Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Luận văn —Tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam‖ được thực hiện nhằm lượng hóa ảnh hưởng của công nghệ tài chính (Fintech) đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ của ngành tài chính – ngân hàng Việt Nam. Trên cơ sở dữ liệu bảng của 24 ngân hàng thương mại niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2015–2024, nghiên cứu áp dụng các mô hình kinh tế lượng (OLS, FEM, REM và FGLS) để đánh giá mối quan hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động được đo lường qua các chỉ tiêu ROA, ROE và NIM. Kết quả cho thấy Fintech có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ROA và ROE, trong khi tác động lên NIM chưa ổn định do ảnh hưởng cạnh tranh lãi suất và chi phí chuyển đổi số trong ngắn hạn. Các biến kiểm soát như CIR, SIZE, GDP và INF cho thấy vai trò khác biệt trong việc giải thích hiệu quả hoạt động. Luận văn đóng góp về mặt khoa học bằng việc xây dựng mô hình định lượng phản ánh đặc thù của Việt Nam và cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về tác động của Fintech đối với hiệu quả ngân hàng. Về thực tiễn, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách giúp ngân hàng tối ưu hóa chiến lược chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm phát triển Fintech bền vững và an toàn cho hệ thống tài chính quốc gia.

  • ABSTRACT

The thesis titled —The Impact of FinTech on the Operational Efficiency of Vietnamese Commercial Banks‖ aims to quantify how financial technology influences bank performance amid Vietnam’s accelerating digital transformation. Using a balanced panel dataset of 24 commercial banks listed on HOSE and HNX from 2015 to 2024, the study employs multiple econometric models (OLS, FEM, REM, and FGLS) to estimate the effect of FinTech adoption on key performance indicators, namely ROA, ROE, and NIM. Empirical findings reveal that FinTech exerts a positive and statistically significant impact on ROA and ROE, indicating its role in improving profitability and operational efficiency. However, its influence on NIM is less stable, reflecting short-term price competition and digital transformation costs. Control variables such as the cost-to-income ratio CIR, bank size SIZE, GDP growth, and inflation INF demonstrate varying effects on performance outcomes. The study contributes to academic literature by establishing a quantitative model that captures Vietnam’s contextual characteristics and provides robust empirical evidence on the FinTech–performance nexus. Practically, the findings offer valuable policy implications for both commercial banks and regulators—emphasizing strategies to enhance digital transformation, promote FinTech–bank collaboration, and strengthen regulatory frameworks for sustainable FinTech development. Overall, the research highlights FinTech’s role as a catalyst for improving the overall efficiency of Vietnam’s banking system, supporting national objectives for financial innovation, inclusion, and competitiveness in the digital era. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với sự bùng nổ của công nghệ số đã tạo ra những thay đổi sâu sắc trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ngành tài chính – ngân hàng. Trong đó, công nghệ tài chính (Fintech) đã và đang đóng vai trò là nhân tố trung tâm thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình kinh doanh, chuyển dịch từ hình thức vận hành truyền thống sang nền tảng số hóa toàn diện. Fintech không chỉ cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tài chính linh hoạt, tức thời, với chi phí thấp mà còn góp phần nâng cao trải nghiệm người dùng, tạo ra những chuẩn mực mới trong hoạt động ngân hàng hiện đại.

Tại Việt Nam, dưới áp lực từ làn sóng chuyển đổi số toàn cầu, các ngân hàng thương mại (NHTM) đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải thay đổi để thích nghi với môi trường cạnh tranh khốc liệt. Fintech trở thành một —con dao hai lưỡi‖ – vừa là cơ hội để nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua đổi mới công nghệ, vừa là thách thức đối với các NHTM trong việc thích ứng, tái cấu trúc và quản trị rủi ro số. Trong bối cảnh đó, đánh giá một cách khoa học và hệ thống về tác động thực sự của Fintech đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng là nhu cầu thiết yếu.

Tính đến năm 2022 Việt Nam có 260 Công Ty Fintech được thành lập, tăng 145 công ty so với thống kê năm 2020 số lượng công ty Fintech được thành lập là 115 công ty. Với chủ chương số hóa trong các dịch vụ giao dịch thanh toán —Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020‖, quyết định này thể hiện rõ nhất vào thời gian đại dịch Covid-19 năm 2020, tất cả các dịch vụ thanh toán tiền mặt được chuyển đổi qua hình thức thanh toán trực tuyến. Cho đến năm 2024 chính phủ càng làm rõ hơn về việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt qua —nghị định số 52/2024/NĐ-CP của Chính phủ‖, theo thống kê đến cuối năm 2023 hình thức thanh toán qua QR chiếm gần 183 triệu giao dịch và cho đến đầu tháng 1/2024 giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 63,3%, qua phương thức QR code tăng 892,95% về số lượng và 1.062,01% về giá trị. Với sức ép phát triển công nghệ cao so với thị trường quốc tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng thị trường Fintech nhanh đứng thứ 2 Châu Á sau Singapore.

Trong những năm gần đây đã có rất nhiều nghiên cứu về công nghệ Fintech trong hoạt động tài chính. Sự phát triển của Fintech là một bước nhảy lớn đối với các dịch vụ có tại Ngân hàng, không những vậy còn mang lại hiểu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Fintech đã mang lại một thách thức lớn cho các Ngân hàng truyền thống, vì Fintech mang lại các trải nghiệm dịch vụ mới. Nghiên cứu về sự tác động của công nghệ Fintech đối với Ngân hàng truyền thống cũng như tác động đến hiệu quả trong hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Nguyễn Hồng Yến và Nguyễn Văn Hải (2024) —cho rằng sự tăng trưởng của làng sóng Fintech có khả năng là xu hướng chủ đạo trong tương lai vì thế các Ngân hàng nên tăng cường đầu tư để chuyển đổi mô hình kinh doanh truyền thống sang công nghệ số để tạo tiện ích cho khách hàng và nâng cao hiệu quả cho hoạt động ngân hàng‖.

Abdul Razak Munir và cộng sự (2013) —Chấp nhận dịch vụ ngân hàng di động tại Makassa: Một Phương pháp tiếp cận mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)‖, cho thấy sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ trong các công nghệ ngân hàng, hiện khách hàng muốn sự tiện lợi và linh hoạt các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu và dễ sử dụng mà các ngân hàng truyền thống không thể cung cấp, trong tương lai Ngân hàng điện tử sẽ là chiến lược quan trọng để cạnh tranh mà tất cả các ngân hàng tổ chức tài chính cung cấp.

Đỗ Thị Bích Hồng (2022) —sự xuất hiện của các công ty Fintech là động lực buộc các NHTM phải thực hiện chuyển đổi số nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của KH trong việc sử dụng dịch vụ tại ngân hàng, công nghệ Fintech có thể giúp các dịch vụ có tại ngân hàng đi đến những nơi xa xôi hẻo lãnh‖. Điều này giúp các sản phẩm dịch vụ có tại Ngân hàng được nhiều khách hàng biết đến và các NHTM có thể mang đến dịch vụ tiện ích hơn bằng cách áp dụng các công nghệ như trí tuệ AI, học máy Machine learning, phân tích dữ liệu nâng cao để có thể biết được nhu cầu của khách hàng.

Stijn Claessens và cộng sự ( 2018) —Thị trường tín dụng công nghệ tài chính trên toàn thế giới‖, tín dụng công nghệ tài chính đã tăng trưởn nhanh chóng kể từ khi ra đời năm 2005, tín dụng công nghệ bình quân đầu người cho thấy sự phát triển chung của nền kinh tế, khả năng cạnh tranh của khu vực ngân hàng chính thức của nền kinh tế và cũng cho thấy tín dụng công nghệ tài chính đã giúp cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng cho các công ty và cá nhân chưa được phục vụ đầy đủ về mặc tài chính, đồng thời cung cấp thêm lựa chọn cho các nhà đầu tư. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay cho thấy còn thiếu các công trình mang tính định lượng chuyên sâu về chủ đề này. Phần lớn các nghiên cứu còn dừng ở mức mô tả khái quát, thiếu các mô hình phân tích cụ thể để đo lường mức độ tác động cũng như xác định các yếu tố trung gian. Sự thiếu hụt này đặt ra một khoảng trống học thuật cần được lấp đầy nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu có hệ thống, mang tính thực chứng cao. Đồng thời, trong bối cảnh Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang tích cực thúc đẩy chiến lược chuyển đổi số quốc gia, các NHTM cũng đang có nhu cầu thực tiễn ngày càng lớn trong việc đo lường hiệu quả ứng dụng Fintech nhằm tối ưu hóa hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh và hoạch định chính sách công nghệ phù hợp. Việc nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động ngân hàng sẽ cung cấp luận cứ khoa học quan trọng để hỗ trợ quá trình này.

Trên cơ sở đó, đề tài —Tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam‖ được thực hiện với dữ liệu bảng (panel data) của 24 ngân hàng niêm yết giai đoạn 2015 – 2024, qua đó đo lường mối quan hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động (ROA, ROE, NIM) bằng các phương pháp hồi quy kinh tế lượng hiện đại (OLS, FEM, REM, FGLS). Việc xây dựng mô hình định lượng toàn diện giúp bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới cho Việt Nam, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ chiến lược chuyển đổi số và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số.

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu tác động công nghệ tài chính (Fintech) đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu nghiên cụ thể gồm có 3 mục tiêu như sau:

  • Đánh giá thực trạng việc áp dụng Fintech tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Phân tích tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Đề xuất các hàm ý thúc đẩy việc sử dụng Fintech nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam.

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Để hoàn thành 03 mục tiêu nghiên cứu, tác giả đặt ra 03 câu hỏi nghiên cứu như sau:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng việc áp dụng Fintech tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Mức độ tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng?
  • Câu hỏi 3: Giải pháp nào liên quan đến sử dụng Fintech nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Đề tài nghiên cứu tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
  • Công nghệ Fintech đang được áp dụng trong hoạt động tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Phạm vi không gian: nghiên cứu được lấy dữ liệu từ 24 Ngân hàng thương mại tại Việt Nam được niêm yết số liệu trên sàn chứng khoán và được công bố các báo cáo tài chính qua các năm.

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được lấy dữ liệu thời gian từ năm 2015 đến năm 2024. Đây là khoảng thời gian phản ánh tương đối đầy đủ quá trình hình thành, phát triển và bùng nổ của Fintech tại Việt Nam, đồng thời bao quát cả giai đoạn trước, trong và sau đại dịch Covid-19 – một biến cố có tác động mạnh đến tiến trình chuyển đổi số ngành ngân hàng.

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Sử dụng để khám phá lý thuyết, xây dựng mô hình nghiên cứu và xác định các biến quan sát.

Phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng, công nghệ tài chính và quản trị rủi ro nhằm:

  • Xác định các khía cạnh chính của Fintech ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng (ví dụ: thanh toán số, ngân hàng số, dữ liệu lớn, AI trong thẩm định tín dụng…).
  • Điều chỉnh và hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu sơ bộ trước khi lượng hóa.

1.5.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Sử dụng để đo lường tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua mô hình kinh tế lượng.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo chuyển đổi số, và dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, World Bank, IMF, v.v…

  • Thời gian nghiên cứu: Dự kiến giai đoạn 2015 – 2024 (tùy vào mức độ đầy đủ và tin cậy của dữ liệu).

Phương pháp xử lý dữ liệu:

  • Kiểm định mô hình bằng hồi quy tuyến tính, hồi quy bảng (Panel Regression: Pooled OLS, FEM, REM).
  • Xử lý các vấn đề kinh tế lượng như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, lựa chọn mô hình bằng Hausman test. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

1.6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam. Bằng cách thu thập các cơ sở lý thuyết dữ liệu từ các nghiên cứu trước trong và ngoài nước để làm cơ sở lý luận cho bài nghiên cứu. Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp nghiên cứu từ việc chạy mô hình từ dữ liệu thu thập được từ báo cáo tài chính của 24 NHTM qua các năm từ giai đoạn 2015-2024. Từ đó có .thể cho ra kết quả nghiên cứu và đưa ra các giải pháp khuyến nghị nhầm giúp đỡ tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM trong việc áp dụng công nghệ tài chính ở lĩnh vực Ngân hàng

1.7. ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU

1.7.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng tri thức khoa học bằng việc mở rộng hiểu biết về mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Thứ nhất, luận văn xây dựng và kiểm định mô hình định lượng dựa trên các chỉ tiêu tài chính và chỉ số phản ánh mức độ ứng dụng Fintech, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của Fintech đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi.

Thứ hai, nghiên cứu bổ sung vào khoảng trống học thuật hiện hữu, khi phần lớn các công trình trước đây tập trung ở các quốc gia phát triển hoặc chỉ dừng lại ở phân tích định tính, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng tại Việt Nam.

Thứ ba, kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào lý thuyết về đổi mới tài chính và hiệu quả hoạt động ngân hàng, mà còn tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo mở rộng phạm vi phân tích, so sánh giữa các quốc gia hoặc giữa các nhóm ngân hàng với mức độ chuyển đổi số khác nhau.

1.7.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm, phục vụ hoạch định chính sách ngành tài chính – ngân hàng, giúp hiểu rõ hơn về vai trò của Fintech cung cấp cái nhìn đa dạng hơn về lợi ích của việc hợp tác giữa Ngân hàng thương mại và công ty Fintech, hỗ trợ hoạt động của Ngân hàng như các lĩnh vực thanh toán, quản lý rủi ro, quản lý hoạt động và chất lượng dịch vụ, giúp ngân hàng đổi với hơn trong việc quản lý và hoạt động. Nghiên cứu còn cho thấy cách Fintech nâng cao trải nghiệm người tiêu dùng với các dịch vụ Ngân hàng, hơn nữa Fintech còn giúp phát triển nền kinh tế toàn diện, tăng cường khả năng tiếp cận của các khách hàng vùng sâu vùng xa đến gần hơn với các dịch vụ có tại Ngân hàng.

1.8. KẾT CẤU CÁC CHƯƠNG TRONG NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

  • Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Trình bày tính cấp thiết và bối cảnh thực tiễn của đề tài, xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, cùng các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn.

  • Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước

Hệ thống hóa các khái niệm, lý thuyết nền tảng và khung phân tích về Fintech và hiệu quả hoạt động ngân hàng; phân tích các ứng dụng của Fintech trong hoạt động ngân hàng thương mại, tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan, từ đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu mà luận văn hướng tới.

  • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Mô tả quy trình nghiên cứu, nguồn dữ liệu, biến nghiên cứu và mô hình phân tích; giải thích phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng được sử dụng, cùng các bước xử lý, kiểm định và lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp để phân tích tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng.

  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày kết quả thống kê mô tả, phân tích tương quan, kiểm định mô hình và các kết quả hồi quy; thảo luận ý nghĩa của các phát hiện so với giả thuyết nghiên cứu và so sánh với kết quả của các nghiên cứu trước.

  • Chương 5: Kết luận và hàm ý

Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu; đề xuất hàm ý chính sách đối với ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý nhà nước; nêu ra hạn chế của nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

  • Tóm tắt chương 1 Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Chương 1 trình bày sự cần thiết cho cuộc nghiên cứu, sự đóng góp của nghiên cứu cho ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Chương này tác giả cũng đưa ra 3 mục tiêu cụ thể cho bài nghiên cứu nhằm đánh giá được sự tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam, bằng cách thu thập các số liệu từ 24 NHTM Việt Nam được niêm yết trên sàn HOSE và HNX, dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2024. Ở chương này thể hiện phương pháp nghiên cứu phiên tích dữ liệu và kiểm định mô hình FEM, REM và OLS để xác định mô hình phù hợp và đưa ra kết quả tổng quan.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1. TỔNG QUAN VỀ FINTECH

2.1.1. Khái niệm và phân loại Fintech

Thuật ngữ Fintech (Financial Technology) được sử dụng rộng rãi trong thập niên gần đây để mô tả sự hội tụ giữa tài chính và công nghệ, phản ánh xu hướng đổi mới mô hình hoạt động của các tổ chức tài chính trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu. Tùy theo góc nhìn tiếp cận, khái niệm Fintech có thể được hiểu theo ba phương diện:

Dưới góc độ học thuật, theo Patrick Schueffel (2016), Fintech được xem là sự ứng dụng đổi mới công nghệ nhằm cải thiện và tự động hóa các hoạt động tài chính. Quan điểm này nhấn mạnh bản chất đổi mới (innovation) và mục tiêu nâng cao hiệu quả – tức Fintech không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là cơ chế cải tiến mô hình kinh doanh tài chính. Các nghiên cứu quốc tế như Claessens và cộng sự (2018) cho rằng Fintech đại diện cho làn sóng sáng tạo thứ tư của hệ thống tài chính toàn cầu, mở rộng khả năng tiếp cận vốn, tối ưu hóa chi phí giao dịch và tái cấu trúc lợi nhuận của ngân hàng.

Dưới góc độ thực tiễn, theo OECD ( 2018); IMF (2019), Fintech được hiểu là hệ sinh thái các doanh nghiệp và giải pháp công nghệ tham gia cung ứng dịch vụ tài chính theo phương thức mới, trong đó có thanh toán điện tử, tín dụng số, quản lý tài sản, bảo hiểm số và gọi vốn cộng đồng. Ở Việt Nam, Fintech hiện diện rõ nhất qua các ví điện tử (MoMo, ZaloPay), nền tảng P2P Lending (Tima, VayMuon), ngân hàng số (TPBank, VPBank NEO) và các ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chấm điểm tín dụng hay phòng chống gian lận. Dưới góc nhìn này, Fintech là kênh đổi mới sản phẩm và trải nghiệm khách hàng, giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng bao trùm tài chính. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Dưới góc độ quản lý và chính sách, Fintech được các tổ chức điều tiết quốc tế như Financial Stability Board FSB (2017) và Basel Committee on Banking Supervision (BCBS, 2018) định nghĩa là —các đổi mới công nghệ có thể tác động đáng kể đến dịch vụ tài chính và cách thức giám sát tài chính‖. Cách hiểu này chú trọng đến khía cạnh an toàn hệ thống và khung pháp lý, coi Fintech vừa là động lực đổi mới, vừa là thách thức quản trị rủi ro mới cần được kiểm soát thông qua các chính sách RegTech, SupTech và khung sandbox thử nghiệm.

