Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đo lường hiệu quả hợp lực chi phí trong hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025

Từ những năm 2012, với mục tiêu chính là xử lý các ngân hàng yếu kém, giảm rủi ro hệ thống và nâng cao an toàn tài chính quốc gia, Ngân hàng nhà nước và Chính phủ đã chủ trương đẩy mạnh thực hiện các chính sách tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng. Đề án tái cấu trúc các tổ chức tín dụng theo quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2013 là một trong những bước khởi đầu rõ ràng cho làn sóng M&A trong ngành ngân hàng. Bên cạnh đó, áp lực từ việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vốn tối thiểu, các chuẩn mực quản trị rủi ro ngày càng cao của Basel II, Basel III là một trong những nguyên nhân đòi hỏi các ngân hàng có qui mô trung bình và nhỏ có lộ trình sáp nhập hoặc tìm kiếm đối tác để tăng cường vốn và nâng cao năng lực quản trị ngân hàng. Ngoài ra, thị trường mở cửa khơi nguồn cho những làn sóng đầu tư ồ ạt từ các nhà đầu tư nước ngoài và sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài, cạnh tranh với các ngân hàng có qui mô lớn và tỷ lệ sở hữu nhà nước cao. Do đó, sự kỳ vọng của cổ đông, khách hàng về chất lượng dịch vụ, công nghệ… cũng góp phần thúc đẩy hoạt động M&A trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Từ năm 2012 đến năm 2016 chứng kiến hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng thương mại chủ yếu là các ngân hàng có qui mô nhỏ, vốn yếu và hoạt động thiếu hiệu quả vào các ngân hàng thương mại lớn và có tiềm lực hơn. Xét về qui mô, các thương vụ M&A trong giai đoạn này thường trung bình và nhỏ về tổng tài sản hay vốn điều lệ nhưng các thương vụ này có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện năng lực tài chính ngân hàng bị sáp nhập, mở rộng mạng lưới và tăng cường năng lực quản trị. Năm 2016 ghi nhận 3 ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước mua lại 0 đồng đó là CBBank, OceanBank, GPBank và đã thực hiện chuyển giao bắt buộc đối với các ngân hàng này lần lượt cho VCB, MBB, VPB cùng với DongABank chuyển giao cho HDBank vào năm 2025 – 2026 theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Sau năm 2016, sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài qua việc mua cổ phần chiến lược ngày càng mạnh và các ngân hàng đã có bước chuyển mình trong chuyển giao công nghệ, quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế, nâng cao việc minh bạch trong công bố thông tin.

Hoạt động M&A trên thực tế đã giúp cho các ngân hàng cải thiện huy động vốn, tăng vốn điều lệ, cải thiện khả năng thanh khoản, đáp ứng các yêu cầu theo chuẩn quốc tế về an toàn vốn. Bên cạnh đó, M&A giúp các ngân hàng mở rộng mạng lưới khách hàng lớn hơn, mở rộng thị trường nhờ hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch rộng khắp và giúp tiết kiệm các chi phí có tính chất lặp lại như chi phí quản lý, chi phí nhân sự, chi phí marketing…Tuy nhiên, khi tham gia vào thương vụ M&A, nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc tích hợp công nghệ, hệ thống quản lý, văn hóa doanh nghiệp. Nhiều ngân hàng sáp nhập hấp thụ các khoản nợ xấu từ ngân hàng bị sáp nhập trong khi khả năng xử lý nợ xấu, quản trị rủi ro tín dụng còn hạn chế, điều này làm ảnh hưởng đến lợi nhuận, chi phí vận hành sau M&A. Mặt khác, một số thương vụ kéo dài, thủ tục phê duyệt, định giá chậm, phản ứng cổ đông hoặc các vấn đề về sở hữu chéo ảnh hưởng đến quá trình thực hiện thương vụ M&A hiệu quả.

Nhìn chung trong giai đoạn tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 2012 đến 2025, hoạt động M&A giữa các ngân hàng TMCP diễn ra mạnh mẽ và đã tạo dấu ấn rõ nét về mặt quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và các chỉ tiêu tài chính khác. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các phân tích chuyên ngành, rất nhiều ngân hàng sau sáp nhập đã ghi nhận mức tăng tổng tài sản một cách đáng kể bên cạnh cũng đi kèm với độ phân hóa lớn giữa ngân hàng lớn và ngân hàng nhỏ. Ví dụ, tổng tài sản ngân hàng sau M&A tăng từ mức vài chục nghìn tỷ đồng lên vài trăm nghìn tỷ đồng đã tạo ra ranh giới rõ giữa các ngân hàng thuộc “Big 4” và các ngân hàng nhỏ hơn.

Trước M&A, nhiều ngân hàng nhỏ có tổng tài sản chỉ ở mức dưới 30.000 tỷ đồng, ROA và ROE thường ở mức tương đối thấp, cùng với tỷ lệ nợ xấu (NPL) khá cao và hệ số an toàn vốn (CAR) ở sát hoặc thấp dưới chuẩn quy định. Sau khi tham gia M&A, đặc biệt khi ngân hàng lớn tiếp nhận ngân hàng nhỏ hơn hoặc yếu kém, ngân hàng tiếp nhận đã ghi nhận vốn chủ sở hữu (VCSH) được tăng cường, qua đó CAR được cải thiện đáng kể từ mức khoảng 10-12% trước sáp nhập lên khoảng 12-14% hoặc cao hơn ở giai đoạn hậu M&A. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy không phải tất cả ngân hàng đều đạt hiệu quả đồng đều. Nhóm ngân hàng thực hiện M&A dạng bắt buộc thường tiếp nhận khoản nợ xấu lớn và chi phí tái cấu trúc cao nên trong ngắn hạn thậm chí có thời kỳ NPL tăng trước khi bắt đầu giảm. Một số ngân hàng sau sáp nhập ghi nhận NPL tăng từ mức 2-3% trước sáp nhập lên 3-4%, đồng thời CAR dù được hỗ trợ nhưng còn phải mất thời gian để ổn định trong dài hạn. Thêm vào đó, đối với ngân hàng nhỏ sáp nhập vào các ngân hàng lớn, dù tổng tài sản tăng mạnh nhưng ROA, ROE và hiệu quả chi phí không cải thiện ngay mà phải qua 2-3 năm tích hợp hệ thống cho thấy hiệu quả hợp lực chi phí có độ trễ.

Như vậy, hoạt động M&A nói chung và trong hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng đóng vai trò quan trọng và đã trải qua những thay đổi đáng kể, hoạt động M&A đã thúc đẩy quy mô và vốn chủ sở hữu của các ngân hàng TMCP Việt Nam tăng rõ rệt trong giai đoạn 2012 – 2025, ngành ngân hàng Việt Nam đang trở nên vững chắc hơn nhờ vào các biện pháp tái cơ cấu. Tuy nhiên, vẫn còn một số ngân hàng yếu kém và không đạt chuẩn trở thành mục tiêu tiềm năng cho hoạt động tái cơ cấu và thực hiện M&A trong tương lai.

4.2. Pháp lý về hoạt động mua bán và sáp nhập của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025

Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2012-2016” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2013 xác định rõ hoạt động M&A là công cụ trọng tâm trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng với bối cảnh hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam bộc lộ nhiều tồn tại nghiêm trọng như qui mô nhỏ, phân mảnh, sở hữu chéo phức tạp, quản trị rủi ro yếu kém và tỷ lệ nợ xấu cao. Nhằm tạo hành lang pháp lý thúc đẩy quá trình M&A ngân hàng, các văn bản pháp lý quan trọng được ban hành trong giai đoạn này gồm Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 (có hiệu lực từ 01/01/2012) là văn bản nền tảng qui định rõ các hình thức M&A trong lĩnh vực ngân hàng; Thông tư 04/2011/TT-NHNN hướng dẫn trình tự, thủ tục chấp thuận việc sáp nhập, hợp nhất và mua lại ngân hàng; Thông tư 38/2012/TT-NHNN, sau này là Thông tư 04/2016/TT-NHNN qui định rõ hơn về điều kiện, hồ sơ và qui trình thực hiện M&A trong ngành ngân hàng; Thông tư 02/2014/TT-NHNN qui định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, gián tiếp thúc đẩy M&A thông qua phân loại lại các tổ chức tín dụng yếu kém. Như vậy, trong giai đoạn 2012-2016, hành lang pháp lý về M&A ngân hàng tại Việt Nam đã hình thành đầy đủ ở cấp độ luật và thông tư, làm tiền đề cho nhiều thương vụ M&A bắt buộc được Ngân hàng Nhà nước trực tiếp chỉ đạo.

Sau giai đoạn đầu tiên tái cấu trúc mạnh mẽ, Chính phủ tiếp tục ban hành Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017 – 2021” theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2018, đặt ra mục tiêu xử lý triệt để các ngân hàng yếu kém thông qua các hình thức tự nguyện M&A giữa các ngân hàng có cùng nhóm cổ đông, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các thương vụ M&A cũng như hạn chế hình thức sở hữu chéo và chi phối nhóm ngân hàng. Về mặt pháp lý, giai đoạn này ghi nhận sự xuất hiện của các văn bản quan trọng như Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2018 bổ sung nhiều điều khoản liên quan đến kiểm soát sở hữu, nâng cao yêu cầu năng lực tài chính của tổ chức nhận sáp nhập; Nghị định 01/2015/NĐ-CP (về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần ngân hàng Việt Nam) được sử dụng để thúc đẩy dòng vốn ngoại vào M&A ngân hàng; Thông tư 46/2019/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II – tạo áp lực tài chính khiến một số ngân hàng nhỏ buộc phải tìm đối tác M&A nhằm đạt tiêu chuẩn an toàn. Giai đoạn này M&A không còn là giải pháp cho ngân hàng yếu kém mà đã trở thành công cụ chiến lược để củng cố thị phần, cải thiện chất lượng tài sản và nâng cao hiệu quả hoạt động. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Giai đoạn 2022 – 2025, Chính phủ tiếp tục khẳng định vai trò then chốt của M&A trong việc cải thiện chất lượng hệ thống ngân hàng, tăng cường giám sát, hướng đến M&A đạt hiệu quả và chất lượng bằng Đề án “Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022 – 2026” theo Quyết định số 689/QĐ-TTg ngày 08/06/2023. Một số điểm pháp lý nổi bật giai đoạn này là Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2025 kỳ vọng siết chặt hơn nữa qui định về kiểm soát cổ đông lớn, chuyển nhượng vốn sau M&A, quản trị hậu M&A. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước tăng cường thẩm định, yêu cầu chi tiết phương án tích hợp hậu M&A đồng thời xem xét mô hình tổ chức các công ty con trực thuộc ngân hàng để xử lý nợ xấu thông qua công ty AMC riêng biệt đồng thời áp dụng hệ thống giám sát thông minh nhằm theo dõi hiệu quả của các thương vụ M&A. Mặc dù giai đoạn này ghi nhận ít thương vụ M&A nhưng chất lượng các thương vụ lại cao hơn nhờ vào hệ thống pháp luật hướng đến chuẩn hóa, thẩm định kỹ lưỡng, yêu cầu minh bạch hóa toàn bộ quy trình, các ngân hàng nhận sáp nhập có qui mô vừa và lớn đồng thời có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.

Như vậy, giai đoạn 2012 – 2025, Việt Nam đã xây dựng được một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện nhằm điều tiết hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng. Từ các chính sách hành chính mang tính áp đặt giai đoạn đầu, cho đến các quy định chi tiết về thẩm định, kiểm soát chất lượng thương vụ trong giai đoạn sau, khung pháp lý đã đóng vai trò quyết định giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam tái cấu trúc toàn diện, giảm số lượng tổ chức tín dụng yếu kém và nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành ngân hàng.

4.3. Kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

4.3.1 Thống kê mô tả

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 29 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2025, bao gồm cả các ngân hàng tham gia M&A và nhóm đối chứng được trình bày thông qua các thống kê mô tả cơ bản để làm rõ đặc điểm tổng thể của mẫu nghiên cứu.

  • Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu

Quy mô các ngân hàng có sự phân hóa rất lớn, với tổng tài sản từ 19.000 tỷ đến hơn 1,1 triệu tỷ đồng. Độ lệch chuẩn của tổng tài sản (308.700 tỷ) thậm chí còn lớn hơn giá trị trung bình (272.900 tỷ) cho thấy sự chênh lệch cực kỳ mạnh giữa các ngân hàng Big 4 như Vietcombank, BIDV với những ngân hàng quy mô nhỏ hơn. Chính sự bất cân xứng này đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho các thương vụ sáp nhập, những ngân hàng nhỏ cần quy mô để cạnh tranh trong khi các ngân hàng lớn muốn mở rộng thị phần.

Tỷ lệ nợ xấu bình quân chỉ 1,56% nhưng biến động lớn (độ lệch chuẩn 2,47%), với một số trường hợp cực lớn lên tới 35,3%. Con số này phản ánh thực tế có những ngân hàng trong tình trạng khó khăn nghiêm trọng chính là những đối tượng của các thương vụ M&A bắt buộc như OceanBank, CBBank hay GPBank. Sự tương phản này giải thích tại sao một số thương vụ có giá 0 đồng, bởi ngân hàng tiếp nhận thực chất đang giải cứu các ngân hàng có vấn đề.

ROA trung bình 0,24% tuy thấp so với chuẩn quốc tế nhưng phù hợp với đặc điểm ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn này. ROE 10,21% cao hơn đáng kể cho thấy các ngân hàng đã tận dụng đòn bẩy tài chính khá hiệu quả. Sự chênh lệch giữa ROA và ROE cũng phản ánh mức độ đòn bẩy khá cao của hệ thống tạo áp lực về an toàn vốn và thúc đẩy nhu cầu tăng cường vốn thông qua M&A.

4.3.2 Kết quả đo lường hiệu quả hợp lực chi phí theo mô hình DEA Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Bảng 4.2: Kết quả đo lường hiệu quả hợp lực chi phí theo mô hình DEA

Phương pháp Data Envelopment Analysis (DEA) được áp dụng với hai mô hình chính – Variable Returns to Scale (VRS) và Constant Returns to Scale (CRS) để đánh giá hiệu quả kỹ thuật của 29 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 2012 – 2025. Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy sự phân hóa rõ rệt về hiệu quả giữa các ngân hàng, phản ánh đúng thực trạng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng mà nghiên cứu đã đề cập.

