Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển của thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
1.1. Đặc điểm về lịch sử, điều kiện tự nhiên của Hải Phòng
1.1.1 Lịch sử
Là vùng đất đầu sóng, ngọn gió, Hải Phòng có vị thế chiến lược trong toàn bộ tiến trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Người Hải Phòng với tinh thần yêu nước nồng nàn, tính cách dũng cảm, kiên cường, năng động, sáng tạo, đã từng chứng kiến và tham gia vào nhiều trận quyết chiến chiến lược trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.
Hải Phòng là vùng đất in đậm dấu ấn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm phương Bắc với các chiến thắng trên sông Bạch Đằng: trận Bạch Đằng, 938 của Ngô Quyền, trận Bạch Đằng, 981 của Lê Hoàn, trận Bạch Đằng, 1288 của Trần Hưng Đạo.Thời nhà Mạc, vì đây là quê hương của nhà Mạc nên vùng này được chú ý xây dựng thành kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh.
Năm 1870 – 1873, Bùi Viện, được vua Tự Đức giao phó, đã thực hiện việc xây dựng một bến cảng bên cửa sông Cấm mang tên Ninh Hải và một căn cứ phòng ngự bờ biển ở liền kế bên, gọi là nha Hải Phòng sứ. Khi Pháp đánh chiến Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873-1874, tại cảng Ninh Hải này, nhà Nguyễn và Pháp lập nên một cơ quan thuế vụ chung, quản lý việc thương mại ở vùng này gọi là Hải Dương thương chính quan phòng. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Thành phố Hải Phòng ngày nay được Quốc Hội Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là Quốc Hội Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Quyết định thành lập vào ngày 27/10/1962, trên cơ sở hợp nhất thành phố Hải Phòng cũ và tỉnh Kiến An, trở thành thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc bộ của Việt Nam.
Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc. Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ, du lịch, giáo dục, y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Naml, là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Ngoài ra, Hải Phòng còn giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân và Bộ Tư lệnh Quân Chủng Hải quân Việt Nam.
Không chỉ là một thành phố cảng công nghiệp, Hải Phòng còn là một trong những nơi có tiềm năng du lịch rất lớn. Hải Phòng hiện lưu giữ nhiều nét hấp dẫn về kiến trúc, bao gồm kiến trúc truyền thống với các chùa, đình, miếu cổ và kiến trúc tân cổ điển Pháp tọa lạc trên các khu phố cũ. Đồng thời, Hải Phòng hiện đang sở hữu một khu dự trữ sinh quyển thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) nằm tại Quần đảo Cát Bà, cùng với các bãi tắm và khu nghỉ dưỡng ở Đồ Sơn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
1.1.2 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
- Vị trí địa lý
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 21001’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình.
Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ diện tích 42,4 km2 do dãy núi Rồng vươn dài ra biển 5 km với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m, nằm ở phía đông nam thành phố Hải Phòng ở 20°42’ vĩ độ bắc, 106°45’ kinh độ đông, cách trung tâm thành phố khoảng 22 km về hướng đông nam, có vị trí địa lý: phía đông và phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây giáp huyện Kiến Thụy, phía bắc giáp quận Dương Kinh. Do ở phía bắc và phía nam là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển đem theo nhiều phù sa, nên nước biển ở khu vực này đục (nhất là khu II) nhưng vẫn có sức thu hút du khách.
Quần đảo Cát Bà là một quần đảo gồm 367 đảo, có tọa độ 106°52′-107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km², trong đó có đảo Cát Bà ở phía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Lan Hạ nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang – một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam – Trung Quốc. Bên cạnh đó, với vị trí địa lý và hệ thống giao thông quan trọng, thuận lợi và tiềm năng tài nguyên phong phú cả tự nhiên và nhân văn, Hải Phòng hội tụ đầy đủ mọi điều kiện thuận lợi và luôn giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch nói riêng, kinh tế xã hội nói chung của vùng và của cả nước. Trong đó tuyến du lịch Hà Nội – Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long là một trong 3 hành lang phát triển du lịch Hà Nội – Hải Phòng đã thực sự trở thành động lực phát triển du lịch của các vùng trong cả nước, góp phần thực hiện các mục tiêu của ngành và sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Đối với vùng duyên hải bắc bộ, Hải Phòng cũng được xác định là một trong ba hạt nhân để tập trung phát triển mang tính động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch của cả vùng. Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả vùng Duyên hải Bắc bộ thì Hải Phòng có vị trí quan trọng trên hai tuyến du lịch ven biển quan trọng theo đường bộ đó là:
Ninh Bình – Nam Định – Thái Bình – Hải Phòng – Hạ Long nối Hạ Long cạn theo đường ven biển đến vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới (theo quốc lộ 10). Tuyến đường này cùng với tuyến đường quốc lộ 5 nối Hà Nội
Hải Phòng là các trục đường bộ quan trọng nối Hải Phòng với các thị trường khách du lịch của cả vùng.