Về phân loại, các tổ chức như FSB (2019) và OECD (2018) chia Fintech thành hai nhóm chính: (i) theo lĩnh vực ứng dụng (verticals) – bao gồm thanh toán số, tín dụng số, quản lý tài sản, bảo hiểm số, huy động vốn cộng đồng, RegTech/SupTech; và (ii) theo công nghệ nền tảng (enablers) – gồm trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối (blockchain), điện toán đám mây, và API/ngân hàng mở. Hai hướng phân loại này giúp làm rõ kênh tác động kép của Fintech: một mặt ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động (qua sản phẩm – dịch vụ), mặt khác nâng cấp năng lực vận hành và phân tích của ngân hàng (qua nền tảng công nghệ). Từ tổng hợp trên, nghiên cứu này được tác giả sử dụng khái niệm Fintech theo quan điểm của Financial Stability Board (2017), —Fintech là các đổi mới công nghệ có thể tạo ra tác động đáng kể đến dịch vụ tài chính và cách thức cung ứng các dịch vụ này.‖

  • Bảng 2.1. Định nghĩa về Fintech

Phân loại Fintech có thể tiếp cận theo (i) chuỗi giá trị dịch vụ tài chính (verticals) và (ii) công nghệ nền tảng (enablers). Theo hướng thứ nhất, nhóm ứng dụng phổ biến gồm: thanh toán số và hạ tầng bán lẻ (ví điện tử, QR, BNPL, chuyển tiền tức thời); tín dụng số/P2P và chấm điểm thay thế; quản lý tài sản (robo-advisory); bảo hiểm số (InsurTech); huy động vốn cộng đồng; dịch vụ thị trường vốn và giao dịch điện tử; RegTech/SupTech phục vụ tuân thủ và giám sát (FSB, 2019; BCBS, 2018). Theo hướng thứ hai, các công nghệ lõi gồm trí tuệ nhân tạo và học máy, dữ liệu lớn và phân tích nâng cao, điện toán đám mây, API/mở dữ liệu – Open Banking, và công nghệ sổ cái phân tán (DLT/Blockchain), trong đó DLT còn mở ra lớp tài sản/tiền tệ số mới và mô thức thanh toán – lưu ký mới (IMF, 2019; OECD, 2018).

Các cách phân loại trên bổ trợ lẫn nhau: Verticals giúp nhận diện kênh tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (chi phí – doanh thu – rủi ro), còn Enablers lý giải động lực công nghệ đứng sau. Từ giác độ đo lường, phân loại theo Verticals hữu ích cho xây dựng chỉ số mức độ ứng dụng như: số lượng/gía trị giao dịch QR, tỷ lệ khách hàng số, dư nợ tín dụng số…, còn phân loại theo Enablers hỗ trợ đánh giá năng lực số như: mức độ dùng AI, mức độ mở API, tỉ lệ hạ tầng trên đám mây. Việc kết hợp hai lớp phân loại này phù hợp với yêu cầu nghiên cứu định lượng tác động của Fintech tới ROA/ROE/NIM trong bối cảnh Việt Nam, đồng thời nhất quán với khuyến nghị khung phân tích của FSB, BCBS, OECD và IMF.

  • Bảng 2.2. Phân loại Fintech theo lĩnh vực ứng dụng và công nghệ nền tảng

2.1.2. Các công nghệ cốt lõi trong Fintech Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Sự phát triển của Fintech gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), nơi công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trở thành nền tảng định hình lại toàn bộ hệ sinh thái tài chính – ngân hàng. Các công nghệ cốt lõi không chỉ đóng vai trò là công cụ hỗ trợ, mà còn là động lực trung tâm thúc đẩy đổi mới mô hình kinh doanh tài chính, giúp gia tăng năng suất, giảm chi phí và cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Theo các báo cáo của Financial Stability Board (2019) và Basel Committee on Banking Supervision (2018), những công nghệ chủ đạo đang định hình Fintech bao gồm: Trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy (Machine Learning), Dữ liệu lớn (Big Data), Công nghệ chuỗi khối (Blockchain), Điện toán đám mây (Cloud Computing) và Ngân hàng mở qua API (Open Banking).

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) và học máy (Machine Learning – ML) là công nghệ trung tâm của hầu hết các giải pháp Fintech hiện nay. AI cho phép hệ thống tự động phân tích, học hỏi từ dữ liệu và đưa ra quyết định mà trước đây chỉ có con người mới thực hiện được. Trong lĩnh vực ngân hàng, AI được ứng dụng trong thẩm định tín dụng, phát hiện gian lận, định giá rủi ro, tư vấn đầu tư tự động (robo-advisory) và hỗ trợ khách hàng qua chatbot. Ứng dụng AI giúp ngân hàng rút ngắn thời gian xử lý giao dịch, giảm sai sót, tối ưu chi phí nhân sự, đồng thời cung cấp trải nghiệm cá nhân hóa hơn cho khách hàng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024), nhiều ngân hàng lớn như TPBank, VPBank và Techcombank đã tích hợp AI vào quy trình phục vụ khách hàng, đặc biệt trong phân tích hành vi tiêu dùng và gợi ý sản phẩm tín dụng. AI và ML không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà còn là nền tảng chiến lược giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và chuyển đổi mô hình quản trị rủi ro sang hướng dữ liệu hóa.

Dữ liệu lớn (Big Data Analytics) đóng vai trò là —nhiên liệu‖ của Fintech. Với khả năng thu thập, lưu trữ và xử lý khối lượng dữ liệu khổng lồ từ nhiều nguồn khác nhau – như giao dịch tài chính, hành vi khách hàng, mạng xã hội và thiết bị IoT – Big Data giúp các tổ chức tài chính phân tích chuyên sâu, dự đoán xu hướng và tối ưu hóa quyết định kinh doanh. Các ngân hàng Việt Nam đang tận dụng dữ liệu lớn để nâng cao năng lực chấm điểm tín dụng, xác định rủi ro sớm và tối ưu hóa chiến lược marketing cá nhân hóa. Theo OECD (2018), việc kết hợp Big Data và Machine Learning đã giúp các tổ chức tài chính tăng đáng kể khả năng nhận diện khách hàng có nguy cơ nợ xấu và điều chỉnh hạn mức tín dụng linh hoạt hơn. Ở góc độ quản trị, Big Data giúp hình thành nền tảng ngân hàng dựa trên dữ liệu (Data-driven Banking) – yếu tố then chốt trong quá trình chuyển đổi số của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Công nghệ chuỗi khối (Blockchain), hay còn gọi là công nghệ sổ cái phân tán (Distributed Ledger Technology – DLT), là nền tảng cho các giao dịch phi tập trung, cho phép lưu trữ và xác thực dữ liệu mà không cần bên trung gian. Ưu điểm nổi bật của Blockchain là tính minh bạch, bảo mật cao và khả năng loại bỏ rủi ro gian lận. Trong lĩnh vực ngân hàng, Blockchain được ứng dụng trong thanh toán quốc tế, chuyển tiền xuyên biên giới, hợp đồng thông minh (Smart Contract), cũng như trong quản lý danh tính số và lưu ký tài sản số (Digital Assets). Theo IMF (2019), việc áp dụng Blockchain giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian thanh toán, và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc tài sản. Tại Việt Nam, một số ngân hàng như Vietcombank, BIDV, SeABank đã tham gia thử nghiệm ứng dụng Blockchain trong hoạt động thanh toán quốc tế và lưu chuyển chứng từ điện tử, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả vận hành.

Điện toán đám mây (Cloud Computing) là công nghệ giúp tổ chức tài chính lưu trữ, xử lý và quản lý dữ liệu trên nền tảng trực tuyến, cho phép truy cập từ xa một cách an toàn và linh hoạt. Cloud Computing mang lại hiệu quả về chi phí đầu tư hạ tầng, khả năng mở rộng quy mô hệ thống, và sự linh hoạt trong triển khai các dịch vụ mới. Nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam đã chuyển dịch từ hệ thống máy chủ truyền thống sang nền tảng điện toán đám mây kết hợp (hybrid cloud), giúp tăng tốc độ xử lý, giảm rủi ro bảo mật và hỗ trợ hoạt động phân tích dữ liệu theo thời gian thực. Theo FSB (2019), việc triển khai Cloud Computing là yếu tố thiết yếu để hỗ trợ tích hợp các công nghệ Fintech khác như AI và Big Data, tạo nên hệ sinh thái tài chính số toàn diện.

Ngân hàng mở và giao diện lập trình ứng dụng (Open Banking / API) là xu hướng công nghệ thúc đẩy tính minh bạch và cạnh tranh trong thị trường tài chính. Open Banking cho phép các ngân hàng chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba (như công ty Fintech, ví điện tử, ứng dụng thanh toán) thông qua các API được chuẩn hóa, từ đó hình thành hệ sinh thái dịch vụ tài chính mở. Lợi ích chính của mô hình này là đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng, và mở rộng kênh hợp tác giữa ngân hàng – Fintech. Theo Ngân hàng Nhà nước (2024), một số ngân hàng tiên phong như VPBank, TPBank, SeABank đã xây dựng nền tảng Open API để kết nối đối tác Fintech, cho phép khách hàng thực hiện các dịch vụ tài chính tích hợp ngay trên ứng dụng di động. Về lâu dài, Open Banking được xem là nền móng cho phát triển Ngân hàng số thế hệ mới (Bank 4.0) tại Việt Nam.

Có thể thấy rằng các công nghệ cốt lõi – AI, Big Data, Blockchain, Cloud Computing và Open Banking – không tồn tại tách biệt mà bổ trợ và tương tác lẫn nhau trong việc hình thành hệ sinh thái Fintech toàn diện. AI và Big Data tạo ra năng lực phân tích và ra quyết định, Blockchain đảm bảo tính minh bạch và an toàn, Cloud Computing cung cấp hạ tầng linh hoạt, còn Open API mở rộng hợp tác và khả năng tích hợp. Chính sự cộng hưởng giữa các công nghệ này đã giúp Fintech trở thành đòn bẩy chiến lược nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số ngành ngân hàng giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn 2030. Do đó, hiểu rõ vai trò và cơ chế vận hành của các công nghệ cốt lõi này là cơ sở quan trọng để nghiên cứu định lượng tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

2.1.3. Tác động của Fintech đến nền kinh tế Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

2.1.3.1. Tác động của Fintech đến nền kinh tế toàn cầu

Trong những năm gần đây, Fintech đã trở thành một trong những nhân tố quan trọng định hình lại bức tranh của nền kinh tế toàn cầu. Sự kết hợp giữa tài chính và công nghệ số không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính mà còn tạo ra những tác động sâu rộng đến tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và mức độ bao trùm tài chính tại nhiều quốc gia. Theo Financial Stability Board (2019), sự phát triển nhanh chóng của các công ty Fintech đã làm thay đổi cấu trúc ngành dịch vụ tài chính, mở rộng quy mô và tốc độ tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ tài chính cơ bản.

Trên bình diện quốc tế, Fintech đã thúc đẩy tăng trưởng tài chính bao trùm (financial inclusion) thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính đến những nhóm dân cư chưa được phục vụ đầy đủ trong hệ thống ngân hàng truyền thống. Theo thống kê của World Bank (2023), đến năm 2023 có hơn 76% người trưởng thành trên toàn cầu sở hữu ít nhất một tài khoản thanh toán kỹ thuật số, tăng mạnh so với mức 51% của năm 2011. Tại các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Fintech đã giúp hàng trăm triệu người dân có thể tiếp cận dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động hoặc ví điện tử, góp phần thu hẹp khoảng cách số và cải thiện chất lượng đời sống tài chính. Báo cáo của IMF (2022) cũng khẳng định rằng việc mở rộng tài chính số có thể giúp GDP của các nước mới nổi tăng thêm khoảng 2–3% mỗi năm thông qua kênh gia tăng tiết kiệm và tiêu dùng.

Bên cạnh đó, Fintech là động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính, tạo ra hàng loạt mô hình kinh doanh mới như ngân hàng số (digital banking), cho vay ngang hàng (P2P lending), huy động vốn cộng đồng (crowdfunding) hay quản lý tài sản trực tuyến (robo-advisory). Những đổi mới này giúp giảm chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả quản trị và cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo OECD (2018), Fintech giúp giảm chi phí giao dịch tài chính trung bình từ 20–30% so với mô hình ngân hàng truyền thống, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao năng suất của ngành tài chính toàn cầu. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Fintech cũng có tác động trực tiếp đến ổn định hệ thống tài chính quốc tế. Ở khía cạnh tích cực, Fintech nâng cao hiệu quả giám sát, tăng tính minh bạch và hỗ trợ quản trị rủi ro thông qua ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) hay blockchain. Tuy nhiên, Basel Committee on Banking Supervision (2018) cảnh báo rằng sự gia tăng quá nhanh của các hoạt động tài chính phi truyền thống có thể làm phát sinh rủi ro hệ thống mới, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán xuyên biên giới, quản lý dữ liệu và an ninh mạng. Do đó, cần có sự điều tiết phù hợp giữa đổi mới công nghệ và an toàn tài chính nhằm duy trì sự ổn định bền vững của thị trường toàn cầu.

Ngoài ra, Fintech còn làm thay đổi cấu trúc cạnh tranh giữa ngân hàng truyền thống và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Theo Stijn Claessens và cộng sự (2018), sự phát triển của Fintech đã làm giảm chi phí vốn và mở rộng khả năng huy động vốn cho khu vực doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy các ngân hàng phải tái cấu trúc mô hình hoạt động, đẩy mạnh số hóa và hợp tác chiến lược với các công ty công nghệ tài chính. Mối quan hệ giữa ngân hàng và Fintech dần chuyển từ cạnh tranh sang hợp tác, hình thành nên các hệ sinh thái tài chính mở (Open Finance Ecosystem) – nơi cả hai bên cùng khai thác lợi thế công nghệ và dữ liệu để tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng.

Như vậy, có thể khẳng định rằng Fintech đã tạo ra những thay đổi mang tính bước ngoặt đối với nền kinh tế toàn cầu. Thông qua việc mở rộng tài chính bao trùm, thúc đẩy đổi mới, nâng cao hiệu quả vận hành và tái định hình cấu trúc cạnh tranh, Fintech không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với công tác quản lý, giám sát và hoạch định chính sách tài chính – ngân hàng trong thời đại số hóa toàn cầu.

2.1.3.2. Tác động của Fintech tại thị trường Việt Nam Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Tại Việt Nam, Fintech đã trở thành một trong những lĩnh vực năng động và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực Đông Nam Á. Sự phát triển này không chỉ góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng mà còn mang lại những tác động tích cực đến năng suất, hiệu quả tài chính và mức độ bao trùm tài chính của nền kinh tế. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024), đến cuối năm 2023, Việt Nam có khoảng 260 công ty Fintech đang hoạt động, tăng gấp hơn hai lần so với năm 2020 (115 công ty), đưa Việt Nam trở thành thị trường Fintech lớn thứ hai Đông Nam Á, chỉ sau Singapore.

Trước hết, xét về khung chính sách và cơ chế pháp lý, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển Fintech. Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016–2020, đặt nền tảng cho việc hình thành các dịch vụ thanh toán điện tử và ví điện tử. Tiếp nối đó, Nghị định 52/2024/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt đã được ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất, minh bạch và thúc đẩy các tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp Fintech tham gia thị trường một cách bình đẳng. Nghị định này không chỉ mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các mô hình thanh toán mới (như QR Code, Mobile Money, Open API) mà còn quy định rõ ràng về quản lý dữ liệu khách hàng, định danh điện tử (eKYC) và chống rửa tiền (AML), góp phần đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và ổn định hệ thống tài chính.

Tác động của khung chính sách này thể hiện rõ qua sự gia tăng mạnh mẽ của các giao dịch điện tử. Theo thống kê của Vụ Thanh toán – Ngân hàng Nhà nước (2024), đến đầu năm 2024, số lượng giao dịch thanh toán qua mã QR đạt 183 triệu giao dịch, tăng 892,95% về số lượng và 1.062,01% về giá trị so với năm 2023; tổng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt toàn hệ thống tăng 63,3%. Các số liệu này phản ánh xu hướng dịch chuyển rõ rệt từ thanh toán truyền thống sang thanh toán kỹ thuật số, góp phần tiết giảm chi phí xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Về tác động đối với hệ thống ngân hàng, Fintech đã giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số, tối ưu hóa quy trình vận hành và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hầu hết các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VPBank, Techcombank và SeABank đều đã triển khai ngân hàng số, ví điện tử hoặc hợp tác với các công ty Fintech trong mảng thanh toán, cho vay tiêu dùng, quản trị dữ liệu và an ninh mạng. Việc ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây (Cloud) đã giúp các ngân hàng giảm chi phí vận hành, cải thiện khả năng quản trị rủi ro và gia tăng trải nghiệm khách hàng. Theo báo cáo của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA, 2023), các ngân hàng áp dụng công nghệ Fintech đạt mức tăng trưởng doanh thu dịch vụ trung bình từ 15%–25%/năm, đồng thời tỷ lệ chi phí hoạt động (CIR) giảm đáng kể so với giai đoạn trước chuyển đổi số. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

So sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường Fintech có tốc độ phát triển nhanh và tiềm năng lớn, mặc dù khung pháp lý còn đang hoàn thiện. Theo Fintech Singapore Report (2024), Singapore hiện dẫn đầu khu vực với hơn 1.400 doanh nghiệp Fintech và mức đầu tư trung bình 3 tỷ USD/năm, trong khi Việt Nam tuy quy mô nhỏ hơn (260 doanh nghiệp, tổng vốn đầu tư khoảng 450 triệu USD năm 2023) nhưng lại có tốc độ tăng trưởng bình quân trên 40%/năm, cao nhất trong ASEAN. So với các nước láng giềng như Thái Lan (khoảng 120 công ty Fintech) hay Malaysia (150 công ty), Việt Nam có ưu thế về quy mô dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng Internet cao (78%) và chính sách nhà nước khuyến khích đổi mới sáng tạo, là điều kiện thuận lợi để Fintech phát triển bền vững trong những năm tới.

Có thể khẳng định Fintech đã và đang tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh, mức độ bao trùm tài chính và hiệu quả vận hành của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Cơ chế chính sách đóng vai trò là nền tảng cho sự phát triển ổn định của lĩnh vực này. Tuy nhiên, để đạt được sự cân bằng giữa đổi mới và quản lý rủi ro, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt trong lĩnh vực giám sát an ninh mạng, chia sẻ dữ liệu (Open Banking) và chính sách sandbox cho Fintech thử nghiệm sản phẩm mới, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hội nhập sâu hơn vào thị trường tài chính số khu vực ASEAN.

  • Hình 2.1. Số lượng công ty Fintech tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2024
  • Bảng 2.3. Các sản phẩm Fintech tại Việt Nam

2.1.4. Mô hình ứng dụng Fintech trong lĩnh vực ngân hàng Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Sự phát triển mạnh mẽ của Fintech trong kỷ nguyên số đã tác động sâu sắc đến toàn bộ hoạt động của ngành ngân hàng, dẫn đến sự ra đời của nhiều mô hình ứng dụng Fintech đa dạng, từ thanh toán, tín dụng, tiết kiệm đến quản lý tài sản và an ninh dữ liệu. Theo Basel Committee on Banking Supervision (2018), Fintech trong lĩnh vực ngân hàng có thể được phân thành ba nhóm chính: (i) mô hình ngân hàng hợp tác Fintech (Bank–Fintech Partnership), (ii) mô hình ngân hàng số toàn diện (Digital-only Bank) và (iii) mô hình ngân hàng mở (Open Banking). Mỗi mô hình đều phản ánh mức độ tích hợp công nghệ khác nhau, hướng tới mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả vận hành và trải nghiệm khách hàng.

Thứ nhất, mô hình ngân hàng hợp tác Fintech là hình thức phổ biến tại Việt Nam, trong đó các NHTM hợp tác với công ty công nghệ tài chính để cung ứng dịch vụ sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực thanh toán điện tử, cho vay tiêu dùng, eKYC và phân tích dữ liệu khách hàng. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2024), đến cuối năm 2023 có hơn 70% NHTM trong nước đã hợp tác với ít nhất một công ty Fintech, tập trung chủ yếu ở mảng thanh toán và cho vay ngang hàng (P2P Lending). Chẳng hạn, SeABank hợp tác với MoMo và Napas trong triển khai thanh toán QR Code, giúp lượng giao dịch không dùng tiền mặt của khách hàng tăng trên 45% so với năm 2022. Mô hình này giúp ngân hàng giảm chi phí vận hành, mở rộng tệp khách hàng và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, song cũng đặt ra thách thức trong việc bảo mật dữ liệu và phân chia rủi ro vận hành.

Thứ hai, mô hình ngân hàng số toàn diện (Digital-only Bank) là xu hướng nổi bật trong thập niên qua. Đây là hình thức ngân hàng hoạt động hoàn toàn trên nền tảng số, không có chi nhánh vật lý, cung cấp dịch vụ 24/7 qua ứng dụng di động. Theo World Bank (2023), mô hình ngân hàng số giúp giảm tới 30–40% chi phí vận hành so với ngân hàng truyền thống, đồng thời tăng hiệu quả quản trị và năng suất lao động. Tại Việt Nam, các ngân hàng như TPBank (với LiveBank), VPBank (với VPBank NEO) và Techcombank (với Techcombank Mobile) là những điển hình tiêu biểu, ghi nhận mức tăng trưởng người dùng trực tuyến trung bình trên 25%/năm trong giai đoạn 2020–2023. Mô hình này không chỉ đáp ứng nhu cầu khách hàng trẻ, am hiểu công nghệ, mà còn góp phần mở rộng dịch vụ tài chính đến khu vực nông thôn, nơi chưa có nhiều điểm giao dịch vật lý.

Thứ ba, mô hình ngân hàng mở (Open Banking) đang dần hình thành tại Việt Nam, dựa trên nền tảng API mở (Application Programming Interface) cho phép ngân hàng chia sẻ dữ liệu với bên thứ ba một cách an toàn, minh bạch. Mô hình này thúc đẩy hệ sinh thái tài chính mở (Open Finance Ecosystem), trong đó khách hàng có thể truy cập và quản lý nhiều dịch vụ tài chính tại cùng một nền tảng. Theo PwC ASEAN Fintech Report (2024), việc áp dụng ngân hàng mở có thể giúp doanh thu dịch vụ số của ngân hàng tăng thêm 15–20% mỗi năm, đồng thời giảm đáng kể chi phí vận hành nhờ chia sẻ hạ tầng công nghệ. Một số ngân hàng Việt Nam như VPBank, BIDV và SeABank đã bước đầu triển khai API kết nối với các công ty Fintech, cho phép tích hợp ví điện tử, thanh toán hóa đơn và tra cứu tài khoản tự động.

Về tổng thể, các mô hình ứng dụng Fintech trong lĩnh vực ngân hàng đang dần thay đổi mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình dịch vụ tài chính số toàn diện. Tác động định lượng được thể hiện qua việc giảm chi phí hoạt động trung bình 15–20%, tăng hiệu quả sinh lời (ROA, ROE, NIM) từ 0,3–0,5 điểm phần trăm, và gia tăng đáng kể tỷ lệ khách hàng sử dụng dịch vụ trực tuyến. Dưới góc độ định tính, Fintech giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, tăng tính linh hoạt, minh bạch và đổi mới sáng tạo trong quản trị ngân hàng. Tuy nhiên, để bảo đảm sự phát triển bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt liên quan đến bảo mật dữ liệu, giám sát công nghệ và chuẩn hóa API, nhằm giúp Việt Nam bắt kịp tiến trình số hóa tài chính toàn cầu.

2.2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

2.2.1. Các khái niệm và chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại phản ánh khả năng sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và công nghệ để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong khi vẫn duy trì mức độ an toàn và bền vững. Theo Berger và Mester (1997), hiệu quả hoạt động là khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra đầu ra tài chính lớn nhất từ một tập hợp đầu vào nhất định hoặc đạt được mức sản lượng mục tiêu với chi phí tối thiểu. Ở góc độ tài chính, hiệu quả được đo lường bằng các chỉ tiêu định lượng phản ánh khả năng sinh lời, hiệu quả chi phí và năng lực sử dụng tài sản.

Nhóm chỉ tiêu phổ biến nhất là các chỉ tiêu sinh lời, bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biên lãi ròng (NIM). Trong đó, ROA cho biết mức độ sinh lợi của tổng tài sản mà ngân hàng quản lý, được tính bằng lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân; chỉ tiêu này thể hiện khả năng sử dụng tài sản để tạo lợi nhuận. ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, là chỉ tiêu quan trọng nhất đối với nhà đầu tư vì thể hiện hiệu quả sử dụng vốn. Bên cạnh đó, biên lãi ròng (NIM) là chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động cốt lõi của ngân hàng trong vai trò trung gian tài chính, được xác định bằng chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lãi. Theo Athanasoglou, Brissimis và Delis (2008), NIM phản ánh khả năng quản lý danh mục cho vay, đầu tư và huy động vốn của ngân hàng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và mức độ cạnh tranh trong hệ thống tài chính.