Vietcombank (VCB) dẫn đầu về hiệu quả kỹ thuật thuần với chỉ số VRS đạt 0,6688 và hiệu quả tổng thể CRS ở mức 0,5555 cho thấy ngân hàng này không chỉ có quản trị vận hành xuất sắc mà còn hoạt động gần với quy mô tối ưu. Điều này phù hợp với vị thế dẫn đầu của VCB trong hệ thống ngân hàng Việt Nam và giải thích tại sao VCB thường đóng vai trò là bên tiếp nhận trong các thương vụ M&A như việc tiếp nhận CBBank năm 2025. BIDV (BID) xếp thứ hai với VRS = 0,6787 và CRS = 0,5387 cũng thể hiện hiệu quả vận hành tốt và có kinh nghiệm M&A với thương vụ hợp nhất MHB năm 2016. Nhóm ngân hàng có hiệu quả trung bình bao gồm CTG (0,6368/0,5077), VAB (0,6147/0,5345) và TCB (0,5964/0,5104) cho thấy tiềm năng cải thiện đáng kể thông qua tối ưu hóa quy mô. Đặc biệt, khoảng cách giữa VRS và CRS ở những ngân hàng này khá lớn gợi ý ngân hàng chưa hoạt động ở quy mô tối ưu và có thể hưởng lợi từ M&A để đạt hiệu quả. MBB với chỉ số VRS = 0,5795 và CRS = 0,4990 thể hiện hiệu quả quản trị tương đối tốt phù hợp với thực tế MBB đã tích cực tham gia M&A như tiếp nhận OceanBank năm 2025.

Nhóm ngân hàng có hiệu quả thấp nhất bao gồm PVcomBank (0,4778/0,3304), EIB (0,4485/0,4106) và ABB (0,4819/0,4132), những ngân hàng này có khả năng trở thành đối tượng của M&A trong tương lai do hiệu quả vận hành kém và cần cải thiện cả về mặt quản trị lẫn quy mô. Đáng chú ý, khoảng cách VRS-CRS ở PVcomBank lên tới 0,1474 (44,6%), cho thấy ngân hàng này có vấn đề nghiêm trọng về quy mô hoạt động, có thể quá nhỏ so với yêu cầu hiệu quả trong môi trường cạnh tranh hiện tại.

  • Biểu đồ 4.1: Biểu đồ so sánh 2 phương pháp DEA gồm VRS và CRS

Biểu đồ Boxplot cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong phân phối hiệu quả chi phí giữa hai giai đoạn. Nhóm cost_score_bc (trước điều chỉnh CRS) có trung vị khoảng 0,54 với khoảng tứ phân từ 0,49 đến 0,60, trong khi nhóm cost_score_bc_crs (sau áp dụng CRS) có trung vị thấp hơn ở mức 0,44 với khoảng tứ phân từ 0,41 đến 0,51. Việc chuyển đổi xuống dưới của toàn bộ phân phối cho ứng dụng giả định CRS làm giảm hiệu quả chi phí của tất cả các ngân hàng, phản ánh tác động của hiệu quả mô tả.

Biên độ của râu (whisker) của cả hai nhóm tương thích nhau cho thấy mức độ phân tích không thay đổi nhiều, chỉ có sự chuyển đổi về mức độ. Điều này xác nhận rằng hầu hết ngân hàng trong mẫu đều chưa đạt quy mô tối ưu và có tiềm năng cải thiện hiệu quả thông qua mở rộng quy mô tạo nền tảng lý thuyết vững chắc cho động cơ M&A đạt được tính kinh tế theo quy mô.

4.3.3 Kết quả đo lường hiệu quả hợp lực chi phí theo mô hình SFA

Mô hình Stochastic Frontier Analysis (SFA) với hàm chi phí dạng translog được ước lượng theo phương pháp True Random Effects để kiểm soát tính không đồng nhất không quan sát được giữa các ngân hàng nhằm đo lường hiệu quả chi phí một cách chính xác hơn so với các phương pháp truyền thống. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Bảng 4.3: Kết quả đo lường hiệu quả chi phí theo mô hình SFA

Kết quả từ bảng 4.3 chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng hiệu quả chi phí của ngân hàng Việt Nam. Hệ số của quy mô tài sản cao (LN_TOTAL_ASSETS = 2,7294, z = 9,28, p < 0,001) và có ý nghĩa thống kê mạnh, cho thấy ngân hàng lớn hơn có chi phí cao hơn đáng kể, điều này có thể phản ánh sự phức tạp trong quản lý khi quy mô tăng lên. Hệ số cho vay (LN_LOANS = -1,170, z = -6,23, p < 0,001) mang dấu âm với ý nghĩa thống kê cao cho thấy khi hoạt động cho vay tăng thì chi phí biên giảm. Điều này phù hợp với lý thuyết về lợi thế chuyên môn hóa ngân hàng có danh mục cho vay lớn hơn có thể phân bổ chi phí cố định trên khối lượng lớn hơn, đạt được kinh tế quy mô trong hoạt động tín dụng.

Đáng chú ý, hệ số bậc hai của tài sản mang dấu âm (LN_TA_SQ = -0,0630, z = – 3,94, p < 0,001) cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa quy mô và chi phí. Kết hợp với hệ số bậc hai dương của cho vay (LN_LOANS_SQ = 0,1324, z = 10,99, p < 0,001), điều này gợi ý cấu trúc chi phí phức tạp với nhiều điểm uốn tùy thuộc vào sự kết hợp giữa quy mô tổng thể và hoạt động cho vay.

Hệ số tương tác giữa tổng tài sản và cho vay (TA_LOANS = -0,0931, z = -5,68, p < 0,001) mang dấu âm có ý nghĩa thống kê, chứng minh rằng khi ngân hàng đồng thời tăng cả quy mô và hoạt động cho vay, chi phí biên giảm đáng kể. Đây là bằng chứng rõ ràng cho hiệu ứng hợp lực mà các thương vụ M&A hướng tới, việc kết hợp hai ngân hàng không chỉ tăng quy mô mà còn tối ưu hóa cấu trúc hoạt động dẫn đến giảm chi phí biên.

Các yếu tố vĩ mô cho thấy vai trò hạn chế trong việc đo lường hiệu quả chi phí. Tăng trưởng GDP (GDP_GROWTH = -0,2659, p = 0,715) không có ý nghĩa thống kê, cho thấy mối quan hệ giữa chu kỳ kinh tế và chi phí ngân hàng không rõ ràng trong mẫu nghiên cứu. Lạm phát (CPI = 1,8392, p = 0,076) có tác động dương với mức ý nghĩa biên, phản ánh áp lực gia tăng chi phí đầu vào trong môi trường lạm phát cao. Lãi suất chính sách (POLICY_RATE = 1,3352, p = 0,696) không có ý nghĩa thống kê, có thể do tác động trái chiều, lãi suất cao tăng chi phí huy động vốn nhưng mặt khác cũng có thể tăng thu nhập lãi.

  • Bảng 4.4: Thống kê hiệu quả hợp lực chi phí theo mô hình SFA

Bảng 4.4 trình bày những đặc điểm quan trọng về phân bố hiệu quả chi phí giữa nhóm ngân hàng tham gia M&A (TREATED = 1) và nhóm đối chứng (TREATED = 0). Chỉ số hiệu quả chi phí trung bình của nhóm đối chứng đạt 98,46% với độ lệch chuẩn 0,2% trong khi nhóm ngân hàng tham gia M&A có hiệu quả trung bình đạt 98,66% với độ lệch chuẩn 0,12%.

Nhóm ngân hàng tham gia M&A có hiệu quả chi phí cao hơn nhóm đối chứng khoảng 0,2 điểm phần trăm (98,66% và 98,46%). Điều này có vẻ bất ngờ vì thông thường những ngân hàng kém hiệu quả mới có động cơ mạnh tham gia M&A. Tuy nhiên, con số này có thể được giải thích theo hai hướng: thứ nhất, trong mẫu nghiên cứu bao gồm cả M&A tự nguyện lẫn bắt buộc, trong đó M&A tự nguyện thường là sự kết hợp của những ngân hàng có hiệu quả tương đối tốt nhằm tạo ra hợp lực; thứ hai, các ngân hàng tiếp nhận thường là những ngân hàng lớn và hiệu quả, làm kéo lên chỉ số trung bình của nhóm.

Độ lệch chuẩn thấp trong nhóm M&A (0,12% so với 0,2%) cho thấy sự đồng nhất cao hơn về mức hiệu quả trong nhóm này, phản ánh tính cạnh tranh và sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý. Nhóm M&A có độ biến thiên thấp hơn có thể do áp lực hoạt động và yêu cầu tuân thủ cao hơn. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Khoảng biến thiên cho thấy sự phân hoá đáng kể, nhóm đối chứng có hiệu quả từ 97,84% đến 98,84% trong khi nhóm M&A từ 98,29% đến 98,84%. Điều đáng chú ý là giá trị nhỏ nhất của nhóm M&A cao hơn giá trị nhỏ nhất của nhóm đối chứng cho thấy ngay cả ngân hàng kém hiệu quả nhất trong nhóm M&A vẫn tốt hơn một số ngân hàng trong nhóm đối chứng. Điều này cho thấy rằng M&A không chỉ dành cho các ngân hàng yếu kém mà là công cụ chiến lược được sử dụng bởi cả những ngân hàng có nền tảng vững chắc. Ngoài ra, ngân hàng kém hiệu quả nhất có chi phí cao hơn khoảng 1% so với ngân hàng hiệu quả nhất, tương đương hàng nghìn tỷ đồng trong trường hợp ngân hàng lớn. Những ngân hàng có hiệu quả kém hơn trùng khớp với các đối tượng của M&A bắt buộc.

  • Bảng 4.5: Kết quả đo lường theo mô hình SFA – Nhóm M&A tự nguyện

Kết quả từ Bảng 4.5 cho thấy cấu trúc chi phí của nhóm M&A tự nguyện mang tính ổn định và được kiểm soát tốt hơn đồng thời có những đặc điểm rất khác biệt so với mô hình tổng thể và nhóm M&A bắt buộc. Hệ số quy mô tài sản (LN_TOTAL_ASSETS = 1,2044, z = 31,64, p < 0,001) thấp hơn đáng kể so với mô hình chung (2,7294) cho thấy những ngân hàng tham gia M&A tự nguyện có khả năng kiểm soát chi phí theo quy mô tốt hơn. Điều này phản ánh thực tế rằng các thương vụ M&A tự nguyện thường được lập kế hoạch cẩn thận với sự chuẩn bị tốt về mặt chiến lược và tài chính.

Hệ số cho vay (LN_LOANS = -0,029, z = -2,52, p = 0,012) mang dấu âm có ý nghĩa thống kê cho thấy hoạt động cho vay giúp giảm chi phí biên thông qua hiệu ứng quy mô. Tuy nhiên, độ lớn của hệ số nhỏ hơn nhiều so với mô hình tổng thể, gợi ý rằng trong M&A tự nguyện, lợi ích từ mở rộng cho vay không phải là động lực chính mà các ngân hàng tập trung nhiều hơn vào tối ưu hóa tổng thể.

Các yếu tố vĩ mô đều không có ý nghĩa thống kê trong nhóm này. GDP_GROWTH (-0,136, p = 0,938) và CPI (2,322, p = 0,335) cho thấy M&A tự nguyện ít bị ảnh hưởng bởi biến động kinh tế vĩ mô, có thể do các ngân hàng này có khả năng dự báo và chuẩn bị tốt hơn cho các thay đổi trong môi trường kinh doanh. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Bảng 4.6: Kết quả đo lường theo mô hình SFA – Nhóm M&A bắt buộc

Kết quả từ Bảng 4.6 cho thấy cấu trúc chi phí của nhóm M&A bắt buộc có tính phức tạp và bất ổn cao hơn nhiều. Hệ số quy mô tài sản (LN_TOTAL_ASSETS = – 0,1973, z = -1,41, p = 0,157) mang dấu âm và không có ý nghĩa thống kê cho thấy mối quan hệ không rõ ràng giữa quy mô và chi phí trong nhóm này. Điều này phản ánh thực tế các ngân hàng yếu kém thường có vấn đề về quản trị chi phí không phụ thuộc vào quy mô và các thương vụ M&A bắt buộc thường liên quan đến những ngân hàng đã hoạt động vượt quá quy mô tối ưu hoặc có vấn đề về quản trị chi phí.

Ngược lại, hệ số cho vay (LN_LOANS = 0,6191, z = 4,37, p < 0,001) mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê rất cao cho thấy khi cho vay tăng làm cho chi phí tăng mạnh. Điều này trái ngược hoàn toàn với M&A tự nguyện và mô hình tổng thể, phản ánh việc các ngân hàng yếu không thể đạt được hiệu quả kinh tế quy mô trong hoạt động tín dụng, có thể do chất lượng danh mục kém, chi phí giám sát cao và tỷ lệ nợ xấu lớn.

Phản ứng với tăng trưởng GDP (GDP_GROWTH = 0,2375, p = 0,645) mang dấu dương trái ngược với nhóm tự nguyện cho thấy trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế, chi phí của những ngân hàng này vẫn tăng. Điều này có thể phản ánh việc chúng không thể tận dụng được cơ hội từ tăng trưởng do các vấn đề nội tại về quản trị và rủi ro.

Tác động của lạm phát (CPI = 1,8742, z = 2,58, p = 0,010) tuy thấp hơn nhóm tự nguyện nhưng có ý nghĩa thống kê cao. Điều này cho thấy áp lực lạm phát ảnh hưởng mạnh đến chi phí của nhóm ngân hàng yếu kém, những ngân hàng trong tình trạng khó khăn có khả năng ứng phó với lạm phát tốt hơn, có thể do áp lực cắt giảm chi phí mạnh mẽ và sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý.

4.3.4 Kết quả mô hình ghép điểm xu hướng PSM (Propensity Score Matching) Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Mô hình Propensity Score Matching sử dụng hồi quy Logit để ước lượng xác suất tham gia M&A dựa trên các đặc điểm quan sát được của ngân hàng trước thời điểm M&A, nhằm giảm thiểu thiên lệch do tự chọn mẫu trong việc ước lượng tác động nhân quả của M&A.

  • Bảng 4.7: Kết quả hồi quy PSM bằng mô hình Logit

Kết quả từ Bảng 4.7 cung cấp hiểu biết về các yếu tố quyết định xác suất tham gia M&A của ngân hàng. Mặc dù các hệ số có mức ý nghĩa thống kê không cao do cỡ mẫu hạn chế nhưng hướng và độ lớn của các hệ số vẫn mang thông tin quan trọng về cơ chế lựa chọn.

Quy mô tài sản trễ 4 quý (L4_ASSETS) có hệ số dương 0,9883 nhưng không có ý nghĩa thống kê mạnh cho thấy quy mô không phải là yếu tố quyết định chính trong việc tham gia M&A. Điều này có vẻ bất ngờ vì thường các ngân hàng lớn có nhiều khả năng thực hiện M&A hơn. Tuy nhiên trong bối cảnh Việt Nam, cả ngân hàng lớn và nhỏ đều có thể tham gia M&A với vai trò khác nhau như ngân hàng lớn làm bên mua, ngân hàng nhỏ làm bên được mua hoặc sáp nhập.

Tỷ lệ an toàn vốn (L4_CAR = 1,9327, z = 1,49, p = 0,137) có hệ số dương trái với kỳ vọng ban đầu cho thấy không nhất thiết ngân hàng có CAR thấp mới tham gia M&A. Điều này phản ánh sự đa dạng trong động cơ thực hiện M&A, một số trường hợp là ngân hàng mạnh tiếp nhận ngân hàng yếu kém làm tăng CAR trung bình của nhóm nghiên cứu.

Tỷ lệ nợ xấu (L4_NPL = 7,9118) có hệ số dương như kỳ vọng nhưng không có ý nghĩa thống kê do sai số chuẩn rất lớn. Ngân hàng có NPL cao hơn có xu hướng trở thành đối tượng của M&A, đặc biệt là M&A bắt buộc. Sai số chuẩn lớn (9,630) phản ánh sự đa dạng trong mức độ NPL và các yếu tố tác động khác.

ROA (L4_ROA = -172,0547) có hệ số âm lớn nhưng không có ý nghĩa thống kê do sai số chuẩn rất lớn (114,5656). Điều này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa hiệu quả hoạt động và quyết định M&A. Một mặt ngân hàng có ROA thấp cần M&A để cải thiện hiệu quả, mặt khác ngân hàng có ROA cao cũng có thể tham gia M&A để mở rộng quy mô và tăng cường vị thế cạnh tranh.

4.3.5 Kết quả phân tích tác động nhân quả – mô hình DiD

  • Bảng 4.8: Hiệu ứng chính của M&A lên hiệu quả hợp lực chi phí (Cost Efficiency)

Kết quả từ Bảng 4.8 là trọng tâm của nghiên cứu, cho thấy tác động nhân quả của M&A lên hiệu quả hợp lực chi phí thông qua phương pháp DiD được kiểm soát bằng PSM. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Hệ số TREATED_POST_MA (-0,0001425, t = -2,95, p = 0,006) mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê cao, cho thấy M&A có tác động tích cực lên hiệu quả chi phí. Dấu âm trong mô hình hiệu quả chi phí có nghĩa là cải thiện hiệu quả (giảm khoảng cách đến đường biên hiệu quả). Cụ thể, M&A cải thiện hiệu quả chi phí khoảng 0,014 điểm phần trăm, tương đương với giảm 1,4 điểm cơ bản trong khoảng cách đến biên tối ưu.

Mặc dù độ lớn tuyệt đối của tác động có vẻ nhỏ (0,014%), nhưng khi xét trong bối cảnh hiệu quả chi phí trung bình đã cao (98,46%), khả năng cải thiện thêm là rất hạn chế. Cải thiện 0,014% đồng nghĩa với việc thu hẹp khoảng cách đến biên tối ưu khoảng 1%, có thể nói là một thành tựu đáng kể trong ngành ngân hàng với mức độ cạnh tranh cao.

Tác động này có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Với quy mô trung bình của các ngân hàng trong mẫu là 272.900 tỷ VND tổng tài sản, cải thiện 0,014% hiệu quả chi phí có thể tiết kiệm hàng chục tỷ đồng chi phí hàng năm. Đối với các ngân hàng lớn như VCB hay BIDV với tài sản trên 1,1 triệu tỷ thì con số tiết kiệm có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Hệ số TREATED (-0,0000682, p = 0,323) không có ý nghĩa thống kê, cho thấy trước thời điểm M&A, không có sự khác biệt có ý nghĩa về hiệu quả chi phí giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng. Điều này xác nhận tính hiệu quả của phương pháp PSM trong việc tạo ra nhóm so sánh tương đồng.

Các biến kiểm soát cho kết quả phù hợp với lý thuyết kinh tế. Quy mô tài sản (LN_TOTAL_ASSETS = 0,0018136) có tác động tích cực (t = 17,23) xác nhận lợi thế kinh tế quy mô trong ngành ngân hàng. Cứ tăng 1% quy mô tài sản sẽ cải thiện hiệu quả chi phí khoảng 0,18 điểm cơ bản.

NPL_RATIO có hệ số dương (0,0004164) với ý nghĩa thống kê cao (p = 0,059) cho thấy nợ xấu cao hơn dẫn đến hiệu quả chi phí cao hơn. Điều này có thể được giải thích rằng những ngân hàng có NPL cao buộc phải tối ưu hóa chi mạnh mẽ hơn để bù đắp tổn thất từ nợ xấu.

CAR_RATIO (0,0006094, t = 1,57, p = 0,128) có hệ số dương nhưng không có ý nghĩa thống kê mạnh cho thấy mối quan hệ không rõ ràng giữa an toàn vốn và hiệu quả chi phí. Một mặt, vốn dồi dào cho phép đầu tư vào công nghệ và quy trình tốt hơn, mặt khác, yêu cầu vốn cao cũng sinh thêm chi phí cơ hội. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Các yếu tố vĩ mô (GDP_GROWTH, CPI, POLICY_RATE) đều không có ý nghĩa thống kê cho thấy sau khi kiểm soát các yếu tố cụ thể của M&A ngân hàng, tác động của biến động kinh tế vĩ mô không còn rõ ràng.

  • Bảng 4.9: So sánh cơ chế tự nguyện và bắt buộc khi thực hiện hoạt động M&A

Kết quả từ Bảng 4.9 là phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu cho thấy sự khác biệt căn bản giữa hai cơ chế M&A với những tác động hoàn toàn trái ngược nhau.

M&A tự nguyện (VOL_POST_MA = -0,0002026) có tác động tích cực mạnh mẽ lên hiệu quả chi phí với ý nghĩa thống kê cao nhất trong toàn bộ nghiên cứu. Hệ số âm cho thấy cải thiện hiệu quả, cụ thể là cải thiện khoảng 2,0 điểm cơ bản – một tác động kinh tế rất lớn. Đây là bằng chứng rõ ràng cho lý thuyết hợp lực trong M&A ngân hàng. Tác động tích cực này có thể được giải thích qua nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, tính kinh tế của quy mô khi kết hợp hai ngân hàng có thể loại bỏ vòng lặp trong chi phí cố định như hệ thống Công nghệ thông tin, văn phòng và nhân sự quản lý. Thứ hai, tính kinh tế của phạm vi khi mở rộng địa bàn hoạt động và danh mục sản phẩm giúp tận dụng tốt hơn cơ sở hạ tầng hiện có. Thứ ba, chuyển giao kiến thức giữa ngân hàng có thể cải thiện quy trình và công nghệ.

M&A bắt buộc (FOR_POST_MA = 0,0000708) không có ý nghĩa thống kê (p = 0,421) cho thấy M&A bắt buộc không tạo ra cải thiện hiệu quả chi phí rõ rệt. Điều này phù hợp với thực tế các thương vụ M&A bắt buộc thường liên quan đến việc giải cứu những ngân hàng có vấn đề yếu kém nghiêm trọng.

Sự chênh lệch giữa hai hệ số (0,0002026 – 0,0000708 = 0,0001318 điểm phần trăm) cho thấy M&A tự nguyện hiệu quả hơn M&A bắt buộc gần gấp 3 lần. Điều này có ý nghĩa chính sách quan trọng cho các cơ quan quản lý nên khuyến khích M&A tự nguyện giữa các ngân hàng lành mạnh thay vì chỉ dùng M&A như công cụ xử lý ngân hàng yếu kém.

Hệ số VOLUNTARY và FORCED cho thấy đặc điểm trước M&A của hai nhóm. Đối với VOLUNTARY (-0,0000306, p = 0,665) không có ý nghĩa thống kê cho thấy các ngân hàng tham gia M&A tự nguyện có hiệu quả chi phí tương đương nhóm đối chứng trước thời điểm M&A. Đối với FORCED (-0,0000978, p = 0,185) cũng không có ý nghĩa thống kê mạnh, phản ánh sự đa dạng trong nhóm M&A bắt buộc bao gồm cả ngân hàng tiếp nhận có tiềm lực mạnh và ngân hàng yếu kém được tiếp nhận.

Kiểm soát biến trong mô hình này cho kết quả tương tự mô hình chính nhưng tính thống kê được cải thiện. LN_TOTAL_ASSETS vẫn có tác động tích cực mạnh (0,0018123, t = 17,19) xác nhận tính kinh tế theo quy mô. CAR_RATIO (0,0006308, t = 1,61, p = 0,118) và NPL_RATIO (0,0004341, t = 2,19, p = 0,037) đều có tác động dương, với NPL có ý nghĩa thống kê cao hơn trong mô hình này. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Bảng 4.10: Đánh giá tác động của các yếu tố vĩ mô đến hiệu quả hợp lực chi phí

Kết quả từ Bảng 4.10 kiểm tra vai trò điều tiết của môi trường kinh tế vĩ mô đối với hiệu quả M&A ngân hàng. Đây là một góc nhìn mới và quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam với sự biến động cao của các chỉ số vĩ mô.

Trong môi trường tăng trưởng GDP cao (>6%) (TREATED_HIGH_GROWTH = -0,000031), tác động của M&A lên hiệu quả chi phí là rất nhỏ và không có ý nghĩa thống kê. Điều này khá bất ngờ vì lý thuyết cho rằng môi trường tăng trưởng thuận lợi sẽ giúp M&A đạt hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, có thể giải thích trong giai đoạn tăng trưởng cao, tất cả ngân hàng đều được hưởng lợi nên lợi thế của M&A không nổi bật.

Ngược lại, trong môi trường tăng trưởng thấp (TREATED_LOW_GROWTH = 0,000414, t = 0,59, p = 0,561) không có ý nghĩa thống kê nhưng hệ số dương gợi ý rằng trong môi trường tăng trưởng thấp (<4%) thì M&A có thể gặp khó khăn hơn trong việc tạo hiệu quả do chi phí tích hợp cao trong khi cơ hội kinh doanh có sự hạn chế. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn thời điểm thực hiện M&A. Các ngân hàng nên cân nhắc kỹ việc thực hiện M&A trong giai đoạn tăng trưởng thấp vì rủi ro không đạt được hiệu quả mong đợi sẽ cao hơn.

Trong môi trường lạm phát cao TREATED_HIGH_INF (-0,0000423, t = -1,74, p = 0,093) có tác động tích cực với mức ý nghĩa biên, cho thấy trong môi trường lạm phát cao, M&A có thể giúp ngân hàng kiểm soát chi phí tốt hơn thông qua áp lực lạm phát buộc các ngân hàng sau M&A phải tối ưu hóa chi phí mạnh mẽ hơn.

Trong điều kiện lãi suất điều hành thấp TREATED_LOW_RATE (-0,0000166, t = -0,25, p = 0,806) không có ý nghĩa thống kê cho thấy lãi suất chính sách không có vai trò điều tiết rõ ràng đối với hiệu quả M&A.

Các biến kiểm soát cho kết quả nhất quán. LN_TOTAL_ASSETS (0,0019849, t = 11,50, p < 0.001) vẫn có tác động tích cực mạnh. NPL_RATIO (0,0006903, t = 2,18, p = 0,038) có ý nghĩa thống kê cao hơn trong mô hình này.

  • Bảng 4.11: Đánh giá tác động của hoạt động M&A đến hệ số CAR của các ngân hàng

Kết quả từ Bảng 4.11 cho thấy M&A có tác động phức tạp và đáng kể lên tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng, một trong những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá sức khỏe tài chính và khả năng chống chịu rủi ro.

Tác động tổng thể của M&A (TREATED_POST_MA = -0,0317) là tiêu cực với mức ý nghĩa thống kê biên (p = 0,054) cho thấy M&A có xu hướng làm giảm tỷ lệ an toàn vốn khoảng 3,2 điểm phần trăm. Đây là một tác động kinh tế rất lớn khi xét đến việc CAR trung bình trong mẫu chỉ khoảng 8,6%. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Tác động tiêu cực này có thể được giải thích qua nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, trong quá trình M&A, ngân hàng tiếp nhận thường phải sử dụng một phần đáng kể vốn chủ sở hữu để tài trợ cho thương vụ dẫn đến giảm CAR tức thời. Thứ hai, việc hợp nhất tài sản rủi ro từ hai ngân hàng có thể tạo ra rủi ro tập trung cao hơn, đòi hỏi nhiều vốn hơn để đáp ứng yêu cầu của Basel. Thứ ba, chi phí tái cấu trúc và tích hợp tạo áp lực lên Vốn chủ sở hữu trong giai đoạn đầu.

Hệ số VOL_POST_MA (0,0120, t = 0,60, p = 0,554) không có ý nghĩa thống kê, cho thấy M&A tự nguyện không có tác động rõ ràng lên CAR. Điều này có thể do các thương vụ tự nguyện thường được chuẩn bị kỹ về mặt vốn và hai bên đều ở trạng thái tài chính lành mạnh.

Ngược lại, tác động tổng thể tiêu cực chủ yếu đến từ M&A bắt buộc (có thể tính được bằng cách trừ VOL_POST_MA khỏi TREATED_POST_MA) tạo ra tác động âm khoảng -1,62 điểm phần trăm. Điều này phản ánh thực tế M&A bắt buộc thường liên quan đến việc tiếp nhận những ngân hàng có vấn đề nghiêm trọng về vốn và chất lượng tài sản.

Hệ số VOLUNTARY (0,0477, t = 1,25, p = 0,221) có hệ số dương lớn nhưng không có ý nghĩa thống kê do sai số chuẩn cao (0,038) phản ánh sự đa dạng trong nhóm M&A tự nguyện.

