính 1,80m, có một thiếu nữ duyên dáng đang gảy cung.
Phục Sinh Đường:Phục sinh đường là tổ hợp công trình kiến trúc nhiều ý nghĩa biểu tượng:
Nhà số 4 nói lên ý nghĩa của 4 sự: Chết, Phán xét, Thiên Đàng và Hỏa ngục.
Mặt trước nhà số 4 có tượng thiên thần thổi loa. Vào ngày tận thế các Thiên thần thổi loa báo động cho người chết sống lại. Dưới chân Thiên thần là một đồng hồ chạy ngược, bởi vì khi chết người ta hết thời giờ lập công, mà Thiên Chúa chỉ xét xử những gì xảy ra trong qua khứ.
Trên nóc nhà có 12 tượng các thánh Tông Đồ ngồi trên 12 ngai tòa mà xét xử 12 chi tộc Israel. Phía trên cao còn có 4 pho tượng các Thánh sử là các tác giả 4 sách Phúc Âm: Matthew, Mark, Luke và John.
Tầng dưới tòa nhà cất giữ 23 bộ xương các anh hùng tử đạo của Bùi Chu. Tầng giữa là nơi cử hành nghi lễ. Giữa gian có tượng Chúa Phục Sinh. Tầng trên giống như một phòng triển lãm các đồ thờ như: áo Lễ, chân nến, bình thánh, yên sách v.v. và một số pho tượng. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
- Đài xét xử: Bên tay trái tòa nhà số 4. Thiên Chúa công minh xét xử người ta theo như những gì họ đã làm và được đưa lên cân tội phúc.
- Tháp Thăng Thiên: Nếu một người ăn ở tốt lành thì được đưa sang tháp Thăng Thiên để lên trời, tượng trưng bằng 11 cánh hạc đang bay lên. Còn kẻ dữ thì phải đẩy vào hỏa ngục.
- Hai bàn tay: Phía sau tháp Thăng Thiên, bàn tay Chúa đang kéo tay người ta lên Thiên Đàng.
Nhà thờ Chính tòa Bùi Chu là một tổ hợp với nhiều công trình, hiện vật kỳ thú hấp dẫn không hề giống nơi nào. Hàng năm thường có rất nhiều du khách thập phương về thăm nhà thờ và chiêm ngưỡng những nét kiến trúc tiêu biểu, đồng thời tìm hiểu lịch sử vùng giáo xứ Bùi Chu.
2.2.5. Vương cung thánh đường Phú Nhai
Nhà thờ giáo xứ Phú Nhai (hay còn gọi là Vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, Phú Nhai). Nhà thờ Phú Nhai nằm ở trung tâm của xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, cách thị trấn Xuân Trường hơn 1 km. Đây là một trong những ngôi nhà thờ có diện tích rộng lớn nhất Việt Nam.
Nhà thờ Phú Nhai nguyên thủy được tạo dựng bằng gỗ, lợp bồi do linh mục Chính xứ Emmanuel Rianô Hòa cho xây dựng vào năm 1866, ngay sau khi vua Tự Đức ký sắc lệnh tha đạo, chấm dứt gần 3 thế kỷ Kitô giáo bị bách đạo tại Việt Nam.
Năm 1881, Giám mục Hòa cùng với linh mục Barquerô Ninh xây nhà thờ thứ hai theo kiến trúc Á Đông và hai tháp chuông.
Năm 1916, Giám mục Phêrô Munagôri Trung và linh mục Morênô xây nhà thờ thứ ba theo kiến trúc Gothic. Khánh thành năm 1922 nhưng bị cơn bão lớn tàn phá nặng nề vào ngày 24 tháng 6 năm 1929.
Năm 1930, để có kinh phí xây dựng nhà thờ, bề trên Giáo phận đã mở cuộc xổ số trên toàn quốc. Sau nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ này được xây dựng lại, hoàn thành và xức dầu cung hiến thánh đường vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội 8 tháng 12 năm 1933. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Tháng 11/1949, một bộ phận quân viễn chinh Pháp chiếm đóng Phú Nhai, lấy nhà thờ có ngọn tháp cao làm điểm uy hiếp các vùng, lấy hai dãy hành lang làm trụ sở làm việc và dãy hướng Nam là nơi giam giữ, tra tấn cán bộ cách mạng, nhanh chóng xây dựng công sự đào hầm hào, đắp đường Ức từ Phú Nhai ra Bùi Chu để tiện việc hành quân, linh mục Lương Huy Hân làm tổng tuyên úy.
Sau thời gian chiến tranh bị hư hại, nhà thờ được trùng tu tôn tạo bởi Giám mục Đa Minh Nguyễn Chu Trinh khởi công từ ngày 17 tháng 3 năm 2003 cho đến 26 tháng 9 năm 2004 thì hoàn thành như diện mạo hiện nay.
Nhà thờ gốc có phong cách kiến trúc Gothic đậm dấu ấn Tây Ban Nha, sau được xây lại theo phong cách kiến trúc Gothic nước Pháp. Nhà thờ có kích thước: dài 80 mét, rộng 27 mét, cao 30 mét. Hai tháp chuông cao 44 mét đặt 4 quả chuông được đúc từ Pháp chuyển sang với trọng lượng là: 2.000 kg – 1.200 kg – 600 kg và 100 kg.
Mặt tiền nhà thờ từ ngoài vào, bên phải có tượng đài Thánh Đaminh cao 17m, riêng phần tượng cao 2,3m. Bên trái có Lăng lưu trữ hài cốt của 83 người tử đạo thuộc họ đạo xứ Phú Nhai cao 15m.
Xung quanh nhà thờ có các phù điêu thể hiện 14 Đàng Thánh Giá Cha chánh xứ Vương cung thánh đường là Cha Giuse Phạm Quang Vinh. Khi khách tham quan đứng trên ngọn tháp cao của nhà thờ Phú Nhai sẽ được chiêm ngưỡng được toàn cảnh của huyện Xuân Trường. Năm 2008 Đền thánh Phú Nhai được nâng lên hàng Tiểu Vương cung Thánh đường (Minor Basilica).
2.2.6. Đền thánh Kiên Lao Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
Đền thánh Kiên Lao được thành lập ngay từ thế kỷ XVI-thời gian đầu tiên Tin Mừng đến Đất Việt. Qua Công đồng Phố Hiến diễn ra vào ngày 23/12/1673, Giáo phận Đàng Ngoài được chia làm 5 xứ đạo, Kiên Lao là 1/5 xứ đạo đầu tiên đó và có khoảng 5283 tín hữu.
Năm 1670, Đức cha Lambert de la Motte chọn Kiên Lao là trung tâm điểm truyền giáo. Từ đây, Ngài lập Dòng Mến Thánh Giá đầu tiên. Cũng năm đó, Đức cha Lambert đã truyền chức linh mục cho cha Simon Kiên (Kiên Lao), là một trong những linh mục đầu tiên người bản địa Việt Nam.
Trong thời kỳ khó khăn của Giáo hội Việt Nam, Kiên Lao cũng là nơi cư trú, lánh nạn của nhiều vị thừa sai.
Năm 1997, nhà thờ Kiên Lao được Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất xức dầu và nâng lên bậc Đền thánh dâng kính Thánh Gia Thất. Trước đó, giáo xứ Kiên Lao nhận Đức Mẹ Mân Côi làm Quan thầy.
Hiện nay, Giáo xứ Kiên Lao có 9215 nhân danh, là giáo xứ lớn nhất và đông nhất giáo phận (2014), gồm có 12 giáo họ.
Đầu tháng 7/2015, Đức cha Tôma đã chính thức nâng giáo họ Thánh Danh thành giáo xứ Thánh Danh, với 2700 giáo dân. Bổn mạng: Chúa Giêsu Hài Đồng. Cha chánh xứ hiện nay là cha Giuse Vũ Thế Nghinh.
Đền thánh Kiên Lao có chiều dài 75m , rộng 26m , chiều cao 28m , hai tháp chuông cao 46m. Xung quanh Đền thánh là 14 Đàng Thánh Giá, ngoài ra còn có nhà giáo lý, nhà trung tâm mục vụ, lễ đài cuối Đền thờ.
Công trình thánh đường đã sử dụng các loại vật liệu và các loại ngày công như sau (từ 13 – 04 – 1994 đến 25 – 12 – 1999):
1. Vật liệu xây đúc thánh đường bao gồm: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
- Khối lượng bê tông cốt thép 1800 mét khối
- Thép tròn các loại 250 tấn
- Gạch đỏ 1.550.000 viên
- Vôi xây: 310 tấn
- Xi măng: 930 tấn
- Cát vàng: 2000 mét khối
- Ngói nam: 160.000 viên
- Kính màu các loại: 350 mét vuông
- Gỗ lim, gỗ dổi: 102 mét khối
- Sắt làm cốt pha: 6 tấn
- Tre luồng, tre gai bác ráo: 5000 cây
- Bạch đàn, phi lao làm cột ráo: 1300 cây
- Đinh đóng gỗ các loại: 1.300 kg
- Que hàn các loại: 1.900 kg
- Dây buộc ráo cốn: 1.350 kg
- Lốp xe đạp cũ để bác ráo: 7.600 chiếc
2. Ngày công đóng góp cho công trình gồm các loại công như sau:
- Ngày công các họ đã phục vụ: 162.015 công
- Công thợ xây: 16.481 ngày công
- Công thợ mộc: 12.912 ngày công
- Công thợ xẻ: 2.918 ngày công
- Công thợ sắt: 9.536 ngày công
- Công thợ điện và âm thanh: 5.370 ngày công
- Công bảo vệ trông coi: 5.170 công
- Công thiết kế kỹ thuật: 3.150 ngày công
- Công bác ráo: 5.818 ngày công
- Công do Đoàn Gia Trưởng đóng góp: 5.818 ngày công
- Công cung ứng vật tư: 1.050 ngày công
- Công y tế – bảo hộ lao động: 1.575 ngày công
- Công vận chuyển bằng thuyền: 415 ngày công
- Công phục vụ nước uống: 6.150 ngày công
- Công các cụ bô lão: 3.700 ngày công
- Công gián tiếp chung:13.650 ngày công Tổng cộng: 255.160 ngày công
(Theo số liệu thống kê chính thức của Giáo xứ Kiên Lao đã được niêm yết công khai tại Đền thánh) Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh Nam Định.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng du lịch Công giáo tại huyện Nam Định

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại Nam Định […]