Bên cạnh nhóm chỉ tiêu sinh lời, hiệu quả chi phí thường được đánh giá thông qua tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập (CIR), thể hiện khả năng kiểm soát chi phí trong quá trình tạo doanh thu. CIR càng thấp chứng tỏ ngân hàng quản lý chi phí tốt, ứng dụng công nghệ hiệu quả và đạt năng suất vận hành cao. Ngoài ra, các chỉ tiêu như tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) cũng được sử dụng để phản ánh hiệu quả quản trị rủi ro và năng lực sử dụng vốn. Sufian và Habibullah (2010) cho rằng việc duy trì tỷ lệ NPL ở mức thấp và cân đối LDR hợp lý sẽ giúp tối ưu hóa lợi nhuận, đồng thời đảm bảo an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Tại Việt Nam, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2023), việc đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số cần được xem xét toàn diện, không chỉ dựa trên lợi nhuận mà còn tính đến hiệu quả công nghệ (technological efficiency) – tức mức độ ứng dụng Fintech, AI, và Big Data trong hoạt động vận hành và quản trị rủi ro. Do đó, các chỉ tiêu định lượng truyền thống như ROA, ROE, NIM cần được kết hợp với chỉ tiêu định tính về đổi mới sáng tạo và hiệu quả chuyển đổi số, để phản ánh đúng năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trong kỷ nguyên số hóa.

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, được đo lường thông qua các chỉ tiêu ROA, ROE và NIM, chịu tác động đồng thời từ các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế. Trên cơ sở lý thuyết hiệu quả hoạt động và lý thuyết dựa trên nguồn lực (RBV), nghiên cứu xác định rằng mức độ ứng dụng Fintech là yếu tố trung tâm có khả năng cải thiện năng lực khai thác tài sản, tối ưu hóa chi phí và gia tăng khả năng sinh lời. Việc đầu tư vào công nghệ tài chính, bao gồm ngân hàng số, thanh toán điện tử, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn, giúp ngân hàng tự động hóa quy trình, rút ngắn thời gian xử lý giao dịch, giảm chi phí vận hành và nâng cao trải nghiệm khách hàng. Từ đó, Fintech được kỳ vọng có tác động tích cực đến ROA và ROE thông qua việc cải thiện hiệu suất sử dụng tài sản và vốn chủ sở hữu, đồng thời ảnh hưởng đến NIM thông qua khả năng mở rộng quy mô tín dụng và tối ưu hóa cơ cấu tài sản sinh lãi.

Bên cạnh biến Fintech, mô hình nghiên cứu còn xem xét các biến kiểm soát phản ánh đặc điểm nội tại của ngân hàng. Trước hết, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) đại diện cho hiệu quả quản trị chi phí. Theo lý thuyết chi phí giao dịch (TCT), ngân hàng có CIR thấp thể hiện khả năng kiểm soát chi phí tốt, qua đó gia tăng lợi nhuận ròng và cải thiện ROA, ROE. Ngược lại, CIR cao phản ánh bộ máy vận hành kém hiệu quả, làm suy giảm hiệu quả hoạt động tổng thể. Quy mô ngân hàng (SIZE), được đo lường thông qua logarit tự nhiên của tổng tài sản, cũng là yếu tố quan trọng. Theo giả thuyết kinh tế theo quy mô (economies of scale), ngân hàng có quy mô lớn có thể phân bổ chi phí cố định trên nền tảng khách hàng rộng hơn, đa dạng hóa danh mục tài sản và tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp hơn, từ đó nâng cao hiệu quả sinh lời. Tuy nhiên, nếu quy mô vượt quá mức tối ưu, hiệu ứng quan liêu và chi phí quản trị gia tăng có thể làm giảm hiệu quả.

Ngoài ra, môi trường kinh tế vĩ mô đóng vai trò không thể tách rời trong việc giải thích biến động hiệu quả hoạt động ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) phản ánh mức độ mở rộng của hoạt động sản xuất – kinh doanh trong nền kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng. Khi GDP tăng trưởng tích cực, ngân hàng có điều kiện mở rộng cho vay và gia tăng lợi nhuận. Ngược lại, lạm phát (INF) có thể tác động hai chiều: ở mức độ vừa phải, lạm phát giúp điều chỉnh lãi suất danh nghĩa và cải thiện biên lợi nhuận; tuy nhiên, lạm phát cao và biến động mạnh có thể làm gia tăng rủi ro tín dụng và chi phí vốn. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

2.2.3. Tác động tiềm năng của Fintech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại

  • Hình 2.2. Mô hình hợp tác giữa Ngân hàng và Fintech

Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) đã và đang tạo ra những biến chuyển sâu rộng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM), mở ra tiềm năng nâng cao hiệu quả hoạt động trên nhiều phương diện. Fintech mang đến khả năng giảm chi phí giao dịch, mở rộng tiếp cận tài chính, nâng cao năng suất vận hành và cải thiện trải nghiệm khách hàng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu hiệu quả như ROA, ROE và NIM của ngân hàng. Theo Claessens và cộng sự (2018), việc ứng dụng Fintech giúp ngân hàng tận dụng công nghệ số để tăng hiệu quả phân bổ vốn, tối ưu hóa quy trình nội bộ và giảm thiểu sai lệch thông tin trên thị trường tài chính.

Trước hết, Fintech góp phần nâng cao hiệu quả chi phí và hiệu quả kỹ thuật (cost and technical efficiency). Nhờ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI), các ngân hàng có thể giảm đáng kể chi phí hoạt động, đặc biệt trong khâu xử lý dữ liệu và chăm sóc khách hàng. Các nền tảng thanh toán kỹ thuật số, ngân hàng số hay eKYC giúp giảm thiểu chi phí nhân sự và vận hành, qua đó cải thiện tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) và tăng biên lợi nhuận. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2023), các ngân hàng tiên phong áp dụng Fintech ghi nhận mức tăng năng suất lao động bình quân từ 12–15%/năm, đồng thời tiết kiệm 20–25% chi phí giao dịch so với mô hình truyền thống. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Thứ hai, Fintech tăng cường năng lực phân tích và quản trị rủi ro thông qua việc sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) và mô hình học máy (Machine Learning) trong thẩm định tín dụng, dự báo hành vi khách hàng và kiểm soát gian lận. Điều này giúp giảm tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tăng khả năng sinh lời bền vững. Ngoài ra, công nghệ Blockchain và hợp đồng thông minh (Smart Contracts) đang được nhiều ngân hàng sử dụng nhằm nâng cao tính minh bạch, truy xuất dữ liệu và bảo mật giao dịch, qua đó củng cố niềm tin của khách hàng và cơ quan quản lý.

Thứ ba, Fintech đóng vai trò tăng khả năng tiếp cận thị trường và mở rộng dịch vụ tài chính bao trùm (financial inclusion). Các ngân hàng có thể tiếp cận nhóm khách hàng trước đây chưa được phục vụ (unbanked) thông qua nền tảng ví điện tử, ngân hàng di động và mạng xã hội tài chính. Nghiên cứu của World Bank (2022) cho thấy tỷ lệ người trưởng thành tại Việt Nam có tài khoản tài chính chính thức tăng từ 31% năm 2014 lên 69% năm 2022, phần lớn nhờ vào các sáng kiến Fintech và chính sách khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt (theo Nghị định 52/2024/NĐ-CP).

Cuối cùng, Fintech tạo ra áp lực cạnh tranh tích cực trong hệ thống ngân hàng. Sự gia nhập của các công ty Fintech buộc NHTM phải đổi mới mô hình kinh doanh, đầu tư công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ để duy trì thị phần. Theo PwC (2024), hơn 80% ngân hàng tại ASEAN đánh giá hợp tác với Fintech là chiến lược chủ đạo giúp cải thiện lợi nhuận và duy trì năng lực cạnh tranh trong giai đoạn 2025–2030.

Tóm lại, Fintech không chỉ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua việc giảm chi phí, tăng doanh thu, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng tài chính toàn diện, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố năng lực đổi mới và thích ứng công nghệ của ngành ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, để tận dụng đầy đủ tiềm năng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng, cơ quan quản lý và doanh nghiệp công nghệ nhằm đảm bảo môi trường pháp lý minh bạch, an toàn và bền vững cho sự phát triển của Fintech trong tương lai.

2.3. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

2.3.1. Nghiên cứu quốc tế

Trong những năm gần đây, các nghiên cứu quốc tế về tác động của công nghệ tài chính (Fintech) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đã trở thành một chủ đề nổi bật, phản ánh xu thế chuyển đổi số sâu rộng trong lĩnh vực tài chính toàn cầu. Nhìn chung, các công trình quốc tế có thể được phân thành hai hướng tiếp cận chính: (i) nhóm nghiên cứu về tác động vĩ mô của Fintech đối với tăng trưởng và ổn định tài chính, và (ii) nhóm nghiên cứu vi mô tập trung vào hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (ROA, ROE, NIM, CIR).

Ở cấp độ vĩ mô, Claessens, Frost, Turner và Zhu (2018) cho rằng sự phát triển mạnh mẽ của Fintech thúc đẩy cạnh tranh tài chính, mở rộng tiếp cận tín dụng và cải thiện hiệu quả phân bổ vốn, qua đó góp phần nâng cao năng suất toàn nền kinh tế. Nghiên cứu của Philippon (2016) cũng chỉ ra rằng việc ứng dụng công nghệ tài chính làm giảm chi phí giao dịch tài chính toàn cầu khoảng 25%, đồng thời tăng khả năng lan tỏa dịch vụ tài chính đến nhóm khách hàng chưa được phục vụ (unbanked). Vives (2019) mở rộng quan điểm này khi cho rằng Fintech không chỉ cải thiện hiệu quả vận hành ngân hàng mà còn thúc đẩy tài chính bao trùm (financial inclusion) và tăng ROA, ROE thông qua các dịch vụ phi tín dụng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu Appiah-Otoo và cộng sự (2022) nhấn mạnh vai trò của Fintech đối với ổn định tài chính, khi công nghệ số hóa hệ thống thanh toán giúp giảm rủi ro thanh khoản và hỗ trợ các ngân hàng nhỏ cạnh tranh công bằng hơn. Tuy nhiên, các tác giả cũng cảnh báo rằng sự lan tỏa nhanh của Fintech có thể làm thay đổi cấu trúc thị trường, gây áp lực lên mô hình kinh doanh truyền thống nếu thiếu khung pháp lý thích ứng. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Ở cấp độ vi mô, nhiều nghiên cứu định lượng đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa ứng dụng Fintech và hiệu quả tài chính của ngân hàng. Beck, Frost và Gambacorta (2020) sử dụng dữ liệu bảng của 52 quốc gia OECD giai đoạn 2011–2019 và chứng minh rằng ngân hàng có mức độ số hóa cao hơn đạt ROA trung bình cao hơn 0,4 điểm phần trăm so với nhóm truyền thống. Chen và cộng sự (2021) khi nghiên cứu tại Trung Quốc nhận thấy ứng dụng ngân hàng số giúp giảm tỷ lệ CIR từ 41% xuống còn 34%, đồng thời tăng biên lợi nhuận NIM thông qua việc tối ưu hóa quản trị tài sản sinh lãi.

Tại Ấn Độ, Radhika Goel (2022) phát hiện rằng Fintech giúp cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, góp phần tăng ROE trung bình 12% cho các ngân hàng có hợp tác chiến lược với nền tảng P2P lending.

Ngược lại, Anjan V. Thakor (2020) và Arnoud Boot và cộng sự (2021) lại nhấn mạnh khía cạnh rủi ro khi Fintech phát triển quá nhanh có thể làm giảm biên lãi ròng (NIM) do cạnh tranh gay gắt và tăng nguy cơ rủi ro hệ thống, nhất là trong các mô hình cho vay ngang hàng thiếu giám sát.

Nhìn chung, các nghiên cứu tại các nước phát triển (OECD, châu Âu) thường tập trung vào khía cạnh quản trị chi phí và năng suất, trong khi các nước đang phát triển ở châu Á lại hướng đến hiệu quả sinh lời và khả năng bao trùm tài chính. Điểm khác biệt này phản ánh sự khác biệt về cấu trúc thị trường, năng lực công nghệ và khung pháp lý giữa hai nhóm quốc gia.

2.3.2. Nghiên cứu trong nước

Trong bối cảnh Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của công nghệ tài chính (Fintech) đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây, hình thành ba hướng tiếp cận chính: theo phương pháp nghiên cứu, theo chỉ số đo lường Fintech, và theo chỉ tiêu hiệu quả ngân hàng. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu theo phương pháp định lượng tập trung vào việc đo lường mối quan hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đỗ Thị Bích Hồng (2022) sử dụng mô hình dữ liệu bảng (Panel Data Model) với các biến ROA, ROE và CIR để đánh giá tác động của Fintech tại 20 NHTM Việt Nam. Kết quả cho thấy mức độ ứng dụng Fintech có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến khả năng sinh lời và hiệu quả chi phí. Bùi Huy Trung và cộng sự (2023) tiếp cận theo hướng hiện đại hơn khi xây dựng chỉ số Fintech dựa trên kỹ thuật text-mining, qua đó phát hiện sự khác biệt về cường độ tác động giữa các nhóm công nghệ tài chính như thanh toán điện tử, ngân hàng mở và cho vay trực tuyến. Hai nghiên cứu này không chỉ củng cố mối liên hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động mà còn nâng cao giá trị đo lường khoa học của biến Fintech.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu theo chỉ số đo lường Fintech mở rộng phạm vi đánh giá sang khía cạnh tài chính toàn diện và hành vi thị trường. Phạm Thị Huyền (2019) nhấn mạnh vai trò của Fintech trong việc mở rộng tài chính bao trùm, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa, giúp các ngân hàng mở rộng tệp khách hàng, giảm chi phí huy động và cải thiện khả năng sinh lời dài hạn. Cùng hướng tiếp cận này, Lê Hải Trung (2024) đề xuất sử dụng chỉ số tìm kiếm Google Trends về Fintech để đại diện cho mức độ quan tâm của thị trường, qua đó phản ánh cường độ áp dụng và kỳ vọng công nghệ đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đây là cách tiếp cận mới, gắn kết giữa hành vi số và hiệu quả kinh doanh thực tế.

Thứ ba, nhóm nghiên cứu theo chỉ tiêu hiệu quả hoạt động ngân hàng đã làm rõ các kênh tác động cụ thể. Lê Thị Bích Ngân (2024) chứng minh rằng Fintech cải thiện các chỉ tiêu ROA và NIM thông qua việc tăng năng suất, đa dạng hóa sản phẩm và phát triển kênh phân phối số. Bên cạnh đó, Fintech còn giúp tối ưu hóa chỉ số CIR – phản ánh hiệu quả chi phí – nhờ giảm chi phí vận hành và tự động hóa quy trình nghiệp vụ.

Tổng thể, năm nghiên cứu trong nước này cho thấy Fintech tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam theo cả ba khía cạnh: (i) nâng cao hiệu quả chi phí và lợi nhuận (CIR, ROA, ROE, NIM), (ii) mở rộng tài chính toàn diện và đổi mới sản phẩm, và (iii) gia tăng khả năng thích ứng công nghệ

  • Bảng 2.4. Tổng quan về các nghiên cứu trước

2.3.3. Khoảng trống nghiên cứu trước và định hướng Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Mặc dù trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến Fintech và sự chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng, song phần lớn các công trình hiện hữu vẫn tồn tại những hạn chế nhất định khi đặt trong bối cảnh nghiên cứu cụ thể của luận văn này. Trên bình diện quốc tế, nhiều nghiên cứu tập trung vào các thị trường phát triển, nơi hệ sinh thái Fintech đã hoàn thiện và khung pháp lý tương đối ổn định; do đó, kết quả nghiên cứu khó có thể phản ánh đầy đủ đặc thù của các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, nơi quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh nhưng chưa đồng đều giữa các ngân hàng. Ở trong nước, các công trình nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính, mô tả xu hướng phát triển Fintech hoặc đánh giá tác động ở từng khía cạnh riêng lẻ như thanh toán số, ngân hàng số hay cho vay ngang hàng, mà chưa xây dựng được một mô hình định lượng tổng thể nhằm lượng hóa tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trên nhiều chỉ tiêu sinh lời khác nhau.

Đặc biệt, còn thiếu các nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) trong giai đoạn đủ dài để bao quát cả thời kỳ trước, trong và sau đại dịch Covid-19 – một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình chuyển đổi số ngành ngân hàng Việt Nam. Bên cạnh đó, chưa có nhiều nghiên cứu đồng thời kiểm định tác động của Fintech đến các chỉ tiêu hiệu quả cốt lõi như ROA, ROE và NIM trong cùng một khung phân tích, kết hợp với các biến kiểm soát đặc thù như CIR, SIZE, GDP và INF nhằm đảm bảo tính toàn diện của mô hình. Việc thiếu vắng các kiểm định kinh tế lượng nâng cao như FEM, REM và FGLS cũng khiến bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam còn phân tán và chưa đủ độ tin cậy.

Xuất phát từ những hạn chế đó, luận văn này hướng tới lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng việc xây dựng mô hình định lượng trên cơ sở dữ liệu của 24 ngân hàng thương mại niêm yết giai đoạn 2015–2024, qua đó đánh giá một cách hệ thống và thực chứng tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trong bối cảnh Việt Nam. Việc điều chỉnh khoảng trống nghiên cứu theo hướng này giúp đảm bảo sự nhất quán giữa cơ sở lý luận, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực nghiệm của đề tài, đồng thời khẳng định rõ đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn.

2.4. CƠ SỞ LÝ THUYẾT NỀN TẢNG Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

2.4.1. Lý thuyết đổi mới sáng tạo

Lý thuyết đổi mới sáng tạo (Innovation Diffusion Theory – IDT) do Everett M. Rogers (1962) khởi xướng, giải thích quá trình mà một ý tưởng, sản phẩm hay công nghệ mới được truyền bá và được chấp nhận bởi các cá nhân, tổ chức hoặc toàn xã hội. Theo lý thuyết này, việc khuếch tán đổi mới phụ thuộc vào bốn yếu tố chính: đặc tính của đổi mới, kênh truyền thông, thời gian và hệ thống xã hội. Rogers cho rằng mỗi đổi mới được chấp nhận qua năm giai đoạn – nhận biết, quan tâm, đánh giá, thử nghiệm và chấp nhận – và tốc độ khuếch tán phụ thuộc vào mức độ vượt trội, khả năng tương thích, độ phức tạp, khả năng thử nghiệm và khả năng quan sát của đổi mới.

Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, lý thuyết này được sử dụng rộng rãi để lý giải sự lan tỏa của công nghệ tài chính trong hệ thống ngân hàng. Fintech, với bản chất là một đổi mới công nghệ, cần trải qua quá trình được ngân hàng và khách hàng chấp nhận. Việc áp dụng các giải pháp Fintech như ngân hàng số, thanh toán điện tử, trí tuệ nhân tạo hay chuỗi khối phản ánh mức độ sẵn sàng đổi mới của tổ chức và năng lực tiếp nhận công nghệ trong xã hội. Các ngân hàng thương mại Việt Nam, dưới áp lực cạnh tranh và yêu cầu chuyển đổi số, đang ở giai đoạn tăng tốc của quá trình khuếch tán – khi phần lớn tổ chức đã nhận thức rõ lợi ích của Fintech và bắt đầu tích hợp vào hoạt động cốt lõi như huy động vốn, cho vay, thanh toán và quản trị rủi ro.

Lý thuyết đổi mới sáng tạo cung cấp nền tảng quan trọng để giải thích sự khác biệt trong tốc độ và mức độ áp dụng Fintech giữa các ngân hàng. Những ngân hàng có quy mô lớn, năng lực công nghệ cao và văn hóa tổ chức cởi mở thường là —người tiên phong‖ (innovators, early adopters) – sớm triển khai ngân hàng số, API mở hoặc AI trong phân tích tín dụng. Ngược lại, các ngân hàng nhỏ hoặc có hạ tầng hạn chế thường là —người theo sau‖ (late majority), chỉ áp dụng Fintech khi lợi ích đã được chứng minh rõ ràng. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Vận dụng lý thuyết này vào đề tài —Tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam‖, Fintech được xem là nhân tố đổi mới có khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng. Quá trình khuếch tán Fintech không chỉ làm thay đổi mô hình kinh doanh, mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động (ROA, ROE, NIM) thông qua giảm chi phí giao dịch, mở rộng dịch vụ và tối ưu hóa quy trình vận hành. Do đó, lý thuyết đổi mới sáng tạo là cơ sở lý luận để luận văn phân tích cơ chế tác động của Fintech đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng Việt Nam, làm rõ vai trò của đổi mới công nghệ trong nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của hệ thống tài chính

2.4.2. Lý thuyết hiệu quả hoạt động

Lý thuyết hiệu quả hoạt động (Efficiency Theory) tập trung vào cách thức tổ chức sử dụng tối ưu các nguồn lực để đạt được đầu ra mong muốn với chi phí thấp nhất, hoặc đạt được nhiều giá trị hơn với cùng mức đầu vào. Trong lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả hoạt động thể hiện qua khả năng vận hành chi phí – thu nhập, khả năng sử dụng vốn, quản lý chi phí hoạt động, và mức độ sinh lời trên vốn (ROE) hay tài sản (ROA). Nhiều nghiên cứu sử dụng phân tích bao đóng dữ liệu (DEA) hoặc mô hình biên hiệu suất ngẫu nhiên (SFA) để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô và hiệu quả tổng hợp của ngân hàng. Yixuan Li và cộng sự (2025) đã khảo sát tác động của Fintech tới hiệu quả ngân hàng tại Trung Quốc, chứng minh rằng sự lan tỏa công nghệ có thể cải thiện hiệu quả thao tác và hiệu quả sản xuất trong các ngân hàng.

Trong bối cảnh Fintech ở Việt Nam, lý thuyết hiệu quả hoạt động đóng vai trò trung tâm để liên kết giữa đổi mới công nghệ và kết quả tài chính. Fintech gắn liền với tự động hóa, xử lý dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và hệ thống thanh toán thời gian thực – những công cụ giúp giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm nguồn lực nhân lực và rút ngắn thời gian xử lý. Khi một ngân hàng áp dụng Fintech hiệu quả, chi phí hoạt động giảm, chu trình xử lý được tối ưu, dẫn đến cải thiện hệ số chi phí – thu nhập và tăng khả năng sinh lời. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Hơn nữa, lý thuyết này giúp phân biệt giữa các ngân hàng có năng lực công nghệ khác nhau: các ngân hàng vốn đã có hiệu quả cao có thể tận dụng Fintech để tiến lên mức hiệu quả —cạnh tranh biên‖ (frontier efficiency), trong khi các ngân hàng kém hiệu quả hơn có dư địa cải thiện lớn hơn khi áp dụng đổi mới công nghệ. Như nghiên cứu Saif Ullah, Abdul Majeed và József Popp (2023) đánh giá về hiệu quả trong ngân hàng Pakistan cho thấy, hệ số hiệu quả bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố nội bộ lẫn ngoại cảnh.

Do vậy, lý thuyết hiệu quả hoạt động sẽ được sử dụng làm cơ sở để phân tích cách thức Fintech tác động đến các chỉ số hiệu suất ngân hàng (ROA, ROE, NIM) qua trung gian cải thiện hiệu quả chi phí, tối ưu quy trình và quản trị rủi ro.

2.4.3. Các lý thuyết bổ trợ

Bên cạnh hai lý thuyết nền tảng là Lý thuyết Đổi mới sáng tạo (Innovation Diffusion Theory) và Lý thuyết Hiệu quả hoạt động (Efficiency Theory), nghiên cứu này còn kế thừa và vận dụng một số lý thuyết bổ trợ nhằm giải thích rõ hơn cơ chế tác động của Fintech đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, bao gồm Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), Quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) và Lý thuyết chi phí giao dịch (TCT).

Trước hết, Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) do Davis (1989) đề xuất cho rằng việc một cá nhân hay tổ chức chấp nhận và sử dụng công nghệ phụ thuộc vào hai yếu tố chính: nhận thức về tính hữu ích (Perceived Usefulness – PU) và nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use – PEOU). Trong bối cảnh ngân hàng Việt Nam, TAM giúp lý giải cách mà nhân viên và khách hàng tiếp cận các giải pháp Fintech như ứng dụng ngân hàng số, eKYC hay ví điện tử. Khi người dùng nhận thấy Fintech mang lại lợi ích rõ rệt trong giao dịch và dễ sử dụng, khả năng chấp nhận công nghệ sẽ cao hơn, qua đó thúc đẩy hiệu quả hoạt động ngân. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

Tiếp theo, Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resource-Based View – RBV) của Barney (1991) nhấn mạnh rằng hiệu quả và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp đến từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực có giá trị, hiếm có, khó sao chép và khó thay thế (VRIN). Áp dụng vào Fintech, RBV cho thấy ngân hàng nào có năng lực công nghệ nội tại mạnh – bao gồm hạ tầng dữ liệu, nhân sự công nghệ cao, và khả năng phân tích dữ liệu – sẽ tận dụng được Fintech để nâng cao năng suất và tối ưu chi phí, từ đó cải thiện các chỉ tiêu như ROA, ROE và CIR.

Cuối cùng, Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Theory – TCT) của Coase (1937) và Williamson (1981) giải thích rằng doanh nghiệp luôn tìm cách tối thiểu hóa chi phí giao dịch, chi phí thông tin và chi phí kiểm soát. Trong hệ thống ngân hàng, Fintech giúp giảm các loại chi phí này thông qua tự động hóa, xử lý dữ liệu theo thời gian thực và loại bỏ khâu trung gian. Như các nền tảng thanh toán điện tử, hợp đồng thông minh (smart contracts) và ngân hàng mở (Open API) đã làm giảm đáng kể chi phí vận hành và rủi ro thông tin bất cân xứng – những yếu tố trực tiếp cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

  • Tóm tắt chương 2

Chương 2 đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến tác động của Fintech đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam. Trước hết, chương này trình bày khái niệm, đặc điểm và phân loại Fintech cùng các công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chuỗi khối và ngân hàng mở – những yếu tố đang định hình lại hoạt động của ngành tài chính – ngân hàng.

Tiếp theo, chương phân tích sự phát triển và ứng dụng Fintech tại Việt Nam, làm rõ vai trò của Fintech trong các lĩnh vực huy động vốn, thanh toán, quản lý rủi ro và cho vay, qua đó cho thấy Fintech là đòn bẩy thúc đẩy hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Bên cạnh đó, chương cũng tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra khoảng trống học thuật về đo lường tác động định lượng của Fintech trong bối cảnh Việt Nam. Tổng thể, chương 2 tạo nền tảng lý thuyết và thực tiễn vững chắc để chương 3 xây dựng mô hình nghiên cứu và kiểm định mối quan hệ giữa Fintech và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng

One thought on “Luận văn: Tác động của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng

  1. Pingback: Luận văn: KQNC của Fintech đến hoạt động tại các Ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *