Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bộ dữ liệu sử dụng phân tích được sàn lọc từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2017 – 2024. Phương pháp phân tích sử dụng là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên và mô hình hiệu ứng cố định. Kiểm định Hausman cho biết, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên là phù hợp. Tuy nhiên, mô hình nghiên cứu vi phạm hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan, nên mô hình hồi quy bình phương tổng quát khả thi GLS được sử dụng để khắc phục.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thù lao hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng sinh lời, nhưng khi gia tăng đến một đến một ngưỡng tới hạn, thì thù lao hội đồng quản trị có ảnh hưởng nghịch chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Quy mô hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng GDP có tác động tích cực đến khả năng sinh lời. Tỷ lệ nợ, số năm hoạt động có tác động nghịch chiều đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở đó, các hàm ý quản trị như: áp dụng mức thù lao phù hợp cho hội đồng quản trị, nâng cao tiềm lực tài chính của ngân hàng, duy trì cơ cấu hội đồng quản trị phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng, cập nhật tình hình kinh tế và kịp thời định hướng cho hoạt động, đầu tư và cải thiện công nghệ, kỹ thuật trong quản lý và dịch vụ được đề xuất góp phần nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng thương mại.
Từ khóa: thù lao hội đồng quản trị, khả năng sinh lời, ngân hàng thương mại
- ABSTRACT
This study aims to analyze the impact of board of directors’ remuneration on the profitability of Vietnamese commercial banks. The dataset used for analysis was compiled from the financial statements and annual reports of 26 Vietnamese commercial banks during the period 2017–2024. The analytical methods employed include the random effects model and the fixed effects model. The Hausman test indicates that the random effects model is appropriate. However, since the research model violates the assumptions of heteroskedasticity and autocorrelation, the feasible generalized least squares was applied to address these issues.
The research findings reveal that board remuneration has a positive impact on profitability; however, when remuneration increases beyond a certain threshold, it exerts a negative influence on banks’ profitability. The size of the board of directors, the proportion of independent members, bank size, and GDP growth rate all have positive effects on profitability. In contrast, the debt ratio and the number of years in operation negatively affect the profitability of commercial banks. Based on these findings, several recommendations are proposed: adopting an appropriate level of board remuneration, strengthening banks’ financial capacity, maintaining a board structure aligned with the bank’s development strategy, keeping up with economic trends to guide operations and investments, and improving management and service technologies. All aimed at enhancing the profitability of commercial banks. Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Keywords: board remuneration, profitability, commercial banks
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 GIỚI THIỆU
1.1.1 Đặt vấn đề
Ngân hàng thương mại (NHTM) có vị trí vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt là trong việc điều hành tài chính đất nước. Vì Ngân hàng thương mại giữ vai trò là trung gian tài chính, giúp luồng tiền được lưu thông và gia tăng hiệu suất sử dụng qua hoạt động tín dụng. Khi đó, ngân hàng huy động vốn từ dân cư và cấp vốn cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng. Nguồn vốn được bổ sung giúp cho hoạt động sản xuất, kinh doanh được mở rộng, phát triển và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Vì thế, những biến động của thị trường tài chính, đặc biệt là hệ thống các Ngân hàng thương mại sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế. Khả năng sinh lời (KNSL) là tiêu chí quan trọng trong việc xem xét hiệu quả hoạt động của mỗi tổ chức kinh tế. Khả năng sinh lời cao có nghĩa đạt được hiệu quả cao, là điều kiện cần thiết để tồn tại và phát triển. Đối với các Ngân hàng thương mại, Khả năng sinh lời quyết định về độ uy tín của ngân hàng trên thị trường. Lợi nhuận là một trong những mục tiêu quan trọng của ngân hàng, vì nó minh chứng cho hiệu quả quản lý và khả năng thu hút nguồn vốn (Abedalfattah, 2017). Không những thế, ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Do đó, Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại đặc biệt quan trọng.
Cấu trúc quản lý Ngân hàng thương mại cũng giống công ty cổ phần, cũng chịu sự điều hành từ hội đồng quản trị (HĐQT) và ban giám đốc. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ điều hành và định hướng phát triển cho ngân hàng, nên năng lực quản lý của từng thành viên trong Hội đồng quản trị sẽ góp phần nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán, người quản lý có trách nhiệm nắm bắt phương hướng phát triển của doanh nghiệp, quyết định các vấn đề quan trọng và thực hiện điều hành hoạt động để đổi lại nhận được thù lao (Zhou & Bu, 2020). Qua đây cho thấy, thù lao có thể được xem là tiền lương Hội đồng quản trị nhận được cho công việc điều hành ngân hàng. Nên thù lao còn được xem là một công cụ để thúc đẩy động lực và gia tăng hiệu suất điều hành, quản lý của Hội đồng quản trị. Thù lao Hội đồng quản trị được nhiều lý thuyết đề cập. Lý thuyết lệ thuộc nguồn lực của Selznick (1948), lý thuyết đại diện của Jensen & Meckling (1976), lý thuyết quản trị của Donaldson & Davis (1991) đề cập cho sự tác động cùng chiều từ thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời, trong khi lý thuyết quyền lực quản lý của Bebchuk & Fried (2003) lại có lập luận ngược lại, thù lao Hội đồng quản trị sẽ ảnh hưởng nghịch chiều đến KNSL. Do vậy, đây là một khoảng trống cần được kiểm tra xem trong trường hợp nào thù lao Hội đồng quản trị có tác động cùng chiều hoặc nghịch chiều đến Khả năng sinh lời.
Thù lao người quản lý nhận được sẽ đổi lại hiệu suất làm việc nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Zhou & Bu, 2020). Thù lao là công cụ được sử dụng rộng rãi như một động lực ảnh hưởng đến các quyết định và chiến lược trong hoạt động kinh doanh của người quản lý, dẫn đến thay đổi Khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Ibrahim et al., 2019). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực tế đã bỏ quan khía cạnh về thù lao của người quan khi xem xét Khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Nur & Jennifer, 2018). Cho đến khi thù lao trở thành biện pháp quan trọng được ứng phó trong bối cảnh khủng hoảng tài chính ở các công ty trong thế kỷ XXI thì thù lao người quan lý mới nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu (Rita & Amos, 2016).
1.1.2 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Thị trường tài chính khá sôi động với sự có mặt của 35 Ngân hàng thương mại đang hoạt động. Tạo nên bức tranh tài chính đa dạng, nhưng cũng dễ chịu sự tổn thương, vì công tác quản lý các Ngân hàng thương mại trở nên phức tạp hơn. Nhiều Ngân hàng thương mại hoạt động không hiệu quả trở thành gánh nặng cho nền kinh tế. Trong đó, Ngân hàng thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương, Ngân hàng thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Dầu Khí Toàn Cầu là những ngân hàng mua bắt buộc. Từ đây cho thấy, công tác điều hành, quản lý ngân hàng của Hội đồng quản trị càng giữ vai trò quyết định sự thành công hay thất bại. Năng lực và những vấn đề liên quan đến Hội đồng quản trị cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Minh chứng gần đây nhất là những tin đồn thất thiệt về Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu đã gây thiệt hại nặng cho Ngân hàng. Do vậy, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng sẽ phụ thuộc rất nhiều vào Hội đồng quản trị. Trong đó, thù lao Hội đồng quản trị cũng là một vấn đề đáng bận tâm và cần xem xét sự ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Lợi nhuận của ngân hàng sẽ được cải thiện khi thù lao của thành viên Hội đồng quản trị được gia tăng (Capuano, 2022).
Mặt khác, vấn đề ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời cũng được nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm quan tâm. Lý thuyết lệ thuộc nguồn lực của Selznick (1948), lý thuyết đại diện của Jensen & Meckling (1976), lý thuyết quản trị của Donaldson & Davis (1991) là những lý thuyết với lập luận cho sự ảnh hưởng tích cực từ thù lao đến Khả năng sinh lời. Trong khi lý thuyết quyền lực quản lý của Bebchuk & Fried (2003) lại đề cập sự ảnh hưởng tiêu cực từ thù lao đến Khả năng sinh lời. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Sania & Mobeen (2014), Afrifa & Adesina (2018), Chua et al. (2018), Nur & Jennifer (2018), Adam et al. (2019), Aslam et al. (2019), Ibrahim et al. (2019), Ahmed et al. (2020), Harymawan et al. (2020), Sharmin et al. (2020), Tesfaye et al (2020), Zhou & Bu (2020), Al-Faryan (2021), Saad et al. (2021), Nikodemus & Africa (2022), Mohammed et al. (2023) cũng đã kiểm chứng cho sự ảnh hưởng của thù lao đến Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Đối với lĩnh vực ngân hàng, vấn đề này chưa được quan tâm nhiều nhưng cũng được nghiên cứu của Nadeem & Sitara (2015), Rita & Amos (2016), Capuano (2022) xem xét và xác định tồn tại mối quan hệ giữa thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của ngân hàng.
Ở Việt Nam, thù lao Hội đồng quản trị là vấn đề ít nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, số lượng nghiên cứu về vấn đề này rất hạn chế. Trong đó, Võ Hồng Đức và ctv. (2014), Vũ Xuân Thủy (2018), Ngô Mỹ Trân và ctv. (2018), Trần Phi Long và ctv. (2021) cũng thực hiện nghiên cứu về thù lao, nhưng là thù lao của ban giám đốc và xem xét khía cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến thù lao ban giám đốc. Do vậy, vấn đề thù lao của Hội đồng quản trị và ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam là chủ đề còn khá mới và chưa được quan tâm.
Qua các lý do trên, đề tài “Ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam” cần được thực hiện nhằm xem xét mối quan hệ này và có những hàm ý quản trị cần thiết giúp nâng cao Khả năng sinh lời cho Ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị góp phần nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Để giải quyết mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau:
- Mục tiêu 1: Xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam;
- Mục tiêu 2: Đề xuất một số hàm ý quản trị góp phần nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tương ứng với từng mục tiêu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Câu hỏi 1: Thù lao Hội đồng quản trị có ảnh hưởng như thế nào đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Hàm ý quản trị nào phù hợp góp phần nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đó, nguồn số liệu phân tích trong luận văn được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Không gian nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu của luận văn là các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4.2.2 Thời gian nghiên cứu
Số liệu sử dụng phân tích trong luận văn là nguồn số liệu được thu thập, sàn lọc từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2017 – 2024. Trong đó, nguồn dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2017 – 2024 khái quát rõ nét cho một giai đoạn kinh tế có nhiều biến động, đặc biệt giai đoạn này còn thể hiện được đặc điểm kinh tế trước, trong và sau đại dịch Covid-19.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định lượng: Công cụ hỗ trợ thực hiện nghiên cứu định lượng là phần mềm Excel 2021 và Stata 14. Để xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại, các kỹ thuật sử dụng phân tích là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM – Fixed Effects Model). Sau đó, kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình phù hợp. Tuy nhiên, các khuyết tật của mô hình hồi quy về đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan sẽ được kiểm tra. Nếu vi phạm sẽ được khắc phục thông qua mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS).
1.5.2 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng phân tích là dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 26 Ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2017 – 2024. Các dữ liệu vĩ mô về tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024 từ Tổng cục Thống kê.
1.6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu là xác định ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024. Theo đó, xem xét thù lao Hội đồng quản trị có giúp gia tăng Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Đồng thời, quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị, quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP cũng là các khía cạnh được kỳ vọng có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại Việt Nam. Trên cơ sở đó, hàm ý quản trị được đề xuất nhằm nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại.
1.7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Thù lao Hội đồng quản trị là một vấn đề không mới, nhưng chưa nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu trong nước. Do đó, nghiên cứu này góp phần xem xét sự ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại. Đây cũng là cơ sở khoa học để các nghiên cứu tiếp theo tham khảo về chủ đề thù lao Hội đồng quản trị cũng như Khả năng sinh lời của ngân hàng. Bên cạnh đó, một số hàm ý quản trị được đề xuất cũng là những ý kiến có thể gợi ý cho các Ngân hàng thương mại trong chính sách về thù lao và gia tăng Khả năng sinh lời.
1.8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn được cấu trúc thành 5 chương như sau:
- CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Ở Chương 1 các nội dung trình bày bao gồm: giới thiệu về lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục luận văn.
- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
Ở Chương 2 nội dung trình bày bao gồm: tổng hợp các lý thuyết liên quan đến thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời, tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm và xác định khoảng trống nghiên cứu, làm cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu.
- CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Ở Chương 3 nội dung trình bày bao gồm: quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu và phương pháp phân tích.
- CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Ở Chương 4 nội dung trình bày bao gồm: phân tích thực trạng về thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024, đánh giá ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình hiệu ứng cố định cùng các kiểm định liên quan.
- CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Ở Chương 5 nội dung trình bày bao gồm: kết luận lại từ nội dung nghiên cứu, đề xuất hàm ý quản trị góp phần nâng cao Khả năng sinh lời cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Vấn đề nghiên cứu được xác định là phân tích ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2017 – 2024. Đây là căn cứ để xác định cơ sở lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu thực nghiệm về thù lao Hội đồng quản trị ở Chương 2.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
2.1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1.1 Thù lao hội đồng quản trị
2.1.1.1 Khái niệm hội đồng quản trị
Thù lao Hội đồng quản trị được xem là tiền công lao động của Hội đồng quản trị trong công tác điều hành, quản lý doanh nghiệp. Theo Điều 163, Luật Doanh nghiệp năm 2020, thể hiện về tiền lương, thù lao, thưởng và lợi ích khác của các thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc. Cụ thể, doanh nghiệp có quyền chi trả thù lao, thưởng cho thành viên Hội đồng quản trị, trả lương, thưởng cho giám đốc hoặc tổng giám đốc và người quản lý khác theo kết quả hoặc hiệu quả kinh doanh. Tiền lương cũng có thể được được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày. Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắt nhất trí. Tổng mức thù lao và thưởng của Hội đồng quản trị do Đại Hội đồng quản trị quyết định tại cuộc họp thường niên.
2.1.1.2 Chỉ số đo lường hội đồng quản trị
Thù lao cho Hội đồng quản trị phụ thuộc vào chính sách hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thù lao Hội đồng quản trị có thể bao gồm tiền lương, thưởng, thù lao và lợi ích khác. Theo Murphy (1999), Bryan et al. (200) và (Mohammed et al. (2023), thù lao Hội đồng quản trị bao gồm: tiền mặt thông qua lương cơ bản, thưởng và tổng thù lao và không bằng tiền mặt thể hiện qua cổ phiếu. Mặt khác, Võ Hồng Đức và ctv. (2013) đo lường thù lao Hội đồng quản trị qua thù lao tiền mặt và thưởng vượt chỉ tiêu. Tuy nhiên, tại báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung, các Ngân hàng thương mại nói riêng mức thù lao cho Hội đồng quản trị thường không được công bố chi tiết từng khoảng mục, mà thường đề cập mức tổng thù lao Hội đồng quản trị nhận được trong năm. Vì thế, trong nghiên cứu này, thù lao Hội đồng quản trị của các Ngân hàng thương mại là giá trị tổng mức thù lao Hội đồng quản trị nhận được theo công bố tại báo cáo tài chính (bao gồm tiền lương, thưởng, phụ cấp).
2.1.2 Khả năng sinh lời Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
2.1.2.1 Khái niệm khả năng sinh lời
KNSL là khía cạnh quan trọng thể hiện kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khả năng sinh lời cao cho biết doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao và ngược lại. Khả năng sinh lời được thể hiện thông qua mối tương quan giữa đầu vào và đầu ra, do nguồn đầu vào được quản lý và sử dụng hợp lý sẽ tạo ra nguồn đầu ra chất lượng và đạt hiệu quả cao (Nguyễn Khắc Minh, 2006). Như vậy, Khả năng sinh lời là chỉ tiêu phản ánh cho kết quả kinh doanh, được đo lường qua mối quan hệ giữa kết quả đạt được và phương tiện sử dụng để đạt được kết quả. Công thức tính Khả năng sinh lời như sau:
2.1.2.2 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời
Các chỉ tiêu đo lường Khả năng sinh lời phổ biến là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS).
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA)
Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cho biết Khả năng sinh lời của doanh nghiệp, với nguồn lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp thu được từ tổng tài sản. Công thức tính tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản như sau:
- Giá trị tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản càng lớn thì Khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao.
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho biết khả năng tạo ra nguồn thu nhập dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Công thức tính tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu như sau:
Chỉ số tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng lớn thì Khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ nguồn vốn chủ sở hữu càng lớn.
- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (Return on Sale – ROS)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu cho biết nguồn lợi nhuận doanh nghiệp tạo ra từ danh mục doanh thu bán hàng. Công thức thức tính tỷ suất sinh lời trên doanh thu như sau: Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu càng cao thì Khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ nguồn doanh thu bán hàng càng lớn.
- Thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin – NIM)
Bên cạnh các chỉ số thể hiện Khả năng sinh lời vừa đề cập, trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại thì chỉ số thu nhập lãi cận biên cũng là một tiêu chí thể hiện cho Khả năng sinh lời của ngân hàng. Thu nhập lãi cận biên là chỉ số được sử dụng để phản ánh sự chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tiếp cận nguồn vốn cho chi phí thấp. Hay nói cách khác, thu nhập lãi cận biên cho biết khả năng ngân hàng tối đa hóa các nguồn thu nhập và giảm thiểu chi phí từ lãi. Công thức tính thu nhập lãi cận biên như sau:
- Trong đó:
Thu nhập từ lãi là tổng thu nhập từ các khoản cho vay, đầu tư chứng khoán, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, thu nhập từ hoạt động cho các tổ chức tín dụng khác vay và thu khác từ hoạt động tín dụng;
Chi phí từ lãi là các khoản chi phí ngân hàng chi trả cho hoạt động huy động vốn (tiền gửi của khách hàng, huy động vốn bên ngoài và các khoản phát sin tương tự);
Tổng tài sản có sinh lãi của ngân hàng là tổng giá trị của các tài sản tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng (cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng và không bao gồm tài sản cố định, tiền, kim loại quý tại quỹ).
2.1.2.3 Lựa chọn chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời
Các chỉ số đo tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên doanh thu được đề cập là những chỉ số sử dụng trong việc đánh giá Khả năng sinh lời cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thu nhập lãi cận biên cũng là một tiêu chí được sử dụng thể hiện cho Khả năng sinh lời cho ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ số đánh giá Khả năng sinh lời trên khía cạnh kế toán và thể hiện cho toàn bộ nguồn thu nhập của ngân hàng, trong khi thu nhập lãi cận biên chỉ xem xét ở khía cạnh của hoạt động tín dụng. Do vậy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ số khái quát hết được Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại. Do vậy, trong nghiên cứu này, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng được sử dụng để đo lường cho Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
2.1.3 Các lý thuyết Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
2.1.3.1 Lý thuyết lệ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)
Selzick (1948) đề xuất lý thuyết lệ thuộc nguồn lực nhằm giải thích cho sự khan hiếm các nguồn lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải được trang bị đầy đủ các nguồn lực để thực hiện các kế hoạch. Nếu nguồn lực bị hạn chế, khan hiếm thì để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh buộc lòng doanh nghiệp phải bổ sung từ bên ngoài. Khi đó doanh nghiệp sẽ phụ thuộc nhiều nhà cung cấp và dần mất đi khả năng tự chủ. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thì các nguồn lực bao gồm: tài chính, con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật là điều kiện cần thiết, nhưng xét về tầm quan trọng thì yếu tố con người vẫn giữa vai trò đứng đầu. Ở thời điểm hiện nay, việc cổ phần hóa giúp cho doanh nghiệp gia tăng thêm các nguồn lực để đẩy mạnh phát triển. Công ty cổ phần được điều hành bởi Hội đồng quản trị, bộ phận giữ vị trí đứng đầu công ty cổ phần, các quyết định của Hội đồng quản trị đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và đây cũng được xem là một nguồn lực cần thiết cho công ty cổ phần. Liên hệ với lý thuyết lệ thuộc nguồn lực, Hội đồng quản trị được thuê để điều hành công ty cổ phần và được chi trả thù lao tương xứng với năng lực điều hành. Doanh nghiệp có thể chi trả mức thù lao cao hơn để lựa chọn được các thành viên Hội đồng quản trị có trình dộ và năng lực nhằm giúp nâng cao hiệu quả hoạt động. Điều này cho thấy, thù lao Hội đồng quản trị được xem là một công cụ thúc đẩy thành viên Hội đồng quản trị nổ lực hơn trong công tác điều hành, giúp Khả năng sinh lời của doanh nghiệp tăng lên. Như vậy, qua lý thuyết lệ thuộc nguồn lực của Selznick (1948) có thể lập luận thù lao Hội đồng quản trị giúp tăng trưởng Khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
2.1.3.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Jensen & Meckling (1976) đề xuất lý thuyết đại diện nhằm giải thích về các khía cạnh của người đại diện ở doanh nghiệp. Mâu thuẫn giữa các bên liên quan trong doanh nghiệp sẽ xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các mâu thuẫn được đề cập trong lý thuyết này là mâu thuẫn giữa cổ đông và người quản lý, hoặc giữa cổ đông và chủ nợ. Trong đó, mâu thuẫn giữa cổ đông và người quản lý xuất phát từ việc điều hành doanh nghiệp, vì cổ đông thường chú ý đến việc tối đa hóa giá trị tài sản, còn người quản lý thường quan tâm đến mặt lợi nhuận. Mặt khác, việc sử dụng nợ tài trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khiến doanh nghiệp còn chịu thêm sự giám sát từ chủ nợ (Jensen, 1986). Người quản lý được chi trả thù lao để điều hành doanh nghiệp, nên doanh nghiệp có thể hạn chế quyền hạn của người quản lý thông qua thù lao (Eissenhardt, 1989). Không chỉ việc kiểm soát người quản lý được gia tăng, mà người quản lý còn được khích lệ khả năng điều hành qua thù lao, nên giúp cho hiệu quả kinh doanh được gia tăng. Như vậy, lý thuyết đại diện khái quát được mối liên hệ giữa thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là mối quan hệ cùng chiều.
2.1.3.3 Lý thuyết quản trị (Stewardship theory) Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Donaldson & Davis (1991) đề xuất lý thuyết quản trị thể hiện các khía cạnh người quản lý trong quá trình điều hành doanh nghiệp. Người quản lý giữ vai trò điều hành, định hướng phát triển cho doanh nghiệp, nên năng lực của người quản lý là yếu tố cần thiết giúp hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được tăng trưởng. Hội đồng quản trị là bộ phận đứng đầu công ty cổ phần, có nhiệm vụ điều hành, định hướng hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Nên năng lực quản lý, điều hành và công tác thúc đẩy bùng nổ khả năng của người quản lý là vấn đề được doanh nghiệp quan tâm. Đây cũng là khía cạnh quan trọng để doanh nghiệp mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, theo Ibrahim et al. (2019), thù lao là công cụ được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến nhằm tạo động lực khuyến khích người quản lý điều hành doanh nghiệp mang về nhiều hiệu quả. Do đó, thù lao chi trả cho người quản lý có thể được xem là chất xúc tác để người quản lý năng nổ hoạt động, định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Dẫn đến Khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất, kinh doanh được gia tăng. Như vậy, lý thuyết quản trị của Donaldson & Davis (1991) cũng liên hệ được mối quan hệ cùng chiều giữa thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
2.1.3.4 Lý thuyết quyền lực quản lý (Managerial power theory)
Bebchuk & Fried (2003) đề xuất lý thuyết quyền lực quản lý mô tả vấn đề chi trả thù lao cho người quản lý cấp cao trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp có xu hướng chi trả thù lao cho người quản lý cao hơn so với hợp đồng lao động khi kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt được hiệu quả cao. Lý thuyết quyền lực quản lý giả định thị trường lao động là hoàn hảo, vì doanh nghiệp và người lao động có thể đàm phán và lựa chọn một mức thù lao hợp lý. Vì nguồn thông tin doanh nghiệp và người lao động có được là như nhau, nên thù lao thương lượng giữa hai bên là như nhau. Tuy nhiên, Bebchuk & Fried (2004) bổ sung thêm, người quản lý cấp cao có được khả năng thương lượng, nên mức thù lao nhận được cao hơn và không tương xứng với Khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, để hạn chế sự xung đột, người quản lý cấp cao thường tránh những tranh cải và đi đến thỏa thuận nhằm hạn chế ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân (Bebchuk & Fried, 2006). Điều này cho thấy, dù mức thù lao chi trả cho người quản lý cao, nhưng hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa hẵn ở mức tương xứng. Như vậy, lý thuyết quyền lực quản lý của Bebchuk & Fried (2003) lại có lập luận ngược lại so với các lý thuyết trước đó, thù lao Hội đồng quản trị sẽ ảnh hưởng nghịch chiều đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
2.2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thù lao hội đồng quản trị đến khả năng sinh lời
Ảnh hưởng của thù lao ban điều hành hoặc Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời là vấn đề được quan tâm ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Sania & Mobeen (2014) xem xét mối liên giữa giữa thù lao ban quản lý và hiệu suất tài chính của 70 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) ở Pakistan giai đoạn 2007 – 2011 và thông qua mô hình hiệu ứng cố định (FEM) phát hiện ra mối quan hệ này là cùng chiều. Afrifa & Adesina (2018) xem xét mối quan hệ giữa thù lao ban giám đốc và Khả năng sinh lời của 802 doanh nghiệp nhỏ và vừa niêm yết tại Châu Âu trong giai đoạn 2005 – 2012. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Kết quả thể hiện, thù lao ban giám đốc giúp gia tăng hiệu suất sinh lời của doanh nghiệp đến một điểm nhất định, sau đó thù lao lại làm giảm hiệu suất sinh lời. Số năm hoạt động của công ty, tỷ lệ tài sản hữu hình, quy mô công ty, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ tài sản ngắn hạn cũng có ảnh hưởng đến hiệu suất sinh lời của doanh nghiệp. Chua et al. (2018) đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm Hội đồng quản trị và thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của 100 công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Bursa Malaysia, từ ba ngành công nghiệp là sản xuất sản phẩm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, sản xuất sản phẩm tiêu dùng giai đoạn 2012 – 2016. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM). Nghiên cứu xác định được thù lao Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, quy mô công ty, tỷ lệ nợ có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời.
Nur & Jennifer (2018) khám phá mối quan hệ giữa thù lao giám đốc và hiệu quả tài chính của 96 công ty ở Malaysia giai đoạn 2010 – 2014. Thông qua phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) đã chứng minh được sự ảnh hưởng của thù lao giám đốc đến hiệu quả tài chính (được thể hiện qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu). Adam et al. (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của thù lao ban giám đốc đến Khả năng sinh lời của 50 doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán Ai Cập giai đoạn 2012 – 2017. Trong đó, Khả năng sinh lời được đo lường qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ số Q của Tobin. Thông qua phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) cho biết, thù lao ban giám đốc tác động nghịch chiều đến hệ số Q của Tobin. Aslam et al. (2019) kiểm tra mối quan hệ giữa tiền lương Hội đồng quản trị và hiệu suất tài chính của 100 công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Pakistan giai đoạn 2009 – 2016. Phương pháp mô men tổng quát (GMM) sử dụng phân tích. Nghiên cứu không chỉ xác định được thù lao không bằng tiền của Hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất tài chính, mà các yếu tố về quy mô Hội đồng quản trị, kiêm nhiệm giám đốc điều và chủ tịch Hội đồng quản trị, giám đốc không điều hành, sở hữu gia đình, quy mô công ty, tỷ lệ nợ, tăng trưởng GDP, lạm phát cũng ảnh hưởng. Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Ibrahim et al. (2019) điều tra mối quan hệ giữa thù lao giám đốc, quy mô Hội đồng quản trị và hiệu suất tài chính của 25 công ty Viễn thông niêm yết tại Malaysia giai đoạn 2013 – 2017. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương bé nhất (OLS). Nhưng thù lao giám đốc và quy mô Hội đồng quản trị lại có ảnh hưởng nghịch chiều đến hiệu suất tài chính của công ty. Ahmed et al. (2020) kiểm tra ảnh hưởng của thù lao ban giám đốc đến hiệu quả tài chính của 28 công ty bảo hiểm ở Nigeria giai đoạn 2012 – 2017. Phương pháp phân tích bao gồm: hồi quy bình phương bé nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM). Kết quả cho biết, thù lao ban giám đốc tác động nghịch chiều đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, nhưng dưới sự kiểm soát của quy mô Hội đồng quản trị và tỷ lệ thành viên độc lập lại làm gia tăng Khả năng sinh lời. Quy mô Hội đồng quản trị, quy mô công ty, tỷ lệ nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu cũng là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả tài chính. Harymawan et al. (2020) đánh giá việc thành lập Ủy ban thù lao, thù lao ban điều hành và Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của 847 công ty tại Indonesia giai đoạn 2014 – 2017. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương bé nhất (OLS). Theo đó, việc thành Ủy ban thù lao có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty, thù lao ban điều hành và Hội đồng quản trị cũng ảnh hưởng khi có sự điều tiết của việc thành lập Ủy ban thù lao. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ nợ, quy mô công ty, tỷ lệ dòng tiền, tỷ lệ tài sản cố định cũng là các khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời.
Sharmin et al. (2020) nghiên cứu tác động từ các ưu đãi dành cho Hội đồng quản trị, cụ thể là thù lao đến hiệu quả tài chính của 140 doanh nghiệp lĩnh vực dệt may ở Bangladesh giai đoạn 2011 – 2017 và thông qua phương pháp tổng quát mô men (GMM) xác định được tồn tại mối quan hệ nghịch chiều từ thù lao đến hiệu quả tài chính. Bên cạnh đó, tuổi doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, vòng quay tài sản, quy mô doanh nghiệp cũng tác động đến hiệu suất tài chính. Tesfaye et al (2020) xác định tác động của thù lao Hội đồng quản trị, quyền sở hữu của giám đốc đến hiệu quả tài chính của 91 doanh nghiệp niêm yết trên Thị trường chứng khoán ở Nam Phi giai đoạn 2005 – 2018. Thông qua hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) phát hiện, thù lao Hội đồng quản trị giúp gia tăng hiệu quả tài chính. Hiệu quả tài chính năm trước, tỷ lệ nợ, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ thanh khoản, chi phí nghiên cứu phát triển cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Zhou & Bu (2020) nghiên cứu mối quan hệ giữa thù lao giám đốc và hiệu suất tài chính của doanh nghiệp của 181 công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán ở Thẩm Quyến và Thượng Hải giai đoạn 2015 – 2019 và thông qua phương pháp tổng quan mô men (GMM) xác định thù lao và tỷ lệ tham gia cuộc họp của giám đốc có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất tài chính của doanh nghiệp. Mức độ quản trị toàn diện, quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản cố định cũng là các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Al-Faryan (2021) điều tra tác động tiền lương của người quản lý đến hiệu suất tài chính của 169 công ty ở Saudi Arabia giai đoạn 2007 – 2014. Phương pháp phân tích là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu hiệu ứng cố định (FEM), phương pháp tổng quát mô men (GMM). Kết quả cho biết, tiền lương người quản lý có tác động tích cực đến hiệu suất tài chính của công ty. Quy mô công ty, tỷ lệ nợ, số năm hoạt động công ty cũng ảnh hưởng đáng kể đến Khả năng sinh lời. Saad et al. (2021) điều tra mối quan hệ giữa thù lao giám đốc, Hội đồng quản trị, ban điều hành và hiệu suất tài chính của 100 công ty niêm yết ở Pakistan giai đoạn 2014 – 2019. Thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính đã phát hiện sự ảnh hưởng đáng kể từ thù lao đến hiệu suất tài chính. Giám đốc độc lập, giới tính giám đốc, quy mô công ty cũng là khía cạnh quan trọng quyết định hiệu suất tài chính của công ty. Nikodemus & Africa (2022) tập trung nghiên cứu về tác động của thù lao thành viên Hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của 97 doanh nghiệp công ở Namibia. Phương pháp phân tích bao gồm: kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, hồi quy tuyến tính. Kết quả thể hiện, chưa thể minh chứng cho sự ảnh hưởng của tiền lương người quản lý đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nhưng tồn tài ảnh hưởng của khoản phụ cấp đến hiệu quả. Mohammed et al. (2023) kiểm tra tác động của chế độ đãi ngộ dành cho giám đốc đối với hiệu quả tài chính của 63 doanh nghiệp niêm yết ở Nigeria giai đoạn 2012 – 2021. Phương pháp phân tích tổng quát mô men (GMM) cho biết, tiền lương của giám đốc và chính sách lương hưu ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Mối quan hệ giữa thù lao người quản lý hoặc Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời ở ngân hàng cũng được các nhà nghiên cứu quan tâm và xem xét. Cụ thể, Nadeem & Sitara (2015) xem xét tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị, mức độ tập trung quyền sở hữu, thù lao giám đốc điều hành và hiệu quả tài chính của 43 Ngân hàng thương mại Hồi giáo ở Pakistan giai đoạn 2004 – 2014. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Kết quả thể hiện, quy mô Hội đồng quản trị, quy mô ngân hàng là các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Nhưng không thể xác định được sự ảnh hưởng của thù lao giám đốc, tỷ lệ thành viê độc lập, mức độ tập trung quyền sở hữu, đến hiệu quả tài chính. Rita & Amos (2016) xác định tác động của thù lao Hội đồng quản trị đến hiệu quả tài chính của 20 Ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, công ty đầu tư được niêm yết tại Thị trường chứng khoán Nairobi giai đoạn 2003 – 2013. Nghiên cứu đã xác nhận tồn tại giữa thù lao Hội đồng quản trị và hiệu suất tài chính của các Ngân hàng thương mại thông qua hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Capuano (2022) khám phá mối quan hệ giữa mức lương của ban điều hành và hiệu suất tài chính của 13 ngân hàng ở Hoa Kỳ giai đoạn 1999 – 2021. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Thù lao giám đốc điều hành được thể hiện qua tiền lương giám đốc, thưởng giám đốc, thù lao cổ phần giám đốc, tiền lương Hội đồng quản trị, thưởng Hội đồng quản trị, thù lao cổ phần Hội đồng quản trị. Trong đó, các khía cạnh đo lường cho thù lao ban điều hành đều có ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính của ngân hàng (tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vôn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên). Quy mô ngân hàng, quy mô Hội đồng quản trị, tốc độ tăng trưởng GDP cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính ngân hàng.
Tuy nhiên, vấn đề thù lao của người quản lý tại các doanh nghiệp, đặc biệt là Ngân hàng thương mại lại rất ít được quan tâm ở Việt Nam. Trong đó, có ít nghiên cứu về thù lao ban giám đốc, Hội đồng quản trị nhưng lại nghiên cứu khía cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến thù lao được thực hiện ở nước ta. Rất hiếm nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời. Võ Hồng Đức và ctv. (2014) nghiên cứu cho các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE giai đoạn 2006 – 2012. Nghiên cứu đã phát hiện ảnh có sự ảnh hưởng từ Khả năng sinh lời, quy mô công ty, quy mô Hội đồng quản trị, trình độ học vấn Hội đồng quản trị, tỷ lệ nợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng đến thù lao Hội đồng quản trị. Vũ Xuân Thủy (2018) nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến thù lao ban điều hành của các công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016. Trong đó, sở hữu của tổng giám đốc, sở hữu nhà nước, Khả năng sinh lời, quy mô công ty, quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập, tốc độ tăng trưởng có ảnh hưởng đến thù lao ban điều hành. Ngô Mỹ Trân và ctv. (2018) nghiên cứu đối với các công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015. Các yếu tố được phát hiện có ảnh hưởng đến thù lao giám đốc điều hành là Khả năng sinh lời, quy mô công ty, tỷ lệ sở hữu nước ngoài. Trần Phi Long và ctv. (2021) xem xét mối quan hệ giữa giới tính và thù lao của giám đốc điều hành của các công ty lĩnh vực bất động sản niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo đó, giới tính, Khả năng sinh lời, quy mô công ty có ảnh hưởng đến thù lao ban điều hành công ty. Các nghiên cứu về thù lao Hội đồng quản trị hoặc ban điều hành đều chứng mình cho sự ảnh hưởng của Khả năng sinh lời đến thù lao, do đó có thể thù lao cũng ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của công ty.
2.2.2 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
KNSL của các Ngân hàng thương mại nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Vấn đề này được nghiên cứu ở nhiều nền kinh tế trên thế giới. Abedalfattah (2017) nghiên cứu tại Jordan giai đoạn 2000 – 2015. Dữ liệu được thu thập từ 25 ngân hàng với phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Kết quả chứng minh, tỷ lệ tiền gửi, số chi nhánh, máy ATM ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Hirindu & Kushani (2017) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của 12 Ngân hàng thương mại ở Sri-Lanka giai đoạn 2011 – 2015. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương bé nhất (OLS). Các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng bao gồm: quy mô ngân hàng, tỷ lệ huy động vốn, tỷ lệ cho vay. Deli et al. (2022) nghiên cứu tại các nước ở Châu Á, cụ thể là 40 ngân hàng tư nhân ở Ấn Độ và Bangladesh giai đoạn 2010 – 2021. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM). Kết quả cho biết các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng là quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ, tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP. Elena et al. (2023) nghiên cứu đối với 50 Ngân hàng thương mại ở Nga giai đoạn 2011 – 2020. Phương pháp phân tích tổng quát mô men (GMM) xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng bao gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế năm trước, quy mô ngân hàng, mức độ dịch vụ, rủi ro tín dụng, rủi ro mất khả năng thanh toán, rủi ro vốn, mô hình kinh doanh, lãi suất, tăng trưởng GDP, lạm phát. Shawuya & Ekaterina (2023) tìm ra các yếu tố tác động đến Khả năng sinh lời của 16 Ngân hàng thương mại ở Trung Quốc giai đoạn 2008 – 2020. Phương pháp phân tích là hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM). Kết quả xác định các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng rủi ro, chi phí hoạt động, tốc độ tăng trưởng GDP.
Ở Việt Nam việc đánh giá Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại được thực hiện khá nhiều, vì ngân hàng là tổ chức đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế. Lý Hoàng Khang và ctv. (2021) nghiên cứu đối với 18 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2019. Thông qua phương pháp mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả chứng minh, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ nợ xấu, dư nợ, rủi ro tín dụng là các yếu tố có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Nguyễn Thành Đạt (2022) nghiên cứu đối với 37 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2021. Phương pháp phân tích là mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM). Kết quả thể hiện, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, quy mô ngân hàng, thu nhập lãi cận biên, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng. Nguyễn Thanh Phương & Đặng Thị Lan Phương (2022) nghiên cứu đối với 15 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020. Phương pháp phân tích là mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả chứng minh, được các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại là quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi cận biên, chi phí quản lý, rủi ro tín dụng, thuế. Nguyễn Kim Quốc Trung & Nguyễn Minh Hằng (2022) nghiên cứu giai đoạn 2010 – 2020 xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng là quy mô Hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm, tỷ lệ thành viên độc lập, sở hữu nhà nước. Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Hồ Thị Lam & Nguyễn Ngọc Hoàng Anh (2022) nghiên cứu đối với 25 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020. Phương pháp phân tích là mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả chứng minh, các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng là quy mô ngân hàng, rủi ro thanh khoản, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ lệ chi phí, tỷ lệ nợ, rủi ro tín dụng. Phạm Xuân Quỳnh (2023) nghiên cứu đối với 25 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2018 – 2021. Phương pháp phân tích là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) xác định quy mô ngân hàng, cấu trúc tài trợ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ chi phí, rủi ro tín dụng, thu nhập lãi cận biên là các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Phùng Việt Hà (2023) nghiên cứu đối với 15 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020. Phương pháp phân tích là mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam là quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi cận biên, chi phí quản lý, rủi ro tín dụng, thuế. Nguyen & Dao (2024) nghiên cứu đối với 10 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2013 – 2022. Phương pháp phân tích là mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), mô hình hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của ngân hàng là các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán, thu nhập lãi cận biên, quy mô ngân hàng, dư nợ.
Qua các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến thù lao Hội đồng quản trị và Khả năng sinh lời cho thấy, Khả năng sinh lời nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, nhưng thù lao Hội đồng quản trị lại là chủ đề ít được quan tâm hơn hẵn. Dù các lý thuyết liên quan và nhiều nghiên cứu đã chứng minh thù lao Hội đồng quản trị là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đặc biệt, ở lĩnh vực ngân hàng số lượng nghiên cứu về thù lao Hội đồng quản trị rất hạn chế. Do vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
- Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế
2.3 KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Chủ đề thù lao của nhà quản lý cấp là vấn đề nhận được ít sự quan tâm của các nghiên cứu, dù đây là khía cạnh quan trọng có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn chung, các nghiên cứu về ảnh hưởng của thù lao người quản lý doanh nghiệp đến Khả năng sinh lời còn khá hạn chế, các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển. Đây cũng là vấn đề chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam, vì chỉ có các nghiên cứu của Võ Hồng Đức và ctv. (2014), Vũ Xuân Thủy (2018), Ngô Mỹ Trân và ctv. (2018), Trần Phi Long và ctv. (2021) đề cập đến thù lao của ban giám đốc. Tuy nhiên, thù lao người quản lý cấp cao của doanh nghiệp (HĐQT, ban điều hành) được các nghiên cứu ở nước ngoài chứng mình là một khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Hơn thế, lý thuyết lệ thuộc nguồn lực, lý thuyết đại diện, lý thuyết quản trị, lý thuyết quyền lực quản lý cũng lập luận cho sự ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Mặt khác, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của doanh nghiệp nói chung, Ngân hàng thương mại nói riêng lại khá phổ biến. Qua nghiên cứu đó đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại. Nên Khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại là chủ đề quan trọng, nhưng khía cạnh thù lao Hội đồng quản trị lại chưa được xem xét.
Điều này cho thấy, đây là một khoảng trống nghiên cứu. Nên nghiên cứu này được thực hiện có thể trả lời cho sự ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Ảnh hưởng của thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời.
Từ lý thuyết lệ thuộc nguồn lực, lý thuyết đại diện, lý thuyết quản trị, lý thuyết quyền lực quản lý và các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, tồn tại sự ảnh hưởng của thù lao Hội đồng quản trị đến Khả năng sinh lời. Nhưng vấn đề này ít được quan tâm ở Việt Nam, nên đây được xem là khoảng trống nghiên cứu cần được thực hiện.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH

Pingback: Luận văn: KQNC Đến thù lao hội đồng đến khả năng sinh lời NH