Hải Phòng – Huế – Đà Nẵng – Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên – Nha Trang, Ninh Chữ – Đà Lạt – thành phố Hồ Chí Minh, nối cố đô Huế – di sản văn hoá thế giới với thành phố Hồ Chí Minh – đô thị lớn nhất Việt Nam (theo quốc lộ 1A).
Về đường biển, Hải Phòng là địa phương có ưu thế hơn hẳn các địa phương khác trong vùng Bắc Bộ để phát triển tuyến du lịch đường biển. Thông qua Hải Phòng, vùng Bắc Bộ không những tiếp cận được với các thị trường khách du lịch từ các vùng khác trong cả nước mà còn nối với quốc tế. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Về đường hàng không, Hải Phòng có sân bay Cát Bi là sân bay thứ hai của vùng Bắc Bộ, nối Hải Phòng với các thị trường khách du lịch trong cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… đồng thời là cửa khẩu quốc tế nối Hải Phòng với Ma Cao (Trung Quốc), bằng đường hàng không, đáp ứng được việc vận chuyển khách bằng các máy bay hành khách lớn.
Về đường sắt, Hải Phòng được nối với Hà Nội bằng tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà Nội và tiếp nối với tuyến đường sắt đi Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), đi Lạng Sơn – Quảng Tây (Trung Quốc) và nối với tuyến đường sắt xuyên Việt Bắc – Nam.
- Địa hình:
Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2 bao gồm cả huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vĩ). Hải Phòng có địa hình khá phức tạp, đa dạng, gồm cả lục địa và hải đảo, bị chia cắt bời sông và kênh đào, có mật độ sông lớn nhất Vùng đồng bằng Bắc bộ. Toàn bộ lãnh thổ Hải Phòng được phân chia thành vùng chính: (1) Vùng đá thấp chia cắt mạnh chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và một số đảo khác trong Vịnh Lan Hạ, Hạ Long; (2) Vùng đồi chia cắt mạnh, chiếm khoảng 5% diện tích tự nhiên, chủ yếu tập trung ờ phía Bắc huyện Thủy Nguyên; (3) Vùng đồng bằng, chiếm khoảng 85% diện tích tự nhiên, phân bổ ở hầu hết các huyện và khu vực nội thành.
Đồi núi phân bố chủ yếu ở phía Bắc, do vậy địa hình phía bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với những đồng bằng xen đồi, ngả thấp dần về phía nam ra biển; khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc – Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn – Tràng Kênh và An Sơn – Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn – Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn – Trang Kênh có hướng tây tây bắc – đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi.
Phía nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có độ cao từ 0,7 – 1,7 m so với mực nước biển. Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km2, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Địa hình khu du lịch biển Đồ Sơn thuộc dạng đồi, chạy dài theo hướng tây bắc – đông nam nhô khỏi mặt biển, kéo dài hình 9 con rồng cùng vươn về phía đảo Hòn Dáu, cấu tạo chủ yếu là đá cát kết và đá phiến sét thuộc trầm tích trung sinh, kết quả của cuộc vận động kiến tạo Đại Trung Sinh và bị sụt lún sau vận động Tân Kiến Tạo. Trong quá trình phong hóa kéo dài, đá núi biến chất, làm cho lớp vỏ núi có dạng đất feralit, thích hợp với nhiều loại cây trồng nhất là loại thân cây nhỏ. Vùng đất chân núi, cánh đồng lúa Ngọc Xuyên, ruộng muối Bàng La vốn do phù sa bồi tích tạo thành. Phần còn lại là bãi cát ven biển.
Ngoài ra, còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ…. đẹp và kì thú.
Cát Bà là đảo lớn nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long. Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi. Phía đông nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía tây nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.
Hệ thống sông ngòi: Mạng lưới sông ngòi của Hải Phòng có mật độ trung bình từ 0,6 – 0,8 km/km2. Có 6 sông chính và 9 nhánh sông với tổng chiều dài khoảng 300 km là các sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Văn Úc, sông Thái Bình, sông Luộc… ngoài các sông chính là các nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố như sông Giá (Thủy Nguyên), sông Đa Độ (An Lão – Kiến An – Kiến Thụy – Dương Kinh – Đồ Sơn), sông Tam Bạc…
- Khí hậu: Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Hải Phòng nằm trong khu vực gió mùa, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, ít mưa. Khí hậu vừa mang đặc điểm chung khí hậu vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, mùa đông là 20,3°C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5°C; vừa có những đặc điểm riêng của vùng ven biển, nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C – 26oC, tháng nóng nhất (tháng 6,7) nhiệt độ có thể lên đến 44oC và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 5oC. Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 – 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1, tháng 12.. Do nằm sát biển nên vào mùa đông, Hải Phòng ấm hơn và mùa hè mát hơn so với Hà Nội.
Chế độ thủy văn: Vùng biển Hải Phòng có chế độ nhật chiều thuần nhất điển hình là thủy triều theo chế độ nhật chiều: Độ cao 3,7-3,9m, cao nhất là +4,44m, chu kỳ triều ổn định kéo dài 24 giờ, nước ròng xuất hiện trong tháng 7,8; nước cường xuất hiện trong tháng 12 và tháng 1.
Khí hậu Đồ Sơn mang đặc điểm chung miền ven biển vịnh Bắc Bộ, nhưng với vị trí một bán đảo nên mùa đông thường ấm hơn và mùa hè thường mát mẻ hơn. Cùng với địa hình thấp lại giáp biển nên thực vật chủ yếu là cây lá kim.
Quần đảo Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8. Nhiệt độ trung bình: 25-28 °C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30 °C, về mùa đông trung bình 15-20 °C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10 °C (khi có gió mùa đông bắc). Độ ẩm trung bình: 85%. Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét. Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)
1.1.3 Tiềm năng du lịch biển của Hải Phòng Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Hải Phòng nằm ở ven bờ Tây Bắc vịnh Bắc Bộ có đường bờ biển dài khoảng 125 km kể cả bờ biển chung quanh các đảo khơi, có 6 cửa sông chính đổ ra biển. Bờ biển có hướng một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và khá bằng phẳng, cấu tạo chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra. Trên đoạn chính giữa bờ biển, mũi Đồ Sơn nhô ra như một bán đảo, đây là điểm mút của dải đồi núi chạy ra từ trong đất liền, có cấu tạo đá cát kết (sa thạch) tuổi Đevon, đỉnh cao nhất đạt 125 m, độ dài nhô ra biển 5 km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Ngoài khơi thuộc địa phận Hải Phòng có nhiều đảo rải rác trên khắp mặt biển, lớn nhất có quần đảo Cát Bà, xa nhất là đảo Bạch Long Vỹ. Biển hình thành nên tính cách người Hải Phòng ‘ăn sóng nói gió”, tạo nên nét đặc trưng riêng biệt. Biển cũng là nguồn lực hình thành nền kinh tế biển, dấu mốc là sự ra đời của Cảng Hải Phòng. Đồng thời, nơi đây còn có cả một vùng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bãi biển đẹp.
Với vùng biển có diện tích khoảng 4.000 km2, gấp 2,6 lần diện tích đất đai của thành phố, chiếm 5,4% diện tích vịnh Bắc Bộ, có 8/15 quận, huyện tiếp giáp với biển và 2 huyện đảo Cát Hải và Bạch Long Vĩ, tài nguyên du lịch biển Hải Phòng tập trung chủ yếu ở Cát Bà, Đồ Sơn, một phần tại Bạch Long Vĩ. Có hơn 400 đảo, tập trung ở quần đảo Cát Bà (367 đảo) với diện tích 334,1 km2, trong đó đảo đá vôi Cát Bà là một trong ba đảo lớn nhất ở nước ta và là đảo đá vôi lớn duy nhất. Các hệ sinh thái biển quan trọng như rạn san hô phân bố ở ven bờ Cát Bà, Long Châu và Bạch Long Vĩ, rừng ngập mặn và thảm rong tảo – cỏ biển phân bố ở vùng triều, trên các bãi bồi cửa sông, ven biển, ven đảo. Vùng biển Hải Phòng có 135 loài thực vật nổi, 138 loài rong, 23 loài thực vật ngập mặn, 500 loài động vật đáy vùng triều, 150 loài san hô, 189 loài cá, tôm. Trên các đảo có các hệ sinh thái rừng nhiệt đới còn giữ được tính đa dạng sinh học cao với điều kiện tự nhiên rất phong phú, đa dạng có những nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa và nhiều nét văn hóa đặc sắc gắn với những địa danh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch biển. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Hải Phòng còn là địa phương có nhiều di tích lịch sử, văn hóa có giá trị. Theo Sở Du lịch Hải Phòng, toàn thành phố hiện có 470 di tích được xếp hạng, trong đó có 02 di tích quốc gia đặc biệt (danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà và Khu di tích Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm); 112 di tích cấp quốc gia và hàng trăm di tích cấp thành phố. Nhiều lễ hội lớn như: Lễ hội Chọi Trâu (Đồ Sơn) – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Lễ hội Minh thề (Kiến Thụy) – Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Lễ hội Làng cá Cát Bà (Cát Hải); Lễ hội hát Đúm (Thủy Nguyên); Lễ hội Đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Bảo);
Lễ hội Hoa Phượng Đỏ – một Lễ hội độc đáo được tổ chức thường niên đã trở thành sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân thành phố. Nhiều làng nghề truyền thống được phục dựng, duy trì và phát triển. Ẩm thực Hải Phòng nổi tiếng với các món ăn đặc sản mang hương vị biển như: bánh đa cua, chả chìa Hạ Lũng, tu hài Cát Bà và nhiều món ăn dân dã thu hút và hấp dẫn du khách như: bánh mỳ cay, bánh bèo, giá bể, nộm sứa…
Tiềm năng du lịch biển của thành phố là rất lớn, song sự phát triển còn nhiều hạn chế, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế; chưa khẳng định được vị trí, lợi thế so sánh trong vùng và khu vực. Hiệu quả kinh tế du lịch thấp, cơ cấu và tỷ trọng du lịch trong nhóm ngành dịch vụ còn nhỏ bé. Chưa có những điểm du lịch, khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, mua sắm lớn. Sản phẩm du lịch chưa được đầu tư chiều sâu, chủ yếu dựa trên khai thác giá trị sẵn có, chưa có sản phẩm du lịch độc đáo, bắt kịp xu hướng và nhu cầu thị hiếu của du khách; thiếu các sản phẩm có sức hấp dẫn và tính cạnh tranh cao. Phần lớn các doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là doanh nghiệp lữ hành có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh thấp. Hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch còn rất hạn chế về cả kinh phí và nhất là cách thức tổ chức thực hiện. Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, nhất là ở các khu vực biển đảo là thế mạnh du lịch của thành phố. Cơ sở vật chất có chất lượng và nguồn nhân lực được đào tạo chuyên nghiệp còn hạn chế.
1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2016 -2020, với sự năng động của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục trong nhiều năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, Hải Phòng có thế và lực để thu hút đầu tư vào ngành du lịch.
Hải Phòng hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới. Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học – công nghệ từ nước ngoài để rồi lan toả chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra. Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hoá của Bắc bộ đến các vùng của cả nước, cũng như tham gia dịch vụ vận tải hàng hoá quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc.
Giai đoạn 2016 -2020 đánh dấu những bước phát triển bứt phá của kinh tế Hải Phòng. Kinh tế thành phố phát triển toàn diện, luôn duy trì tốc độ tãng trưởng cao, đạt được những bước tiến dài trong phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ, GRDP bình quân 5 năm 2016- 2020 tăng 13,94%/năm, gấp 1,97 lần giai đoạn 2011-2015 (7,08%/năm). Quy mô kinh tế tiếp tục được mở rộng, năm 2020 đạt 276,6 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 12 tỷ USD), gấp 2,1 lần so với năm 2015 (131,3 nghìn tỷ đồng), đứng thứ 2 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 5.863 USD, gấp gần 2 lần so với năm 2015 (3.042 USD), gấp gần 2 lần của cả nước (3.000 USD). Chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân 05 năm tăng 20,55%/năm, (tăng 14%/năm), gấp 2,12 lần so với giai đoạn 2011-2015 và gấp hơn 2 lần tốc độ tăng chung của cả nước; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 36,4%/năm, năm 2020 đạt 20,38 tỷ USD, gấp 4,7 lần năm 2015…
Đóng góp vào sự phát triển chung của thành phố là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp. Công nghiệp thành phố phát triển cả về quy mô, chất lượng và tốc độ. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2020 đạt 86.482 tỷ đồng, gấp 2,57 lần so với năm 2015 (33.626 tỷ đồng), tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 20,8%/năm, gấp 1,78 lần giai đoạn 2011-2015 (11,69%/năm). Tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo tăng nhanh từ 16,4% năm 2015 lên 45,5% năm 2020. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Giai đoạn 2016-2020, có 89,7% vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp thành phố, trong đó có 89,5% vốn FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, với nhiều dự án trên dưới 1 tỷ USD của nhiều nhà đầu tư lớn, trong đó đóng góp chủ lực của Tập đoàn LG (Hàn Quốc) đầu tư trên 06 tỷ USD vào Tổ hợp nhà máy sản xuất linh kiện điện tử hiện đại, có giá trị thương mại cao.
Bên cạnh các dự án FDI đầu tư góp phần thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp thành phố, các dự án đầu tư trong nước cũng khẳng định sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp truyền thống như: Đóng tàu, sản xuất xi măng, sản xuất phôi thép, thép cán, kết cấu thép; sản xuất và phân phối điện; sản xuất da giày, dệt may; sản xuất, lắp ráp ô tô; gia công lắp ráp linh phụ kiện…
Kinh tế dịch vụ phát triển nhanh, ngày càng khẳng định vai trò chủ lực của kinh tế thành phố. Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ năm 2020 đạt 72,3 nghìn tỷ đồng, gấp 1,57 lần năm 2015, tăng bình quân 9,46%/năm. Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại phát triển khá mạnh và toàn diện, từng bước khẳng định vị trí là trung tâm thương mại lớn của cả nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 12,63%/năm giai đoạn 2016-2020; năm 2020 đạt 144,7 nghìn tỷ đồng, gấp 1,81 lần năm 2015. Đặc biệt với sự khai trương Trung tâm Thương mại AEON MALL Hải Phòng – Lê Chân vào 24/12/2020 là TTTM Nhật Bản đầu tiên và lớn nhất tại thành phố Hải Phòng, đồng thời là TTTM lớn thứ 3 tại miền Bắc đã đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của TM-DV thành phố. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Bên cạnh đó, với vị trí là một trung tâm dịch vụ hàng hải và vận tải biển lớn của cả nước, hạ tầng cảng biển Thành phố được nâng cấp và đầu tư xây dựng mới theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển vận tải biển khu vực và quốc tế. Cảng nước sâu Nam Đình Vũ và cảng Container quốc tế Hải Phòng được đưa vào khai thác từ tháng 5/2018 làm giảm tải cho các cảng nằm sâu trong nội địa và tăng năng lực tiếp nhận hàng hóa, đóng góp vào tăng trưởng của ngành vận tải, kho bãi. Tổng lượng hàng hóa qua cảng tăng nhanh, tăng bình quân 15,9%/năm, năm 2018 đạt gần 110 triệu tấn, năm 2020 đạt 142,87 triệu tấn gấp 2,1 lần năm 2015, khẳng định rõ vai trò cảng cửa ngõ lớn nhất miền Bắc.
Nhờ đó dịch vụ vận tải và hỗ trợ vận tải trên địa bàn thành phố ngày càng phát triển, khối lượng vận chuyển hành khách, hàng hóa tăng trưởng ổn định qua các năm, bình quân tăng 10%/năm; hoạt động vận tải phát triển ở cả 4 loại hình: đường bộ, đường biển, đường sắt, hàng không.
tháng đầu năm 2021, tăng trưởng kinh tế đạt12,28%, gấp 8,65 lần cả nước (1,42%), dẫn đầu các địa phương trong cả nước, 10 tháng đầu năm 2021, Hải Phòng là địa phương thu hút FDI cao nhất cả nước; chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 19,22%; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt hơn 73.000 tỷ đồng, tăng hơn 17%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 18 tỷ USD, tăng hơn 25%. Thu hút đầu tư nước ngoài đạt gần 3 tỷ USD, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ. Sản lượng hàng hóa qua cảng đạt hơn 119 triệu tấn, tăng 7%…
Những năm gần đây, Hải Phòng đều đứng trong tốp đầu cả nước về chỉ số PCI. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tập trung tăng cường đầu tư, đã khởi công nhiều dự án, công trình hạ tầng giao thông, đô thị quan trọng. Các lĩnh vực văn hóa – xã hội, công tác an sinh, phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Kinh tế thành phố phát triển mạnh mẽ đã tạo nền tảng cho ngành du lịch có nhiều bước tiến đáng kể. Ngành du lịch thành phố luôn duy trì mức tăng trưởng và có nhiều phát triển đột phá. Công tác quản lý nhà nước, quảng bá, xúc tiến du lịch ngày càng được chú trọng. Chất lượng sản phẩm du lịch được nâng cao. Nổi bật là từ cuối năm 2016, thành phố đã thu hút đầu tư du lịch với sự có mặt của hàng loạt các tập đoàn lớn như Vingroup, Sungroup, Him Lam, FLC, Xuân Trường, Flamingo… Lượng khách du lịch tăng bình quân 5,72%/năm; năm 2018 đón 7,8 triệu lượt khách.
1.2.2 Dân số, lao động và việc làm Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Hải Phòng với dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao, có chỉ số phát triển giáo dục với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh là cơ sở để cung cấp nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng cho ngành du lịch.
Dân số của Hải Phòng hiện nay (2020) là 2.053.493 người; mật độ dân số bình quân là 1.315 người/km2. Dân số khu vực thành thị là 932.547 người, chiếm 45,9%; nam chiếm 49,45% và nữ chiếm 50,55% dân số. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2011-2021 là 0,94%/năm. Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế là 1.075,7 nghìn người, chiếm tỷ lệ 52,38% tổng số dân và chiếm 97.87% so với tổng số lực lượng lao động.
Năng suất lao động tăng trung bình giai đoạn 2016 -2020 là14,04%/năm, gấp 2,42 lần bình quân chung cả nước (5,8%/năm); năm 2020 đạt 254,99 triệu đồng/lao động (theo giá hiện hành), gấp 2,12 lần so với năm 2015 và gấp 2,05 lần bình quân chung cả nước (124,4 triệu đồng/lao động). Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Là một trong những tỉnh, thành phố đông dân nhất cả nước, dân số trẻ và năng động, Hải Phòng có nhiều lợi thế để phát triển nguồn nhân lực không chỉ dồi dào về số lượng mà còn mạnh về chất lượng. Trong những năm vừa qua, Hải Phòng đã thu hút hàng loạt dự án đầu tư thuộc nhiều lĩnh vực từ các công ty, tập đoàn lớn bao gồm cả các dự án phát triển du lịch của Vingroup, Himlam, Hilton, Sun Group, Geleximco…, thành phố nhanh chóng trở thành một trung tâm kinh tế, thương mại và công nghệ quan trọng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Làn sóng đầu tư mạnh mẽ kéo theo nhu cầu về số lượng lao động không ngừng tăng lên. Theo số liệu từ Ban Quản lý Khu Kinh tế Hải Phòng, mức tăng bình quân của nhu cầu tuyển dụng lao động tại Hải Phòng là 15,7%. Trong quá trình tìm hiểu thực tế trước khi đầu tư vào Hải Phòng, những công ty lớn luôn quan tâm đến vấn đề cung ứng lao động. Đây vừa là cơ hội để thêm nhiều người lao động Hải Phòng tìm được việc làm, gia tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, vừa là thách thức bởi người lao động có nguy cơ bị đào thải nếu trình độ chuyên môn, tay nghề của họ không đáp ứng yêu cầu cao của doanh nghiệp. Nhận thức được vấn đề đó, song song với việc tăng cường công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động, hoạt động đào tạo nghề cũng được Hải Phòng chú trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhờ đẩy mạnh các dự án kêu gọi FDI cộng với cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh và mạnh, Hải Phòng đang là “thỏi nam châm” thu hút ngày càng nhiều tập đoàn trong và ngoài nước đến đầu tư. Nhờ đó, nhu cầu về lực lượng lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao rất lớn.
Theo thống kê năm 2020, Hải Phòng có nguồn nhân lực trẻ lên tới 1,3 triệu người, trong đó có tới 82,5% lao động đã qua đào tạo, chưa kể đến một phần khá lớn người lao động nhập cư từ các địa phương lân cận như Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình… Có thể nói, Hải Phòng đang có nguồn nhân lực chất lượng cao và dồi dào. Với xu hướng các nhà đầu tư vào thành phố đất cảng ngày càng nhiều, người lao động có rất nhiều cơ hội được làm việc trong các doanh nghiệp lớn đa dạng mọi lĩnh vực, trong đó có du lịch, với mức thu nhập khủng, tạo nên một thị trường việc làm hấp dẫn và sôi động.
Những kết quả trên cho thấy, sự phát triển kinh tế thành phố đã gắn liền với quá trình cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân; nhân dân thực sự là người thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế của thành phố. Đồng thời khẳng định đời sống nhân dân cải thiện, nâng cao chính là khẳng định chủ trương đúng đắn, hiệu quả từ việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế – xã hội. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Riêng đối với ngành du lịch thành phố, số lượng lao động trong ngành này toàn thành phố tăng qua các năm. Điều này cho thấy du lịch đã ngày càng thu hút nhiều lao động tham gia, tạo ra nhiều việc làm. Nhân lực du lịch biển là lực lượng lao động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế du lịch biển, bao gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch biển. Nhân lực du lịch biển giữ vai trò quyết định đến sự phát triển ngành du lịch biển của một địa phương, góp phần xây dựng và phát triển hình ảnh địa phương, khẳng định chất lượng, kiến tạo ra những sản phẩm du lịch biển đặc sắc, đặc thù, đề xuất những ý tưởng mới, xây dựng và triển khai những chiến lược marketing có khả năng cạnh tranh cao nhằm quảng bá và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đạt được những mục tiêu về kinh tế – xã hội – môi trường của địa phương cũng như mục tiêu định vị thương hiệu của điểm đến trong tâm trí du khách trong và ngoài nước.
Số lượng lao động trong du lịch biển tại thành phố chiếm tỷ lệ lớn nhất. Phân theo khu vực địa lý, du lịch biển tại Hải Phòng có 02 khu du lịch biển nổi tiếng Cát Bà và Đồ Sơn thuộc hai đơn vị hành chính của thành phố là huyện đảo Cát Hải và quận Đồ Sơn. Tỷ trọng lao động du lịch biển trong tổng lao động ngành du lịch qua các năm chiếm tỷ trọng lớn, dao động từ 78,34% tới 91,9%. Điều này cho thấy du lịch biển là ngành quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm của Hải Phòng. Ngoài những kết quả tích cực đã đạt được, số lượng lao động trực tiếp, gián tiếp trong những năm qua có tăng qua các năm, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai các hoạt động du lịch đang ngày càng đa dạng về sản phẩm, loại hình du lịch và chất lượng các loại hình, sản phẩm du lịch. Đội ngũ công chức làm công tác quản lý Nhà nước về du lịch còn thiếu và yếu, cán bộ chuyên trách làm công tác du lịch ở quận, huyện không nhiều. Cán bộ quản trị kinh doanh du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu. Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề chưa thuần thục, sử dụng được ngoại ngữ và tin học phục vụ công việc không nhiều. Phần lớn nguồn nhân lực du lịch chỉ qua các khóa học “cấp tốc” ngắn hạn nên kỹ năng nghề nói chung còn chiếm tỉ lệ thấp. Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỉ lệ thấp trong tổng số lao động đã qua đào tạo, nhưng rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch, chủ yếu là từ các ngành khác như ngoại ngữ, khoa học xã hội và tự nhiên.
1.2.3 Cở sở hạ tầng Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Trong giai đoạn 2016 -2020, Hải Phòng đã có những chuyển biến mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng được đầu tư, nâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố, không gian đô thị thành phố được mở rộng; kết cấu hạ tầng giao thông phát triển mạnh mẽ. Khu vực đô thị trung tâm thành phố đã hình thành nhiều khu đô thị mới phù hợp với bản sắc kiến trúc đô thị Hải Phòng, như: Khu đô thị Vinhomes Imperia của Tập đoàn Vingroup, các khu đô thị của Tập đoàn Hoàng Huy, khu đô thị ven sông Lạch Tray của Tập đoàn Agape, một số khách sạn 5 sao, Trung tâm thương mại Aeon Mall. Các công trình phúc lợi công cộng được quan tâm đầu tư như mở rộng, xây dựng mới một số bệnh viện, trường học; cải tạo, mở rộng sông Tam Bạc; hoàn thiện chỉnh trang toàn bộ dải trung tâm thành phố và một số công viên cây xanh. Các ngõ phố, hè đường được đầu tư chỉnh trang đồng bộ, hình thành một số cầu vượt, nút giao thông hiện đại.
Không gian đô thị đã được mở rộng. Hướng phát triển về phía Cát Hải – Cát Bà: đã hoàn thành Nhà máy sản xuất ô tô Vinfast, hệ thống cáp treo vượt biển Cát Hải – Cát Bà, một số dự án nghỉ dưỡng cao cấp tại Cát Bà, 02 bến khởi động Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng. Hướng phát triển về phía Đồ Sơn, ven sông Lạch Tray: đã hình thành một số khu đô thị sinh thái, trung tâm thương mại, bệnh viện quốc tế, khách sạn 5 sao, khu vui chơi giải trí, bãi biển nhân tạo Đồ Sơn.
Điểm nổi bật nhất giai đoạn 2016 – 2020 là thành phố đã hoàn thành hàng chục tuyến đường liên tỉnh, liên huyện, cùng 46 cây cầu các loại, trong đó có nhiều cây cầu lớn. Các công trình đều đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật, hiện đại, góp phần làm thay đổi căn bản hạ tầng giao thông thành phố.
1.3 Tình hình chính trị và điều kiện an toàn với các du khách
Trong vài năm trở lại đây, trong bối cảnh tình hình thế giới rất phức tạp, Việt Nam được đánh giá là điểm an toàn nhất trong khu vực Đông Nam Á. Giải thưởng Du lịch Thế giới vừa qua cũng vinh danh Việt Nam là Điểm đến hàng đầu Châu Á trong năm 2021, xếp hạng Việt Nam đứng thứ 10 trong danh sách các quốc gia tốt nhất cho du khách nước ngoài. Hiện nay với tình hình dịch bệnh trên Thế giới và Việt Nam đang diễn biến phức tạp, bên cạnh đó, sự bất ổn về tình hình chính trị, xã hội ở một số quốc gia đã và đang tác động trực tiếp đến quyết định chính của du khách trong việc đi du lịch của mình, và điểm đến du lịch an toàn và thân thiện sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của du khách khi dịch bệnh được kiểm soát và mọi hoạt động sinh hoạt trở lại trong trạng thái bình thường mới.
Đối với Hải Phòng, bằng sự nỗ lực của mình, tình hình an ninh trật tự của thành phố được đảm bảo, tạo sự yên tâm cho du khách. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
Đại dịch COVID-19 sẽ vẫn còn diễn biến phức tạp, tiếp tục tác động tiêu cực đến kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có Hải Phòng, và du lịch là một trong số những ngành dịch vụ chịu thiệt hại nặng nề nhất. Tuy nhiên, dịch COVID-19 đem đến cơ hội để tái cơ cấu và tập trung giải quyết triệt để những hạn chế, bất cập trong ngành du lịch. Đồng thời, khi dịch bệnh được kiểm soát, xu hướng mở cửa, thu hút đầu tư, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh để phát triển du lịch được đẩy mạnh.
Thành phố đã có những hành động cấp bách để khôi phục hoạt động của ngành du lịch: định hướng ưu tiên phát triển thị trường du lịch nội địa, đảm bảo yếu tố an toàn sức khỏe, vệ sinh.. Thành phố ưu tiên thúc đẩy nhanh, hiệu quả chiến dịch tiêm vaccine phòng, chống dịch COVID-19 cho người dân, người lao động tại các trung tâm du lịch. Ngành Du lịch đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền du lịch với thông điệp “Hải Phòng- điểm đến an toàn”; tiếp tục đề xuất ban hành chương trình kích cầu du lịch; hỗ trợ doanh nghiệp kết nối lại thị trường cả trực tuyến và trực tiếp.
1.4 Các chính sách phát triển du lịch biển
Với chủ trương đẩy mạnh phát triển du lịch, xác định phát triển du lịch là một trong những trọng tâm, trong đó có du lịch biển, chính quyền thành phố Hải Phòng thực hiện nhiều chính sách như mở rộng cơ chế thu hút đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch; cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi phát triển sản phẩm du lịch, bao gồm phát triển du lịch đặc thù, các sản phẩm hỗ trợ và sản phẩm du lịch tại các vùng xa thành phố; Cơ chế, chính sách hỗ trợ, nghiên cứu phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến quảng bá, hợp tác về du lịch; Cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch…nhằm tạo điều kiện cho du lịch biển Hải Phòng bứt phá và trở thành điểm sáng về du lịch biển của cả nước. Khóa luận: Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng du lịch biển.
XEM THÊM NỘI DUNG TẠI ĐÂY:
>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng du lịch biển Hải Phòng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