NPL_RATIO có hệ số dương lớn (0,2917) mặc dù không có ý nghĩa thống kê mạnh nhưng cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa nợ xấu và CAR. Có thể những ngân hàng có NPL cao buộc phải tăng cường dự phòng rủi ro dẫn đến CAR cao hơn để đáp ứng theo chuẩn Basel.

  • Bảng 4.12: Đánh giá tác động của hoạt động M&A đến hệ số NPL của các ngân hàng

Kết quả từ Bảng 4.12 cung cấp hiểu biết quan trọng về tác động của M&A lên chất lượng danh mục tín dụng, đây là một yếu tố then chốt quyết định sức khỏe dài hạn của ngân hàng.

Tác động tổng thể của M&A, TREATED_POST_MA = -0,0131, t = -1,92, p = 0,065) có tác động tích cực làm giảm NPL với mức ý nghĩa biên, cho thấy M&A có xu hướng cải thiện chất lượng danh mục tín dụng. Giảm 1,3 điểm phần trăm NPL là một cải thiện đáng kể tương đương với giảm khoảng 80% so với mức NPL trung bình 1,6% trong mẫu.

Đối với M&A tự nguyện, VOL_POST_MA (0,0031, t = 0,31, p = 0,755) không có ý nghĩa thống kê, cho thấy M&A tự nguyện không có tác động rõ ràng lên NPL. Điều này hoàn toàn hợp lý vì các ngân hàng tham gia M&A tự nguyện thường đã có chất lượng tài sản tốt, việc đa dạng hóa rủi ro khi kết hợp hai danh mục tín dụng từ các lĩnh vực địa lý hoặc ngành nghề khác nhau giúp giảm thiểu rủi ro tổng thể. Kinh tế theo quy mô có khả năng quản lý rủi ro cho phép đầu tư vào hệ thống quản lý rủi ro hiện đại hơn.

Hệ số VOLUNTARY (0,0097, t = 0,86, p = 0,399) có hệ số dương nhưng không có ý nghĩa thống kê cho thấy trước M&A, nhóm tự nguyện không có sự khác biệt rõ rệt về NPL so với nhóm đối chứng.

CAR_RATIO (0,0987, t = 2,51, p = 0,018) có tác động tích cực có ý nghĩa thống kê cho thấy ngân hàng có CAR cao hơn có xu hướng có NPL cao hơn. Đây là mối quan hệ nghịch lý có thể phản ánh việc ngân hàng có vấn đề nợ xấu buộc phải tăng vốn để đáp ứng yêu cầu Basel. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Quy mô tài sản (LN_TOTAL_ASSETS = -0,0083, t = -1,03, p = 0,311) có hệ số âm cho thấy ngân hàng lớn hơn có xu hướng NPL thấp hơn, phù hợp với lý thuyết về lợi thế đa dạng hoá và năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng lớn.

4.3.6 Kết quả phân tích hồi quy – mô hình sống còn Split-population Survival

Phân tích thời gian sống sót cung cấp góc nhìn thú vị về tốc độ đạt được hiệu quả hợp lực của các loại M&A khác nhau.

  • Bảng 4.13: Kết quả đo lường thời gian đạt hiệu quả hợp lực chi phí (Cox Regression – Time to Synergy)

Kết quả từ Bảng 4.13 sử dụng mô hình Cox proportional hazards để phân tích thời gian đạt được hiệu quả hợp lực chi phí sau M&A. Mặc dù các hệ số không có ý nghĩa thống kê mạnh do cỡ mẫu hạn chế nhưng độ lớn của hazard ratio vẫn cung cấp thông tin quan trọng về cơ chế tạo ra hiệu quả.

Hazard ratio của FORCED (Hazard Ratio = 1,452, z = 0,43, p = 0,668) cho thấy M&A bắt buộc có hazard rate cao hơn M&A tự nguyện khoảng 45%, mặc dù không có ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu nhỏ. Hazard ratio > 1 có nghĩa là M&A bắt buộc có xác suất đạt được hợp lực chi phí tức cải thiện hiệu quả vượt mức trung bình nhanh hơn.

Kết quả này có vẻ nghịch lý khi xét đến những phát hiện trước về hiệu quả thấp hơn của M&A bắt buộc nhưng có thể được giải thích qua bản chất khác nhau của hợp lực chi phí trong hai loại M&A. Với M&A bắt buộc, hợp lực chủ yếu đến từ các biện pháp cắt giảm chi phí khẩn cấp như sa thải nhân viên, đóng cửa chi nhánh kém hiệu quả và giảm các hoạt động không cốt lõi, những biện pháp này có thể được thực hiện nhanh chóng và tạo ra tác động tức thời. Ngược lại, M&A tự nguyện tập trung vào tạo ra hợp lực chi phí mang tính dài hạn thông qua tích hợp chiến lược đòi hỏi thời gian lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả.

  • Bảng 4.14: Kết quả đo lường tỷ lệ sống sót theo thời gian (Life Table)

Kết quả từ Bảng 4.14 cung cấp hiểu biết sâu sắc về mô hình thời gian của quá trình tạo ra hiệu quả sau M&A cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai loại thương vụ. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Đối với M&A tự nguyện, tỷ lệ sống sót (chưa đạt được hiệu quả hợp lực) giảm từ 100% tại thời điểm 0 (tính tại thời điểm hoàn tất M&A) xuống 71,43% sau 1 quý, xuống 57,14% sau 3 quý và còn 42,86% sau 14 quý. Mô hình này cho thấy quá trình tạo ra hiệu quả hợp lực chi phí diễn ra tương đối đều đặn với khoảng 28 – 29% ngân hàng đạt hợp lực chi phí mỗi năm trong 2-3 năm đầu.

Điều này phù hợp với chu kỳ tích hợp điển hình của M&A tự nguyện, năm đầu tập trung vào việc hài hòa hệ thống và quy trình, năm thứ hai thực hiện các chương trình tối ưu hóa và năm thứ ba bắt đầu thu hoạch kết quả từ quá trình hợp lực. Tuy nhiên, khoản thời gian rộng phản ánh cho sự không chắc chắn cao trong quá trình này.

Đối với M&A bắt buộc, tỷ lệ sống sót giảm nhanh hơn từ 100% năm đầu xuống 50% sau 13 quý và về 0% sau 17 quý. Tốc độ đạt được hiệu quả hợp lực nhanh hơn nhưng không đều, có khoảng thời gian dài không tiến triển sau đó đột ngột đạt được. Mô hình này cho thấy quá trình đạt hiệu quả (thực chất là cắt giảm chi phí) diễn ra nhanh chóng và liên tục, phản ánh tính chất cắt giảm nhanh gọn của các biện pháp tái cơ cấu trong M&A bắt buộc.

Sự khác biệt trong mô hình thời gian phản ánh bản chất khác nhau của hai loại M&A. M&A bắt buộc có áp lực tức thời phải giải quyết các vấn đề dẫn đến hành động nhanh chóng trong khi M&A tự nguyện có thời gian để lập kế hoạch và thực hiện một cách bài bản hơn.

Confidence interval rộng trong cả hai nhóm phản ánh số lượng quan sát hạn chế, cỡ mẫu nhỏ, làm giảm độ tin cậy của ước lượng.

4.4. Kiểm định độ chắc chắn và độ tin cậy của mô hình Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

4.4.1 Kiểm tra Robustness

  • Bảng 4.15: Kiểm định Placebo Test

Placebo test là một trong những công cụ quan trọng nhất để kiểm tra tính vững của kết quả nghiên cứu bằng cách tạo ra một tác động giả 8 quý trước thời điểm M&A thực tế xảy ra. Kết quả từ Bảng 4.15 cho thấy tính tin cậy cao của phân tích chính.

Hệ số FAKE_TREATED_POST cho kết quả omitted cho thấy không có tác động nào trước thời điểm M&A thực tế. Đây là kết quả tích cực cho thấy không có tác động giả trước khi M&A. Nếu có tác động trước M&A khác nhau giữa hai nhóm, biến FAKE_TREATED_POST này sẽ không bị omitted và có hệ số khác 0.

Hệ số TREATED và FAKE_POST cũng cho kết quả omitted. Việc không tìm thấy tác động giả xác nhận rằng giả định xu hướng song song (Parallel trend assumption) của phương pháp DiD được thỏa mãn, hai nhóm có xu hướng phát triển tương tự trước khi có can thiệp M&A. “Selection bias” đã được kiểm soát tốt thông qua PSM. Kết quả chính thực sự phản ánh tác động nhân quả của M&A chứ không phải correlation giả.

Các biến kiểm soát trong placebo test cho kết quả tương tự mô hình chính, với LN_TOTAL_ASSETS vẫn có tác động mạnh (t = 20,41), CAR_RATIO có ý nghĩa thống kê (p = 0,049) và NPL_RATIO có ý nghĩa biên (p = 0,216). Điều này xác nhận tính ổn định của mô hình.

  • Bảng 4.16: Kiểm định Long-term effects (5+ years post M&A)

Kết quả từ Bảng 4.16 cung cấp góc nhìn quan trọng về tính bền vững của tác động M&A trong dài hạn (5+ năm sau thương vụ). Đây là khía cạnh quan trọng vì nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích từ M&A có thể biến mất theo thời gian nếu không được duy trì bằng các chính sách và đầu tư phù hợp.

Hệ số TREATED_LONG_TERM (0,00000088) có độ lớn rất nhỏ và không có ý nghĩa thống kê (p = 0,987). Điều này cho thấy trong dài hạn (5+ năm sau M&A), tác động của M&A lên hiệu quả chi phí có xu hướng mờ nhạt và trở nên không đáng kể về mặt thống kê. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Hiện tượng này có thể được giải thích qua nhiều góc độ lý thuyết và thực tiễn. Thứ nhất, các lợi ích từ quy mô và phạm vi có thể đã được khai thác hết trong giai đoạn đầu và việc duy trì chúng đòi hỏi đầu tư liên tục vào công nghệ và quy trình. Thứ hai, quán tính có thể khiến ngân hàng sau M&A dần trở lại các thói quen cũ nếu không có sự giám sát và cải tiến liên tục. Thứ ba, những lợi thế cạnh tranh từ M&A có thể bị san bằng khi các đối thủ cũng thực hiện M&A hoặc áp dụng các biện pháp cải thiện hiệu quả tương tự. Thứ tư, việc tích hợp trở nên nặng nề hơn có thể xảy ra khi nhân viên và quản lý mệt mỏi với các thay đổi liên tục dẫn đến giảm hiệu suất.

Kết quả này có ý nghĩa quan trọng cho quản trị sau M&A. Các ngân hàng cần có chiến lược dài hạn để duy trì và phát triển các lợi ích từ M&A thay vì chỉ tập trung vào giai đoạn tích hợp ban đầu. Điều này bao gồm đầu tư liên tục vào công nghệ, đào tạo nhân sự và cải tiến quy trình.

Các biến kiểm soát trong mô hình dài hạn cho kết quả tương tự các mô hình trước, với LN_TOTAL_ASSETS vẫn có tác động tích cực mạnh (t = 16,16) xác nhận tính ổn định của quy mô kinh tế trong dài hạn. CAR_RATIO có ý nghĩa thống kê cao hơn (p = 0,041) do trong dài hạn, tầm quan trọng của an toàn vốn đối với hiệu quả hoạt động trở nên rõ ràng hơn theo thời gian.

4.4.2 Kiểm tra Balance Check T-test

  • Bảng 4.17: Kiểm định Balance Check T-test So sánh nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng

Kết quả từ Bảng 4.17 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm nghiên cứu và nhóm đối chứng trước khi thực hiện PSM xác nhận tính cần thiết của phương pháp tích hợp để giảm thiểu thiên lệch.

Về quy mô tài sản, nhóm nghiên cứu có log(assets) trung bình cao hơn đáng kể (12,833 và 11,552), tương ứng với quy mô tài sản lớn hơn khoảng 3,6 lần (𝑒(12,833−11,552)= 3,6). Điều này xác nhận xu hướng các ngân hàng lớn hơn tham gia M&A nhiều hơn do chúng có năng lực tài chính và kinh nghiệm để thực hiện các thương vụ phức tạp. T-statistic âm lớn (-21,51) cho thấy sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê.

Tỷ lệ an toàn vốn của nhóm nghiên cứu cao hơn (8,6% và 7,9%) với p-value = 0,32 không có ý nghĩa thống kê mạnh. Chênh lệch 0,7 điểm phần trăm này có thể tạo ra áp lực đáng kể trong việc tuân thủ các quy định Basel và tạo động lực mạnh cho M&A. Tỷ lệ NPL của nhóm nghiên cứu cao hơn (1,7% và 1,5%) với mức ý nghĩa biên (p = 0,069) cho thấy áp lực chất lượng tài sản là một động cơ quan trọng cho M&A.

ROA của nhóm nghiên cứu cao hơn (0,3% và 0,2%) cho thấy những ngân hàng tham gia M&A không nhất thiết là những ngân hàng kém hiệu quả. Điều này phù hợp với xu hướng M&A tự nguyện giữa những ngân hàng hiệu quả để tạo ra hợp lực và tăng cường sức cạnh tranh.

4.4.3 Kiểm tra Balance Check thống kê Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Bảng 4.18: Kiểm định Balance Check thống kê

Kết quả từ Bảng 4.18 cho thấy phân bố chi tiết của các biến quan trọng theo nhóm cung cấp hiểu biết sâu hơn về đặc điểm cấu trúc của từng nhóm.

Độ lệch chuẩn của log(assets) trong nhóm đối chứng (0,8906) cao hơn nhóm nghiên cứu (0,7170), cho thấy nhóm đối chứng có sự phân hóa về quy mô lớn hơn. Điều này có thể phản ánh thực tế nhóm nghiên cứu chủ yếu bao gồm các ngân hàng có quy mô tương đối đồng nhất (trung bình-lớn) trong khi nhóm đối chứng bao gồm cả ngân hàng nhỏ lẫn lớn.

Về CAR, nhóm đối chứng có độ lệch chuẩn thấp hơn nhiều (0,0798 và 0,1312) cho thấy tính đồng nhất cao hơn trong việc quản lý vốn của các ngân hàng không tham gia M&A. Điều này có thể do các ngân này thường có các chiến lược quản trị về vốn có thể đáp ứng tốt theo chuẩn Basel.

Tương tự, độ lệch chuẩn NPL của nhóm nghiên cứu (0,0147) thấp hơn nhiều so với nhóm đối chứng (0,0212) phản ánh sự đồng nhất trong chất lượng danh mục tín dụng. Điều này có thể do quá trình chọn lựa nghiêm ngặt trong M&A đã lọc ra những ngân hàng có rủi ro tín dụng quá cao.

ROA có độ lệch chuẩn tương đương giữa hai nhóm cho thấy sự đa dạng về hiệu quả hoạt động trong cả hai nhóm. Điều này xác nhận rằng M&A không chỉ dành cho ngân hàng kém hiệu quả mà là một công cụ chiến lược được sử dụng bởi các ngân hàng có trình độ hiệu quả khác nhau.

4.4.4 Kiểm tra Log-rank Test – So sánh đường cong sống sót

  • Bảng 4.19: Kiểm định Log-rank Test – So sánh đường cong sống sót

Kết quả từ Bảng 4.19 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai đường cong sống sót. M&A tự nguyện có số sự kiện quan sát (6) thấp hơn kỳ vọng (6,49) trong khi M&A bắt buộc có số sự kiện cao hơn kỳ vọng (2 và 1,51).

Sự khác biệt nhỏ giữa số sự kiện quan sát và số kỳ vọng cho thấy hai nhóm có khuôn mẫu đạt hợp lực tương đối giống nhau về mặt thống kê mặc dù ghi nhận sự khác biệt về thời gian và bản chất của hợp lực như đã đề cập.

4.5. Thảo luận kết quả Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh toàn diện về tác động của M&A ngân hàng tại Việt Nam thông qua việc áp dụng đồng thời nhiều phương pháp phân tích tiên tiến.

Các phát hiện chính được thảo luận theo các giả thuyết nghiên cứu như sau:

  • Giả thuyết H1: M&A cải thiện hiệu quả chi phí

Giả thuyết này được chấp nhận hoàn toàn. Kết quả cho thấy tác động tổng thể của M&A lên hiệu quả chi phí (TREATED_POST_MA = -0,0001425, p = 0,006) mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê cao, chứng minh M&A cải thiện hiệu quả chi phí 1,43 điểm cơ bản. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Vương Thị Minh Đức (2019) rằng M&A là công cụ quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua kinh tế qui mô và Le, T.D.Q. (2018) cũng tìm thấy bằng chứng tương tự trong phân tích các thương vụ M&A tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016.

Mức cải thiện 0,0143% tuy nhỏ về mặt tuyệt đối nhưng có ý nghĩa kinh tế đáng kể khi hiệu quả chi phí trung bình rất cao (98,46%). Với quy mô trung bình 272.900 tỷ đồng, cải thiện này tương đương tiết kiệm hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng hàng năm, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh ngành ngày càng khốc liệt. Nguyễn Thị Nguyệt Dung và Nguyễn Mạnh Cường (2021) cũng kết luận tương tự về tác động tích cực của M&A lên các chỉ số hiệu quả kinh doanh.

  • Giả thuyết H2: M&A tự nguyện hiệu quả hơn M&A bắt buộc

Giả thuyết này được chấp nhận hoàn toàn. Kết quả cho thấy sự phân tách rõ ràng giữa VOL_POST_MA = -0,0002026 (t = -4,83, p < 0,001) có tác động tích cực rất mạnh với ý nghĩa thống kê cao nhất trong toàn bộ nghiên cứu trong khi FOR_POST_MA = – 0,0000708 (t = -0,82, p = 0,421) không có ý nghĩa thống kê. Chênh lệch gần 3 lần (0,0202% và 0,007%) chứng minh M&A tự nguyện hiệu quả hơn đáng kể. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Vương Thị Minh Đức (2019) khi phân tích các thương vụ M&A ngân hàng giai đoạn 2012 – 2017, tác giả ghi nhận hiệu quả chi phí chỉ cải thiện đáng kể ở các thương vụ tự nguyện do có sự chuẩn bị tích hợp nền tảng công nghệ và chuẩn hóa quy trình tốt hơn. Điều này cũng nhất quán với phát hiện của Phạm Hà & Nguyễn Trung Đại (2023) rằng các ngân hàng yếu kém thường có hiệu quả chi phí thấp, chính là đối tượng của M&A bắt buộc trong khi các thương vụ tự nguyện thường diễn ra giữa những ngân hàng có năng lực tương đương. Bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam với các thương vụ bắt buộc như CBBank, OceanBank được SBV mua lại với giá 0 đồng rõ ràng tạo ra thách thức lớn về chi phí tích hợp và hài hòa văn hóa tổ chức. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Giả thuyết H3: Ngân hàng có qui mô lớn hưởng lợi nhiều hơn từ M&A

Giả thuyết này được chấp nhận hoàn toàn. Kết quả nhất quán xuyên suốt tất cả các mô hình như Bảng 4.8 (LN _ TOTAL _ ASSETS = 0,0018, t = 17,23, p < 0,001), Bảng 4.9 (0,0018, t = 17,19, p < 0,001), Bảng 4.10 (0,0020, t = 11,50, p < 0,001) đều cho thấy quy mô có tác động tích cực rất mạnh, cứ tăng 1% quy mô tài sản cải thiện hiệu quả chi phí khoảng 0,18 điểm cơ bản.

Tuy nhiên so sánh với nghiên cứu của Phạm Hà và Nguyễn Trung Đại (2023) trong nghiên cứu 25 Ngân hàng thương mại giai đoạn 2012-2020 cho rằng trong giai đoạn tái cấu trúc, việc gia tăng quy mô thông qua M&A, tăng vốn và đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nhân sự đã làm gia tăng chi phí, khiến quy mô lớn không lập tức cải thiện hiệu quả chi phí.

  • Giả thuyết H4: M&A tác động đến các yếu tố rủi ro tài chính

Giả thuyết này bị bác bỏ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng M&A có tác động tổng thể tiêu cực lên CAR, (Bảng 4.11) TREATED_POST_MA = -0,0317 (t = -2,01, p = 0,054) có tác động tiêu cực với mức ý nghĩa biên, giảm tỷ lệ an toàn vốn khoảng 3,2 điểm phần trăm có tác động kinh tế rất lớn khi CAR trung bình chỉ 8,6%. Tương tự, M&A có tác động tổng thể tích cực lên NPL, (Bảng 4.12) TREATED_POST_MA = – 0,0131 (t = -1,92, p = 0,065) có tác động tích cực (giảm NPL) với mức ý nghĩa biên, cải thiện chất lượng danh mục tín dụng khoảng 1,3 điểm phần trăm. Kết quả này hoàn toàn trái với kỳ vọng ban đầu là ΔCAR>0, ΔNPL>0 ban đầu mạnh hơn cho nhóm tự nguyện và nhất quán với thực tế về thách thức tích hợp ngân hàng yếu kém.

Phạm Tiến Đạt (2018) nhấn mạnh M&A không chỉ cải thiện hiệu quả chi phí mà còn nâng cao toàn diện năng lực tài chính, bao gồm an toàn vốn và chất lượng tài sản. Kết quả nghiên cứu xác nhận quan điểm này mặc dù tác động ngắn hạn lên CAR có thể tiêu cực do chi phí tích hợp và NPL ban đầu tăng lên do sáp nhập nguyên trạng nhưng sau đó đã được kiểm soát và giảm dần.

  • Giả thuyết H5: Yếu tố vĩ mô điều tiết hiệu quả M&A

Giả thuyết này được chấp nhận một phần. GDP_GROWTH có tác động không rõ ràng, trái với kỳ vọng β_GDP < 0. Tuy nhiên CPI cho thấy vai trò điều tiết tích cực trong môi trường lạm phát cao, Phạm Hà và Nguyễn Trung Đại (2023) giải thích áp lực lạm phát buộc ngân hàng sau M&A phải tối ưu hóa chi phí mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, POLICY_RATE chưa cho thấy tác động rõ rệt, có thể do cơ chế truyền tải phức tạp trong bối cảnh Việt Nam.

  • TỔNG KẾT CHƯƠNG 4 Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Bằng kỹ thuật phân tích kinh tế lượng đã được đề cập ở chương 3, chương 4 đã đo lường được bằng chuỗi phương pháp đa tầng từ thống kê mô tả dữ liệu đến tính toán hiệu quả hợp lực chi phí (DEA, SFA) đến phương pháp PSM-DiD để so sánh các cơ chế M&A và cuối cùng đo lường thời gian và tỷ lệ sống sót của các ngân hàng sau M&A (Split-population Survival) từ bộ dữ liệu thu thập được. Kết quả giải quyết hầu hết các giả thuyết và mục tiêu nghiên cứu kỳ vọng ban đầu, từ những kết quả có được ở chương này, tác giả sẽ đi đến kết luận cuối cùng cũng như đưa ra một số hàm ý chính sách về đề tài nghiên cứu, chi tiết sẽ được trình bày ở chương 5.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Kết luận

Chương 4 đã trình bày chi tiết các kết quả định lượng từ mô hình phân tích hiệu quả chi phí ngân hàng trước và sau M&A, sử dụng kết hợp các phương pháp tiên tiến trong kinh tế lượng và hồi quy tuyến tính với cấu trúc dữ liệu bảng, qua đó đánh giá hoạt động M&A có tạo ra hiệu quả hợp lực chi phí hay không và yếu tố nào là động lực hoặc rào cản trong tiến trình này. Đồng thời nghiên cứu này cũng đã đánh giá mức độ đạt được các mục tiêu nghiên cứu đặt ra ban đầu, cụ thể:

  • Mục tiêu 1: Đo lường hiệu quả hợp lực chi phí hậu M&A

Nghiên cứu đã thành công xây dựng bộ dữ liệu bảng từ 29 ngân hàng TMCP giai đoạn 2012 – 2025, đạt được mục tiêu ban đầu về việc đo lường chỉ số hiệu quả chi phí (Cost Efficiency – CE) thông qua phương pháp kết hợp DEA và SFA. Kết quả hiệu quả kỹ thuật trung bình 52,55% (VRS) và 45,29% (CRS) của ngân hàng Việt Nam thấp hơn đáng kể so với các phát hiện của Berger & Humphrey (1997) tại các thị trường phát triển, nơi hiệu quả kỹ thuật trung bình thường dao động từ 60-85% tùy theo phương pháp đo lường và đặc điểm thị trường. Nghiên cứu kinh điển này trên 130 nghiên cứu hiệu quả ngân hàng cho thấy các ngân hàng tại Mỹ và châu Âu có hiệu quả kỹ thuật trung bình từ 65-80%, cao hơn khoảng 15-30 điểm phần trăm so với Việt Nam.

Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi một số yếu tố cấu trúc. Thứ nhất, hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2025 đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ với sự hiện diện của nhiều ngân hàng yếu kém chưa được xử lý triệt để, dẫn đến hiệu quả trung bình thấp. Thứ hai, mức độ phân hóa cực lớn (từ 1,81% đến 81,87% cho CRS) cho thấy hệ thống chưa đạt được sự đồng nhất về mặt công nghệ và quản trị như các thị trường phát triển.

Tuy nhiên, khoảng cách 7,26 điểm phần trăm giữa VRS và CRS ở Việt Nam thấp hơn so với kết quả của Berger & Humphrey (1997) tại nhiều thị trường đang phát triển (thường 10-15 điểm phần trăm) cho thấy vấn đề hiệu quả quy mô tại Việt Nam không nghiêm trọng bằng một số quốc gia khác trong cùng nhóm phát triển. Điều này gợi ý rằng M&A tại Việt Nam có tiềm năng tạo ra hiệu quả hợp lực đáng kể thông qua tối ưu hóa quy mô phù hợp với mục tiêu nghiên cứu về đo lường hợp lực chi phí.

Hiệu quả chi phí từ SFA đạt 98.5%, cao hơn nhiều so với hiệu quả kỹ thuật từ DEA. Sự khác biệt này phản ánh bản chất khác nhau của hai phương pháp: DEA đo hiệu quả kỹ thuật thuần túy trong khi SFA đo hiệu quả chi phí. Phát hiện quan trọng là nhóm M&A có hiệu quả cao hơn nhóm đối chứng (98,66% và 98,46%) cho thấy M&A không chỉ là công cụ xử lý ngân hàng yếu mà còn là chiến lược của các ngân hàng mạnh, phù hợp với quan sát của Le, T.D.Q. (2018) rằng các thương vụ M&A thành công tại Việt Nam thường liên quan đến ngân hàng có nền tảng tài chính vững chắc.

Đáng chú ý, việc ngân hàng hàng đầu như VCB đạt hiệu quả 66,88% (VRS) tương đương với các ngân hàng tốp đầu tại các thị trường phát triển trong nghiên cứu của Berger & Humphrey (1997) cho thấy tiềm năng của hệ thống ngân hàng Việt Nam khi được quản trị và vận hành đúng cách. Sự tồn tại của những ngân hàng này tạo ra cơ hội học hỏi và cải thiện cho các ngân hàng khác thông qua M&A, đặc biệt khi những ngân hàng hiệu quả cao đóng vai trò là bên tiếp nhận các ngân hàng kém hiệu quả hơn.

  • Mục tiêu 2: So sánh cơ chế M&A tự nguyện và bắt buộc Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Nghiên cứu đã ước lượng thành công các hệ số β_V (Voluntary) = -0,0002026 và β_F (Forced) = 0,0000708 thông qua phương pháp PSM-DiD, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai cơ chế M&A. Kết quả này vượt kỳ vọng về độ chính xác thống kê của M&A tự nguyện (p < 0,001) và xác nhận giả thuyết H2 rằng “M&A tự nguyện có hiệu quả chi phí cao hơn M&A bắt buộc”.

Việc phân nhóm theo quy mô ngân hàng đã cho thấy ngân hàng lớn hưởng lợi nhiều hơn từ M&A tự nguyện phù hợp với lý thuyết kinh tế quy mô và đáp ứng mục tiêu phân tích sự khác biệt theo đặc điểm ngân hàng.

  • Mục tiêu 3: Phân tích Time-to-synergy (TTS)

Mô hình Split-population Survival đã thành công xác định được xác suất “không bao giờ đạt hiệu quả” và thời gian trung vị cần thiết để đạt hợp lực chi phí. Kết quả cho thấy M&A bắt buộc có hazard ratio (1,452) cao hơn M&A tự nguyện khoảng 45% nhưng chất lượng hiệu quả của M&A bắt buộc kém bền vững trái với kỳ vọng ban đầu rằng “TTS trung vị của thương vụ tự nguyện ngắn hơn”. Phát hiện này làm phong phú thêm hiểu biết về động học M&A trong bối cảnh thị trường các nước đang phát triển.

  • Mục tiêu 4: Định lượng tác động của yếu tố vĩ mô và điều tiết

Nghiên cứu đã xác định M&A có tác động tiêu cực lên CAR và tác động tích cực lên NPL trong ngắn hạn đồng thời chỉ ra được vai trò điều tiết của các yếu tố vĩ mô, với GDP_GROWTH và CPI có tác động không đồng nhất theo loại M&A. Đặc biệt, trong môi trường lạm phát cao, M&A có hiệu quả tốt hơn (β = -0,0000423, p = 0,093) phù hợp với kỳ vọng về β_CPI > 0 làm suy giảm hiệu quả.

Tổng thể nghiên cứu đã xác lập bằng chứng rõ ràng về hiệu quả hợp lực chi phí từ các thương vụ M&A ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025 đồng thời nhấn mạnh vai trò của yếu tố nội tại ngân hàng và các cơ chế hỗ trợ từ chính sách. Những phát hiện này là nền tảng để xây dựng các hàm ý quản trị chiến lược và hàm ý chính sách sẽ được trình bày chi tiết tiếp theo bên dưới.

5.2. Hàm ý quản trị cho ngân hàng Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Chọn lọc đối tác và chuẩn bị trước M&A

Một trong những kết luận then chốt là M&A cải thiện hiệu quả chi phí (trong giả thuyết H1) và M&A tự nguyện mang lại hiệu quả cao hơn đáng kể so với M&A bắt buộc (trong giả thuyết H2), điều này phản ánh vai trò quyết định của việc lựa chọn đối tác phù hợp và có sự chuẩn bị kỹ càng trước khi thực hiện M&A. Các ngân hàng cần chủ động xây dựng chiến lược M&A dài hạn thay vì chỉ phản ứng khi gặp áp lực tái cơ cấu. Trong quá trình chọn đối tác, cần đánh giá toàn diện về năng lực tài chính, công nghệ, văn hóa doanh nghiệp và hệ thống quản trị rủi ro để bảo đảm tính tương thích và khả năng tích hợp sau sáp nhập.

  • Ưu tiên số hoá và chuẩn hoá qui trình vận hành

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và chuyển đổi số mạnh mẽ, mức độ chuẩn hóa công nghệ và quy trình vận hành ngày càng trở nên thiết yếu quyết định sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A. Sau M&A, các ngân hàng phải đối mặt với hàng loạt thách thức về tích hợp hệ thống, chuẩn hoá dữ liệu, đồng bộ qui trình và đảm bảo vận hành liên tục cho các bên ngân hàng trong thương vụ. Giai đoạn từ 2012 – 2025 đánh dấu nhiều thương vụ M&A lớn trong lĩnh vực ngân hàng gắn với quá trình tái cấu trúc hệ thống tài chính theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước.

Core Banking là hệ thống lõi điều hành hầu như toàn bộ nghiệp vụ ngân hàng như: huy động, tín dụng, thanh toán, kế toán, quản lý rủi ro và chăm sóc khách hàng. Sau M&A, việc các bên ngân hàng có thể đang sử dụng các nền tảng core banking khác nhau đòi hỏi ban điều hành phải đánh giá trên cơ sở chi phí, năng lực mở rộng, mức độ ứng biến, kỹ thuật và tính tương thích với định hướng phát triển để đưa ra quyết định lựa chọn giữ lại hệ thống core banking nào. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần chuẩn hoá cấu trúc dữ liệu và hệ thống tài khoản như đồng bộ mã sản phẩm, danh mục khách hàng, qui trình ghi nhận nghiệp vụ đồng thời lập kế hoạch chuyển đổi phân kỳ từng giai đoạn và thành lập các nhóm phản ứng nhanh để xử lý khi phát sinh sự cố.

Application Programming Interface (API) là giải pháp cho phép các hệ thống khác nhau giao tiếp và chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực. Thực hiện API hoá các qui trình nghiệp vụ sau M&A giúp tích hợp dữ liệu từ các hệ thống, truy xuất nhanh thông tin khách hàng, lịch sử giao dịch, sản phẩm mà không cần chuyển đổi toàn bộ hệ thống cùng lúc. API giúp chuẩn hoá nghiệp vụ đầu cuối từ mở tài khoản, phê duyệt tín dụng đến quản lý rủi ro, các bước nghiệp vụ được xác định rõ ràng và có khả năng tự động hoá cao hơn. Ngoài ra, API còn hỗ trợ phân tích dữ liệu hợp nhất giúp ngân hàng khai thác hệ thống dữ liệu lớn sau M&A một cách hiệu quả. Việc ứng dụng Open Banking API cũng giúp ngân hàng tăng tốc độ cung ứng dịch vụ, liên kết với các hệ sinh thái Fintech và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Sau M&A, đo lường hiệu quả không chỉ gói gọn ở lợi nhuận hay chi phí mà cần bao quát các hoạt động trong chuỗi tích hợp. Do đó, thiết kế hệ thống KPI cần phản ánh được các mặt về công nghệ (tỷ lệ downtime, thời gian phản hồi hệ thống, số lỗi nghiệp vụ do hệ thống gây ra); về tích hợp dữ liệu (tỷ lệ đồng bộ dữ liệu chính xác giữa hai hệ thống, tốc độ trích xuất báo cáo hợp nhất); về trải nghiệm người dùng (tỷ lệ giao dịch thành công, thời gian xử lý yêu cầu của khách hàng sau M&A); về đổi mới sản phẩm (số sản phẩm dịch vụ mới tích hợp được trong 6-12 tháng hậu M&A). Thiết kế KPI cần được xây dựng theo nguyên tắc SMART (Specific, Measurable, Achievable, Relevant, Time-bound) và nên được thiết lập cho từng tầng cấp (chiến lược – vận hành – tác nghiệp).

Như vậy, tích hợp hạ tầng công nghệ không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là chiến lược quản trị trọng yếu trong M&A ngân hàng. Các ngân hàng cần chủ động xây dựng chiến lược công nghệ hợp nhất, ưu tiên chuẩn hóa Core Banking, API hóa quy trình, thiết lập hệ thống KPI toàn diện và quản trị thay đổi hiệu quả. Việc chú trọng nền tảng số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hợp lực chi phí mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và năng lực cạnh tranh dài hạn trong kỷ nguyên số.

  • Kiểm soát và tối ưu chi phí

Theo McKinsey (2022), chi phí cho mỗi giao dịch tại quầy cao gấp 5-10 lần giao dịch qua kênh số, do đó ngân hàng cần ưu tiên tăng cường đầu tư vào mobile banking, internet banking, chuyển đổi khách hàng từ giao dịch truyền thống sang giao dịch số hóa, áp dụng chính sách phí và lãi suất ưu đãi để khuyến khích giao dịch online.

Kiểm soát chi phí vốn và cấu trúc tài chính bằng cách tái cơ cấu chi phí huy động và rà soát lại cơ cấu tài sản sinh lời thấp. Việc tối ưu chi phí vốn là cần thiết thông qua việc đẩy mạnh CASA (Current Account Savings Account) khuyến khích khách hàng sử dụng tài khoản không kỳ hạn, giảm chi phí trả lãi; phát hành trái phiếu cấp 2 với chi phí vốn tối ưu hơn, tận dụng lợi thế xếp hạng tín nhiệm mới sau M&A. Ngoài ra, các ngân hàng nên kiểm tra danh mục tài sản có khả năng sinh lời thấp sau M&A như tài sản cố định không cần thiết (văn phòng trống, xe ô tô), các dự án đầu tư dở dang kế thừa từ bên bị sáp nhập và tồn đọng tín dụng hoặc nợ xấu chưa xử lý để có hướng xử lý nhằm tối ưu hệ số sinh lời trên tài sản sau M&A.

Xây dựng hệ thống KPI kiểm soát và đo lường chi phí theo từng Đơn vị dựa trên chỉ số chi phí trên thu nhập (CIR) theo chi nhánh, khối nghiệp vụ; chi phí trung bình cho các giao dịch trên các kênh (quầy, công nghệ số, tổng đài); chi phí vốn bình quân. Các chỉ số cần được theo dõi hàng quý, tích hợp trên hệ thống báo cáo quản trị MIS và được đưa vào cơ chế thưởng/phạt nội bộ. Đồng thời, Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn (Big Data) vào phân tích dữ liệu chi phí theo thời gian thực giúp các ngân hàng phát hiện nhanh những sai lệch bất thường, lãng phí và có cơ hội cải tiến. Các hệ thống như Oracle BI, Power BI kết nối trực tiếp với Core Banking, LOS (Loan Origination System), HRM (Human Resource Management) sẽ giúp theo dõi chi phí đa chiều giúp cho việc thiết kế hệ thống đo lường và kiểm soát chi phí ngày càng hiệu quả và minh bạch.

Như vậy, kiểm soát và tối ưu chi phí không chỉ là bước đi tài chính cần thiết trong giai đoạn hậu M&A mà còn là chiến lược tạo ra năng lực cạnh tranh dài hạn cho ngân hàng. Các ngân hàng thương mại Việt Nam cần kết hợp linh hoạt giữa tái cấu trúc tổ chức, tự động hóa vận hành, tối ưu mạng lưới, kiểm soát chi phí vốn và ứng dụng công nghệ để đạt được mục tiêu hợp lực chi phí. Việc chủ động xây dựng văn hóa tiết kiệm, tích hợp hệ thống đo lường thông minh và truyền thông minh bạch sẽ góp phần gia tăng niềm tin nội bộ và nâng cao hiệu quả tài chính trong môi trường ngân hàng hợp nhất.

  • Tối ưu lợi thế quy mô ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Nghiên cứu cũng đã chứng minh giả định các ngân hàng có quy mô lớn luôn đạt hiệu quả cao hơn sau M&A (trong giả thuyết H3). Tuy nhiên, các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa lại có dư địa cải thiện hiệu quả quy mô cao hơn nhờ tận dụng M&A để đạt mức tài sản tối ưu. Đây là gợi ý chiến lược cho các ngân hàng trong nhóm này, vốn đang gặp áp lực cạnh tranh từ “Big 4”. Do đó, đi kèm với đó là sự nghiên cứu về chiến lược và đầu tư mạnh hơn vào hệ thống quản trị, công nghệ, nhân sự để tránh sự không đồng nhất trong quá trình tích hợp.

  • Theo dõi rủi ro và đánh giá hậu M&A thường xuyên

Kết quả nghiên cứu cho thấy M&A có thể tạo ra tác động tiêu cực trong ngắn hạn lên hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) và tác động tích cực tỷ lệ nợ xấu (NPL) mặc dù phải tiếp nhận tài sản rủi ro từ ngân hàng bị sáp nhập (trong giả thuyết H4), do đó ngân hàng cần triển khai các cơ chế điều chỉnh vốn và quản trị rủi ro ngay từ giai đoạn chuẩn bị M&A đồng thời xây dựng qui trình quản lý rủi ro hợp nhất, bao gồm định giá tài sản, phân loại nợ và xử lý nợ xấu hiệu quả. Ngoài ra, các ngân hàng cần xây dựng hệ thống giám sát hậu M&A theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro, đặc biệt trong 3-5 năm đầu sau sáp nhập. Việc thiết kế một hệ thống quản trị rủi ro, giám sát hiệu quả hợp lực và thiết lập các kịch bản can thiệp từ sớm có thể giúp ngân hàng linh hoạt xử lý sai lệch trong quá trình tích hợp. Đồng thời, hoạt động đánh giá định kỳ và chia sẻ bài học giữa các ngân hàng từng tham gia M&A sẽ góp phần nâng cao chuẩn quản trị toàn ngành.

Trong lĩnh vực ngân hàng, quản trị rủi ro và quản trị vốn là hai trụ cột cốt lõi giúp đảm bảo an toàn hoạt động, tính bền vững và khả năng sinh lời. Sau mỗi thương vụ M&A trong bối cảnh Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025 với nhiều thương vụ bắt buộc theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, thách thức về rủi ro tích tụ và đòi hỏi vốn bổ sung ngày càng rõ ràng. Theo thông lệ quốc tế, các ngân hàng sau M&A cần tái lượng hóa lại rủi ro tổng thể, đánh giá các khoản nợ xấu kế thừa, rủi ro vận hành khi tích hợp hệ thống và đặc biệt là đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II và Basel III. Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng sau M&A phải gánh khoản âm vốn chủ sở hữu của đơn vị bị sáp nhập, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc và tăng vốn.

Các ngân hàng yếu kém thường bị sáp nhập do tỷ lệ nợ xấu cao, mất khả năng thanh toán và âm vốn chủ sở hữu; các ngân hàng nhận sáp nhập phải gánh toàn bộ nghĩa vụ nợ bao gồm các khoản nợ xấu chưa được trích lập đầy đủ, tài sản thế chấp kém chất lượng hoặc định giá sai lệch và các hồ sơ tín dụng chưa đáp ứng chuẩn mực kiểm toán nội bộ. Ngoài ra, ngân hàng nhận sáp nhập có thể phải tiếp nhận các vụ kiện tụng, tranh chấp tài sản hoặc vi phạm pháp lý từ ngân hàng bị sáp nhập. Việc xử lý các nghĩa vụ tiềm tàng này ảnh hưởng đến chi phí pháp lý và uy tín tổ chức. Bên cạnh đó, rủi ro vận hành và công nghệ do sự khác biệt giữa các hệ thống Công nghệ thông tin nền tảng, qui trình tác nghiệp và qui chuẩn kiểm soát nội bộ của các bên dẫn đếm rủi ro vận hành nghiêm trọng. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Nhiều ngân hàng bị sáp nhập trong giai đoạn 2012 – 2016 đều có vốn điều lệ âm hoặc không đạt chuẩn Basel II, điều này làm suy giảm đáng kể tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng sau sáp nhập. Các giải pháp tăng vốn phổ biến sau M&A là phát hành cổ phiếu mới, phát hành trái phiếu cấp 2 và trong một số thương vụ bắt buộc, các ngân hàng nhận sáp nhập sẽ nhận hỗ trợ tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Các ngân hàng sau M&A phải xây dựng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ (ICAAP) phù hợp Basel II, Basel III; tái định vị các danh mục tín dụng, định mức vốn theo nhóm khách hàng, sản phẩm, địa bàn; áp dụng RAROC (Risk-Adjusted Return on Capital) để đo lường hiệu quả sử dụng vốn.

Sẵn sàng thích ứng với các thay đổi vĩ mô và các chính sách điều tiết Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố vĩ mô như lãi suất cơ sở, lạm phát CPI và tốc độ tăng trưởng GDP có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả hợp lực trong hoạt động M&A (trong giả thuyết H5). Vì vậy, ngân hàng cần lồng ghép phân tích vĩ mô vào kế hoạch M&A và xây dựng kịch bản thích ứng với biến động kinh tế. Bên cạnh đó, tận dụng các chính sách hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước về tái cấp vốn, ưu đãi tín dụng hay yêu cầu vốn sẽ giúp gia tăng khả năng thành công sau sáp nhập.

5.3. Hàm ý chính sách cho Ngân hàng Nhà nước – khung hỗ trợ hậu M&A

Cơ chế hỗ trợ kỹ thuật và tích hợp công nghệ cho các ngân hàng sau M&A Trong giai đoạn 2012 – 2025, Việt Nam đã trải qua một loạt các thương vụ M&A trong lĩnh vực ngân hàng thương mại, chủ yếu trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình hậu sáp nhập bộc lộ nhiều khó khăn trong việc tích hợp hệ thống công nghệ thông tin và số hoá quy trình ngân hàng vốn là nền tảng cho việc hợp nhất dữ liệu, quản trị rủi ro, phát triển sản phẩm và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Trên thực tế, sự khác biệt về hệ thống core banking, quy trình số hoá, kiến trúc dữ liệu và năng lực nhân sự công nghệ giữa các ngân hàng đã làm gia tăng chi phí tích hợp và làm chậm hiệu quả hợp lực sau M&A. Đây là khoảng trống chính sách mà Ngân hàng Nhà nước cần can thiệp ở vai trò điều tiết và hỗ trợ kỹ thuật.

Là cơ quan quản lý tối cao về tiền tệ và ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước có vai trò thiết lập khung pháp lý – kỹ thuật – tài chính nhằm chuẩn hóa khung kiến trúc công nghệ hậu M&A, đảm bảo tính tương thích và tích hợp nhanh chóng; hỗ trợ tài chính bằng cách lập các quỹ hỗ trợ chuyển đổi số hậu M&A, tài trợ một phần cho các dự án hợp nhất core banking hoặc kỹ thuật cho các ngân hàng nhỏ mới sáp nhập nâng cấp hệ thống; xây dựng trung tâm chia sẻ dữ liệu phục vụ tích hợp hậu M&A; khuyến khích hợp nhất tiêu chuẩn API ngân hàng (Open Banking) để giảm chi phí tích hợp và tăng khả năng tương tác dịch vụ.

  • Bảng 5.1: Bảng tổng hợp đề xuất khuyến khích phát triển công nghệ và số hóa

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước có thể ban hành Thông tư hướng dẫn chuyển đổi số hậu M&A, phát triển bộ chỉ số tích hợp công nghệ hậu M&A làm tiêu chí giám sát tiến độ số hóa, quy định rõ trách nhiệm công nghệ, thời gian tích hợp, chuẩn dữ liệu; áp dụng kiểm tra định kỳ tiến độ Công nghệ thông tin hậu M&A tại các ngân hàng trong vòng 24 tháng sau hợp nhất; ưu tiên cấp tín dụng tái cấp vốn cho các khoản đầu tư nền tảng công nghệ hậu M&A, đặc biệt với ngân hàng quy mô nhỏ; triển khai cơ chế sandbox thử nghiệm tích hợp hệ thống trước khi M&A chính thức, giúp giảm rủi ro và thời gian chuyển đổi.

Như vậy, sự thành công hay thất bại của một thương vụ M&A ngân hàng trong dài hạn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tích hợp và tối ưu hoá nền tảng công nghệ, số hoá quy trình dịch vụ. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần đóng vai trò hoạch định chính sách nhằm tạo dựng nền tảng pháp lý, kỹ thuật và tài chính cho quá trình tích hợp hậu M&A diễn ra nhanh chóng, đồng bộ và tiết kiệm chi phí. Khung chính sách này nếu được triển khai hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hợp lực chi phí, giảm rủi ro vận hành và gia tăng năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập số.

  • Củng cố khung pháp lý và quy chuẩn phân loại M&A Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả chi phí chỉ được cải thiện đáng kể trong các thương vụ M&A tự nguyện trong khi M&A bắt buộc thường không mang lại tác động tích cực rõ rệt, thậm chí gia tăng NPL và làm suy giảm CAR. Điều này đặt ra nhu cầu phân loại rõ ràng các thương vụ theo mức độ chủ động (tự nguyện, bán tự nguyện, bắt buộc) và có quy định khung pháp lý phù hợp với từng nhóm. Ngân hàng Nhà nước cần thiết kế các bộ tiêu chí phân loại thương vụ M&A (theo mục tiêu, chủ thể điều phối, quy mô, tình trạng ngân hàng bị sáp nhập…) và ban hành hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm tích hợp, kiểm soát rủi ro, công bố thông tin và kế hoạch xử lý tài sản xấu cho từng loại thương vụ.

  • Tăng cường giám sát, cơ chế xử lý tài sản xấu hợp nhất và yêu cầu về vốn hậu M&A

Kết quả nghiên cứu cho thấy NPL tăng mạnh sau M&A bắt buộc do nhận chuyển giao nợ xấu từ ngân hàng bị sáp nhập, đồng thời CAR suy giảm nếu không có hỗ trợ vốn kịp thời. Do đó, Ngân hàng Nhà nước cần yêu cầu báo cáo chi tiết kế hoạch phân loại, xử lý và tách biệt nợ xấu trong hồ sơ M&A đồng thời có cơ chế tài chính hỗ trợ tăng vốn điều lệ, ví dụ qua ưu đãi phát hành riêng lẻ, cho vay tái cấp vốn ưu đãi để bổ sung vốn cấp 1. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước nên thiết kế khung đánh giá hiệu quả CAR và NPL theo lộ trình 12-24-36 tháng hậu M&A làm cơ sở cho điều chỉnh chính sách thanh tra.

Trong các thương vụ M&A ngân hàng, nhiều ngân hàng yếu kém bị sáp nhập có tỷ lệ nợ xấu ở mức báo động (5% – 20%), làm gia tăng gánh nặng lên bảng cân đối kế toán của ngân hàng tiếp nhận. Việc hợp nhất sổ sách giữa hai bên thường dẫn đến tăng mạnh chi phí trích lập dự phòng hợp nhất, làm sai lệch tỷ lệ CAR, ROA, ROE của ngân hàng sau M&A, gây nhiễu kết quả phân tích hiệu quả hợp lực chi phí và tăng rủi ro hệ thống nếu thiếu chính sách hỗ trợ phù hợp từ Ngân hàng Nhà nước. Các ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc không đồng bộ trong phân loại nợ, thiếu chuẩn mực kế toán khi M&A, giá trị thực của tài sản đảm bảo thấp hơn giá trị sổ sách gây rủi ro khi xác định tỷ lệ thu hồi nợ xấu.

  • Đề xuất chính sách xử lý tài sản xấu hợp nhất:

Một là, ban hành quy chuẩn kế toán riêng cho M&A ngân hàng vào bối cảnh Việt Nam, yêu cầu xác định lại giá trị hợp lý của các tài sản tài chính khi hợp nhất, phân loại lại toàn bộ danh mục tín dụng theo chuẩn thống nhất và ghi nhận khoản dự phòng tài sản xấu hợp nhất. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Hai là, tạo cơ chế tách riêng các khoản nợ xấu đặc biệt cho phép ngân hàng sau sáp nhập tách riêng các khoản nợ xấu của ngân hàng bị sáp nhập ra khỏi sổ chính, thiết lập tài khoản theo dõi riêng biệt và được kiểm soát chặt chẽ, có thời hạn 3-5 năm để xử lý, tránh gây sốc cho các chỉ tiêu tài chính hợp nhất

Ba là, cơ chế hỗ trợ tài chính và chính sách từ Ngân hàng Nhà nước và Công ty Quản lý tài sản, Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ tái cấp vốn có điều kiện để ngân hàng mua lại có nguồn lực xử lý nợ xấu, Công ty Quản lý tài sản đóng vai trò trung gian mua lại toàn bộ các khoản nợ xấu từ ngân hàng bị sáp nhập trước khi hợp nhất và đề xuất tái lập cơ chế công ty mua bán nợ tập trung riêng cho các thương vụ M&A.

Bốn là, khuyến khích mua lại có điều kiện theo hướng khấu trừ giá trị nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn cụ thể cơ chế M&A có điều kiện, trong đó giá trị sáp nhập được điều chỉnh theo chất lượng tài sản và ngân hàng tiếp nhận chỉ chịu trách nhiệm với phần tài sản xấu đã định giá lại.

Năm là, công bố minh bạch tài sản xấu hợp nhất, yêu cầu công bố bảng phân tích tài sản hợp nhất theo nhóm bao gồm nợ xấu từ ngân hàng mua – ngân hàng bị mua, tỷ lệ xử lý nợ xấu theo từng giai đoạn và tình hình thu hồi tài sản đảm bảo và tiến độ tái cơ cấu khoản vay.

Tăng cường yêu cầu công bố thông tin và hệ thống giám sát hậu M&A Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập hệ thống giám sát hậu M&A dựa trên khung rủi ro tích hợp với nội dung chính, cụ thể: Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ngân hàng hợp nhất xây dựng báo cáo giám sát tổng thể và ban hành chuẩn mực công bố thông tin hậu M&A định kỳ hằng quý trong 3 đến 5 năm sau sáp nhập. Báo cáo này bao gồm: tích hợp rủi ro tín dụng, vận hành, thị trường, thanh khoản và rủi ro công nghệ thông tin. Sau M&A, ngân hàng cần cập nhật lại bản đồ rủi ro với các chỉ số đo lường cụ thể (KRI – Key Risk Indicator) cho từng mảng.

Tiếp theo, để chủ động phát hiện sớm dấu hiệu bất ổn tài chính hoặc sai lệch trong hợp nhất số liệu, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường kiểm toán đặc biệt đối với ngân hàng hợp nhất trong vòng 2 năm đầu và thực hiện giám sát từ xa qua hệ thống báo cáo điện tử. Ngân hàng Nhà nước còn có thể áp dụng cơ chế cảnh báo sớm (Early Warning System – EWS) với việc xây dựng hệ thống cảnh báo với ngưỡng rủi ro định lượng (red flag), ví dụ nếu tỷ lệ NPL tăng >1% trong vòng 2 quý liên tiếp thì Ngân hàng Nhà nước yêu cầu rà soát danh mục tín dụng. Việc bắt buộc công bố công khai một số chỉ tiêu chọn lọc như tỷ lệ hợp nhất chi nhánh, chỉ số NIM, CIR, ROE trước-sau M&A trên Cổng thông tin Ngân hàng Nhà nước như một cơ chế giám sát cộng đồng giúp tăng cường tính minh bạch và kỷ luật thị trường.

Hệ thống giám sát hậu M&A theo rủi ro không chỉ là một công cụ kiểm soát, mà là bộ khung giúp các ngân hàng hợp nhất phát triển bền vững. Với sự thay đổi lớn về tài sản, quy mô, công nghệ và văn hóa, việc duy trì giám sát chặt chẽ – chủ động – liên tục là yếu tố then chốt giúp phát hiện sớm sự lệch chuẩn chiến lược, giảm thiểu nguy cơ rủi ro hệ thống lan rộng, tăng cường minh bạch tài chính, quản trị và bảo vệ lợi ích khách hàng, nhà đầu tư và hệ thống tài chính quốc gia. Đây là một trụ cột chính trong chiến lược tái cấu trúc ngành ngân hàng, đóng vai trò then chốt để đảm bảo hậu M&A thành công nhất là trong các thương vụ xử lý tổ chức tín dụng yếu kém. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược

Nhà đầu tư chiến lược bao gồm ngân hàng nước ngoài, tập đoàn tài chính đa quốc gia, tổ chức tài chính nội địa có kinh nghiệm quản trị đóng vai trò hỗ trợ tăng vốn điều lệ cho ngân hàng bị sáp nhập, tái cấu trúc hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ theo chuẩn quốc tế, chuyển giao công nghệ ngân hàng số, mô hình quản trị rủi ro hiện đại và tạo niềm tin cho thị trường và nhà đầu tư thứ cấp. Tuy nhiên thực trạng ghi nhận một số rào cản trong việc thu hút nhà đầu tư chiến lược như pháp lý (sở hữu nước ngoài tối đa 30% tại ngân hàng và thủ tục phê duyệt kéo dài, thiếu cơ chế linh hoạt cho M&A đặc biệt), tính minh bạch về sức khoẻ tài chính của ngân hàng yếu kém, chi phí tái cấu trúc cao hay chưa có chính sách ưu đãi thuế phí.

NHNN có sự bao quát hướng đến đối tượng các nhà đầu tư phù hợp như ngân hàng nước ngoài có kinh nghiệm xử lý M&A phức tạp, công nghệ số hoá cao hoặc các tập đoàn tài chính trong nước có nguồn tài chính dồi dào và cam kết lâu dài hoặc các quỹ đầu tư chính phủ tham gia như nhà đầu tư an toàn, hỗ trợ phục hồi trong dài hạn để từ đó Ngân hàng Nhà nước thiết lập khung chính sách thu hút các nhà đầu tư chiến lược như:

Một là, xây dựng cơ chế cấp phép “Fast track” cho nhà đầu tư chiến lược. Cơ quan cấp phép: Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ KHĐT, Bộ Tài chính. Tiêu chí đủ điều kiện là tổ chức tài chính uy tín được xếp hạng tín nhiệm từ BBB trở lên, có kinh nghiệm nắm giữ cổ phần chi phối tại ngân hàng/tổ chức tín dụng. Thời gian xử lý hồ sơ không quá 60 ngày.

Hai là, nới trần sở hữu nước ngoài có điều kiện, cho phép nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nắm tối đa 49% vốn điều lệ tại ngân hàng sau M&A trong vòng 5 năm, nếu cam kết giữ cổ phần tối thiểu 3 năm, đầu tư công nghệ và hỗ trợ tái cấu trúc vận hành và chấp nhận kiểm soát rủi ro theo Basel II, III trở lên. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Ba là, thiết kế gói ưu đãi tài chính – thuế khóa – tái cấp vốn. Ưu đãi thuế như miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp 2 năm đầu, giảm 50% thuế Thu nhập doanh nghiệp 3 năm tiếp theo. Ưu đãi tín dụng như được phép phát hành trái phiếu chuyển đổi không lãi suất để tăng vốn sau M&A. Ưu đãi tái cấp vốn như Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ tái cấp vốn ưu đãi để xử lý tài sản xấu.

Bốn là, tách tài sản xấu ra khỏi ngân hàng trước khi mời gọi nhà đầu tư. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo Công ty Quản lý tài sản/AMC tạm thời tiếp nhận và định giá lại các khoản nợ xấu của ngân hàng bị sáp nhập. Ngân hàng sau sáp nhập sẽ không phải gánh toàn bộ gánh nặng tài sản xấu, giúp định giá công bằng và hấp dẫn hơn với nhà đầu tư.

Năm là, yêu cầu bắt buộc công khai kế hoạch chiến lược và minh bạch tài chính. Ngân hàng hợp nhất cần công bố chi tiết chiến lược phục hồi, kế hoạch sử dụng vốn, KPI tài chính hàng năm và mẫu báo cáo theo chuẩn IFRS cần được áp dụng sau M&A. Cơ chế thu hút nhà đầu tư chiến lược không nên chỉ dừng lại ở pháp lý mua cổ phần, mà cần xây dựng hệ sinh thái ưu đãi toàn diện và khung hành lang linh hoạt, áp dụng gói hỗ trợ tái cấu trúc đồng hành, đưa nhà đầu tư chiến lược vào vai trò là người đồng hành cải cách ngân hàng chứ không chỉ là bên góp vốn. Khi đó, M&A trong ngành ngân hàng Việt Nam mới có thể tạo ra bước nhảy vọt trong chiến lược và lan tỏa hiệu quả phục hồi, tăng trưởng bền vững sau hợp nhất.

  • Đánh giá hậu M&A và chia sẻ bài học

Đánh giá hậu M&A và chia sẻ bài học là một phần quan trọng nhằm tổng kết, phản ánh hiệu quả thực tiễn của các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng Việt Nam. Mục tiêu là hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các bên tham gia M&A và các nhà hoạch định chính sách trong việc hoàn thiện quy trình, khuôn khổ pháp lý và hướng đi chiến lược nhằm đo lường tác động thực tế của M&A đến hiệu quả hoạt động, an toàn hệ thống và năng lực cạnh tranh, phân tích chi phí – lợi ích tổng thể của các thương vụ, phát hiện điểm nghẽn, rủi ro và hạn chế trong toàn bộ chuỗi M&A, làm rõ bài học thực tiễn và khuyến nghị chính sách. Bên thực hiện đánh giá có thể là các cơ quan quản lý nhà nước (NHNN, Bộ tài chính), bản thân các ngân hàng tham gia M&A (qua báo cáo thường niên) hay các tổ chức quốc tế (IMF, WB) hoặc viện nghiên cứu độc lập.

Các thương vụ M&A tại Việt Nam hầu như thiếu cơ chế giám sát hậu M&A, không có báo cáo đánh giá định lượng độc lập, không có hệ thống theo dõi KPI sau M&A trong 3-5 năm liên tục. Thực tế triển khai đánh giá còn sơ khai, nhiều ngân hàng không công bố đầy đủ kết quả hậu M&A, một số thương vụ chỉ báo cáo chung chung về tái cấu trúc thành công mà thiếu dữ liệu cụ thể (ví dụ: SCB hợp nhất từ 3 ngân hàng yếu kém năm 2013).

Đánh giá hậu M&A không nên là hoạt động tùy chọn, mà cần được thiết kế như một cơ chế bắt buộc, tương tự như quy định báo cáo giám sát định kỳ. Qua đó cải thiện tính minh bạch của ngành, tăng tính trách nhiệm của bên mua và bên bán, góp phần xây dựng thị trường M&A ngân hàng chuyên nghiệp và bền vững tại Việt Nam.

5.4. Hạn chế của nghiên cứu và định hướng nghiên cứu trong tương lai Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

  • Hạn chế của nghiên cứu

Mặc dù nghiên cứu đã được tác giả thiết kế một cách bài bản với mong muốn đạt được kết quả mang độ chính xác và mang tính thực tiễn cao, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu và sử dụng các phương pháp định lượng hiện đại để đo lường hiệu quả hợp lực chi phí trong hoạt động M&A của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định về mặt dữ liệu, phương pháp luận và phạm vi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, hạn chế về dữ liệu và thời gian quan sát. Một trong những thách thức lớn nhất trong nghiên cứu này là việc thu thập dữ liệu các chỉ tiêu tài chính của phần lớn các ngân hàng (29 ngân hàng) ở cấp độ theo quý và trong một giai đoạn dài (2012 – 2025). Mặc dù, các báo cáo tài chính và dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước, Cục Thống kê… đã hỗ trợ phần lớn, tuy nhiên một số ngân hàng sau M&A không công bố dữ liệu tài chính trước hợp nhất hoặc không duy trì công bố liên tục dữ liệu định kỳ, các dữ liệu định lượng vĩ mô (GDP, CPI) có độ trễ trong công bố, dẫn đến việc chuẩn hóa và kết nối dữ liệu có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của mô hình. Ngoài ra, thời gian quan sát hậu M&A của một số thương vụ khá ngắn có thể khiến kết quả đánh giá hiệu quả hợp lực bị giới hạn trong ngắn hạn và chưa phản ánh hết ảnh hưởng dài hạn của M&A.

Thứ hai, mặc dù nghiên cứu đã kết hợp các kỹ thuật tiên tiến như DEA (Data Envelopment Analysis), SFA (Stochastic Frontier Analysis) và DiD (Difference in Differences) nhưng DEA và SFA có các giả định riêng về hàm sản xuất và cấu trúc biên kỹ thuật, việc lựa chọn mô hình CRS/VRS hay lựa chọn biến đầu vào – đầu ra có thể ảnh hưởng đến kết quả. Phương pháp DiD có thể chịu ảnh hưởng bởi giả định song song (parallel trends) và mặc dù đã áp dụng PSM (Propensity Score Matching) và kiểm định độ chắc chắn (placebo test, long-term effects) thì rủi ro thiên lệch do yếu tố không quan sát vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, hiệu quả đo lường chỉ dừng ở hiệu quả hợp lực chi phí, chưa mở rộng sang hiệu quả lợi nhuận hay hiệu quả toàn diện.

Thứ ba, nghiên cứu này phần lớn tập trung vào dữ liệu định lượng, chưa đi sâu vào phân tích định tính như văn hóa doanh nghiệp, phong cách quản trị hậu M&A hay các yếu tố như con người, công nghệ hay văn hóa tổ chức trong khi đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình tích hợp hậu M&A trong ngành ngân hàng có đặc thù vận hành công nghệ cao và qui mô nhân sự lớn.

Thứ tư, mặc dù có tham khảo các nghiên cứu quốc tế, song nghiên cứu chưa thực hiện so sánh đối chứng, định lượng cụ thể giữa các thương vụ M&A Việt Nam và M&A ngân hàng tại các quốc gia có đặc thù tương đồng trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Indonesia… Việc thiếu đối chứng trong phạm vi quốc tế có thể hạn chế khả năng đánh giá vị thế hiệu quả M&A của Việt Nam trong khuôn khổ khu vực Châu Á.

  • Định hướng nghiên cứu trong tương lai Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Từ những hạn chế trong nghiên cứu đã phân tích như trên, các nghiên cứu tiếp theo có thể được mở rộng theo các hướng sau:

Thứ nhất, mở rộng mô hình đo lường hiệu quả tổng hợp thay vì chỉ tập trung vào hiệu quả chi phí (cost efficiency), các nghiên cứu tương lai có thể kết hợp đo lường hiệu quả lợi nhuận (profit efficiency), hiệu quả quản trị rủi ro và hiệu quả ESG sau M&A để có cái nhìn toàn diện hơn. Có thể áp dụng các phương pháp DEA, MPI (Malmquist Productivity Index), hoặc SBM (Slacks-Based Measure) để phản ánh tốt hơn hiệu quả vận hành hậu M&A.

Thứ hai, kết hợp phương pháp định tính và định lượng trong các nghiên cứu tiếp theo, có thể triển khai khảo sát, phỏng vấn chuyên gia hoặc lãnh đạo ngân hàng liên quan đến M&A, từ đó phân tích sâu các yếu tố về văn hóa tổ chức, khả năng hòa hợp văn hóa, quản trị nhân lực và chuyển giao quyền lực, thách thức trong việc tích hợp hệ thống Công nghệ thông tin, hệ thống core banking và qui trình vận hành sau M&A. Việc kết hợp định tính sẽ giúp lý giải tốt hơn những nguyên nhân sâu xa dẫn đến thành công hay thất bại của các thương vụ M&A.

Thứ ba, nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng phân tích hiệu ứng lan tỏa và ảnh hưởng hệ thống, đánh giá hiệu ứng lan tỏa của M&A ngân hàng đối với hệ thống tài chính – tiền tệ bao gồm: ảnh hưởng đến cạnh tranh thị trường; biến động chính sách tín dụng, lãi suất, chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước; tác động đến ổn định tài chính trong khu vực. Việc nghiên cứu mở rộng theo hướng này bằng mô hình mạng lưới tài chính hoặc mô phỏng hệ thống sẽ mang lại nhiều giá trị bổ sung cho mảng nghiên cứu M&A.

Thứ tư, tăng cường so sánh đa quốc gia giúp đánh giá hiệu quả tương đối, nghiên cứu mở rộng dữ liệu sang các quốc gia khu vực ASEAN hoặc châu Á có đặc điểm tương đồng để có cái nhìn toàn diện hơn trong các thương vụ M&A.

Thứ năm, nghiên cứu đề xuất mô hình đánh giá chính sách hậu M&A, cần phát triển mô hình đánh giá độc lập hiệu quả của các chính sách điều hành hậu M&A do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Các chỉ tiêu như thời gian phê duyệt, mức độ hỗ trợ về vốn, hệ thống giám sát tích hợp… có thể cân nhắc là đầu vào cho các mô hình đánh giá chính sách định lượng. Đây sẽ là công cụ hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách trong việc đề xuất cơ chế hỗ trợ tái cơ cấu ngân hàng hiệu quả trong tương lai.

Nghiên cứu này kỳ vọng là một bước tiến trong việc đo lường hiệu quả hợp lực chi phí của các thương vụ M&A ngân hàng tại Việt Nam. Tuy nhiên, với bối cảnh ngành ngân hàng đang chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng số hóa và chuẩn mực quốc tế, các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng cả chiều sâu và chiều rộng dữ liệu, phương pháp cũng như khai thác nhiều hơn khía cạnh định tính để tạo nên nền tảng khoa học hoàn chỉnh cho việc đánh giá và hoạch định chính sách M&A hiệu quả hơn.

TỔNG KẾT CHƯƠNG 5 Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

Chương 5 đã trình bày những kết luận chung và kết quả của mô hình cũng như hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra. Qua các phân tích về thực trạng và pháp lý của hoạt động M&A trong giai đoạn nghiên cứu từ 2012 – 2025 và kết quả của mô hình nghiên cứu đã đề ra ở chương 4, tác giả đã đưa ra các hàm ý quản trị cho các ngân hàng tham gia M&A cũng như các cơ quan quản lý nhằm xây dựng những chính sách, qui trình, hệ thống giám sát chặt chẽ và hiệu quả cho các thương vụ M&A trong quá trình tái cơ cấu ngành ngân hàng trong tương lai giai đoạn 2026 – 2030. Ngoài ra, chương này tác giả đã chỉ ra một số hạn chế chưa được khắc phục để làm cơ sở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo được toàn diện hơn. Chương 5 cũng là nội dung cuối cùng kết thúc đề tài nghiên cứu về “Đo lường hiệu quả hợp lực chi phí trong hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025”.

TỔNG KẾT

Trải qua gần 5 tháng để thực hiện đề tài nghiên cứu “Đo lường hiệu quả hợp lực chi phí trong hoạt động mua bán và sáp nhập các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2025”, tác giả kỳ vọng mang đến một mô hình nghiên cứu đo lường giá trị cụ thể để trả lời cho các câu hỏi “Hoạt động mua bán sáp nhập mang lại cho hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam những giá trị gì?”, “Các ngân hàng sau khi thực hiện M&A có đạt hiệu quả hợp lực về mặt chi phí không?”, “Liệu giữa các thương vụ mang hình thức tự nguyện hay bắt buộc, hình thức nào mang lại hiệu quả hơn và những điểm nổi bật giữa hai cơ chế này là gì?”, “Các yếu tố nào có ảnh hưởng, điều tiết cho các thương vụ và tác động ra sao?” v.v… Do đó, có rất nhiều câu hỏi đặt ra xoay quanh chủ đề này, mặc dù còn nhiều thiếu sót trong nghiên cứu nhưng với quan điểm của tác giả đây là một đề tài có khoảng trống nghiên cứu rất lớn, mang giá trị ứng dụng thực tiễn cho tính chất đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, một bộ phận nghiên cứu cần dành ra rất nhiều thời gian, công sức mới có thể lấp đầy khoảng trống nghiên cứu ấy. Bên cạnh đó, tác giả kỳ vọng nghiên cứu này đóng góp một bộ giá trị định lượng hiệu quả về hợp lực chi phí, làm tiền đề cho các hướng phát triển của các nghiên cứu trong tương lai, đề ra các chính sách quản trị cho các ngân hàng tham gia M&A cũng như chính sách hỗ trợ của các cơ quan quản lý giúp cho hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng phát triển, minh bạch, đạt chuẩn quốc tế, tạo ra nhiều cơ hội cho Việt Nam thu hút đầu tư quốc tế, vững vàng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng

One thought on “Luận văn: KQNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng”

  1. Pingback: Luận văn: PPNC Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *