Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 THỰC TRẠNG THÙ LAO HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017 – 2024
4.1.1 Thực trạng thù lao hội đồng quản trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
4.1.1.1 Thù lao của các ngân hàng thương mại
Mức thù lao Ngân hàng thương mại chi trả cho Hội đồng quản trị bao gồm tiền lương, thưởng, phúc lợi được thể hiện bằng giá trị cụ thể. Đây được xem là thu nhập Hội đồng quản trị nhận được trong công tác điều hành ngân hàng ở mỗi chu kỳ kinh tế. Bảng 4.1 thể hiện tình hình thù lao của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024.
- Bảng 4.1: Thù lao theo năm của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
Theo kết quả thể hiện, nhìn chung mức thù lao các Ngân hàng thương mại Việt Nam chi trả cho Hội đồng quản trị có sự gia tăng trong giai đoạn 2017 – 2024. Thù lao Hội đồng quản trị trung bình ở 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam ở năm 2017 là 12.023,28 triệu đồng với độ lệch chuẩn là 16.034,53 triệu đồng; năm 2018 thù lao Hội đồng quản trị là 10.435,56 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 7.604,07 triệu đồng; năm 2019 thù lao trung bình là 12.832,65 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 8.905,32 triệu đồng; năm 2020 thù lao Hội đồng quản trị là 13.280,97 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 8.941,98 triệu đồng; năm 2021 giá trị này là 14.867,04 triệu đồng với độ lệch chuẩn 9.356,12 triệu đồng; năm 2022 thù lao trung bình là 17.819,42 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 14.194,17 triệu đồng; năm 2023 thù lao là 17.395,07 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 7.633,35 triệu đồng; năm 2024 giá trị này là 17.042,46 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 8.741,87 triệu đồng. Kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng vốn tín dụng của các thành phần kinh tế tăng mạnh. Đây là cơ hội để các Ngân hàng thương mại mở rộng phạm vi hoạt động và gia tăng nguồn thu nhập. Để điều hành Ngân hàng thương mại, Hội đồng quản trị giữ vai trò vô cùng quan trọng, giúp ngân hàng định hướng chiến lược phát triển. Nên mức thù lao cho Hội đồng quản trị cũng phải tương xứng với năng lực mang về lợi ích cho ngân hàng của Hội đồng quản trị. Đồng thời nhiều Ngân hàng thương mại thực hiện chi trả thù lao Hội đồng quản trị dựa vào kết quả hoạt động của ngân hàng, nên nguồn thu nhập tăng đồng nghĩa là thù lao chi trả cho Hội đồng quản trị ở ngân hàng cũng sẽ gia tăng. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Chính sách chi trả thù lao cho Hội đồng quản trị ở mỗi ngân hàng là khác nhau và được thông qua Đại hội đồng cổ đông. Chính sách thường được Ngân hàng thương mại áp dụng chi trả thù lao cho Hội đồng quản trị là thông qua cơ sở từ tỷ lệ của lợi nhuận sau thuế của ngân hàng. Đó là cơ sở quan trọng để Ngân hàng thương mại chi trả thù lao cho Hội đồng quản trị. Bên cạnh đó, việc chi trả thù lao cho Hội đồng quản trị cũng phải tương xứng với năng lực và khối lượng công việc Hội đồng quản trị đảm nhận. Do vậy, mức thù lao ở các Ngân hàng thương mại là không cố định và không giống nhau. Bảng 4.2 thể hiện mức thù lao Hội đồng quản trị nhận được của từng Ngân hàng thương mại qua giai đoạn 2017 – 2024.
- Bảng 4.2: Thù lao theo từng Ngân hàng thương mại qua các năm giai đoạn 2017 – 2024
Trong đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài gòn Công Thương là ngân hàng có mức thù lao chi trả cho Hội đồng quản trị thấp nhất trong 26 Ngân hàng thương mại với giá trị trung bình trong giai đoạn 2017 – 2025 là 2.970,64 triệu đồng. Ngân hàng có mức thù lao chi trả cho Hội đồng quản trị cao nhất là Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam với mức trung bình trong giai đoạn phân tích có giá trị là 32.200,75 triệu đồng. Đồng thời Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam cũng là ngân hàng có Khả năng sinh lời cao nhất trong 26 Ngân hàng thương mại phân tích trong nghiên cứu. Do đó, thù lao Hội đồng quản trị có thể là một khía cạnh quan trọng để thúc đẩy hiệu quả điều hành của Hội đồng quản trị và nâng cao Khả năng sinh lời cho Ngân hàng thương mại.
Trong 26 Ngân hàng thương mại trong phân tích có thể được phân thành Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại tư nhân. Khối Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm: Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. Các Ngân hàng thương mại còn lại thuộc khối Ngân hàng thương mại tư nhân. Về quy mô hoạt động, các Ngân hàng thương mại Nhà nước thường rộng khắp với tiềm lưc tài chính lớn mạnh. Trong khi các Ngân hàng thương mại với quy mô hoạt động nhỏ hơn. Bảng 4.3 thể hiện về mức thù lao giữa Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại tư nhân trong giai đoạn 2017 – 2024. Theo kết quả thống kê thể hiện, nhìn chung mức thù lao giữa khối Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại tư nhân không có nhiều sự khác biệt. Khá tương đồng về sự biến động, tăng hoặc giảm mức thu lao chi trả cho Hội đồng quản trị giữa 2 khối Ngân hàng thương mại này. Cụ thể, khối Ngân hàng thương mại Nhà nước với mức thù lao chi trả cho Hội đồng quản trị trung bình là 14.228,25 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 4.015,84 triệu đồng. Khối Ngân hàng thương mại tư nhân có mức thù lao trung bình là 14.492,55 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 11.320,10 triệu đồng. Kết quả này còn thể hiện, sự khác biệt về thù lao Hội đồng quản trị giữa các Ngân hàng thương mại Nhà nước không có nhiều sự chênh lệch. Nhưng sự chênh lệch này ở các Ngân hàng thương mại tư nhân là cao hơn. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
- Bảng 4.3: Thù lao theo loại hình hoạt động các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
4.1.1.2 Thù lao trung bình mỗi thành viên hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại
Ở mục 4.1.1.1 thể hiện về mức thù lao Ngân hàng thương mại chi trả cho cả Hội đồng quản trị, ở mục này thể hiện về mức thù lao trung bình của mỗi thành viên Hội đồng quản trị. Bảng 4.4 thể hiện mức thù lao trung bình của mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại giai đoạn 2017 – 2024.
- Bảng 4.4: Thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị theo năm của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
Theo kết quả thể hiện, mức thù lao trung bình của mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại cũng có sự gia tăng trong giai đoạn 2017 – 2024. Năm 2017, mức thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại là 1.582,08 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 1.858,33 triệu đồng; năm 2018 giá trị là 1.445,003 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 1.052,89 triệu đồng; năm 20219 giá trị là 1.824,60 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 1.252,71 triệu đồng; năm 2020 giá trị là 1.791,43 triệu đồng, với độ lệch chuẩn 1.197,13 triệu đồng; năm 2021 giá trị là 2.050,56 triệu đồng, với độ lệch chuẩn 1.236,32 triệu đồng; năm 2022 giá trị là 2.517,54 triệu đồng, với độ lệch chuẩn là 1.976,30 triệu đồng; năm 2023 có giá trị là 2.482,10 triệu đồng với độ lệch chuẩn là 958,08 triệu đồng; năm 2024 có giá trị là 2.391,30 triệu đồng, với độ lệch chuẩn là 1.182,18 triệu đồng. Kết quả này thể hiện, mức thù lao chi trả cho mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại cũng tăng tương ứng với thù lao của Hội đồng quản trị. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại không có nhiều thay đổi trong giai đoạn 2017 – 2024, nên mức gia tăng thù lao Hội đồng quản trị cũng tăng tương xứng trên mỗi thành viên cho những đóng góp của thành viên Hội đồng quản trị vào công tác điều hành Ngân hàng thương mại.
Mức thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam cũng khác nhau. Bảng 4.5 thể hiện kết quả thống kê về thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024. Theo kết quả thể hiện, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là ngân hàng có mức thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị có giá trị cao nhất trong 26 ngân hàng phân tích với giá trị là 4.089,60 triệu đồng. Như vậy, đã có sự khác biệt so với thù lao Hội đồng quản trị, vì Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam có mức thù lao Hội đồng quản trị cao nhất, nhưng thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị lại thấp hơn so Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với giá trị là 4.046,06 triệu đồng. Kết quả này thể hiện, phân bổ mức thù lao cho các thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại sẽ khác nhau. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương vẫn là Ngân hàng thương mại có mức chi trả thù lao mỗi thành viên Hội đồng quản trị thấp nhất trong các Ngân hàng thương mại phân tích.
Bảng 4.6 thể hiện kết quả thống kê về thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại tư nhân. Theo đó, mức thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở Ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn so với Ngân hàng thương mại tư nhân. Cụ thể, thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở Ngân hàng thương mại Nhà nước là 1.585,65 triệu đồng với độ lệch chuẩn là 377,57 triệu đồng. Thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại tư nhân là 2.066,00 triệu đồng, độ lệch chuẩn là 1.489,83 triệu đồng.
- Bảng 4.5: Thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị theo từng Ngân hàng thương mại qua các năm giai đoạn 2017 – 2024
- Bảng 4.6: Thù lao trung bình mỗi thành viên Hội đồng quản trị theo loại hình hoạt động các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
Thực tế, quy mô Hội đồng quản trị ở các Ngân hàng thương mại Nhà nước thường có số lượng thành viên cao, duy trì ở mức từ 8 – 11 thành viên. Các Ngân hàng thương mại tư nhân có quy mô Hội đồng quản trị thường thấp, chỉ một vài Ngân hàng thương mại có quy mô lớn, còn lại phần lớn duy trì mức 5 – 8 thành viên. Đồng thời với quy mô hoạt động nhỏ hơn các Ngân hàng thương mại Nhà nước, nên các Ngân hàng thương mại tư nhân có xu hướng sử dụng công cụ thù lao để thúc đẩy năng lực điều hành của Hội đồng quản trị. Điều này cũng góp phần cho thù lao Hội đồng quản trị ở mỗi thành viên Hội đồng quản trị của Ngân hàng thương mại tư nhân cao hơn Ngân hàng thương mại Nhà nước.
4.1.2 Thực trạng khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024 Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
KNSL là chỉ số quan trọng phản ánh cho hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại. Trong một chu kỳ kinh tế, Ngân hàng thương mại đã sử dụng các nguồn lực để vận hành và thực hiện hoạt động kinh doanh, giúp ngân hàng mang về nguồn lợi nhuận. Nghiên cứu này, chỉ số Khả năng sinh lời được thể hiện quả tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Bảng 4.7 thể hiện kết quả thống kê về Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024.
- Bảng 4.7: Khả năng sinh lời theo năm của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
Kết quả thể hiện tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam có sự gia tăng trong giai đoạn 2014 – 2024. Cụ thể, năm 2017 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam là 0,709% và độ lệch chuẩn là 0,568%; năm 2018 tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của Ngân hàng thương mại đạt 0,922% với độ lệch chuẩn là 0,678%; năm 2019 giá trị này là 1,044% với độ lệch chuẩn là 0,727%; năm 2020 đạt 1,051% và độ lệch chuẩn là 0,764%; năm 2021 đạt 1,246% với độ lệch chuẩn là 0,770%; năm 2022 đạt 1,419% với độ lệch chuẩn là 0,784; năm 2023 đạt 1,143% với độ lệch chuẩn là 0,707%; năm 2024 đạt 1,047% với độ lệch chuẩn là 1,238%. Kết quả này thể hiện, tỷ suất sinh lời của các Ngân hàng thương mại gia tăng trong giai đoạn 2017 – 2022, sau đó lại có sự sụt giảm từ năm 2023 và năm 2024.
Với sự phát triển kinh tế đất nước, nhu cầu tín dụng trên thị trường không ngừng tăng lên, tạo nên cơ hội để các Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động và gia tăng nguồn thu nhập, nên Khả năng sinh lời tăng trưởng. Nhưng giai từ năm 2021 nên kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19 và bất ổn chính trị ở nhiều nơi (Nga-Ukraina, Israel-Palestine, Israel-Iran…). Hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ngưng trệ, chí phí hoạt động tăng cao. Để hỗ trợ các thành phần trong nền kinh tế, từ năm 2023 Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất. Với những đợt điều chỉnh lãi suất, đồng nghĩa nguồn thu nhập của các Ngân hàng thương mại cũng giảm đi. Nên Khả năng sinh lời có sự sụt giảm từ năm 2023 đến năm 2024.
Định hướng và thực hiện các chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ góp phần giúp các Ngân hàng thương mại tăng trưởng tốt và nâng cao Khả năng sinh lời. Bảng 4.8 thể hiện kết quả thống kê về Khả năng sinh lời của từng Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2017 – 2024. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Theo đó, phần lớn các Ngân hàng thương mại đều có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở mức dương (+), trừ Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân. Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân cũng là ngân hàng có Khả năng sinh lời thấp nhất trong 26 Ngân hàng thương mại phân tích trong nghiên cứu với giá trị tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản của giai đoạn 2017 – 2024 là -0,611%. Giai đoạn 2017 – 2022 tỷ suất sinh lời ở mức dương, nhưng với giá trị rất thấp, trong năm 2023 và năm 2024 hoạt động kinh doanh của ngân hàng không hiệu quả và làm cho lợi nhuận sau thuế mang giá trị âm (-). Dẫn đến tỷ suất sinh lời của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân ở mức rất thấp. Mặt khác, trong 26 Ngân hàng thương mại phân tích, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam có tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ở mức cao nhất với giá trị là 2,636%.
- Bảng 4.8: Khả năng sinh lời theo từng Ngân hàng thương mại qua các năm giai đoạn 2017 – 2024
- Bảng 4.9: Khả năng sinh lời theo loại hình hoạt động các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024
Giữa Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại tư nhân cũng có sự chênh lệch nhẹ về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. Bảng 4.9 thể hiện kết quả thống kê về tỷ suất sinh lời theo loại hình của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024. Tỷ suất sinh lời của nhóm Ngân hàng thương mại Nhà nước trong giai đoạn 2017 – 2024 là 1,008% độ lệch chuẩn là 0,405%; của Ngân hàng thương mại tư nhân là 1,081% với độ lệch chuẩn là 0,851%. Kết quả này thể hiện, Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn Ngân hàng thương mại tư nhân. Nhưng sự chênh lệch về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản giữa các Ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn so với các Ngân hàng thương mại tư nhân. Điều này cho thấy, không có sự tương đồng về Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại tư nhân. Nhiều Ngân hàng thương mại tư nhân đạt được hiệu quả cao, nhưng cũng nhiều Ngân hàng thương mại đạt hiệu quả thấp, thậm chí tỷ suất sinh lời mang giá trị âm. Sự không hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn, không chỉ riêng bản thân ngân hàng, mà còn gây ra những biến động của nền kinh tế. Nên cần có những chiến lược thích hợp để thúc đẩy các Ngân hàng thương mại gia tăng Khả năng sinh lời.
4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THÙ LAO HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017 – 2024 Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
4.2.1 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện với mục tiêu xác định ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024. Đồng thời, nghiên cứu cũng xem xét ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Bảng 4.10 thể hiện kết quả thống kê các yếu tố trong mô hình nghiên cứu.
Thù lao Hội đồng quản trị được đo lường thông qua logarit cơ số tự nhiên giá trị thù lao trung bình mỗi thành viên trong Hội đồng quản trị. Biến thù lao Hội đồng quản trị có giá trị trung bình là 3,199 với độ lệch chuẩn là 0,320. Biến này dao động từ giá trị nhỏ nhất là 2,128 đến giá trị lớn nhất là 4,022. Thù lao Hội đồng quản trị được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bình phương thù lao Hội đồng quản trị được đo lường thông qua bình phương logarit cơ số tự nhiên giá trị thù lao trung bình mỗi thành viên trong Hội đồng quản trị. Giá trị trung bình của biến bình phương thù lao Hội đồng quản trị là 10,338 với độ lệch chuẩn là 1,996. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 4,526 đến giá trị lớn nhất là 16,176. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Bảng 4.10: Thống kê mô tả các biến sử dụng trong phân tích hồi quy
Quy mô Hội đồng quản trị được đo lường thông qua số lượng thành viên của Hội đồng quản trị. Yếu tố quy mô Hội đồng quản trị có giá trị trung bình là 7,226 người với độ lệch chuẩn là 1,582 người. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 5 người đến giá trị lớn nhất là 11 người. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tỷ lệ thành viên độc lập được thể hiện qua tỷ lệ của thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị. Giá trị trung bình của biến tỷ lệ thành viên độc lập là 17,141% với độ lệch chuẩn là 5,875%. Dao động từ giá trị nhỏ nhât là 9,091% đến giá trị lớn nhất 33,333%. Yếu tố này được kỳ vọng có tác động cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Quy mô ngân hàng được đo lường thông qua logarit cơ số tự nhiên của giá trị tổng tài sản. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Giá trị trung bình của biến quy mô ngân hàng là 8,358 với độ lệch chuẩn là 0,486. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 7,309 đến giá trị lớn nhất là 9,441.
Tỷ lệ nợ được đo lường thông qua tỷ lệ giữa tổng nợ phải trả và tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Giá trị trung bình của tỷ lệ nợ là 91,432% với độ lệch chuẩn là 3,016%. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 82,901% đến giá trị lớn nhất là 94,441%.
Số năm hoạt động của Ngân hàng thương mại được đo lường qua thời gian hoạt động của ngân hàng từ khi thành lập đến năm thu thập dữ liệu. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Giá trị trung bình của số năm hoạt động là 28,808 năm với độ lệch chuẩn là 10,886 năm. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 9 năm đến giá trị lớn nhất là 67 năm.
Tốc độ tăng trưởng GDP được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2024. Yếu tố này được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Giá trị trung bình của tốc độ tăng trưởng GDP là 5,820% với độ lệch chuẩn là 1,942%. Dao động từ giá trị nhỏ nhất là 2,580% đến giá trị lớn nhất là 8,020%.
4.2.2 Ma trận tương quan Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Phân tích ma trận tương quan giúp xem xét mức ý nghĩa thống kê của các mối liên hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc hoặc giữa các biến độc lập với nhau. Trong đó, hệ số tương quan giữa các cặp biến nằm trong khoảng từ -1 đến 1, nên hệ số tương quan có giá trị càng tiến về -1 hoặc 1 thì mức độ tác động càng lớn. Ngược lại, giá trị tương quan gần về 0 thì mức độ tác động càng yếu. Bảng 4.11 thể hiện kết quả phân tích ma trận tương quan nhằm xem xét mối tương quan giữa, Khả năng sinh lời (roa), thù lao Hội đồng quản trị (remb), quy mô Hội đồng quản trị (bs), tỷ lệ thành viên độc lập (bi), quy mô ngân hàng (size), tỷ lệ nợ (lev), số năm hoạt động (year), tốc độ tăng trưởng GDP (gdp).
Kết quả thể hiện, mối quan hệ giữa Khả năng sinh lời (roa) và thù lao Hội đồng quản trị (remb) có ý nghĩa thống kê 1%. Thể hiện cho sự tác động của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, quy mô Hội đồng quản trị (bs), quy mô ngân hàng (size), tỷ lệ nợ (lev) cũng có ý nghĩa thống kê nên những yếu tố này cũng là khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Tỷ lệ thành viên độc lập (bi), số năm hoạt động (year), tốc độ tăng trường GDP (gdp) không có ý nghĩa thống kê.
- Bảng 4.11: Ma trận tương quan
Mặt khác, mối tương quan giữa các biến độc lập phần lớn không có ý nghĩa thống kê. Trong đó, có một vài mối tương quan có ý nghĩa thống kê nhưng hệ số tương quan bé hơn 0,8 thể hiện không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập (Gujarat, 2004). Hay có thể nói là không tồn tại hiện tương đa cộng tuyến, phù hợp để thực hiện phân tích hồi quy.
4.2.3 Phân tích mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định
Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định là mô hình hồi quy được sử dụng để xác định ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Kiểm định Hausman là kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp cho phân tích. Bảng 4.12 thể hiện kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Kết quả thể hiện, kiểm định Hausman có giá trị là 0,096 lớn hơn 0,05 nên mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên là mô hình hợp để giải thích cho kết quả nghiên cứu. Giá trị kiểm định sự phù hợp của mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên là 0,000 bé hơn 0,05 nên kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định đạt được sự phù hợp. Kết quả ước lượng còn cho biết, thù lao Hội đồng quản trị và bình phương thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong đó, thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều và bình phương thù lao Hội đồng quản trị lại ảnh hưởng nghịch chiều. Bên cạnh đó, biến quy mô ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều và biến tỷ lệ nợ, biến số năm hoạt động có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại. Kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định chưa thể kết luận được ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, tốc độ tăng trưởng GDP đến Khả năng sinh lời của ngân hàng.
- Bảng 4.12: Kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định
4.2.4 Kiểm định các hiện tượng và tiến hành khác phục
Trước khi phân tích mức độ ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của ngân hàng cần kiểm tra các khuyết tật của mô hình hồi quy. Nếu vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan và hiện tương phương sai sai số thay đổi, kết quả ước lượng hồi quy không còn đạt được độ chuẩn xác.
4.2.4.1Kiểm định đa cộng tuyến
Ma trận tương qua cho biết được mối tương quan giữa các biến độc lập, góp phần xem xét hiện tượng đa cộng tuyến cho mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, chỉ số VIF (Variance Inflation Factor) được sử dụng để đo lường mức độ đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu. Giá trị VIF cho biến mức độ phương sai của hệ số hồi quy bị phóng đại do mối tương quan tuyến tính giữa các biến độc lập. Trong đó, VIF bằng 1 là không có hiện tương đa cộng tuyến, VIF lớn hơn 10 thể hiện mô hình tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến. Bảng 4.13 thể hiện kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu.
- Bảng 4.13: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Theo kết quả giá trị VIF của các biến độc lập có giá trị thấp với giá trị trung bình là 1,420 với giá trị VIF lớn nhất là 2,210 (biến size) bé hơn rất nhiều so với 10. Nên có thể kết luận, mô hình nghiên cứu không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.
4.2.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Homoskedasticity) là hiện tương phương sai của các ước lượng không bằng nhau. Nhưng một giả định quan trọng trong mô hình quy là phương sai sai số phải như nhau. Nên khi vi phạm hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì ước lượng mô hình hồi quy vẫn là ước lượng không bị thiên lệch và nhất quán, nhưng không còn là ước lượng hiệu quả nữa.
- Bảng 4.14: Kết quả kiểm tra hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian được sử dụng để kiểm tra hiện tương phương sai sai số thay đổi thể hiện ở Bảng 4.14. Giả thuyết kiểm tra hiện tương phương sai sai số thay đổi như sau:
- H0: Không tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình nghiên cứu
- H1: Tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình nghiên cứu
Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangianở Bảng 4.14 thể hiện, giá trị kiểm định là 0,000 bé hơn 0,05 nên H1 được chấp nhận. Ta có thể kết luận, mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam vị phạm hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.2.4.3 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan
Hiện tượng tự tương quan (Autocorrelation) là hiện tượng sai số ở thời điểm t có mối quan hệ với sai số tại thời điểm t-1 hoặc bất kỳ thời điểm nào. Hiện tượng này thường xảy ra trong dữ liệu thời gian hoặc dữ liệu bảng. Khi xảy ra hiện tượng tự tương quan, ước lượng hồi quy vẫn không bị thiên lịch và nhất quán, nhưng kết quả ước không còn hiệu quả.
- Bảng 4.15: Kết quả kiểm tra hiện tượng tự tương quan
Kiểm định Wooldridge được sử dụng để kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong mô hình nghiên cứu thể hiện ở Bảng 4.15. Giả thuyết kiểm định hiện tượng tự tương quan như sau: Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
H0: Không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình nghiên cứu H1: Tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình nghiên cứu
Kiểm định Wooldridge thể hiện ở Bảng 4.15, giá trị kiểm định là 0,049 bé hơn 0,05 nên H1 được chấp nhận. Hay nói cách khác là mô hình nghiên cứu vi phạm hiện tượng tự tương quan.
4.2.4.4 Khắc phục thông qua mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS
Dù mô hình nghiên cứu không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến, nhưng lại vi phạm hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Do vậy, kết quả ước lượng mô hình hiệu ứng cố định không còn đạt được tính hiệu quả. Trong nghiên cứu này mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS (Feasible Generalized Least Squares) được sử dụng để khắc phục cho các khuyết điểm về hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tương tự tương quan. Bảng 4.16 thể hiện kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Giá trị kiểm định sự phù hợp mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS là 0,000 bé hơn 0,05 nên mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS đạt được sự phù hợp. Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS còn cho biết, thù lao Hội đồng quản trị và bình phương thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều và bình phương thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Đồng thời, quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP cũng có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại.
- Bảng 4.16: Kết quả ước lượng mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS
4.3 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
4.3.1 Ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời
Để xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, 2 giả thuyết nghiên cứu được đề xuất với kỳ vọng thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều và bình phương thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Theo kết quả hồi quy cho biết, thù lao Hội đồng quản trị tác động cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời, bình phương thù lao Hội đồng quản trị lại có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời. Kết quả này đúng với kỳ vọng ở giả thuyết nghiên cứu. Cụ thể, hệ số tác động của biến thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời là 3,238 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, khi thù lao Hội đồng quản trị càng lớn càng giúp nâng cao Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Biến bình phương thù lao Hội đồng quản trị có hệ số tác động là -0,454 ở mức ý nghĩa thống kê 1% thể hiện, giả thuyết H1 và giả thuyết H2 được chấp nhận. Có nghĩa là thù lao Hội đồng quản trị góp phần thúc đẩy gia tăng Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam, nhưng tăng đến một đến một ngưỡng tới hạn, thì thù lao Hội đồng quản trị không còn là khía cạnh giúp tăng, mà lại làm sụt giảm Khả năng sinh lời của ngân hàng. Như vậy, sự tác động của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời có tính lõm và tương đồng với kết luận của Afrifa & Adesina (2018). Theo Afrifa & Adesina (2018), thù lao người quản lý góp phần giúp cho Khả năng sinh lời của doanh nghiệp tăng đến điểm nhất định, sau đó việc tiếp tục tăng thù lao người quản lý sẽ làm giảm Khả năng sinh lời.
Kết quả này phần nào khẳng định lại kết luận lý thuyết lệ thuộc nguồn lực của Selzick (1948), lý thuyết đại diện của Jensen & Meckling (1976), lý thuyết quản trị của Donaldson & Davis (1991). Vì các lý thuyết này kết luận thù lao Hội đồng quản trị có đóng góp cho sự tăng trưởng Khả năng sinh lời. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, nền kinh tế tăng trưởng là tiềm năng cho sự đầu tư và phát triển. Mở rộng hoạt động của các Ngân hàng thương mại là một vấn đề tất yếu để đáp ứng nhu cầu thị trường. Nhưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng gắn liền với những rủi ro. Tăng trưởng hoạt động tín dụng cũng đồng nghĩa mức độ rủi ro tín dụng cũng cao hơn. Công tác điều hành của Hội đồng quản trị sẽ phức tạp hơn, cần vận dụng nhiều kỹ năng, kinh nghiệm để phán đoán thị trường, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn nhằm hạn chế rủi ro thấp nhất cho ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Thù lao cho Hội đồng quản trị cũng phải tương xứng từ những đóng góp, tạo động lực để Hội đồng quản trị cống hiến trong công tác điều hành ngân hàng. Đặc biệt trong giai đoạn 2017 – 2024, nền kinh tế thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Năm 2020 và năm 2021 nền kinh dường như bị đóng băng, vì các biện pháp giãn cách xã hội nhằm phòng chống dịch bệnh. Những doanh nghiệp duy trì hoạt động phải luôn đảm bảo được các quy định phòng chống dịch. Nếu doanh nghiệp tiếp tục hoạt động sẽ chịu chi phí cao, nên nhiều doanh nghiệp đã không thể hoạt động. Đây là cơ hội lớn cho các Ngân hàng thương mại, vì nhu cầu tín dụng ở thời điểm vẫn gia tăng từ nhu cầu thị trường. Nhưng kèm theo đó, tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng tăng lên. Nên công tác điều hành từ Hội đồng quản trị sẽ góp phần hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Thù lao Hội đồng quản trị cũng sẽ gắn liền với Khả năng sinh lời của ngân hàng.
Giai đoạn 2017 – 2024, nền kinh tế ngoài đối diện với đại dịch Covid-19, thì tình hình bất ổn chính trị cũng trở nên căng thẳng hơn, chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Xung đột giữa Nga và Ukraina (2022), Palestine và Israel (2023)… gây ra thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế toàn cầu. Nga giữ vai trò trọng yếu đối với nhiên liệu thế giới và khi bất ổn chính trị diễn ra, Nga đã bị áp đặt nhiều lệnh trừng phạt dẫn đến biến động giá dầu thô thế giới. Gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vì phải gia tăng chi phí. Nhằm hỗ trợ các thành phần trong nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã nhiều lần thực hiện điểu chỉnh giảm lãi suất ngân hàng. Điều này tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại, vì hoạt động chủ yếu của ngân hàng là hoạt động tín dụng. Từ đó, công tác điều hành hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại càng trở nên khó khăn hơn. Nên nhiều ngân hàng đã tăng mức thù lao Hội đồng quản trị vì những đóng góp trong điều hành. Tuy nhiên, do những biến động của nền kinh tế nên Khả năng sinh lời ở các ngân hàng có dầu hiệu thấp. Nhiều ngân hàng có sự sụt giảm đáng kể về Khả năng sinh lời ở năm 2022, năm 2023 và năm 2024 so với thời điểm trước. Thậm chí Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân có Khả năng sinh lời mang giá trị âm ở năm 2023 và năm 2024. Cho nên, dù thù lao Hội đồng quản trị được gia tăng nhưng Khả năng sinh lời ở các Ngân hàng thương mại lại có sự giảm.
4.3.2 Ảnh hưởng của quy mô hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Biến “Quy mô Hội đồng quản trị” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là 0,046 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, quy mô Hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại, có nghĩa là tổng số lượng thành viên Hội đồng quản trị càng lớn thì càng nâng cao được Khả năng sinh lời cho Ngân hàng thương mại. Ngược lại, số lượng thành viên Hội đồng quản trị thấp sẽ làm giảm Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Quy mô Hội đồng quản trị lớn, ngân hàng được điều hành từ nhiều thành viên, nên có được nhiều đóng góp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì mỗi thành viên sẽ có những kiến thức, kinh nghiệm khác nhau, nên cùng đánh giá và giám sát giúp cho hoạt động kinh doanh đạt được nhiều hiệu quả. Theo Nadeem & Sitara (2015), quy mô Hội đồng quản trị có vai trò quan trọng đối với ngân hàng, vì mối quan hệ rộng giúp ngân hàng thuận lợi thực hiện hoạt động và đạt được hiệu quả cao. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 154 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, số lượng thành viên trong Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần là từ 3 đến 11 thành viên. Thực tế, các Ngân hàng thương mại Việt Nam thực hiện đúng quy định đối với số lượng thành viên trong Hội đồng quản trị từ 5 đến 11 thành viên. Nhưng nhìn chung số lượng thành viên Hội đồng quản trị ở mỗi ngân hàng có sự biến động rất thấp trong giai đoạn 2017 – 2024. Ngân hàng thường duy trì số lượng thành viên Hội đồng quản trị phù hợp với chiến lược hoạt động và thay đổi khi hết nhiệm kỳ của thành viên hoặc đổi chiến lược trong kinh doanh. Trường hợp thực tế là Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội có số lượng thành viên Hội đồng quản trị ở mức 10 đến 11 thành viên trong suốt giai đoạn 2017 – 2024 và Khả năng sinh lời ở mức cao. Trong khi, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân lại có số lượng thành viên Hội đồng quản trị từ 5 đến 8 thành viên và Khả năng sinh lời thậm chí là âm ở những thời điểm số thành viên Hội đồng quản trị là 5 thành viên. Điều này cho thấy, số lượng thành viên Hội đồng quản trị có thể giúp gia tăng Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
4.3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ thành viên độc lập đến khả năng sinh lời
Biến “Tỷ lệ thành viên độc lập” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là 0,008 ở mức ý nghĩa thống kê 5% có thể kết luận, tỷ lệ thành viên độc lập có tác động cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Có nghĩa là, khi tỷ lệ thành viên độc lập càng lớn thì càng giúp Ngân hàng thương mại gia tăng Khả năng sinh lời, người lại tỷ lệ thành viên độc lập thấp lại làm suy giảm Khả năng sinh lời. Khoản 2, Điều 153 và Điều 157 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 đề cập, thành viên độc lập được quyền tham dự và biểu quyết tại các cuộc họp Hội đồng quản trị về các vấn đề về quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển hàng năm, quyết định giải pháp phát triển thị trường, giám sát, chỉ đạo giám đốc hoặc tổng giám đốc… Nên thành viên độc lập giữ vai trò giám sát nhằm giảm bớt nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý ngân hàng. Nên giúp hoạt động kinh doanh của ngân hàng giảm thiểu các rủi ro, điều chỉnh đúng định hướng của ngân hàng, nên Khả năng sinh lời cũng sẽ cao hơn. Bên cạnh đó, Nguyễn Kim Quốc Trung & Nguyễn Minh Hằng (2022) cho rằng, thành viên độc lập thường được thuê ngoài, nên có thể giữ vị trị ở nhiều tổ chức khác và những mối quan hệ của thành viên độc lập sẽ hỗ trợ cho hoạt động của ngân hàng. Thành viên độc lập có mối quan hệ rộng sẽ có được nhiều nguồn thông tin, góp phần giúp ngân hàng đưa ra được các quyết định đúng và giảm tránh được rủi ro. Tuy nhiên, tỷ lệ thành viên độc lập ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam khá thấp, có giá trị trung bình là 17,141% chưa đáp ứng được quy định ở khoản 1, Điều 137 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 (quy định ít nhất có 20% số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập). Nên việc giám sát từ thành viên độc lập cũng giảm đi, các quyết định của Hội đồng quản trị có thể không phù hợp.
4.3.4 Ảnh hưởng của quy mô ngân hàng đến khả năng sinh lời Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Biến “Quy mô ngân hàng” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là 0,772 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, quy mô tổng tài sản của ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời. Hay nói cách khác, khi quy mô tổng tài sản của ngân hàng càng lớn thì càng giúp gia tăng Khả năng sinh lời và ngược lại khi quy mô tổng tài sản thấp sẽ làm giảm Khả năng sinh lời. Quy mô tài sản ngân hàng thể hiện cho tiềm lực tài chính của ngân hàng, quy mô lớn cũng giúp ngân hàng xây dựng uy tín với khách hàng. Tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh và gia tăng Khả năng sinh lời. Theo Phạm Xuân Quỳnh (2023), với quy mô tổng tài sản lớn, ngân hàng thường có mạng lưới hoạt động rộng, thuận lợi tiếp cận khách hàng và gia tăng thu nhập cũng như Khả năng sinh lời. Thực tế, ngoài nhóm Ngân hàng thương mại Nhà nước (Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam), thì các Ngân hàng thương mại tư nhân là Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong… là những ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn. Hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch ở các địa phương trong cả nước đã giúp các ngân hàng này tiếp cận khách hàng dễ dàng. Nên Khả năng sinh lời ở các ngân hàng này cũng cao hơn. Trong khi đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Dân, Ngân hàng Thương mại cổ phần Bản Việt, Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long, Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín là những ngân hàng có quy mô tổng tài sản kém hơn so với các ngân hàng khác. Khả năng cạnh tranh thấp, vì mạng lưới hoạt động không rộng khắp, khó khăn trong việc tiếp cận khách hàng nên Khả năng sinh lời sẽ thấp hơn.
4.3.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ nợ đến khả năng sinh lời
Biến “Tỷ lệ nợ” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là -0,124 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hay nói cách khác, tỷ lệ nợ càng lớn càng làm suy giảm Khả năng sinh lời, trong khi tỷ lệ nợ thấp giúp ngân hàng cải thiện được Khả năng sinh lời. Ngân hàng thương mại là tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh rất đặc biệt, vừa là người đi vay cũng đồng thời là người cho vay. Nên tỷ lệ nợ ở các Ngân hàng thương mại thường rất lớn (giá trị trung bình là 82,91%). Để có nguồn vốn thực hiện hoạt động tín dụng, ngân hàng phải thực hiện nghiệp vụ huy động vốn. Khoản nợ ở ngân hàng phần lớn đến từ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng phải chi trả lãi cho khách hàng để được sử dụng nguồn tiền này trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, tỷ lệ nợ lớn có nghĩa là chi phí lãi của ngân hàng cũng sẽ gia tăng. Nếu hoạt động cấp tín dụng không tương xứng sẽ làm giảm nguồn thu nhập của ngân hàng. Hoặc để đảm bảo doanh số, những khoản vay tiềm ẩn rủi ro được giải ngân, gây ra những khoản nợ xấu, dẫn đến sụt giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Theo Phạm Xuân Quỳnh (2023), tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu (có nghĩa là giảm tỷ lệ nợ) sẽ giúp cho Khả năng sinh lời của ngân hàng được gia tăng, vì tiềm lực tài chính mạnh sẽ có được lợi thế kinh doanh, tăng trưởng tín dụng và tạo lập thu nhập. Như vậy, khi tỷ lệ nợ cao, tiềm lực tài chính của ngân hàng càng giảm, dễ dàng chịu ảnh hưởng của thị trường dẫn đến hoạt động không mang lại hiệu quả.
4.3.6 Ảnh hưởng của số năm hoạt động đến khả năng sinh lời
Biến “Số năm hoạt động” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là -0,016 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, số năm hoạt động có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Có nghĩa là, thời gian hoạt động càng dài sẽ càng làm giảm Khả năng sinh lời và ngược lại thời gian hoạt động ngắn thì Khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. Theo Lại Cao Mai Phương & Nguyễn Thị Lợi (2022), sự già hóa của doanh nghiệp có thể làm sụt giảm Khả năng sinh lời. Đối với lĩnh vực ngân hàng, ngân hàng nhiều kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh và quản lý sẽ có thuận lợi trong việc tiếp cận khách hàng. Tuy nhiên, công tác quản lý có thể đã lỗi thời và rất khó trong công cuộc thay đổi. Hơn thế, cơ sở vật chất, kỹ thuật đã được áp dụng từ rất sớm và không thể dễ dàng thay đổi. Nhưng hiện nay, công nghệ phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động của ngân hàng. Điều này đã gây ra những khó khăn cho ngân hàng trong việc thay đổi và ứng dụng công nghệ. Trong khi đó, nhưng ngân hàng trẻ đang từng bước xây dựng hình ảnh và khẳng định uy tín với khách hàng. Hơn thế, với bộ máy gọn nhẹ hơn các ngân hàng có thời gian hoạt động lâu dài. Nên việc ứng dụng công nghệ và thay đổi phương thức quản lý dễ dàng hơn. Nhưng hiện nay, cuộc đua công nghệ ngày càng mạnh mẽ, những ngân hàng có công nghệ tiên tiến sẽ dễ dàng tiếp cận khách hàng và gia tăng nguồn thu nhập cũng nhu Khả năng sinh lời. Trong các Ngân hàng thương mại đang hoạt động ở Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Tiên Phong và Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt được thành lập từ năm 2008. Muộn rất nhiều so với các Ngân hàng thương mại khác, nên có được những thuận lợi trong công cuộc cải cách công nghệ ở lĩnh vực ngân hàng. Hỗ trợ các ngân hàng này thuận lợi hoạt động kinh doanh. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
4.3.7 Ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng GDP đến khả năng sinh lời
Biến “Tốc độ tăng trưởng GDP” có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Hệ số tác động là 0,020 ở mức ý nghĩa thống kê 1% có thể kết luận, tốc độ tăng trưởng GDP ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Có nghĩa là, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam càng lớn, thì Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại càng cao. Ngược lại, khi tốc độ tăng trưởng GDP thấp cũng làm sụt giảm Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Tốc độ tăng trưởng GDP thể hiện cho sự phát triển kinh tế của quốc gia. Kinh tế phát triển, các thành phần kinh tế có được điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nên nhu cầu sử dụng vốn vay tại các Ngân hàng thương mại cũng tăng lên, đây là cơ hội để các Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động tín dụng và gia tăng nguồn thu nhập. Ở thời điểm kinh tế kém phát triển, hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các thành phần kinh tế giảm, hạn chế đầu tư nên nhu cầu tín dụng có thể bị sụt giảm. Đồng thời hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn, vì các thành phần kinh tế không tạo ra được lợi nhuận, khả năng hoàn trả nợ vay tại ngân hàng giảm. Dẫn đến nợ xấu ở Ngân hàng thương mại gia tăng và làm giảm Khả năng sinh lời. Theo Lý Hoàng Khang và ctv. (2021), tốc độ tăng trưởng GDP cao kinh tế Việt Nam phát triển, nhu cầu sử dụng vốn tín dụng tăng, Ngân hàng thương mại có được cơ hội mở rộng hoạt động và tăng trưởng nguồn thu nhập. Trong giai đoạn 2013 – 2024, nền kinh tế với nhiều biến động, đối diện với đại dịch Covid-19 (năm 2020, năm 2021), bất ổn chính trị (Nga – Ukraina (2022), Palestine – Israel (2023)…). Nền kinh tế Việt Nam ảnh hưởng nặng nề, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2020 là 2,91% và năm 2021 là 2,58% rất thấp so với các thời điểm khác. Ở thời điểm đó, dù có nhiều cơ hội để các Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động tín dụng. Nhưng Khả năng sinh lời không cao, vì nợ xấu tăng. Bên cạnh đó, các chính sách từ Ngân hàng Nhà nước trong việc điều chỉnh giảm lãi suất cũng làm Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại ở mức không cao. Do vậy, tốc độ tăng trưởng là khía cạnh quan trọng quyết định Khả năng sinh lời ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Từ dữ liệu thu thập thông qua báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 Ngân hàng thương mại. Công cụ phân tích là phần mềm Excel và Stata 14 tác giả tiến hành xử lý dữ liệu theo kỹ thuật mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM). Kiểm định Hausman cho biết, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) là mô hình phù hợp để giải thích cho ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Tuy nhiên, dù mô hình nghiên cứu không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến (kiểm tra qua VIF), nhưng mô hình lại vi phạm hiện tượng phương sai sai số thay đổi (kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian) và hiện tượng tự tương qua (kiểm định Wooldridge). Nên mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi GLS được sử dụng để khắc phục. Kết quả thể hiện, thù lao Hội đồng quản trị góp phần thúc đẩy gia tăng Khả năng sinh lời, nhưng tăng đến một đến một ngưỡng tới hạn, thì thù lao Hội đồng quản trị không còn là khía cạnh giúp tăng, mà lại làm sụt giảm Khả năng sinh lời của ngân hàng. Quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP cũng có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất một số hàm ý quản trị góp phần giúp nâng cao Khả năng sinh lời cho ngân hàng.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
5.1 KẾT LUẬN
Nghiên cứu nhằm xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Nguồn thông tin phân tích trong nghiên cứu được sàn lọc báo cáo tài chính, báo cáo thường niê từ 26 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2017 – 2024. Phương pháp phân tích là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại. Như vậy, Thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời theo hình lõm, có nghĩa là thù lao Hội đồng quản trị giúp ngân hàng gia tăng Khả năng sinh lời, nhưng tăng đến một giới hạn nhất định, thì thù lao Hội đồng quản trị có thể làm giảm Khả năng sinh lời.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phát hiện ra ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP. Nên quy mô Hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời, có nghĩa là số lượng thành viên Hội đồng quản trị lớn sẽ giúp ngân hàng cải thiện được Khả năng sinh lời; tỷ lệ thành viên độc lập có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời, nên tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị càng lớn giúp kiểm soát công tác điều hành và nâng cao Khả năng sinh lời; quy mô ngân hàng có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời, nghĩa là quy mô tổng tài sản ngân hàng càng lớn sẽ có nhiều ưu thế trong hoạt động và giúp gia tăng Khả năng sinh lời; tỷ lệ nợ có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời, nghĩa là tỷ lệ nợ của ngân hàng càng lớn, tiềm lực tài chính sẽ hạn chế và làm giảm Khả năng sinh lời của ngân hàng; số năm hoạt động có ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời, nghĩa là thời gian hoạt động càng dài hệ thống quản lý và công nghệ ngân hàng càng khó trong việc thay đổi trước nhu cầu mới từ thị trường, nên làm giảm Khả năng sinh lời; tốc độ tăng trưởng GDP có ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời, nghĩa là tốc độ tăng trưởng GDP càng lớn, thì nền kinh tế càng có điều kiện phát triển, hoạt động của ngân hàng cũng hiệu quả hơn và mang về Khả năng sinh lời lớn.
5.2 HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Qua kết quả nghiên cứu thể hiện, thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đồng thời, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, quy mô Hội đồng quản trị, tốc độ tăng trưởng GDP, số năm hoạt động, tỷ lệ thành viên độc lập cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Đây là cơ sở quan trọng để đề xuất các hàm ý quản trị góp phần cải thiện Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Thứ nhất, áp dụng mức thù lao phù hợp cho Hội đồng quản trị. Theo kết quả nghiên cứu, thù lao Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời theo hình lõm. Nên thù lao Hội đồng quản trị không phải ở mức cao đều giúp nâng cao Khả năng sinh lời, mà có thể còn thể hiện cho sự sụt giảm trong gia tăng Khả năng sinh lời. Do vậy, áp dụng mức thù lao phù hợp sẽ góp phần nâng cao Khả năng sinh lời. Các Ngân hàng thương mại có thể xem xét đến việc đề xuất mức thù lao theo từng thời kỳ cho Hội đồng quản trị. Trong ngắn hạn, ngân hàng có thể tiếp tục áp dụng các hình thức chi trả thù lao căn cứ trên nguồn lợi nhuận của ngân hàng trong năm. Trong dài hạn, thực hiện việc điều chỉnh gia tăng mức thù lao của Hội đồng quản trị, tương xứng với năng lực của các thành viên Hội đồng quản trị và đảm không thấp hơn các Ngân hàng thương mại có quy mô hoạt động tương đương. Đồng thời, luôn kiểm tra và đánh giá nguồn thu nhập của ngân hàng, tránh trường hợp thành viên Hội đồng quản trị và ban giám đốc hợp tác và cố tình điều chỉnh lợi nhuận, nhằm thu được mức thù lao cao hơn.
Thứ hai, nâng cao tiềm lực tài chính của ngân hàng thông qua việc tăng nguồn vốn chủ sở hữu. Quy mô tổng tài sản và tỷ lệ nợ là khía cạnh quan trọng quyết định Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong đó, quy mô tổng tài sản tác động cùng chiều, còn tỷ lệ nợ lại ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời. Nên việc bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu là vấn đề cần thiết nhằm gia tăng tiềm lực tài chính cho ngân hàng. Ngân hàng thương mại có thể xem xét đến các cách thức gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu qua phát hành cổ phiếu hoặc gia tăng giá trị lợi nhuận giữ lại. Đối với việc phát hành cổ phiếu, ngân hàng chú trọng đánh giá tiềm năng thu hút nhà đầu tư, đăng ký phát hành cổ phiếu trong thời điểm thích hợp, phát hành cổ phiếu và chào bán cho các nhà đầu tư, tiếp cận được nguồn vốn và gia tăng vốn chủ sở hữu. Đối với việc gia tăng lợi nhuận giữ lại, nguồn thu nhập ngân hàng nhận được cũng là nguồn vốn có thể sử dụng để tạo lập cho vốn chủ sở hữu. Nên ngân hàng có thể thực hiện điều chỉnh gia tăng tỷ lệ lợi nhuận giữ lại và giảm cổ tức. Đồng thời, có thể trả cổ tức cho cổ đông dưới hình thức cổ phiếu và giữ lại phần lợi nhuận.
Thứ ba, duy trì cơ cấu Hội đồng quản trị phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng. Quy mô Hội đồng quản trị và tỷ lệ thành viên độc lập là khía cạnh quyết định Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, số lượng thành viên Hội đồng quản trị và tỷ lệ thành viên độc lập không thể vượt quá quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020. Có nghĩa là tổng số thành viên Hội đồng quản trị không được vượt quá 11 thành viên và tỷ lệ thành viên độc lập ít nhất 20%. Về số lượng thành viên Hội đồng quản trị các Ngân hàng thương mại đã tuân thủ đúng với quy định. Nhưng cần xem xét tình hình hoạt động của ngân hàng và đánh giá năng lực của từng thành viên Hội đồng quản trị. Đại Hội đồng quản trị có thể quyết định số lượng thành viên phù hợp. Về tỷ lệ thành viên độc lập, một số Ngân hàng thương mại chưa tuân thủ quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 với tỷ lệ thành viên độc lập thấp hơn 20%. Do vậy, ngân hàng cần xem xét và bổ nhiệm thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị. Điều này giúp đảm bảo ngân hàng thực hiện đúng quy định và gia tăng sự kiểm soát đối với công tác điều hành, góp phần cải thiện Khả năng sinh lời của ngân hàng Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
Thứ tư, cập nhật tình hình kinh tế và kịp thời định hướng cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng GDP ảnh hưởng cùng chiều đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Để tốc độ tăng trưởng GDP tốt, Chính phủ và các cơ quan ban ngành phải thực đề xuất và thực thi các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao sự phát triển kinh tế cho đất nước. Do vậy, các chính sách của Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ… cần được ngân hàng cập nhật. Thực hiện phân tích, đánh giá và xem xét tầm ảnh hưởng của các chính sách đó đến hoạt động của ngân hàng. Từ đó, lựa chọn chiến lược phù hợp nhằm tránh thiệt hại nhất định đến ngân hàng.
Thứ năm, đầu tư và cải thiện công nghệ, kỹ thuật trong quản lý và dịch vụ của ngân hàng. Thời gian hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng, vấn đề này liên trực tiếp từ công tác quản lý và đầu tư công nghệ trong hoạt động. Dịch vụ ngân hàng điện tử là khởi đầu cho sự phát triển trong cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, công nghệ của một số ngân hàng vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm của khách hàng. Tuy nhiên, những bất lợi của phát triển công nghệ là xuất hiện tình trạng lừa đảo và nhắm vào tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Do vậy, công nghệ hiện đại sẽ đảm bảo được mức độ an toàn cho khách hàng, tăng độ uy tín và Khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong ngắn hạn, ngân hàng thắt chặt công tác quản lý cơ sở dữ liệu và hệ thống an ninh mạng của ngân hàng. Thường xuyên cảnh báo khách hàng các vấn đề về an toàn, bảo mật thông tin trong tài khoản ngân hàng. Hơn hết, dài hạn ngân hàng cần nghiên cứu và tiếp cận những công nghệ mới, ứng dụng những công nghệ phù hợp vào ngân hàng. Giúp nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng.
5.3 HẠN CHẾ ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
Dù đề tài đã giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định. Thứ nhất, về dữ liệu thu thập, nghiên cứu này chỉ có thể tiếp cận được thông tin của 26 Ngân hàng thương mại. Thứ hai, nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời, nhưng có thể Khả năng sinh lời cũng sẽ có ảnh hưởng đến thù lao Hội đồng quản trị. Thứ ba, vấn đề nghiên cứu chính là thù lao Hội đồng quản trị, trong khi đó thù lao của ban giám đốc, thù lao của ban kiểm soát cũng có thể ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời.
Do vậy, các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể xuất phát từ các hạn chế của đề tài này như: nghiên cứu về ảnh hưởng của Khả năng sinh lời đến thù lao Hội đồng quản trị của các Ngân hàng thương mại Việt Nam; nghiên cứu bổ sung về thù lao ban giám đốc, thù lao ban kiểm soát…; gia tăng kích thước mẫu thông qua tiếp cận thêm thông tin của nhiều Ngân hàng thương mại khác.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 5
Từ kết quả nghiên cứu ở Chương 4, ở Chương 5 sẽ là nội dung kết luận lại vấn đề nghiên cứu. Đề xuất một số hàm ý quản trị góp phần nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát những hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo có thể thực hiện. Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời

Pingback: Luận văn: PPNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH