Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính quốc tế Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT ĐỀ ÁN
Tên đề án: Phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính quốc tế Việt Nam.
Tóm tắt đề án: Đề án tập trung vào thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) tại Việt Nam, một kênh cấp vốn quan trọng nhưng còn hạn chế thị phần (0,34% tổng dư nợ tín dụng cuối 2024) do khó khăn huy động vốn, lãi suất cao từ phía công ty và tâm lý khách hàng ngại không sở hữu tài sản. Với mục tiêu giải quyết thách thức này, đề án đi sâu phân tích thực trạng hoạt động CTTC tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Cho thuê Tài chính Quốc tế Việt Nam (VILC) giai đoạn 2023-2025, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững. Sử dụng phương pháp định tính và phân tích dữ liệu 2023-2025, đề án chỉ ra VILC đạt tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận mạnh mẽ, với CTTC là hoạt động cốt lõi và quản trị rủi ro hiệu quả (tỷ lệ nợ xấu giảm). Công ty cũng tập trung mở rộng dư nợ vào phân khúc công ty cổ phần và tài sản máy móc. Tuy nhiên, VILC vẫn đối mặt với rủi ro tập trung khách hàng và nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng dư nợ chậm lại, cùng biến động nợ nhóm 5, cho thấy nhu cầu đa dạng hóa hoạt động để phát triển bền vững hơn. Để khắc phục hạn chế và phát huy thế mạnh, đề án đề xuất VILC định hướng vào phân khúc khách hàng trung bình và cấp thiết mời gọi một ngân hàng lớn làm cổ đông chiến lược để củng cố tài chính, đa dạng hóa nguồn vốn (trái phiếu, vay quốc tế). Đồng thời, công ty cần tối ưu hóa chính sách trích lập dự phòng rủi ro và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số (CRM, Core Leasing System, Big Data, AI, kênh giao dịch số). Những giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, cung cấp cái nhìn khoa học cho chiến lược phát triển CTTC của VILC trong tương lai.
Từ khóa: Cho thuê tài chính, phát triển hoạt động, chất lượng cho thuê.
- ABSTRACT
Tittle: Developing Financial Leasing Activities at Vietnam International Leasing Company Limited
Abstract: This project focuses on promoting financial leasing (FL) activities in Vietnam. Despite being a crucial capital channel, FL currently holds a limited market share (0.34% of total credit outstanding by late 2024). This limitation stems from challenges on the part of FL companies, such as difficulties in capital mobilization, high interest rates, and undifferentiated products, as well as from customers, who may be hesitant due to not directly owning the assets. To address these challenges, the project aims to analyze and assess the current state of FL operations at Vietnam International Leasing Company Limited (VILC) during the 2023-2025 period, subsequently proposing sustainable development solutions. Utilizing a qualitative methodology and analyzing data from 2023-2025, the project highlights VILC’s robust growth in revenue and profit, with FL as its core activity and effective risk management (demonstrated by a decreasing non-performing loan ratio). The company has also expanded its outstanding loan portfolio, concentrating on corporate clients and machinery assets. However, VILC still faces risks associated with customer and capital concentration, a decelerating growth rate in outstanding loans, and fluctuations in Group 5 bad debts, underscoring the need for greater operational diversification to achieve sustainable development. To mitigate limitations and leverage strengths, the project proposes strategic solutions for VILC. Firstly, the company should target mid-sized customers to reduce direct competition. Secondly, it is critical to attract a top Vietnamese bank as a strategic shareholder to bolster financial capacity, ensure stable capital, and diversify funding sources (e.g., corporate bonds, international loans). Simultaneously, VILC needs to optimize its risk provisioning policies and accelerate the application of information technology and digital transformation. This includes implementing a Customer Relationship Management (CRM) system, a Core Leasing System, and leveraging Big Data, AI, and digital transaction channels. These solutions are designed to enhance operational efficiency and competitiveness, providing a scientific basis for VILC’s future FL development strategy. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Keywords: Financial leasing, activity development, leasing quality.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Từ năm 2024, mục tiêu phát triển kinh tế của Chính phủ là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong đó hạt nhân là hơn 3.000km Cao tốc Bắc Nam, sân bay Long Thành và xa hơn là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc Nam giai đoạn 2028 – 2035. Bên cạnh đó, việc tăng năng lực cạnh tranh cho các công ty trong nước để tận dụng triệt để các Hiệp định tự do thương mai mà Việt Nam đã tham gia rất nhiều trong nhửng năm gần đây cũng là một trong những ưu tiên hàng đầu.
Để thực hiện tốt những mục tiêu trên, nếu chỉ dựa vào duy nhất nguồn lực của Nhà nước là sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu về vốn vì mức đầu tư là rất lớn, đặc biệt là đầu tư vào máy móc, công nghệ. Vì vậy chủ trương hiện nay rất hoan nghênh sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân đặc biệt trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất hiện nay của các công ty là tiếp cận được nguồn vốn vay Ngân hàng, đặc biệt là nguồn vốn trung – dài hạn để đầu tư vào máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất. Vấn đề này càng trở nên khó khăn hơn đối với các công ty vừa và nhỏ khi không có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp khả dĩ nhất trong các trường hợp này là chính máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất được đầu từ thì các NHTM thường đánh giá rất thấp về mặt thanh khoản. Từ đó dẫn đến tỷ lệ cho vay không đáp ứng đủ nhu cầu của công ty. Từ các nhược điểm trên của việc tiếp cận vốn của các NHTM, loại hình cho thuê tài chính (CTTC) được phát triển để duy nhất phục vụ các nhu cầu đầu tư máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, phương tiện tiện vận tải của công ty, đặc biệt đối với các công ty vừa và nhỏ.
Mặc dù, hoạt động Cho thuê tài chính là kênh cấp vốn trung, dài hạn rất phổ biến tại các nước phát triển, nhưng ở Việt Nam, thị phần của mảng tín dụng này vẫn còn rất eo hẹp. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng nhà nước hiện tại Việt Nam có tổng cộng 10 công ty Cho thuê tài chính đang hoạt động và tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ thuê tài chính đạt chưa đến 46 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 0,34% tổng dư nợ tín dụng của cả nền kinh tế. Nguyên nhân của vấn đề này đến từ cả hai phía các công ty Cho thuê tài chính và khách hàng. Đối với các công ty Cho thuê tài chính, mặc dù Luật cho phép nhưng do chưa đủ khả năng huy động vốn từ thị trường (huy động từ cá nhân, công ty…) đẫn đến lãi suất còn cao, bên cạnh đó, sản phẩm chưa có nhiều khác biệt so với khoản vay tín dụng trung – dài hạn ngân hàng. Bên cạnh đó, việc Cho thuê tài chính đối với các công ty nhỏ đáng lẽ là phân khúc ưu tiên, phù hợp nhất với loại hình này thì lại gần như hoàn toàn bị bỏ ngỏ do khó khăn trong việc thẩm định, đánh giá khách hang (hiện chỉ duy nhất một công ty Cho thuê tài chính là Chailease tập trung phát triển nhóm khách hàng này). Ngoài ra, khó khăn còn đến từ phí khách hàng do đặt nặng tâm lý sở hữu tài sản (tài sản thuê tài chính vẫn thuộc sở hữu của Công ty Cho thuê tài chính trong suốt thời gian thuê tài chính và chỉ chuyển giao quyền sở hữu sau khi kết thúc thời hạn thuê). Do đó, xuất phát từ những vấn đề của thị trường và công việc của hàng ngày nên tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính quốc tế Việt Nam” nhằm đề xuất các giải pháp để nâng cao hoạt động Cho thuê tài chính trên thị trường, nhằm tạo ra dòng lưu động vốn cho các đối tượng khi hoạt động kinh doanh.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Đề án này được thực hiện nhằm phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025. Từ đó, đề xuất giải pháp để phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam.
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Các mục tiêu nghiên cứu được cụ thể hóa từ tổng quát như sau:
- Thứ nhất, phân tích thực trạng hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025.
- Thứ hai, đánh giá các điểm đạt được, hạn chế và các nguyên nhân của các hạn chế đó.
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp khả thi cho công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam nhằm phát triển hoạt động Cho thuê tài chính.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể thì các câu hỏi được thiết lập như sau:
- Thứ nhất, thực trạng phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn 2022 – 2024 như thế nào ?
- Thứ hai, các điểm đạt được, hạn chế và các nguyên nhân của các hạn chế đó là gì ?
- Thứ ba, các giải pháp nào được đề xuất cho công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam nhằm phát triển hoạt động Cho thuê tài chính ?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn 2023 – 2025.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam.
Về thời gian: Số liệu phân tích thực trạng hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam sẽ được thu thập từ các báo cáo liên quan như Báo cáo tài chính, Cân đối kế toán,… trong giai đoạn 2023 – 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Đối với đề án này thì phương pháp định tính được sử dụng chủ yếu trong đó tập trung vào:
Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp tóm tắt, trình bày lược khảo cơ sở lý thuyết về Cho thuê tài chính. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng phương pháp tính toán để phản ánh các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại các tổ chức Cho thuê tài chính.
Phương pháp tổng hợp, phân tích: Là phương pháp nghiên cứu các tài liệu, số liệu khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng nghiên cứu. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống thông tin, số liệu mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp so sánh: So sánh dữ liệu theo các chỉ tiêu phản ảnh phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam qua các năm 2022 – 2024.
6. Đóng góp của đề án
Đề án này giúp công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam có cái nhìn toàn diện và khoa học về hoạt động Cho thuê tài chính cũng như việc phát triển hoạt động này. Đề tài sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm giúp các nhà lãnh đạo tại đơn vị đưa ra những chiến lược toàn diện nhằm phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại công ty trong thời gian tới.
7. Kết cấu của đề án
Ngoài phần mở đầu thì đề án sẽ có kết cấu 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho thuê tài chính
- Chương 2: Thực trạng về phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1. Lý luận về hoạt động cho thuê tài chính
1.1.1. Khái niệm về cho thuê tài chính
Horne (1986) cho rằng Cho thuê tài chính là phương pháp tài trợ tài sản vốn mà không cần sở hữu, trong đó người sử dụng (bên thuê) đồng ý thực hiện các khoản thanh toán định kỳ cho việc sử dụng tài sản cho chủ sở hữu (bên cho thuê) trong một khoảng thời gian cụ thể.
Fabozzi và Modigliani (1992) cho rằng Cho thuê tài chính là một thỏa thuận hợp đồng theo đó chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) cho phép bên khác (bên thuê) sử dụng tài sản trong một khoảng thời gian xác định để đổi lấy các khoản thanh toán định kỳ. Cho thuê tài chính được cấu trúc sao cho bên thuê thực sự chịu mọi rủi ro và nhận mọi lợi ích của quyền sở hữu, mà không thực sự nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Schilit (1993) tập trung vào khía cạnh kế toán và tài chính cho rằng cho thuê vốn về cơ bản là một giao dịch mua tài sản trả góp được tài trợ trong suốt thời gian thuê. Theo hợp đồng cho thuê vốn, bên thuê sẽ báo cáo cả tài sản và khoản nợ liên quan trên bảng cân đối kế toán của mình.
Brigham và Houston (2020) cho rằng Cho thuê tài chính thường được gọi là cho thuê vốn, là một hợp đồng cho thuê dài hạn không thể hủy ngang và theo đó giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê gần bằng giá trị thị trường hợp lý của tài sản cho thuê. Với Cho thuê tài chính, bên thuê thực sự mua tài sản và tài trợ nó thông qua hợp đồng thuê.
Brealey, Myers và Allen (2021) cho rằng Cho thuê tài chính còn được gọi là cho thuê vốn, là một hợp đồng cho thuê dài hạn, không thể hủy ngang, trong đó giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê bằng hoặc vượt quá giá trị thị trường hợp lý của tài sản cho thuê.
Tại Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 về tổ chức và hoạt động của công ty Cho thuê tài chính định nghĩa: Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng hoặc công ty cho thuê tài chính với bên thuê, theo đó bên cho thuê cam kết mua tài sản và cho bên thuê thuê lại; bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê, tiếp tục thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Thời hạn cho thuê một tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê.
Tóm lại, tại đề án này Cho thuê tài chính được hiểu là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, bản chất là một giao dịch tài trợ tài sản vốn mà không cần sở hữu ban đầu. Theo đó, bên cho thuê (là tổ chức tín dụng hoặc công ty cho thuê tài chính) sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và cho bên thuê sử dụng tài sản đó trong một khoảng thời gian xác định, thường là phần lớn vòng đời kinh tế của tài sản. Trong suốt thời hạn thuê, bên thuê phải thực hiện các khoản thanh toán định kỳ với tổng số tiền thuê ít nhất phải tương đương với giá trị tài sản tại thời điểm ký hợp đồng, nhằm hoàn trả giá trị tài sản cùng với lãi phát sinh. Đặc trưng quan trọng của Cho thuê tài chính là bên thuê thực sự chịu mọi rủi ro và nhận mọi lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản (như khấu hao, chi phí bảo trì lớn, rủi ro lỗi thời, v.v.), mặc dù không nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp ban đầu. Hợp đồng Cho thuê tài chính thường là hợp đồng dài hạn và không thể hủy ngang. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với giá danh nghĩa hoặc giá trị còn lại thấp, tiếp tục thuê hoặc chấm dứt hợp đồng. Về mặt kế toán, bên thuê sẽ ghi nhận cả tài sản và khoản nợ liên quan trên bảng cân đối kế toán của mình.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.1.2.1. Chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản
Đặc điểm cốt lõi và quan trọng nhất của Cho thuê tài chính là việc chuyển giao đáng kể các rủi ro và lợi ích vốn có của quyền sở hữu từ bên cho thuê sang bên thuê. Mặc dù quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản vẫn thuộc về bên cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, nhưng bên thuê sẽ chịu trách nhiệm chính đối với các rủi ro như hư hỏng, lỗi thời, mất giá của tài sản, đồng thời hưởng lợi từ việc sử dụng và khai thác kinh tế tài sản trong suốt thời gian thuê. Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 17 (IAS 17, tiền thân của IFRS 16) cho rằng Cho thuê tài chính là một hợp đồng cho thuê mà theo đó, gần như toàn bộ rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản được chuyển giao. Quyền sở hữu cuối cùng có thể được hoặc không được chuyển giao. Tương tự, Fabozzi và Modigliani (1992) cũng nhấn mạnh Cho thuê tài chính được cấu trúc sao cho bên thuê thực sự chịu mọi rủi ro và nhận mọi lợi ích của quyền sở hữu, mà không thực sự nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản. Điều này làm cho Cho thuê tài chính khác biệt rõ rệt so với cho thuê hoạt động, nơi rủi ro và lợi ích vẫn thuộc về bên cho thuê.
1.1.2.2. Hợp đồng dài hạn và không thể hủy ngang
Hợp đồng cho thuê tài chính thường có thời hạn kéo dài gần hết vòng đời kinh tế ước tính của tài sản. Tính chất dài hạn này phản ánh mục đích sử dụng tài sản lâu dài của bên thuê, tương tự như việc sở hữu tài sản. Khác biệt lớn là hợp đồng Cho thuê tài chính mang tính chất không thể hủy ngang. Điều này có nghĩa là, một khi hợp đồng đã được ký kết, bên thuê có nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện đầy đủ các khoản thanh toán trong suốt thời hạn hợp đồng mà không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn mà không chịu phạt nặng. Tính chất không thể hủy ngang được nhấn mạnh bởi nhiều học giả trong lĩnh vực tài chính. Cụ thể, Brealey, Myers và Allen (2021) mô tả Cho thuê tài chính là một hợp đồng cho thuê dài hạn, không thể hủy ngang. Tương tự, Brigham và Houston (2020) cũng khẳng định Cho thuê tài chính là một hợp đồng cho thuê dài hạn không thể hủy ngang. Mặc dù Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam không trực tiếp dùng từ không thể hủy ngang, nhưng các quy định về nghĩa vụ thanh toán trong suốt thời hạn thuê đã ngụ ý về tính chất ràng buộc và cam kết lâu dài này của hợp đồng. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.1.2.3. Tổng số tiền thuê bù đắp toàn bộ giá trị tài sản và lợi nhuận của bên cho thuê
Một đặc điểm kinh tế quan trọng của Cho thuê tài chính là tổng số tiền mà bên thuê phải thanh toán trong suốt thời hạn hợp đồng được tính toán để đảm bảo bên cho thuê có thể thu hồi toàn bộ giá trị đầu tư ban đầu vào tài sản. Ngoài ra, các khoản thanh toán này còn bao gồm một khoản lãi suất hoặc lợi nhuận hợp lý cho bên cho thuê, phản ánh chi phí sử dụng vốn và rủi ro mà họ chấp nhận. Quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam đã cụ thể hóa điều này khi nêu rõ: Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Điều này phù hợp với quan điểm của Brealey, Myers và Allen (2021), những người cho rằng giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê bằng hoặc vượt quá giá trị thị trường hợp lý của tài sản cho thuê, qua đó thể hiện bản chất là một hình thức cấp tín dụng để mua sắm tài sản.
1.1.2.4. Bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng
Khi hợp đồng cho thuê tài chính đáo hạn, bên thuê thường được cấp một hoặc nhiều quyền lựa chọn liên quan đến tài sản. Các quyền này bao gồm việc mua lại tài sản với một mức giá danh nghĩa (thường rất thấp so với giá trị thị trường tại thời điểm đó), tiếp tục thuê tài sản với mức phí thuê thấp hơn nhiều (được gọi là peppercorn rental) hoặc trả lại tài sản cho bên cho thuê. Quyền mua lại với giá ưu đãi là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ nhất cho thấy giao dịch có bản chất là cho thuê tài chính, thay vì cho thuê hoạt động đơn thuần. Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam, Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê, tiếp tục thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê. Điều này củng cố quan điểm rằng Cho thuê tài chính là một phương tiện để bên thuê cuối cùng có thể sở hữu tài sản, giống như một giao dịch mua trả góp.
1.1.2.5. Tài sản được lựa chọn bởi bên thuê
Trong mô hình cho thuê tài chính, vai trò của bên cho thuê chủ yếu là một nhà tài trợ vốn, chứ không phải nhà cung cấp tài sản. Chính bên thuê là người chủ động xác định nhu cầu, lựa chọn loại tài sản, thông số kỹ thuật cụ thể và thậm chí cả nhà cung cấp tài sản. Sau đó, bên cho thuê sẽ tiến hành mua tài sản theo đúng yêu cầu đó và cho bên thuê thuê lại. Điều này tạo nên sự khác biệt rõ rệt so với hình thức cho thuê hoạt động, nơi bên cho thuê thường sở hữu sẵn một danh mục tài sản và cho thuê theo nhu cầu chung. Nhiều nguồn nghiên cứu và tài liệu thực tiễn đều nhấn mạnh điểm này, ví dụ như MISA AMIS đã nêu rõ đặc điểm: Bên thuê sẽ lựa chọn tài sản cần thuê và Bên cho thuê sẽ mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu tài sản đó. Điều này cho phép công ty tiếp cận đúng loại tài sản chuyên biệt mà họ cần cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.1.2.6. Ghi nhận tài sản và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán của bên thuê
Một đặc điểm kế toán quan trọng của Cho thuê tài chính là việc bắt buộc bên thuê phải ghi nhận tài sản thuê trên bảng cân đối kế toán của mình như một tài sản cố định, đồng thời ghi nhận một khoản nợ phải trả tương ứng với giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai. Điều này phản ánh bản chất kinh tế của giao dịch, coi Cho thuê tài chính như một hình thức mua tài sản trả góp được tài trợ. Schilit (1993) đã tập trung vào khía cạnh này khi cho rằng cho thuê vốn về cơ bản là một giao dịch mua tài sản trả góp được tài trợ trong suốt thời gian thuê. Theo hợp đồng cho thuê vốn, bên thuê sẽ báo cáo cả tài sản và khoản nợ liên quan trên bảng cân đối kế toán của mình. Việc ghi nhận này đảm bảo tính minh bạch và phản ánh đúng tình hình tài chính của công ty, cho thấy cả tài sản mà công ty kiểm soát và nghĩa vụ tài chính liên quan đến việc sử dụng tài sản đó.
1.1.3. Các loại hình cho thuê tài chính điển hình
1.1.3.1. Cho thuê tài chính thông thường
Theo Brealey, Myers và Allen (2021) thì Cho thuê tài chính thông thường là phương thức cho thuê mà trong đó bên cho thuê trực tiếp mua, nhập tài sản mới hoàn toàn từ nhà cung cấp và chuyển giao cho bên thuê sử dụng tài sản đó. Trong Cho thuê tài chính thông thường có sự tham gia đầy đủ của ba chủ thể:
- Bên cho thuê (Lessor): Thường là công ty Cho thuê tài chính hoặc tổ chức tín dụng. Đây là bên cung cấp nguồn vốn để mua tài sản.
- Bên đi thuê (Lessee): Là công ty hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng tài sản nhưng không muốn hoặc không đủ vốn để mua trực tiếp.
- Bên cung cấp (Supplier/Vendor): Là nhà sản xuất hoặc nhà phân phối tài sản mà bên thuê có nhu cầu.
Hình 1.1: Mô hình các bước Cho thuê tài chính ba bên
- Bước 1: Lựa chọn tài sản và Đề nghị thuê (1a, 1b)
(1a) Bên đi thuê lựa chọn tài sản và gửi đề nghị đến Bên cho thuê: Bên đi thuê (công ty có nhu cầu sử dụng tài sản) sẽ tự mình tìm kiếm, lựa chọn loại tài sản, mẫu mã, thông số kỹ thuật, nhà cung cấp và giá cả phù hợp với nhu cầu của mình. Sau khi đã quyết định được tài sản cần thuê, Bên đi thuê sẽ gửi yêu cầu thuê tài chính đến Bên cho thuê.
(1b) Bên cho thuê thẩm định và liên hệ Bên cung cấp (hoặc ngược lại): Sau khi nhận được đề nghị từ Bên đi thuê, Bên cho thuê sẽ tiến hành thẩm định khả năng tài chính của Bên đi thuê và tính hợp lệ của tài sản. Trong một số trường hợp, Bên cho thuê cũng có thể chủ động tìm kiếm Bên cung cấp tài sản theo yêu cầu của Bên đi thuê. Mũi tên (1b) này có thể ngụ ý sự trao đổi thông tin ban đầu giữa Bên cho thuê và Bên cung cấp về tài sản. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
- Bước 2: Giao dịch mua bán tài sản và giao tài sản (2a, 2b, 2c, 2d)
(2a) Bên cho thuê ký hợp đồng mua bán với Bên cung cấp và thanh toán: Sau khi đề nghị được chấp thuận, Bên cho thuê sẽ ký hợp đồng mua bán tài sản trực tiếp với Bên cung cấp. Mặc dù tài sản được lựa chọn bởi Bên đi thuê, Bên cho thuê sẽ là người bỏ vốn và thanh toán toàn bộ giá trị tài sản cho Bên cung cấp. Điều này thể hiện vai trò tài trợ của Bên cho thuê.
(2b) Bên cung cấp giao tài sản trực tiếp cho Bên đi thuê: Đây là một đặc điểm quan trọng của Cho thuê tài chính. Mặc dù Bên cho thuê là người mua tài sản, nhưng Bên cung cấp sẽ giao tài sản trực tiếp cho Bên đi thuê. Bên đi thuê sẽ là người trực tiếp nhận và sử dụng tài sản. Điều này giúp rút ngắn quy trình và giảm chi phí vận chuyển trung gian.
(2c) Bảo hành, bảo trì và các cam kết khác từ Bên cung cấp đến Bên đi thuê (gián tiếp qua Bên cho thuê): Mũi tên này thường thể hiện mối quan hệ về bảo hành, bảo trì, hoặc các vấn đề kỹ thuật khác liên quan đến tài sản. Về mặt pháp lý, Bên cho thuê là chủ sở hữu và có quyền đối với các cam kết từ Bên cung cấp. Tuy nhiên, trong thực tế Cho thuê tài chính, các quyền và nghĩa vụ này thường được chuyển giao cho Bên đi thuê sử dụng, hoặc Bên đi thuê sẽ trực tiếp làm việc với Bên cung cấp về vấn đề kỹ thuật và bảo hành.
(2d) Ký kết hợp đồng cho thuê tài chính giữa Bên cho thuê và Bên đi thuê: Song song hoặc ngay sau khi Bên cho thuê mua tài sản, Bên cho thuê và Bên đi thuê sẽ ký kết hợp đồng cho thuê tài chính. Hợp đồng này quy định rõ các điều khoản về thời hạn thuê, số tiền thuê định kỳ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, cũng như các điều kiện khi kết thúc hợp đồng (ví dụ: quyền mua lại tài sản của Bên đi thuê).
Bước 3: Thanh toán tiền thuê (3) Bên đi thuê thanh toán tiền thuê định kỳ cho Bên cho thuê: Trong suốt thời hạn hợp đồng cho thuê tài chính, Bên đi thuê sẽ thực hiện các khoản thanh toán tiền thuê định kỳ (ví dụ: hàng tháng, hàng quý) cho Bên cho thuê. Các khoản thanh toán này được tính toán để bù đắp giá trị tài sản ban đầu mà Bên cho thuê đã đầu tư, cộng với lãi suất và lợi nhuận của Bên cho thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên đi thuê có thể thực hiện quyền chọn mua lại tài sản (với giá danh nghĩa), tiếp tục thuê, hoặc trả lại tài sản theo thỏa thuận. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
- Đây là phương thức Cho thuê tài chính được sử dụng phổ biến nhất nhờ những ưu điểm sau:
Đối với bên đi thuê (Lessee): Mô hình Cho thuê tài chính mang lại lợi ích tài chính đáng kể cho bên đi thuê, đặc biệt là khả năng tiếp cận tài sản mà không cần bỏ ra một lượng vốn đầu tư ban đầu lớn. Điều này giúp công ty bảo toàn nguồn vốn lưu động, cải thiện dòng tiền và có thể sử dụng vốn cho các hoạt động kinh doanh cốt lõi khác. Hơn nữa, Cho thuê tài chính thường dễ dàng tiếp cận hơn so với các khoản vay ngân hàng truyền thống, mở ra cơ hội cho các công ty vừa và nhỏ hoặc các startup đang cần nguồn tài sản để phát triển. Bên đi thuê cũng được hưởng lợi từ việc phân bổ chi phí thuê định kỳ, giúp dễ dàng dự toán và quản lý ngân sách, đồng thời có thể tận dụng các ưu đãi về thuế đối với chi phí thuê.
Đối với bên cho thuê (Lessor): Đối với các công ty Cho thuê tài chính hoặc tổ chức tín dụng, mô hình này là một kênh kinh doanh chiến lược để đa dạng hóa danh mục đầu tư và nguồn thu nhập. Bên cho thuê có thể tạo ra lợi nhuận ổn định từ các khoản tiền thuê định kỳ, đồng thời nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản. Quyền sở hữu này đóng vai trò như một hình thức đảm bảo cho khoản tài trợ, giúp giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên đi thuê gặp khó khăn về tài chính, vì bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản. Ngoài ra, tùy theo quy định của pháp luật, bên cho thuê cũng có thể được hưởng các ưu đãi thuế liên quan đến quyền sở hữu và khấu hao tài sản.
Đối với bên cung cấp (Supplier): Sự tham gia của mô hình Cho thuê tài chính có tác động tích cực đáng kể đến bên cung cấp tài sản. Nó mở rộng đáng kể thị trường tiềm năng cho sản phẩm của họ, bởi lẽ nhiều khách hàng (bên đi thuê) có thể tiếp cận tài sản dễ dàng hơn khi không cần bỏ ra toàn bộ giá trị ban đầu. Điều này trực tiếp thúc đẩy doanh số bán hàng và tăng trưởng thị trường. Hơn nữa, khi bên Cho thuê tài chính là người mua và thanh toán trực tiếp, bên cung cấp được đảm bảo về dòng tiền và giảm thiểu rủi ro tín dụng, thay vì phải đối mặt với các khoản nợ khó đòi từ khách hàng cuối.
1.1.3.2. Mua và cho thuê lại Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IFRS 16 thì Cho thuê tài chính với hình thức mua và cho thuê lại là phương thức cho thuê mà trong đó bên mua (bên cho thuê) sẽ mua lại tài sản của bên bán (bên thuê) và sau đó cho bên bán thuê lại chính tài sản này để tiếp tục sử dụng cho sản xuất kinh doanh. Trong phương thức này, tài sản cho thuê là tài sản đã hình thành rồi nên chỉ có hai chủ thể tham gia vào quy trình cho thuê, bao gồm: bên cho thuê (bên mua), bên thuê (bên bán). Phương thức này thường được áp dụng đối với những khách hàng thiếu vốn lưu động để khai thác các tài sản cố định hiện có nhưng không đủ điều kiện để tiếp cận nguồn vốn vay của NHTM.
Hình 1.2: Mô hình các bước tái cho thuê
- Bước 1: Đề nghị và thẩm định (1a, 1b)
(1a) Bên đi thuê gửi yêu cầu/đề nghị thuê tài chính cho Bên cho thuê: Công ty có nhu cầu về tài sản (đã xác định loại tài sản, nhà cung cấp, giá cả) sẽ gửi hồ sơ đề nghị được cấp tài chính dưới hình thức cho thuê tài chính đến công ty Cho thuê tài chính.
(1b) Bên cho thuê thẩm định và phản hồi/chấp thuận đề nghị: Bên cho thuê sẽ tiến hành thẩm định khả năng tài chính, tín dụng của Bên đi thuê, cũng như đánh giá tính hợp lệ của tài sản được đề xuất. Sau quá trình thẩm định, Bên cho thuê sẽ đưa ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối đề nghị thuê. Nếu chấp thuận, hai bên sẽ tiến hành ký kết hợp đồng. Mũi tên hai chiều (1a, 1b) thể hiện quá trình trao đổi, đàm phán và phê duyệt ban đầu.
- Bước 2: Mua tài sản và ký kết hợp đồng cho thuê (2a, 2b, 2c)
(2a) Bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của Bên đi thuê: Sau khi có sự chấp thuận, Bên cho thuê sẽ tiến hành mua tài sản trực tiếp từ nhà cung cấp (không thể hiện trên sơ đồ này, nhưng là một phần ngầm định của quá trình) theo đúng yêu cầu và thông số kỹ thuật mà Bên đi thuê đã lựa chọn.
(2b) Bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho Bên đi thuê: Mặc dù Bên cho thuê là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản, tài sản sẽ được giao trực tiếp cho Bên đi thuê sử dụng. Mũi tên này thể hiện việc Bên cho thuê trao quyền sử dụng tài sản cho Bên đi thuê trong suốt thời hạn hợp đồng. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
(2c) Bên đi thuê chịu trách nhiệm về tài sản và các vấn đề phát sinh: Mũi tên này thường ngụ ý việc Bên đi thuê là người trực tiếp vận hành, bảo quản, bảo trì tài sản. Trong một số trường hợp, đây cũng có thể là luồng thông tin về các vấn đề kỹ thuật, hỏng hóc hoặc các nghĩa vụ bảo hiểm liên quan đến tài sản mà Bên đi thuê phải chịu trách nhiệm, mặc dù về mặt pháp lý quyền sở hữu thuộc về Bên cho thuê.
- Bước 3: Thanh toán tiền thuê (3)
(3) Bên đi thuê thanh toán tiền thuê định kỳ cho Bên cho thuê: Đây là luồng tiền chính trong giao dịch Cho thuê tài chính. Bên đi thuê sẽ thực hiện các khoản thanh toán tiền thuê (gồm gốc và lãi) cho Bên cho thuê theo lịch trình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Các khoản thanh toán này đảm bảo hoàn trả vốn đầu tư và lợi nhuận cho Bên cho thuê. Khi kết thúc thời hạn hợp đồng, Bên đi thuê sẽ có các quyền lựa chọn cuối kỳ như mua lại tài sản, tiếp tục thuê hoặc trả lại tài sản theo thỏa thuận.
- Ưu điểm của loại hình Cho thuê tài chính này là:
Đối với bên đi thuê (Công ty): Ưu điểm nổi bật nhất đối với bên đi thuê là khả năng tiếp cận và sử dụng tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà không cần phải bỏ ra một lượng vốn đầu tư ban đầu lớn. Điều này giúp công ty bảo toàn nguồn vốn lưu động, cải thiện dòng tiền và có thể sử dụng vốn cho các cơ hội đầu tư khác. Hơn nữa, Cho thuê tài chính thường dễ dàng tiếp cận hơn so với các khoản vay ngân hàng truyền thống, đặc biệt hữu ích cho các công ty vừa và nhỏ hoặc các startup. Bên đi thuê cũng được hưởng lợi từ việc phân bổ chi phí thuê định kỳ, giúp dễ dàng dự toán và quản lý ngân sách, đồng thời có thể tận dụng các ưu đãi về thuế đối với chi phí thuê.
Đối với bên cho thuê (Công ty Cho thuê tài chính): Mô hình Cho thuê tài chính mang lại cho bên cho thuê khả năng đa dạng hóa danh mục đầu tư và tạo ra nguồn thu nhập ổn định từ các khoản tiền thuê định kỳ. Với việc nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản cho thuê, bên cho thuê có được một hình thức đảm bảo chắc chắn cho khoản tài trợ, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng đáng kể so với các hình thức cho vay thông thường. Điều này cũng cho phép bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản trong trường hợp bên đi thuê không thực hiện nghĩa vụ, từ đó bảo vệ được khoản đầu tư của mình.
Đối với bên cung cấp (Nhà sản xuất/phân phối): Sự tham gia của mô hình Cho thuê tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy doanh số bán hàng và mở rộng thị trường cho bên cung cấp. Khi khách hàng có thể tiếp cận tài sản dễ dàng hơn mà không cần bỏ ra toàn bộ giá trị ban đầu, nhu cầu mua sắm thiết bị, máy móc sẽ tăng lên. Đặc biệt, việc bên cho thuê Cho thuê tài chính là người mua và thanh toán trực tiếp cho bên cung cấp giúp đảm bảo dòng tiền và giảm thiểu rủi ro tín dụng, tránh được các vấn đề về nợ khó đòi mà bên cung cấp có thể gặp phải khi bán hàng trực tiếp theo hình thức trả góp.
1.1.3.3. Cho thuê tài chính giáp lưng Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
CTTC giáp lưng (Sale and Leaseback) đại diện cho một nghiệp vụ tài chính độc đáo và linh hoạt, nơi một công ty bán tài sản mà mình đang sở hữu cho một công ty Cho thuê tài chính hoặc tổ chức tín dụng, và ngay lập tức thuê lại chính tài sản đó theo một hợp đồng Cho thuê tài chính. Về bản chất, Van Horne (1986) đã xem xét leasing (bao gồm cả sale and leaseback) như “một phương pháp tài trợ tài sản vốn mà không cần sở hữu ban đầu,” và trong trường hợp này là giải phóng giá trị từ tài sản đã sở hữu. Hình thức này cho phép công ty giải phóng lượng tiền mặt đáng kể bị “kẹt” trong tài sản cố định, mà không làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh hiện tại. Lượng tiền thu được từ việc bán tài sản có thể được sử dụng để tái cơ cấu nợ, tài trợ cho các dự án mở rộng, cải thiện khả năng thanh khoản hoặc tăng cường vốn lưu động, góp phần tối ưu hóa cấu trúc vốn của công ty.
Một trong những ưu điểm nổi bật của Cho thuê tài chính giáp lưng là khả năng chuyển đổi tài sản cố định thành tiền mặt mà không ảnh hưởng đến quyền sử dụng. Công ty vẫn duy trì toàn quyền kiểm soát và vận hành tài sản trong suốt thời hạn thuê, tương tự như khi sở hữu, nhưng đã thu được một khoản tiền lớn. Brigham và Houston (2020) nhấn mạnh rằng với Cho thuê tài chính, “bên thuê thực sự ‘mua’ tài sản và tài trợ nó thông qua hợp đồng thuê,” và trong sale and leaseback, điều này áp dụng ngược lại khi tài sản được “bán” để tài trợ. Điều này đặc biệt có lợi cho các công ty cần vốn gấp nhưng không muốn bán đứt tài sản hoặc không muốn gánh thêm nợ vay truyền thống. Hơn nữa, tùy thuộc vào quy định kế toán và thuế, giao dịch này có thể mang lại những lợi ích nhất định về mặt thuế (ví dụ: chi phí thuê được khấu trừ) hoặc giúp cải thiện các chỉ số tài chính trên bảng cân đối kế toán thông qua việc giảm bớt tài sản và nợ vay trực tiếp.
Tuy nhiên, Cho thuê tài chính giáp lưng cũng tiềm ẩn một số cân nhắc. Mặc dù công ty vẫn sử dụng tài sản, nhưng quyền sở hữu hợp pháp đã được chuyển giao cho bên cho thuê. Fabozzi và Modigliani (1992) lưu ý rằng trong Cho thuê tài chính, “bên thuê thực sự chịu mọi rủi ro và nhận mọi lợi ích của quyền sở hữu, mà không thực sự nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản,” điều này vẫn đúng trong Sale and Leaseback, đồng nghĩa với việc công ty mất đi quyền sở hữu trực tiếp và đối mặt với rủi ro mất quyền sử dụng tài sản quan trọng nếu vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, chi phí tổng thể của Cho thuê tài chính giáp lưng, bao gồm các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai, có thể cao hơn so với một số hình thức vay nợ truyền thống. Schilit (1993) cũng từng chỉ ra rằng “cho thuê vốn về cơ bản là một giao dịch mua tài sản trả góp được tài trợ,” và tương tự, trong Sale and Leaseback, nó là một giao dịch bán tài sản để tài trợ. Do đó, việc phân tích kỹ lưỡng chi phí, lợi ích, và tác động tài chính – kế toán là hết sức cần thiết để đảm bảo Cho thuê tài chính giáp lưng thực sự là giải pháp tài chính tối ưu cho công ty trong từng trường hợp cụ thể.
1.1.3.4. Cho thuê tài chính hợp vốn Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Cho thuê tài chính hợp vốn là một hình thức cấp tín dụng đặc biệt trong đó một nhóm các công ty Cho thuê tài chính (bao gồm từ hai công ty trở lên) cùng hợp tác để tài trợ cho một giao dịch cho thuê tài chính đối với một bên thuê. Trong cấu trúc này, một công ty Cho thuê tài chính sẽ đóng vai trò là tổ chức đầu mối, chịu trách nhiệm điều phối toàn bộ hoạt động của nhóm các công ty cho thuê. Hoạt động này được hướng dẫn cụ thể bởi Thông tư số 08/2006/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn hoạt động Cho thuê tài chính hợp vốn của các công ty Cho thuê tài chính.
Việc áp dụng hình thức cho thuê hợp vốn thường được thực hiện trong các trường hợp đặc biệt, được quy định tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Các tình huống điển hình bao gồm:
Nhu cầu tài chính vượt giới hạn của một công ty Cho thuê tài chính: Khi nhu cầu thuê tài chính của bên thuê vượt quá giới hạn cấp tín dụng của một công ty Cho thuê tài chính (ví dụ: vượt quá 25% vốn tự có của công ty đối với một khách hàng hoặc 50% vốn tự có đối với một nhóm khách hàng có liên quan).
- Hạn chế về khả năng tài chính và nguồn vốn: Nguồn vốn và tài sản của một công ty Cho thuê tài chính đơn lẻ không đủ để đáp ứng quy mô của nhu cầu cho thuê.
- Nhu cầu phân tán rủi ro: Các công ty Cho thuê tài chính muốn phân tán rủi ro tín dụng đối với một khách hàng hoặc dự án lớn.
- Bên thuê có nhu cầu đa dạng: Bên thuê mong muốn thuê tài chính từ nhiều công ty Cho thuê tài chính khác nhau vì các lý do chiến lược hoặc quan hệ.
Trong một giao dịch cho thuê hợp vốn, sự tự nguyện và thống nhất giữa các thành viên là yếu tố then chốt. Các công ty Cho thuê tài chính tham gia phải tự nguyện và cùng thống nhất về toàn bộ nội dung của khoản cho thuê hợp vốn, bao gồm các điều khoản, điều kiện, và việc lựa chọn tổ chức đầu mối cho thuê hợp vốn và tổ chức đầu mối thanh toán. Mọi giao dịch về Cho thuê tài chính giữa các thành viên tham gia, cũng như giữa toàn bộ nhóm bên cho thuê hợp vốn và bên thuê, đều phải được ghi nhận rõ ràng trong một hợp đồng cho thuê hợp vốn duy nhất. Điều này đảm bảo tính minh bạch và ràng buộc pháp lý cho toàn bộ giao dịch phức tạp này.
1.1.4. Phân biệt giữa hình thức cho thuê tài chính và tín dụng Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.1.4.1. Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể phân biệt cho thuê vận hành và Cho thuê tài chính qua sơ đồ sau. Tất cả mọi giao dịch tài sản thõa mãn một trong ba tiêu chuẩn này đều thuộc Cho thuê tài chính, còn lại là thuê vận hành.
- Hình 1.3: Mô hình phân biệt cho thuê vận hành và cho thuê tài chính
Bản chất kinh tế và sự chuyển giao rủi ro/lợi ích: Điểm khác biệt cốt lõi nhất giữa Cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động nằm ở bản chất kinh tế của giao dịch và mức độ chuyển giao rủi ro cùng lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản. Cho thuê tài chính về cơ bản là một hình thức cấp tín dụng hoặc tài trợ để sở hữu tài sản. Trong Cho thuê tài chính, gần như toàn bộ rủi ro (ví dụ: rủi ro lỗi thời, hư hỏng) và lợi ích (như lợi ích kinh tế, khấu hao) của việc sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên đi thuê. Điều này được nhấn mạnh trong định nghĩa của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IAS 17 (nay là IFRS 16), cho rằng Cho thuê tài chính là giao dịch mà gần như toàn bộ rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản được chuyển giao. Ngược lại, trong cho thuê hoạt động, rủi ro và lợi ích sở hữu vẫn thuộc về bên cho thuê; bên đi thuê chỉ đơn thuần sử dụng tài sản trong thời gian ngắn và không chịu các rủi ro dài hạn về tài sản.
Thời hạn hợp đồng và tính chất hoàn vốn: Sự khác biệt rõ rệt thứ hai nằm ở thời hạn và mục tiêu hoàn vốn của hợp đồng. Hợp đồng Cho thuê tài chính thường có thời hạn dài, kéo dài phần lớn vòng đời kinh tế hữu ích của tài sản, và tổng số tiền thuê trong suốt thời hạn hợp đồng được tính toán để bù đắp toàn bộ giá trị mua tài sản cùng với lãi suất và lợi nhuận cho bên cho thuê. Brigham và Houston (2020) đã chỉ ra rằng với một Cho thuê tài chính, bên thuê thực sự ‘mua’ tài sản và tài trợ nó thông qua hợp đồng thuê, với các khoản thanh toán phản ánh điều này. Thêm vào đó, hợp đồng Cho thuê tài chính mang tính chất không thể hủy ngang, ràng buộc bên đi thuê thanh toán đầy đủ. Trái lại, hợp đồng cho thuê hoạt động có thời hạn ngắn hơn đáng kể, không nhằm mục đích hoàn vốn toàn bộ giá trị tài sản thông qua các khoản thanh toán thuê, và thường có thể hủy ngang.
Quyền lựa chọn khi kết thúc hợp đồng: Khi hợp đồng kết thúc, quyền lợi của bên đi thuê đối với tài sản cũng là một điểm phân biệt quan trọng. Đối với Cho thuê tài chính, bên đi thuê thường có quyền lựa chọn mua lại tài sản với một mức giá danh nghĩa hoặc giá trị còn lại rất thấp, hoặc tiếp tục thuê với chi phí thấp hơn, điều này củng cố bản chất sở hữu của giao dịch. Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Việt Nam quy định rõ: Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê, tiếp tục thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê. Trong khi đó, với cho thuê hoạt động, bên đi thuê thường không có quyền mua lại tài sản với giá ưu đãi, và tài sản thường được trả lại cho bên cho thuê để tiếp tục khai thác hoặc thanh lý.
Ghi nhận kế toán trên Bảng cân đối kế toán: Sự khác biệt về ghi nhận kế toán là một yếu tố then chốt, đặc biệt trước khi IFRS 16 Leases có hiệu lực. Theo các chuẩn mực cũ (như IAS 17), đối với Cho thuê tài chính, bên đi thuê bắt buộc phải ghi nhận tài sản thuê (như một tài sản cố định của mình) và một khoản nợ phải trả tương ứng trên bảng cân đối kế toán. Schilit (1993) đã làm rõ điều này khi nhận định: Theo hợp đồng cho thuê vốn, bên thuê sẽ báo cáo cả tài sản và khoản nợ liên quan trên bảng cân đối kế toán của mình. Ngược lại, cho thuê hoạt động được ghi nhận là ngoài bảng cân đối kế toán, chỉ với chi phí thuê hàng kỳ được ghi nhận vào báo cáo kết quả kinh doanh. Mặc dù IFRS 16 đã thu hẹp khoảng cách này bằng cách yêu cầu hầu hết các hợp đồng thuê phải được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán của bên đi thuê, bản chất kinh tế và mục đích tài chính của hai hình thức vẫn là yếu tố phân biệt cốt lõi. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.1.4.2. Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và vay trung dài hạn tại các ngân hàng thương mại
Điểm giống nhau của hai phương thức này chính là thường tồn tại với các hợp đồng dài và kéo dài trên 1 năm. Ngoài ra, đáp ứng nhu cầu về vốn của công ty khi đầu tư vào tài sản cố định và lịch trả nợ gốc lãi thường định kỳ theo tháng. Sự khác nhau của hai phương thức này sẽ được trình bày theo các tiêu chí dưới bảng sau:
- Bảng 1.1: Phân biệt giữa cho thuê tài chính và vay trung dài hạn tại các ngân hàng thương mại
1.1.5. Các lợi ích của hoạt động cho thuê tài chính đối với những đối tượng trên thị trường kinh tế
1.1.5.1. Đối với đối tượng cho thuê tài chính
CTTC mang lại một mức độ an toàn tương đối cao cho bên cho thuê, biến đây thành một hình thức tài trợ vốn hấp dẫn. Do quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản được giữ bởi công ty Cho thuê tài chính trong suốt thời hạn hợp đồng, họ có khả năng kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc sử dụng tài sản của bên đi thuê. Điều này giúp bên cho thuê hạn chế rủi ro thất thoát vốn tài trợ và đảm bảo rằng khoản tài trợ được sử dụng đúng mục đích theo yêu cầu của bên thuê, từ đó nâng cao khả năng thu hồi vốn và khả năng trả nợ của đối tác. Horne (1986) đã nhấn mạnh rằng leasing là một phương pháp tài trợ mà trong đó người cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu, điều này mang lại lợi thế kiểm soát đáng kể.
Trong trường hợp bên đi thuê không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn, bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản, đồng thời có thể yêu cầu bên đi thuê bồi thường các thiệt hại phát sinh. Hơn nữa, một ưu điểm quan trọng khác là khi bên đi thuê gặp tình trạng phá sản, tài sản Cho thuê tài chính thường không bị liệt vào danh mục tài sản phải phát mãi để thanh toán cho các chủ nợ khác, cho phép bên cho thuê thu hồi lại tài sản một cách thuận lợi. Khả năng hoàn trả tiền thuê được đảm bảo bằng chính hiệu quả hoạt động và dòng tiền được tạo ra từ việc sử dụng tài sản thuê, phản ánh sự liên kết chặt chẽ giữa hiệu quả kinh doanh của bên thuê và nghĩa vụ trả nợ.
1.1.5.2. Đối với đối tượng đi thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
CTTC cung cấp một giải pháp tài chính linh hoạt, giúp công ty tránh được tình trạng bị động vốn đầu tư vào tài sản cố định. Bằng cách lựa chọn Cho thuê tài chính, công ty có thể dễ dàng đổi mới máy móc, thiết bị liên tục, theo kịp với tốc độ phát triển công nghệ không ngừng, từ đó nhanh chóng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Lợi ích này đặc biệt quan trọng đối với những thiết bị hiện đại có tốc độ lỗi thời cao, cho phép công ty thay thế các thiết bị lạc hậu một cách nhanh chóng và hiệu quả. Ngoài ra, hình thức bán và cho thuê lại (Sale and Leaseback) là một công cụ hiệu quả giúp công ty tái cấu trúc cơ cấu vốn, chuyển hóa một phần tài sản cố định thành tài sản lưu động một cách hiệu quả mà vẫn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường (Brealey, Myers, Allen, 2021).
CTTC giúp công ty gia tăng năng lực sản xuất ngay cả trong điều kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư. Trong quá trình kinh doanh, nhu cầu mở rộng công suất hoặc nâng cấp công nghệ có thể phát sinh bất cứ lúc nào, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn. Trong khi đó, các công ty, đặc biệt là công ty vừa và nhỏ, thường gặp khó khăn về nguồn vốn và thiếu tài sản thế chấp để vay theo các thể thức tín dụng thông thường. Cho thuê tài chính trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho những công ty không đáp ứng các yêu cầu vốn vay nghiêm ngặt của ngân hàng truyền thống. Do đặc thù của Cho thuê tài chính là bên cho thuê nắm giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và có khả năng kiểm soát việc sử dụng tài sản, các công ty Cho thuê tài chính có thể linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu đầu tư của khách hàng ngay cả khi vị thế tài chính hoặc uy tín của họ có những hạn chế nhất định.
1.1.5.3. Đối với thị trường kinh tế
CTTC đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và phân bổ vốn đầu tư cho nền kinh tế. Với quy trình cấp tín dụng tương đối linh hoạt và phạm vi tài trợ rộng rãi hơn so với các hình thức tín dụng khác, Cho thuê tài chính có thể khuyến khích các thành phần kinh tế, cá nhân và đặc biệt là các định chế tài chính đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu mở rộng phạm vi hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, Cho thuê tài chính còn giúp các quốc gia thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài thông qua việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị cho thuê, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế quốc dân. Hơn nữa, Cho thuê tài chính là một yếu tố then chốt góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, thiết bị và cải tiến khoa học kỹ thuật trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động này, các loại máy móc, thiết bị có trình độ công nghệ tiên tiến được đưa vào các công ty, góp phần nâng cao năng lực sản xuất ngay cả trong điều kiện hạn chế về vốn đầu tư. Ngay cả đối với các quốc gia có nền kinh tế phát triển cao, Cho thuê tài chính vẫn phát huy tác dụng trong việc cập nhật công nghệ hiện đại. Đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt trong bối cảnh bùng nổ công nghệ hiện nay, việc đầu tư và tiếp cận công nghệ tiên tiến một cách kịp thời là thách thức lớn. Nếu có những chính sách đúng đắn và đồng bộ, hoạt động Cho thuê tài chính có thể đáp ứng hiệu quả nhu cầu đổi mới công nghệ nhanh chóng, đóng vai trò xúc tác cho sự phát triển kinh tế (Brealey, Myers, Allen, 2021).
1.2 Lý luận về phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại tổ chức cho thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.2.1. Khái niệm về phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại tổ chức cho thuê tài chính
Ansoff (1965) cho rằng phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại một tổ chức cho thuê tài chính được hiểu là quá trình mở rộng về quy mô các khoản cho thuê được cấp, tăng trưởng về số lượng và chủng loại tài sản cho thuê, cũng như đa dạng hóa các phân khúc khách hàng và địa bàn hoạt động. Sự phát triển này thể hiện qua việc gia tăng thị phần, tổng giá trị tài sản cho thuê, và số lượng hợp đồng được ký kết, phản ánh khả năng của tổ chức trong việc đáp ứng nhu cầu tài trợ tài sản ngày càng cao của thị trường, phù hợp với các lý thuyết tăng trưởng công ty.
Jensen và Meckling (1976) cho rằng phát triển hoạt động Cho thuê tài chính không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô, mà còn bao gồm việc nâng cao hiệu quả và chất lượng của các nghiệp vụ cho thuê. Điều này liên quan đến việc tối ưu hóa quy trình thẩm định và cấp cho thuê, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, quản lý rủi ro tín dụng và rủi ro tài sản một cách chặt chẽ, cũng như gia tăng tỷ suất lợi nhuận trên mỗi khoản cho thuê. Mục tiêu là đạt được sự tăng trưởng bền vững dựa trên nền tảng quản trị vững chắc và hiệu quả tài chính vượt trội, tương tự như các nguyên tắc quản trị hiệu quả.
Porter và Kramer (2006) cho rằng phát triển hoạt động Cho thuê tài chính trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi các tổ chức cho thuê tài chính phải liên tục thích ứng và tích hợp công nghệ mới (Fintech, AI, Big Data) vào quy trình hoạt động, từ thẩm định tự động đến quản lý hợp đồng thông minh. Hơn nữa, sự phát triển còn bao hàm việc xây dựng các chiến lược bền vững, bao gồm tài trợ các dự án xanh, tăng cường trách nhiệm xã hội công ty, và đảm bảo tuân thủ các quy định quốc tế.
Tóm lại, phát triển hoạt động Cho thuê tài chính là một quá trình toàn diện, kết hợp giữa mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả và chất lượng, cùng với sự thích ứng công nghệ và hướng tới bền vững, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và tạo ra giá trị lâu dài cho tổ chức và xã hội.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính tại tổ chức cho thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính là việc các công ty Cho thuê tài chính mở rộng quy mô hoạt động của mình nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thông qua nâng cao dư nợ cho thuê, đồng thời giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh. Để đánh giá sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính ta có những chỉ tiêu cụ thể sau :
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu liên quan đến quy mô và tốc độ tăng trưởng
- Tăng trưởng dư nợ cho thuê tài chính
Chỉ tiêu này đại diện cho tổng giá trị còn lại của các khoản cho thuê tài chính mà công ty đang quản lý tại một thời điểm nhất định. Sự tăng trưởng của tổng dư nợ cho thấy khả năng của tổ chức trong việc mở rộng hoạt động tài trợ tài sản, đáp ứng nhu cầu đầu tư của công ty. Nó phản ánh quy mô tài sản mà công ty đã tài trợ và đang chờ thu hồi, là thước đo trực tiếp về quy mô hoạt động Cho thuê tài chính của tổ chức. Dư nợ càng lớn, quy mô hoạt động càng rộng. Brigham và Houston (2020) thường sử dụng tổng tài sản hoặc tổng dư nợ cho vay/tài trợ như một thước đo chính về quy mô hoạt động của một tổ chức tài chính. Tổng dư nợ này được đo lường để phản ánh mức độ phát triển thông qua tốc độ tăng trưởng:
Nếu tốc độ tăng trưởng này lớn hơn 0 có nghĩa là tại các năm tiếp theo thì dư nợ Cho thuê tài chính luôn được gia tăng, đây là tín hiệu tốt cho thấy hoạt động Cho thuê tài chính đang được duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lớn hơn 0 tại các năm sau nhưng lại có giá trị giảm thì mức tăng trưởng này vẫn chưa đồng đều.
Ngoài ra, để phản ánh cho chỉ tiêu dư nợ Cho thuê tài chính thì số lượng hợp đồn được kí cũng cần được xem xét. Đây là chỉ tiêu định lượng về số lượng các hợp đồng Cho thuê tài chính đã được ký kết và giải ngân trong một kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh quy mô khách hàng mà còn gián tiếp cho thấy khả năng đa dạng hóa sản phẩm và khả năng tiếp cận các phân khúc khách hàng khác nhau (ví dụ: nhiều hợp đồng nhỏ lẻ với công ty vừa và nhỏ). Sự gia tăng về số lượng hợp đồng cho thấy sự tăng trưởng về mặt chiều rộng của hoạt động.
Nếu tốc độ tăng trưởng này lớn hơn 0 có nghĩa là tại các năm tiếp theo thì số lượng hợp đồng Cho thuê tài chính luôn được gia tăng, đây là tín hiệu tốt cho thấy hoạt động Cho thuê tài chính đang được duy trì tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lớn hơn 0 tại các năm sau nhưng lại có giá trị giảm thì mức tăng trưởng này vẫn chưa đồng đều.
- Tăng trưởng theo cơ cấu tài sản cho thuê Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Chỉ tiêu này phân tích tỷ trọng giá trị của từng loại tài sản cụ thể (ví dụ: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, dây chuyền sản xuất, bất động sản) trong tổng dư nợ cho thuê tài chính của tổ chức. Việc phân tích cơ cấu tài sản cho thuê giúp đánh giá mức độ đa dạng hóa danh mục tài sản, khả năng đáp ứng các nhu cầu khác nhau của thị trường, và mức độ tập trung rủi ro vào một loại tài sản cụ thể. Một cơ cấu đa dạng và linh hoạt thường phản ánh khả năng phát triển bền vững hơn, phù hợp với nguyên tắc đa dạng hóa danh mục đầu tư trong quản lý rủi ro tài chính (Markowitz, 1952). Trong đó, cơ cấu tài sản cho thuê thường chia thành các nhóm đó là theo thành phần kinh tế, theo tài sản và ngành nghề.
Với giá trị tỷ trọng cơ cấu tài sản Cho thuê tài chính này cho thấy mức độ tập trung hay ưu tiên vào nhóm tài sản nào của công ty Cho thuê tài chính. Đây cũng được xem là tiêu chí cho thấy chiến lược được định hướng và xây dựng của công ty Cho thuê tài chính nhằm tận dựng được lợi thế hay nguồn lực. Đặc biệt, loại tài sản nào có dư nợ Cho thuê tài chính cao cho thấy mức độ tập trung của công ty nhằm đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế hay của khách hàng. Ngoài ra, để đo lường về sự tăng trưởng thì xét tốc độ như sau:
1.2.2.2. Nhóm chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả kinh doanh
- Tăng trưởng doanh thu từ hoạt động Cho thuê tài chính
Doanh thu từ hoạt động Cho thuê tài chính là tổng giá trị các khoản tiền mà một tổ chức Cho thuê tài chính thu được từ khách hàng thông qua các hợp đồng Cho thuê tài chính trong một kỳ kế toán nhất định. Chỉ tiêu này là biểu hiện trực tiếp và rõ ràng nhất về quy mô hoạt động của tổ chức. Khi doanh thu tăng trưởng ổn định hoặc có sự bứt phá, điều này thường phản ánh khả năng mở rộng thị trường, thu hút được nhiều công ty có nhu cầu thuê tài sản, hoặc gia tăng giá trị trung bình của các hợp đồng đã ký kết. Đây là dấu hiệu của một hoạt động kinh doanh đang phát triển tích cực, cho thấy tổ chức đang gia tăng sự hiện diện và ảnh hưởng của mình trên thị trường Cho thuê tài chính. Tuy nhiên, việc chỉ nhìn vào doanh thu có thể chưa đủ để đánh giá toàn diện. Mặc dù doanh thu cao cho thấy sự mở rộng về mặt quy mô, nó không nhất thiết đồng nghĩa với hiệu quả sinh lời cao. Một tổ chức có thể đạt doanh thu lớn nhưng nếu chi phí hoạt động, chi phí huy động vốn, hoặc chi phí quản lý quá cao, lợi nhuận cuối cùng vẫn có thể thấp hoặc thậm chí thua lỗ. Do đó, doanh thu cần được xem xét trong mối tương quan với các chỉ tiêu chi phí và lợi nhuận để có cái nhìn chính xác về hiệu quả tổng thể của hoạt động Cho thuê tài chính. Việc phân tích cơ cấu doanh thu theo loại tài sản, ngành nghề khách hàng cũng giúp đánh giá mức độ đa dạng và rủi ro của danh mục Cho thuê tài chính. Về mặt công thức, doanh thu từ hoạt động Cho thuê tài chính bao gồm cả phần thu hồi gốc của tài sản Cho thuê tài chính và lãi Cho thuê tài chính (là phần lãi suất mà tổ chức thu được từ việc cấp tín dụng cho khách hàng). Ngoài ra, một số khoản phí khác như phí quản lý hợp đồng, phí phạt quá hạn (nếu có và được quy định là doanh thu) cũng có thể được tính vào.
- 𝑫𝒐𝒂𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖 𝑪𝑻𝑻𝑪 = 𝑮ố𝒄 𝑪𝑻𝑻𝑪 𝒕𝒉𝒖 𝒉ồ𝒊 đị𝒏𝒉 𝒌ỳ + 𝑳ã𝒊 𝑪𝑻𝑻𝑪 𝒑𝒉á𝒕 𝒔𝒊𝒏𝒉 + 𝑪á𝒄 𝒌𝒉𝒐ả𝒏 𝒑𝒉í 𝒍𝒊ê𝒏 𝒒𝒖𝒂𝒏
Mặt khác cần phải phân tích xem mức độ tăng trưởng về doanh thu để đánh giá sự phát triển của hoạt động này. Trong đó:
- Tăng trưởng lợi nhuận trước và sau thuế từ hoạt động Cho thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Lợi nhuận trước/sau thuế từ hoạt động Cho thuê tài chính là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời thực sự của mảng kinh doanh này, là thước đo quan trọng nhất về hiệu quả tài chính. Trong khi doanh thu cho biết tổ chức kiếm được bao nhiêu tiền, lợi nhuận lại cho thấy tổ chức giữ lại được bao nhiêu sau khi đã trang trải tất cả các chi phí. Lợi nhuận dương và có xu hướng tăng trưởng cho thấy tổ chức không chỉ mở rộng được quy mô hoạt động mà còn tối ưu hóa được chi phí, quản lý rủi ro hiệu quả và có khả năng tạo ra giá trị gia tăng. Đây là yếu tố then chốt để tổ chức có thể tái đầu tư, phát triển bền vững và mang lại lợi ích cho chủ sở hữu. Phân tích lợi nhuận cần đi sâu vào các yếu tố cấu thành. Lợi nhuận gộp từ hoạt động Cho thuê tài chính được tính bằng cách lấy doanh thu trừ đi giá vốn Cho thuê tài chính (bao gồm chi phí khấu hao tài sản Cho thuê tài chính, chi phí lãi vay để mua tài sản đó). Sau đó, để có lợi nhuận trước thuế, cần trừ thêm các chi phí hoạt động khác như chi phí bán hàng, chi phí quản lý công ty, và đặc biệt là chi phí trích lập dự phòng rủi ro (một yếu tố quan trọng đối với các tổ chức tài chính). Lợi nhuận sau thuế là phần còn lại sau khi trừ đi thuế thu nhập công ty, đây là con số thực tế mà tổ chức giữ lại được.
- Lợi nhuận trước thuế hoạt động Cho thuê tài chính = Doanh thu Cho thuê tài chính – Chi phí hoạt động – Chi phí khác – Chi phí trích lập DPRR
- Lợi nhuận sau thuế hoạt động Cho thuê tài chính = Lợi nhuận trước thuế hoạt động Cho thuê tài chính (1 – thuế suất TNDN)
Một tổ chức Cho thuê tài chính có lợi nhuận ổn định và tăng trưởng sẽ có khả năng tự chủ về tài chính cao hơn, ít phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài, và có thể đầu tư vào công nghệ, nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, sự phát triển của Cho thuê tài chính cần xem xét thông qua tốc độ tăng trưởng của các tiêu chí này:
- Tỷ lệ nợ xấu Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) là một chỉ tiêu tài chính cực kỳ quan trọng, đo lường tỷ lệ các khoản nợ cho thuê tài chính không có khả năng thu hồi (hoặc đã quá hạn thanh toán theo quy định) trên tổng dư nợ cho thuê. Đây là thước đo trực tiếp về chất lượng danh mục tài sản và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng của một tổ chức cho thuê tài chính. Một tỷ lệ NPL thấp là minh chứng rõ ràng cho khả năng thẩm định khách hàng chặt chẽ, chính sách cho thuê hợp lý và quy trình thu hồi nợ hiệu quả, giúp bảo vệ tài sản của tổ chức. Ngược lại, một tỷ lệ NPL cao hoặc có xu hướng gia tăng là dấu hiệu cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn. Nợ xấu không chỉ làm giảm trực tiếp doanh thu và lợi nhuận do không thu hồi được các khoản phải thu, mà còn đòi hỏi tổ chức phải trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, làm gia tăng chi phí và bào mòn vốn. Trong những trường hợp nghiêm trọng, NPL cao có thể dẫn đến nguy cơ mất an toàn vốn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và khả năng hoạt động liên tục của tổ chức. Do đó, việc kiểm soát và duy trì NPL ở mức thấp là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo sức khỏe tài chính và sự phát triển bền vững. Công thức tính tỷ lệ NPL thường được xác định bằng cách lấy tổng dư nợ cho thuê tài chính xấu (thường là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 theo phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước hoặc cơ quan quản lý tương đương) chia cho tổng dư nợ cho thuê tài chính tại cùng một thời điểm:
Việc phân loại nợ xấu và quy định về trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện theo các văn bản pháp lý chuyên ngành. Tại Việt Nam, Thông tư 11/2022/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (hoặc các văn bản sửa đổi, thay thế) quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là nguồn tham khảo chính yếu cho chỉ tiêu này.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động cho thuê tài chính Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) của các tổ chức chuyên biệt chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố đa dạng, bao gồm cả các yếu tố vĩ mô tác động từ bên ngoài nền kinh tế, các yếu tố nội tại của chính công ty Cho thuê tài chính, và các yếu tố khác liên quan đến môi trường kinh doanh trực tiếp. Việc phân tích kỹ lưỡng những yếu tố này là vô cùng cần thiết để các công ty Cho thuê tài chính có thể xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.
1.3.1. Các yếu tố vĩ mô
1.3.1.1. Sự phát triển kinh tế
Sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô được thể hiện thông qua các chỉ số quan trọng như Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất huy động, và tỷ lệ thất nghiệp. Những biến động của các chỉ số này tạo nên bức tranh tổng thể về sức khỏe nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các công ty Cho thuê tài chính. Chẳng hạn, khi GDP tăng trưởng ổn định, nhu cầu đầu tư và mở rộng sản xuất của công ty thường tăng lên, từ đó thúc đẩy nhu cầu về Cho thuê tài chính để tài trợ mua sắm máy móc thiết bị mới. Ngược lại, lạm phát cao có thể làm tăng chi phí vốn của các công ty Cho thuê tài chính, đồng thời giảm sức mua và khả năng trả nợ của khách hàng (World Bank, 2025). Do đó, việc theo dõi và dự báo chính xác xu hướng của các yếu tố kinh tế vĩ mô là tối quan trọng, giúp các công ty Cho thuê tài chính chủ động xây dựng các kịch bản kinh doanh và chiến lược quản lý rủi ro nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực.
1.3.1.2. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Ngành Cho thuê tài chính đặc thù ở chỗ kinh doanh chủ yếu dựa trên việc cho thuê động sản, đặc biệt là máy móc, thiết bị, và phương tiện vận tải. Do đó, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường Cho thuê tài chính. Khi một quốc gia chú trọng vào việc ứng dụng công nghệ tiên tiến và liên tục đổi mới trong sản xuất, sẽ tạo ra nhu cầu lớn về các loại tài sản hiện đại, cần được nâng cấp hoặc thay thế thường xuyên. Các công ty sẽ có xu hướng sử dụng Cho thuê tài chính để tiếp cận công nghệ mới mà không cần phải bỏ ra một khoản đầu tư ban đầu lớn, đồng thời giảm thiểu rủi ro lạc hậu về công nghệ (Ernst và Young, 2024). Môi trường kinh tế với tốc độ đổi mới công nghệ cao chính là mảnh đất màu mỡ cho hoạt động Cho thuê tài chính phát triển bền vững và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ.
1.3.1.3. Hệ thống pháp lý Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Hành lang pháp lý là tổng hòa các văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm luật, nghị định, thông tư, và các quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý khác, nhằm điều chỉnh và quản lý hoạt động Cho thuê tài chính. Đây là nền tảng pháp lý để các công ty Cho thuê tài chính hoạt động đúng khuôn khổ, đồng thời là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa công ty và khách hàng, hoặc giữa các công ty Cho thuê tài chính và các bên liên quan khác. Bất kỳ sự thay đổi nào trong hệ thống pháp lý đều có thể tạo ra những tác động sâu rộng đến hoạt động của các công ty Cho thuê tài chính. Chẳng hạn, việc sửa đổi các quy định về giới hạn cấp tín dụng, phân loại nợ, hoặc chính sách thuế đối với hoạt động Cho thuê tài chính có thể thay đổi đáng kể môi trường kinh doanh và chiến lược hoạt động của các công ty (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025b). Do đó, việc nắm bắt và thích nghi với những thay đổi trong hệ thống pháp lý là yếu tố sống còn đối với sự ổn định và phát triển của ngành Cho thuê tài chính.
1.3.2. Các yếu tố nội tại
1.3.2.1. Khả năng tài trợ
Khả năng tài trợ là một yếu tố trọng yếu ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tiềm lực hoạt động của công ty Cho thuê tài chính. Khả năng này thể hiện qua việc công ty có thể huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để cấp Cho thuê tài chính cho khách hàng. Các yếu tố như vốn tự có, khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay từ ngân hàng, và khả năng phát hành công cụ nợ trên thị trường đều quyết định hạn mức và tỷ lệ tài trợ mà công ty có thể cung cấp. Đặc biệt, các quy định pháp luật hiện hành thường giới hạn tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng dựa trên tỷ lệ vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Điều này nhấn mạnh rằng, một công ty Cho thuê tài chính có nguồn vốn tự có càng lớn thì càng có tiềm năng để mở rộng quy mô kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tài trợ đa dạng của thị trường (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2025a). Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.3.2.2. Lãi suất
Lãi suất là giá cả của tín dụng, phản ánh chi phí của việc sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hoạt động Cho thuê tài chính, mức lãi suất cho thuê được công ty quy định là yếu tố then chốt để thu hút và duy trì khách hàng. Lãi suất này không chỉ dựa trên chi phí huy động vốn của công ty mà còn phải cạnh tranh với các hình thức tài trợ khác trên thị trường. Một mức lãi suất hấp dẫn, phù hợp với điều kiện thị trường và khả năng chi trả của khách hàng, sẽ giúp công ty Cho thuê tài chính tăng cường lợi thế cạnh tranh và thu hút nhiều hợp đồng hơn. Ngược lại, lãi suất quá cao có thể khiến khách hàng tìm đến các giải pháp tài chính thay thế (Mishkin, 2021). Do đó, việc hoạch định chính sách lãi suất linh hoạt và cạnh tranh là nhiệm vụ chiến lược của các công ty Cho thuê tài chính.
1.3.2.3. Nhân viên
Nguồn nhân lực là tài sản quý giá và là yếu tố sống còn của bất kỳ công ty nào, bao gồm cả các công ty Cho thuê tài chính. Số lượng và chất lượng của đội ngũ nhân viên, đặc biệt là cán bộ tín dụng, sẽ quyết định phần lớn sự thành công của công ty. Một đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, đạo đức nghề nghiệp tốt, am hiểu sâu rộng về kinh tế – xã hội, pháp luật, và có khả năng ngoại ngữ, sẽ nâng cao hiệu quả trong việc thẩm định hồ sơ, quản lý rủi ro và chăm sóc khách hàng. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động Cho thuê tài chính nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung, góp phần vào sự phát triển ổn định và bền vững của công ty. Sự biến động về nhân sự chủ chốt hoặc thiếu hụt nhân lực chất lượng cao có thể khiến công ty rơi vào thế bị động trong kinh doanh. Vì vậy, các công ty Cho thuê tài chính cần chú trọng đầu tư vào công tác đào tạo, phát triển và giữ chân nhân tài để đảm bảo sự kế thừa và duy trì năng lực cạnh tranh (Armstrong và Taylor, 2021).
1.3.2.4. Quy trình cho thuê
Quy trình Cho thuê tài chính là chuỗi các bước, trình tự, và công việc cần thực hiện theo một thủ tục nhất định trong hoạt động cấp tín dụng cho thuê, bắt đầu từ việc tiếp nhận và xem xét hồ sơ yêu cầu của khách hàng cho đến khi kết thúc hợp đồng và thu hồi đầy đủ nợ. Hiệu quả của hoạt động Cho thuê tài chính phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựng một quy trình tín dụng khoa học, logic, và đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận liên quan. Một quy trình rõ ràng, minh bạch và hiệu quả không chỉ giúp tối ưu hóa thời gian xử lý, giảm thiểu sai sót, mà còn đảm bảo an toàn tín dụng bằng cách kiểm soát chặt chẽ các rủi ro ở từng giai đoạn. Việc tuân thủ và thường xuyên cải tiến quy trình là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí vận hành và tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty (Crouhy và cộng sự, 2015).
1.3.2.5. Hoạt động tiếp thị
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, hoạt động tiếp thị (marketing) đã trở thành một phần không thể thiếu đối với các công ty Cho thuê tài chính. Hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và quảng bá hình ảnh thương hiệu, giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ Cho thuê tài chính đến với đối tượng khách hàng mục tiêu. Thông qua các kênh tiếp thị đa dạng như sự kiện quảng bá tài sản (ví dụ: ô tô, máy móc), chương trình hỗ trợ vốn dài hạn (leaseback) bằng thư chào mời trực tiếp đến các công ty sản xuất, các công ty Cho thuê tài chính có thể gia tăng mức độ nhận diện và tiếp cận với khách hàng tiềm năng. Một chiến lược tiếp thị hiệu quả sẽ giúp khách hàng hiểu rõ hơn về lợi ích của Cho thuê tài chính, từ đó khuyến khích họ lựa chọn và sử dụng dịch vụ, góp phần trực tiếp vào sự tăng trưởng doanh số và lợi nhuận của công ty (Kotler và Keller, 2017).
1.3.3. Các yếu tố khác Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.3.3.1. Khách hàng
Khách hàng là yếu tố trung tâm và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty Cho thuê tài chính. Khách hàng chính là nhân tố trực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận, quyết định sự “sống còn” của công ty thông qua sự lựa chọn sản phẩm và khả năng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, việc xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng là vô cùng quan trọng. Các cán bộ tín dụng cần xem xét và đánh giá kỹ lưỡng khách hàng dựa trên nhiều tiêu chí như năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty (tránh trường hợp hoạt động kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ và không trả được nợ), mục đích sử dụng vốn (tránh sử dụng sai mục đích), điều kiện tài chính để thuê tài chính (đảm bảo khách hàng đủ năng lực đáp ứng dù nhu cầu vốn cao), và đặc biệt là tư cách đạo đức của người đi vay (tránh trường hợp không muốn trả nợ hoặc trốn nợ) (Fabozzi và Modigliani, 2022). Việc xây dựng chính sách khách hàng hiệu quả, không chỉ hướng tới khách hàng hiện tại mà còn cả khách hàng tiềm năng, là chìa khóa để tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro tín dụng.
1.3.3.2. Nhà cung ứng
Trong Cho thuê tài chính, tài sản Cho thuê tài chính là công cụ cốt lõi để các công ty Cho thuê tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Tài sản cho thuê rất đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, từ máy móc công nghiệp đến phương tiện vận tải. Do đó, các nhà cung ứng tài sản đóng vai trò khá quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của công ty Cho thuê tài chính. Đầu ra của các nhà cung ứng chính là đầu vào của các công ty Cho thuê tài chính. Một mối quan hệ tốt đẹp, bền vững với các nhà cung ứng sẽ là công cụ đắc lực giúp các công ty Cho thuê tài chính mở rộng tệp khách hàng và địa bàn hoạt động, bởi lẽ việc có thể cung cấp đa dạng các loại tài sản chất lượng cao theo nhu cầu của khách hàng sẽ tăng tính cạnh tranh. Hơn nữa, do bên thuê thường là người lựa chọn và quyết định về chủng loại, giá cả, và các chi phí liên quan đến tài sản, việc đa dạng hóa mối quan hệ với các nhà cung ứng sẽ giúp hạn chế rủi ro về chất lượng hàng hóa không đúng yêu cầu, từ đó giảm thiểu thiệt hại cho cả bên thuê và bên Cho thuê tài chính (Brealey và cộng sự, 2021).
1.3.3.3. Ngân hàng thương mại và các công ty cho thuê tài chính khác
Ngân hàng thương mại và các công ty Cho thuê tài chính khác là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong thị trường tín dụng nói chung và Cho thuê tài chính nói riêng. Sự cạnh tranh gay gắt được thể hiện qua nhiều yếu tố như sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ, hiệu quả của hệ thống phân phối, chiến lược marketing, mức giá thành sản phẩm (lãi suất và phí), tiềm lực tài chính, và chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, hoạt động tín dụng nói chung đang đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt do sự xuất hiện của hàng loạt ngân hàng với nhiều sản phẩm dịch vụ ngày càng phong phú và đa dạng. Cùng với đó, các công ty Cho thuê tài chính khác cũng không ngừng hoàn thiện cả về quy mô và chất lượng dịch vụ, tạo áp lực lớn lên các công ty Cho thuê tài chính hiện có. Để duy trì và phát triển, các công ty Cho thuê tài chính cần liên tục đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút và giữ chân khách hàng trong môi trường đầy thách thức này (Mishkin, 2021). Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
1.4. Sự phát triển của hoạt động cho thuê tài chính tại các nước phát triển và bài học kinh nghiệm cho các công ty cho thuê tài chính Việt Nam
1.4.1. Phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại các nước phát triển
Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) đã khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới. Sự thành công của Cho thuê tài chính ở các thị trường phát triển cung cấp những bài học quý giá cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Thị trường cho thuê toàn cầu được định giá khoảng 1.764,9 tỷ USD vào năm 2025 và dự kiến tăng trưởng với tốc độ CAGR 9,7% đến năm 2031, cho thấy tiềm năng phát triển bền vững của ngành (ReAnIn, 2026).
1.4.1.1. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là nơi khởi nguồn của Cho thuê tài chính với các hình thức hiện đại và tiếp tục là một thị trường sôi động bậc nhất. Ngành tài chính thiết bị ở Mỹ đã mở rộng lên ước tính 1,34 nghìn tỷ USD vào năm 2024, đạt mức cao nhất mọi thời đại. Đáng chú ý, khoảng 82% công ty cuối cùng (end-users) đã sử dụng ít nhất một hình thức tài trợ (bao gồm thuê, vay có bảo đảm hoặc hạn mức tín dụng) để mua sắm thiết bị và phần mềm (Equipment Leasing và Finance Foundation, 2025).
Trong năm 2024, leasing là phương thức thanh toán quan trọng nhất được các công ty sử dụng để mua sắm thiết bị và phần mềm, chiếm 26% tổng số thương vụ mua sắm. Điều này thể hiện vai trò không thể thiếu của Cho thuê tài chính trong việc hỗ trợ đầu tư vốn của công ty. Mặc dù khối lượng kinh doanh mới của ngành tài chính thiết bị Mỹ đã tăng 6,3% vào năm 2023, giảm nhẹ so với mức tăng trưởng 7,4% năm 2022, nhưng vẫn cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ sau tác động của đại dịch. Chi phí huy động vốn là một thách thức đáng kể, với mức tăng 211 điểm cơ bản từ năm 2022 đến 2023 do các đợt tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang (World Leasing Yearbook, 2024). Các công ty Cho thuê tài chính tại Hoa Kỳ tiếp tục cung cấp giải pháp tài trợ linh hoạt, cho phép khách hàng không cần phải trả trước và hưởng các ưu đãi thuế, tạo động lực mạnh mẽ cho việc sử dụng hình thức tài trợ này (Equipment Leasing và Finance Foundation, 2025).
1.4.1.2. Trung Quốc Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Hoạt động Cho thuê tài chính tại Trung Quốc tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Theo một báo cáo tổng hợp, thu nhập từ cho thuê tài chính của một tập đoàn lớn tại Trung Quốc chiếm 38% tổng thu nhập hoạt động vào năm 2025. Mặc dù tỷ lệ này giảm nhẹ so với năm trước, nhưng tổng tài sản cho thuê tài chính vẫn tăng trưởng, đạt 49,8% tổng tài sản vào cuối năm 2025. Điều này cho thấy sự mở rộng liên tục về quy mô hoạt động của các công ty Cho thuê tài chính (China Development Bank Financial Leasing, 2026).
Ngành Cho thuê tài chính Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục đà tăng trưởng từ năm 2023 đến 2026, mặc dù với tốc độ chậm hơn, khoảng 5,6% so với mức trung bình 13% giai đoạn 2008-2022 (Lin và Shi, 2024). Chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ ngành này thông qua việc hoàn thiện hành lang pháp lý và khuyến khích đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên như năng lượng sạch và lưu trữ năng lượng. Ví dụ, một trong những công ty Cho thuê tài chính lớn của Trung Quốc đã tăng 4% đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh này vào năm 2023, nhằm đóng góp vào mục tiêu “carbon kép” của Trung Quốc (CDB Leasing, 2025).
1.4.1.3. Hàn Quốc
Hoạt động Cho thuê tài chính tại Hàn Quốc đã trải qua những biến động đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt trong bối cảnh thay đổi cơ cấu thị trường cho thuê nhà ở. Mặc dù các dữ liệu cụ thể về quy mô thị trường Cho thuê tài chính tổng thể chưa được cập nhật rộng rãi cho giai đoạn 2022-2025, các báo cáo kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế Hàn Quốc đã phục hồi từ sự chậm lại vào năm 2024, với tăng trưởng GDP thực tế ước đạt 2,2% vào năm 2025, chủ yếu nhờ xuất khẩu mạnh mẽ (IMF, 2026). Tuy nhiên, thị trường tài sản thuê có dấu hiệu bị ảnh hưởng bởi chính sách lãi suất thắt chặt. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã tăng lên 3,5% vào tháng 1 năm 2024 và duy trì mức này. Điều này đã tác động đến thị trường bất động sản thương mại, với khối lượng đầu tư giảm mạnh 48% vào năm 2024 so với mức kỷ lục năm 2022 (Savills, 2025). Sự chuyển đổi trong cơ cấu cho thuê, đặc biệt là từ hệ thống “Jeonse” sang thuê hàng tháng trong lĩnh vực nhà ở, cùng với nhu cầu ngày càng tăng từ các hộ gia đình nhỏ, cũng đang định hình lại thị trường cho thuê nói chung tại Hàn Quốc. Xu hướng thuê tài chính xanh (green leasing) cho thiết bị tiết kiệm năng lượng và xe điện cũng đang gia tăng, đồng thời các thay đổi trong chuẩn mực kế toán thuê như IFRS 16 và ASC 842 tiếp tục tác động đến cách thức công ty tiếp cận các thỏa thuận cho thuê.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
Thông qua phân tích sự phát triển của Cho thuê tài chính ở một số quốc gia phát triển, đặc biệt là các nền kinh tế châu Á, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng cho sự phát triển của hoạt động Cho thuê tài chính tại Việt Nam:
Phát triển bền vững gắn với nền kinh tế và quản trị rủi ro chặt chẽ: Sự tăng trưởng của hoạt động Cho thuê tài chính cần phải phù hợp và đồng bộ với sự phát triển chung của nền kinh tế. Các công ty Cho thuê tài chính cần thiết lập các mục tiêu tăng trưởng hợp lý, tránh tình trạng “phát triển nóng” có thể dẫn đến rủi ro gia tăng nợ xấu và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng danh mục cho thuê. Bài học từ Hàn Quốc cho thấy sự cần thiết của quản trị rủi ro chặt chẽ, đặc biệt là trong bối cảnh lãi suất và điều kiện kinh tế vĩ mô biến động (Mishkin, 2021).
Vai trò định hướng và hỗ trợ của Nhà nước: Nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và hỗ trợ sự phát triển của các công ty Cho thuê tài chính. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý để tạo môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và hỗ trợ sự chuyển đổi sang các hình thức cho thuê mới (ví dụ như cho thuê xanh). Các chính sách ưu đãi về thuế và phí có thể khuyến khích công ty sử dụng Cho thuê tài chính. Để đảm bảo an toàn và hiệu quả, Nhà nước cũng nên đa dạng hóa các hình thức cho thuê và có thể cân nhắc quy định danh mục tài sản cho thuê để định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, như kinh nghiệm của Trung Quốc (State Council of China, 2016).
Thúc đẩy sự tham gia của tổ chức tài chính nước ngoài và đa dạng hóa nguồn vốn: Việt Nam cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để các tổ chức tài chính nước ngoài tham gia thị trường Cho thuê tài chính thông qua các hình thức liên doanh, góp vốn hoặc mua cổ phần. Sự tham gia của các đối tác nước ngoài không chỉ mang lại nguồn vốn dồi dào mà còn chuyển giao kinh nghiệm quản trị, công nghệ và các sản phẩm Cho thuê tài chính đa dạng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và chuẩn mực hoạt động của ngành Cho thuê tài chính Việt Nam (Euromonitor International, 2024).
Nâng cao vai trò của nhà cung ứng và ứng dụng công nghệ: Mối quan hệ với nhà cung ứng tài sản đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc mở rộng khách hàng và địa bàn hoạt động của các công ty Cho thuê tài chính. Nhà cung cấp không chỉ là nơi cung cấp tài sản mà còn là nguồn thông tin quý giá về công nghệ, kỹ thuật, và giá cả thị trường, giúp hỗ trợ cả bên thuê và bên cho thuê trong việc lựa chọn sản phẩm tối ưu. Hơn nữa, việc ứng dụng công nghệ, bao gồm cả AI, trong các quy trình của công ty Cho thuê tài chính có thể tối ưu hóa hoạt động, nâng cao hiệu quả và cải thiện trải nghiệm khách hàng (Equipment Leasing và Finance Foundation, 2025).
- TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã tiến hành hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng liên quan đến Cho thuê tài chính, phát triển hoạt động Cho thuê tài chính, các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động này tại các công ty Cho thuê tài chính. Ngoài ra, chương 1 đã tổng hợp các bài học kinh nghiệm về phát triển hoạt động Cho thuê tài chính tại các quốc gia khác, từ đó rút ra bài học cho các công ty Cho thuê tài chính tại Việt Nam. Luận văn: Phát triển cho thuê tài chính tại công ty tài chính.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính

Pingback: Luận văn: Giải pháp cho thuê tài chính tại công ty tài chính