Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Chiến lược đại dương xanh ở các ngân hàng thương mại Việt Nam

Thống đốc NHNN Việt Nam đã ban hành Quyết định số 810/QĐ-NHNN phê duyệt kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2026, định hướng đến năm 2030, đồng thời chọn ngày 11/05 hàng năm là ngày “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng” với mục tiêu rõ ràng đến năm 2030 có ít nhất 70% nghiệp vụ ngân hàng cho phép khách hàng thực hiện hoàn toàn trên môi trường số; ít nhất 80% tổ chức tín dụng có tỷ trọng doanh thu từ kênh số đạt trên 30%; ít nhất 80% số lượng giao dịch của khách hàng được thực hiện thông qua các kênh số; ít nhất 70% quyết định giải ngân, cho vay của ngân hàng thương mại, công ty tài chính với các khoản cho vay nhỏ lẻ, vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân được thực hiện theo hướng số hóa, tự động… Theo đó, phần lớn các ngân hàng đã triển khai ngân hàng số ở cấp cơ bản, bao gồm số hóa quy trình và kênh giao tiếp với 100% các NHTM đã triển khai hệ thống Core Banking, trong đó 84% sử dụng phương thức kết nối Core Banking qua cơ sở dữ liệu. Mức độ tự động hóa trong xử lý các giao dịch hệ thống Core Banking cũng lên tới 90,6%. Tỷ lệ giao dịch tài chính được thực hiện qua kênh ngân hàng số cũng chiếm hơn 60%. Bên cạnh đó, một số ngân hàng cũng đã tiên phong ứng dụng nền tảng dữ liệu. Theo thống kê của NHNN, có 57% ngân hàng đã sẵn sàng về kiến trúc, công nghệ, tổ chức phục vụ mục tiêu số hóa. Một số ngân hàng đã bước đầu ứng dụng AI, robot và dữ liệu lớn trong thu thập thông tin, phân tích và dự báo thị trường để tạo ra các sản phẩm, dự án như dự án “Chuyển đổi số quy mô lớn” của Vietcombank; “Yolo – ứng dụng ngân hàng số” do NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) thực hiện; Trợ lý ảo Chatbot của MB; Ngân hàng số Livebank của NHTM cổ phần Tiên Phong (TPBank),… (Giang Thị Thu Huyền và Đặng Thị Huyền Anh, 2024).

Thực trạng trên cho thấy xu hướng chuyển đổi số, áp dụng các công nghệ và chính sách hiện đại ngày này đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam là thiết yếu và là cuộc đua trong ngành nhằm nâng cao vị thế, mức độ nhận diện và gia tăng hiệu hoạt động của các ngân hàng. Bên cạnh đó cũng cho thấy sự quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong công cuộc chuyển đổi số của toàn ngành ngân hàng.

Báo cáo của các ngân hàng thương mại cũng cho thấy rõ thực trạng áp dụng các công nghệ, sản phẩm, chính sách hiện đại của các NHTM Việt Nam hiện nay (Bảng 4.1)

  • Bảng 4.1: Bảng tổng hợp chiến lược hoạt động của các NHTM Việt Nam trong năm 2025 theo báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại.

Có thể thấy, hầu hết các mục tiêu và chiến lược kinh doanh ngắn hạn cũng như dài hạn trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam đều xác định chiến lược của mình là nâng cao sản phẩm dịch vụ vượt trội, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ số, big data,… nhằm nâng cao độ nhận diện và tạo ra sự khác biệt về trải nghiệm, chất lượng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, từ đó hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và gia tăng hiệu quả hoạt động.

4.2. Chiến lược đại dương xanh các ngân hàng thương mại qua khảo sát Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

4.2.1. Đặc điểm mẫu khảo sát

Bảng 4.2 và bảng 4.3 cho thấy các ngân hàng thương mại lớn như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank, MB, Techcombank chiếm đa số khảo sát với 59,13% cho thấy các nhân sự được khảo sát thuộc nhóm các ngân hàng thương mại cổ phần này có sự quan tâm nhiều hơn so với các ngân hàng thương mại còn lại về chiến dịch đại dương xanh. Đối với đơn vị công tác, kết quả khảo sát cho thấy phần lớn các đối tượng quan tâm tập trung ở chi nhánh và phòng giao dịch của các ngân hàng thương mại với tỷ lệ 71,83%. Theo tiêu thức về đơn vị trực thuộc cho thấy các nhân sự của các đơn vị kinh doanh, đơn vị quản trị rủi ro và đơn vị phát triển kinh doanh là các đơn vị chiếm tỷ trọng quan tâm lớn đến nội dung nghiên cứu với tỷ trọng 44,27% trong tổng số các đơn vị thực hiện khảo sát. Về khía cạnh vị trí công tác, các chuyên viên, nhân viên, giao dịch viên hay giám đốc phòng giao dịch, trưởng phòng, phó phòng, kiểm soát viên là các chức danh chiếm tỷ lệ cao với 58,21%. Ngoài ra về thời gian công tác, có thể thấy các nhân sự có kinh nghiệm từ 3-10 năm có sự quan tâm cao hơn so với nhóm còn lại về chiến lược đại dương xanh.

  • Bảng 4.2: Thống kê mô tả nhân sự tham gia khảo sát
  • Bảng 4.3: Thống kê đơn vị, vị trí và thời gian công tác.

4.2.2. Thống kê mô tả các biến quan sát

Các giá trị đặc trưng tại các biến quan sát là thang đo đo lường cho các yếu tố được thống kê dưới bảng 4.3 bên dưới.

  • Bảng 4.4: Bảng thống kê các giá trị của biến quan sát

Với kết quả bảng 4.4, có thể thấy phần lớn người khảo sát đồng ý với các phát biểu, với giá trị trung bình của các biến quan sát ghi nhận từ 3,98 đến 4,36 và độ lệch chuẩn ở mức trung bình cho thấy nhóm đối tượng thực hiện khảo sát không có quá nhiều sự chênh lệch về quan điểm, đánh giá và mức độ đồng tình đối với các phát biểu, do đó, dữ liệu có mức độ chấp nhận được. Từ kết quả thống kê mô tả nêu trên, tác giả thực hiện các kiểm định tiếp theo của mô hình nghiên cứu.

4.3. Kiểm định Cronbach’s Alpha

Kiểm định được thực hiện nhằm kiểm tra mức độ tin cậy của các biến số của mô hình nghiên cứu, đảm bảo các quan sát là thang đo định tính cho các biến số này là hoàn toàn đạt độ tin cậy. Kết quả kiểm định được trình bày dưới bảng sau:

  • Bảng 4.5: Kết quả kiểm định mức độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha

Kết quả tại bảng 4.5 cho thấy các yếu tố, khía cạnh được xây dựng tại mô hình nghiên cứu gồm ba biến độc lập và một biến phụ thuộc đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,65, cụ thể: Sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh là 0,688; Định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt là 0,703; Tạo và nắm bắt nhu cầu mới là 0,666, Hiệu quả hoạt động là 0,664, đều tiệm cận ngưỡng 0,7. Mặc dù các hệ số này thấp hơn tiêu chuẩn lý tưởng, nhưng theo Schmitt (1996); Hair và ctg (2011), với các thang đo ngắn (3 biến), hệ số Alpha từ 0,60-0,70 có thể được chấp nhận trong nghiên cứu khám phá. Quan trọng hơn, tất cả các biến đều có hệ số tương quan biến tổng > 0.30, dao động từ 0,410 đến 0,519, cho thấy các biến này có tương quan tốt với tổng thang đo (Pallant, 2021). Phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nếu loại bỏ biến cho thấy việc loại bỏ bất kỳ biến nào cũng làm giảm độ tin cậy tổng thể, do đó các biến đều được giữ lại để tiếp tục phân tích.

4.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Phân tích này nhằm xem xét mối quan hệ giữa các biến ở tất cả các nhóm khác nhau từ đó phát hiện ra những biến quan sát tải lên nhiều nhân tố hoặc các biến quan sát bị phân sai nhân tố từ ban đầu, giúp tinh gọn tập biến, loại bỏ các biến có tải nhân tố thấp hoặc nhiễu, giữ lại những biến đại diện tốt nhất cho các nhân tố tiềm ẩn, tạo cơ sở cho phân tích tương quan và hồi quy.

4.4.1. Phân tích EFA đối với các biến độc lập

Từ kết quả phân tích độ tin cậy nêu trên, có thể thấy các biến độc lập đều đạt độ tin cậy, cùng với đó là các quan sát thuộc biến độc lập đều đạt độ tin cậy. Ma trận xoay nhân tố bên dưới thể hiện kết quả về sự hội tụ của các quan sát này.

  • Bảng 4.6: Ma trận xoay nhân tố đối với các quan sát thuộc biến độc lập

Trước khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu thực hiện kiểm định KMO và Bartlett’s Test để đánh giá tính thích hợp của dữ liệu cho phân tích nhân tố. Kết quả cho thấy hệ số KMO đạt 0,817 (> 0,8), cao hơn ngưỡng 0,5 được khuyến nghị, chứng tỏ dữ liệu rất phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố (Hair và ctg, 2011). Kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity cho kết quả có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000 < 0,05), chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và đáp ứng điều kiện cho phân tích nhân tố (Bartlett, 1954). Tổng phương sai trích đạt 51,904%, đảm bảo trên ngưỡng 50% khuyến nghị (Hair và ctg, 2011), cho thấy 3 nhân tố này giải thích được hơn một nửa sự biến thiên của các biến quan sát. Mặt khác, phân tích EFA với ma trận xoay nhân tố cho thấy các quan sát hội tụ vào ba nhóm nhân tố, đó cũng chính là ba biến độc lập của mô hình nghiên cứu ban đầu. Nói cách khác, ba yếu tố đại diện cho 12 quan sát với tiêu chuẩn Eigenvalues là 1,100 và phương sai trích 51,904% là tỷ lệ giải thích của các yếu tố đại diện cho 20 biến quan sát. Tất cả các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,4, đều đảm bảo phù hợp, đặc biệt khi tổng phương sai trích đạt yêu cầu.

4.4.2. Phân tích EFA đối với biến phụ thuộc Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam được đo bởi thang đo gồm 3 biến quan sát gồm HQ1, HQ2, HQ3. Kết quả kiểm định EFA đối với biến phụ thuộc này được thể hiện tại bảng 4.7.

  • Bảng 4.7: Kết quả kiểm định EFA

Kết quả kiểm định EFA đối với biến phụ thuộc cho thấy hệ số KMO là 0,655 thỏa mãn điều kiện nằm trong khoảng 0,5 đến 1, cho thấy phân tích EFA có giá trị thống kê về mặt ý nghĩa. Kiểm định Bartlett’s Test of Sphericity cho kết quả có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000 < 0,05) điều này có nghĩa là các quan sát là thang đo định tính có tương quan tuyến tính với đại diện. Phân tích EFA với ma trận xoay nhân tố thì có thể thấy các quan sát hội tụ cùng nhóm với tiêu chuẩn Eigenvalues là 1,795, lớn hơn 1 và thỏa điều kiện. Phương sai trích cho kết quả là 59,847% lớn hơn 50%, đảm bảo phù hợp và là tỷ lệ giải thích của các yếu tố đại diện cho ba biến quan sát thuộc đại diện. Ngoài ra, các hệ số cấu trúc từ 0,743 đến 0,797, đều lớn hơn 0,5 cho thấy không có quan sát nào bị loại.

4.5. Kiểm tra mối quan hệ tương quan giữa các biến số bằng phương pháp Pearson Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Phân tích này nhằm xác định sự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu biến phụ thuộc, đồng thời xác định được chiều hướng tương quan giữa các biến độc lập với nhau với mức ý nghĩa là bao nhiêu. Kết quả phân tích tương quan được trình bày theo các bảng bên dưới, nếu các giá trị r > 0 nghĩa là các biến số tương quan thuận chiều và ngược lại.

  • Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc bằng phương pháp Pearson

Kết quả phân tích tương quan Pearson theo bảng trên cho thấy cả ba biến độc lập: Sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh; Định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt; Tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng đều có tương quan dương có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại (p < 0.01). Trong đó, biến định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt có tương quan mạnh nhất với r = 0,532, tiếp theo là biến tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng với r = 0,343 và biến sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh có tương quan thấp hơn với r = 0,164. Mặc dù biến sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh có mức tương quan thấp, nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê, cho thấy vẫn tồn tại mối quan hệ tuy nhiên điều này cũng đem lại kỳ vọng thấp hơn của nghiên cứu vì theo lý thuyết về lợi thế người đi tiên phong của Lieberman và Montgomery (1988), việc tiên phong vào thị trường mới thường được kỳ vọng sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn thông qua việc chiếm lĩnh thị phần sớm, tạo rào cản gia nhập cho đối thủ, và xây dựng thương hiệu mạnh. Kiểm tra đa cộng tuyến cho thấy các hệ số tương quan giữa các biến độc lập đều dưới 0,70 do đó đảm bảo điều kiện để tiến hành phân tích hồi quy bội. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

  • Bảng 4.9: Kết quả kiểm định tương quan giữa các biến độc lập

Kết quả cho thấy các hệ số tương quan giữa các biến độc lập dao động từ 0,185 đến 0,609, cụ thể:

Hệ số tương quan thấp giữa sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh và định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt là r = 0,185, p < 0,01 cho thấy đây là hai khía cạnh tương đối độc lập của mô hình. Mức tương quan thấp này phản ánh thực tế rằng một ngân hàng thương mại có thể mạnh về việc định hướng được các công nghệ, sản phẩm để tạo ra sự khác biệt với các ngân hàng thương mại khác nhưng chưa nhất thiết dẫn đầu trong các thị trường không có sự cạnh tranh và ngược lại.

Sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh có tương quan dương với r = 0,180, p < 0,01 với biến tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng, đây là mức tương quan thuộc nhóm trung bình (Cohen, 1988). Điều này cho thấy sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh có liên quan đến khả năng thu hút khách hàng, nhưng không phải là yếu tố quyết định duy nhất.

Cặp biến định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt; tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng có hệ số tương quan cao nhất trong ma trận với r = 0,513 và p < 0,01, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa việc định hướng công nghệ, sản phẩm khác biệt và việc tạo ra nhu cầu mới của khách hàng. Theo Evans (1996), hệ số r = 0,513 được xếp vào nhóm tương quan mạnh. Mặc dù hệ số tương quan 0,513 tương đối cao, nhưng vẫn nằm dưới ngưỡng cảnh báo 0,70-0,80 mà nhiều tác giả đề xuất (Hair và ctg, 2011; Pallant, 2021). Tabachnick và Fidell (2014) cho rằng hệ số tương quan dưới 0,70 thường không gây vấn đề nghiêm trọng trong phân tích hồi quy bội, đặc biệt khi cỡ mẫu lớn như trong nghiên cứu này với cỡ mẫu là 323.

Kết quả kiểm tra ma trận tương quan cho thấy không có dấu hiệu đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu khi tất cả hệ số tương quan đều dưới ngưỡng 0,80. Mức tương quan cao nhất là r = 0,513 vẫn nằm trong giới hạn chấp nhận được và phản ánh mối liên hệ logic giữa hai biến này.

4.6. Phân tích hồi quy đa biến Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Sau khi thực hiện các bước kiểm định độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về tác động của các yếu tố như Sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh(TC), Định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt (CN) và Tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng (KH) đến Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam (HQ).

4.6.1. Kiểm định sự phù hợp của mô hình

  • Bảng 4.10: Bảng tóm tắt hệ số xác định của mô hình hồi quy

Kết quả phân tích cho thấy mô hình hồi quy có hệ số xác định R² là 0,293 và R² hiệu chỉnh là 0,286, được hiểu là 28,6% sự biến thiên của biến phụ thuộc Hiệu quả hoạt động được giải thích bởi ba biến độc lập trong mô hình (Hair và ctg, 2011). Mặc dù hệ số R² không cao, điều này là chấp nhận được trong nghiên cứu khoa học xã hội, đặc biệt khi nghiên cứu các hiện tượng phức tạp bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác ngoài mô hình (Cohen, 1988).

Hệ số Durbin-Watson đạt 1,754, nằm trong khoảng chấp nhận từ 1,5 đến 2,5, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình (Field, 2014). Sai số chuẩn của ước lượng là 0,43958, thể hiện độ chính xác của dự báo là tương đối tốt.

4.6.2. Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình (ANOVA)

  • Bảng 4.11: Kết quả kiểm định ANOVA

Kiểm định ANOVA cho thấy mô hình hồi quy có ý nghĩa thống kê với giá trị F là 44,061 và mức ý nghĩa với Sig. là 0,000 < 0.05. Điều này chứng tỏ mô hình hồi quy phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (Hair và ctg, 2011). Nói cách khác, ít nhất có một biến độc lập trong mô hình có tác động có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc.

4.6.3. Kết quả hồi quy đa biến Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

  • Bảng 4.12: Tóm tắt kết quả mô hình hồi quy

Kết quả tại bảng 4.12 cũng cho thấy được mô hình hồi quy đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đó là: HQ = 0,475×CN + 0,088×KH + 0,060×TC.

Biến CN có hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta là 0,475 (< 0,05), cho thấy biến CN có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến biến phụ thuộc, đây cũng là biến có tác động mạnh nhất trong mô hình. Biến KH có hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta là 0,088 với mức ý nghĩa Sig. là 0,110 > 0,05, cho thấy tác động của KH đến HQ không có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Mặc dù hệ số beta dương, cho thấy có xu hướng tác động tích cực, nhưng mối quan hệ này chưa đủ mạnh để khẳng định có ý nghĩa thống kê. Biến TC có hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta là 0,060 với mức ý nghĩa Sig. là 0,212 > 0,05, cho thấy tác động của biến TC đến biến phụ thuộc HQ không có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Kết quả này cho thấy các hoạt động liên quan đến sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh chưa có tác động rõ rệt đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mẫu nghiên cứu.

4.6.4. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình hồi quy

Hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra khi các biến độc lập có tương quan cao với nhau, làm giảm độ tin cậy của ước lượng (Hair và ctg, 2011). Nghiên cứu sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) để kiểm tra đa cộng tuyến. Theo Hair và ctg (2011), nếu VIF nhỏ hơn 10 thì không có vấn đề đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Kết quả tại bảng 4.11 cho thấy tất cả các biến độc lập đều có VIF < 2, cụ thể biến TC có VIF là 1,046; biến CN có VIF là 1,373; biến KH có VIF là 1,370, chứng tỏ không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình. Ngoài ra, hệ số Tolerance của các biến đều lớn hơn 0,1 (biến TC ghi nhận 0,956; biến CN ghi nhận 0,728; biến KH ghi nhận 0,730), càng khẳng định mô hình không vi phạm giả định về đa cộng tuyến (Field, 2014). Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

4.6.5. Kiểm định phương sai thay đổi của mô hình hồi quy và kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình

Để kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình hồi quy thì tác giả đặt cặp giả thuyết đó gồm: H0 là mô hình hồi quy không xuất hiện phương sai thay đổi; H1 là mô hình hồi quy xuất hiện phương sai thay đổi. Nghiên cứu tiến hành kiểm định hiện tượng này dựa trên kết quả của đồ thị phân tán Scatter Plot bên dưới.

  • Hình 4.1: Đồ thị phân tán Scatter Plot

Hình 4.1 cho thấy các điểm phân tán tương đối ngẫu nhiên xung quanh đường ngang tại giá trị 0, không tạo thành các mẫu hình học rõ ràng như hình phễu, hình cong, hoặc các xu hướng có hệ thống. Độ rộng của dải phân tán tương đối đồng đều từ trái sang phải, cho thấy phương sai của phần dư không thay đổi đáng kể theo giá trị dự đoán (Field, 2014). Mặc dù có một số biến động nhẹ về độ phân tán, nhưng nhìn chung mô hình không vi phạm nghiêm trọng giả định phương sai sai số đồng nhất. Hầu hết các điểm nằm trong khoảng ±2 độ lệch chuẩn, chỉ có một vài điểm ngoại lai nằm ngoài khoảng ±3 (Hair và ctg, 2011). Do đó, mô hình hồi quy đáp ứng giả định về phương sai sai số đồng nhất và kết quả ước lượng có thể tin cậy được.

Kết quả mô hình tại bảng 4.10 cho thấy hệ số Durbin-Watson là 1,754, nằm trong khoảng cho phép từ 1 đến 3, đo đó mô hình hồi quy này không xuất hiện hiện tương tự tương quan.

4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Qua quá trình thực hiện các kiểm định khuyết tật của mô hình, các hiện tượng không xuất hiện, do đó dựa trên các hệ số hồi quy thu thập được, tác giả tóm tắt kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu như sau:

  • Bảng 4.13: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Kết quả phân tích hồi quy cho thấy chỉ có giả thuyết H2 được chấp nhận và biến số độc lập CN có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc, các giả thuyết H1 và H3 bị bác bỏ do hệ số Sig. của mô hình lớn hơn mức 5%.

Kết quả kiểm định mô hình hồi quy đa biến cho thấy mức độ tác động của ba yếu tố đại diện cho chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dựa trên giá trị hệ số Beta chuẩn hóa và mức ý nghĩa thống kê (Sig.), các phát hiện chính được thảo luận như sau:

Giả thuyết H1 cho rằng các NHTM Việt Nam áp dụng chiến lược đại dương xanh bằng cách tiên phong dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng tranh thủ thời cơ sớm thâm nhập/mở rộng thị trường, giảm cạnh tranh và tăng hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, kết quả hồi quy cho thấy hệ số Beta là 0,060 và Sig. là 0,212 (> 0,05), nên giả thuyết không được chấp nhận. Điều này hàm ý rằng vai trò của chiến lược tiên phong trong các thị trường mới chưa có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Kết quả này trái với kỳ vọng ban đầu dựa trên lý thuyết về chiến lược đại dương xanh của Kim và Mauborgne (2006), cũng như một số nghiên cứu trước đây về lợi ích của việc tiên phong vào thị trường mới (Lieberman và Montgomery, 1988) nhưng lại phù hợp với kết luận của Tellis và Golder (1996) rằng lợi thế tiên phong không phải lúc nào cũng dẫn đến thành công lâu dài. Trong ngành ngân hàng cụ thể, nghiên cứu của Berger, Hasan và Zhou (2008) cũng chỉ ra rằng quy mô, hiệu quả chi phí và chất lượng quản trị quan trọng hơn việc tiên phong vào thị trường mới. Tuy nhiên, kết quả lại phù hợp với bối cảnh thực tế của ngành ngân hàng Việt Nam hiện nay vì các lý do như thị trường ngân hàng Việt Nam đã tương đối bão hòa và cạnh tranh gay gắt; lợi thế tiên phong có thể không bền vững trong ngành ngân hàng; chi phí và rủi ro của việc tiên phong trong một thị trường mới chưa có sự cạnh tranh, có thể cao hơn lợi ích; dữ liệu nghiên cứu được thu thập tại một thời điểm cụ thể, trong khi lợi ích từ việc mở rộng thị trường mới có thể cần nhiều năm để hiện thực hóa (Aaker và Day, 1986).

Giả thuyết H2 cho rằng các NHTM Việt Nam áp dụng công nghệ, sản phẩm và chính sách hiện đại tạo ra sự khác biệt và tăng độ nhận diện, qua đó gia tăng thị phần và thu hút khách hàng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động. Kết quả hồi quy cho thấy hệ số Beta là 0,475 và Sig. là 0,000 (< 0,05), chứng tỏ giả thuyết được chấp nhận với mức tác động mạnh nhất trong ba nhân tố. Điều này cho thấy công nghệ – sản phẩm – chính sách hiện đại là yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đây là kết quả quan trọng nhất của nghiên cứu và hoàn toàn phù hợp với bối cảnh ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi số mạnh mẽ, phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây về tầm quan trọng của đổi mới trong ngành ngân hàng. Nghiên cứu của Roberts và Amit (2004) chỉ ra rằng đổi mới mô hình kinh doanh là yếu tố then chốt dẫn đến hiệu quả vượt trội. Tương tự, Frame và White (2005) khẳng định rằng đổi mới công nghệ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng. Trong bối cảnh Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Huệ và Nguyễn Văn Sang (2021) cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa đổi mới công nghệ và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Giả thuyết H3 cho rằng các NHTM Việt Nam tạo ra và nắm bắt nhu cầu mới thông qua BOS sẽ giúp thu hút và giữ chân khách hàng, từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động. Kết quả phân tích cho thấy hệ số Beta là 0,088 và Sig. là 0,110 (> 0,05), nên giả thuyết không được chấp nhận. Điều này cho thấy việc cố gắng tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng chưa mang lại hiệu quả hoạt động rõ rệt đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả này tương tự như giả thuyết H1, cũng liên quan đến khái niệm chiến lược đại dương xanh nhưng tập trung vào khía cạnh tạo nhu cầu mới thay vì mở rộng thị trường mới. Có thể giải thích kết quả này qua các lý do như khó khăn trong việc tạo ra nhu cầu mới thực sự trong ngành ngân hàng hiện nay; tốc độ chuyển đổi từ đại dương xanh thành đại dương đỏ trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay tương đối nhanh làm mất đi lợi thế từ việc tạo nhu cầu mới; việc xác định và đo lường khái niệm tạo nhu cầu mới là không dễ dàng và do đó trong bảng câu hỏi khảo sát, có thể người trả lời không phân biệt rõ ràng giữa việc tạo nhu cầu mới và cải thiện sản phẩm hiện có, dẫn đến kết quả đo lường không chính xác; thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay đã tương đối trưởng thành với mức độ thâm nhập cao, do đó cơ hội tạo nhu cầu hoàn toàn mới là hạn chế. Kết quả này khác với kỳ vọng từ lý thuyết BOS của Kim và Mauborgne (2006), nhưng lại phù hợp với các nghiên cứu phê phán về tính khả thi của BOS trong một số ngành cụ thể. Nghiên cứu của Markides (2009) chỉ ra rằng chiến lược BOS không phải lúc nào cũng hiệu quả và phụ thuộc nhiều vào đặc thù ngành và bối cảnh thị trường.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 4:

Trong chương này, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát của 323 cá nhân đang công tác tại các NHTM Việt Nam để thực hiện thống kê. Luận văn thực hiện thống kê mô tả mẫu nghiên cứu để nhận diện đặc điểm mẫu, sau đó thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đó, phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định sự tương quan của các biến. Từ đó, tiến hành thực hiện hồi quy đa biến để đánh giá mô hình về sự tác động của các yếu tố như sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh (TC), định hướng công nghệ/sản phẩm để tạo sự khác biệt (CN), tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng (KH) đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam (HQ). Kết quả thu thập được cho thấy, biến định hướng công nghệ/sản phẩm để tạo sự khác biệt có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc, trong khi đó hai biến sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh và tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng chưa thể hiện tác động đáng kể đến biến phụ thuộc. Mô hình hồi quy không vi phạm hiện tượng khuyết tật, tạo cơ sở cho việc chấp nhận giả thuyết nghiên cứu được đưa ra vào phần thảo luận kết quả.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

5.1. Kết luận

Tác giả tập trung vào việc tổng hợp các lý thuyết nền tảng, các công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến chiến lược đại dương xanh nói chung và các tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng, xác định khoảng trống nghiên cứu để tạo nên cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh của ngành ngân hàng Việt Nam. Thông qua việc thảo luận với các chuyên gia, luận văn xác định và điều chỉnh thang đo gốc phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Luận văn đã tiến hành khảo sát và chọn lọc được 323 mẫu có phản hồi hợp lệ từ các cá nhân đã và đang công tác tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dữ liệu sau đó được sử dụng để thực hiện thống kê với phần mềm SPSS và xác định cụ thể các khía cạnh của chiến lược đại dương xanh có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam gia tăng hiệu quả hoạt động, hay nói cách khác khía cạnh này có tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Hai khía cạnh còn lại là sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh; tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng theo kết quả của nghiên cứu cho thấy chưa có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Đối với khía cạnh tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng, kết quả này chưa thực sự tương đồng với kỳ vọng lý thuyết của chiến lược đại dương xanh. Theo Kim & Mauborgne (2006), một trong những trụ cột cốt lõi của chiến lược đại dương xanh chính là năng lực tạo ra và khai thác nhu cầu tiềm ẩn mà thị trường chưa được đáp ứng, từ đó giúp doanh nghiệp mở ra không gian thị trường mới, thoát khỏi áp lực cạnh tranh trực tiếp và cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, trong bối cảnh thực tiễn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, có một số lý do có thể lý giải cho sự không tương đồng này.

Thứ nhất, ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ nhất từ phía cơ quan nhà nước, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc ngay cả khi các ngân hàng thương mại nhận diện được nhu cầu mới của khách hàng, khả năng hiện thực hóa các nhu cầu đó thành sản phẩm và dịch vụ sáng tạo vẫn bị giới hạn bởi khuôn khổ pháp lý hiện hành. Sự ràng buộc này làm suy yếu mối liên hệ nhân quả giữa năng lực nắm bắt nhu cầu và kết quả hiệu quả hoạt động thực tế, khiến cho lý thuyết đại dương xanh – vốn được xây dựng dựa trên các ngành có độ linh hoạt về sản phẩm cao hơn – chưa thể phát huy đầy đủ trong môi trường đặc thù này.

Thứ hai, thực tiễn cho thấy phần lớn các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện vẫn đang ở trạng thái phản ứng với nhu cầu hơn là chủ động tạo ra nhu cầu mới. Các hoạt động nghiên cứu khách hàng chủ yếu tập trung vào việc đo lường sự hài lòng, phân tích hành vi giao dịch hiện tại hoặc theo dõi xu hướng từ đối thủ cạnh tranh – những phương pháp mang tính định hướng về quá khứ và hiện tại hơn là tương lai. Đây là khoảng cách đáng kể so với tinh thần tiên phong mà lý thuyết đại dương xanh đặt ra, theo đó doanh nghiệp cần chủ động định hình và tái cấu trúc nhu cầu thị trường thay vì chỉ đơn thuần đáp ứng những gì đã có.

Thứ ba, cần lưu ý rằng tác động của việc nắm bắt và đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng thường không thể hiện ngay lập tức mà cần một khoảng thời gian nhất định để lan tỏa và phản ánh vào các chỉ số hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu hiện tại sử dụng dữ liệu khảo sát tại một thời điểm (dữ liệu cắt ngang), do đó có thể chưa nắm bắt được hiệu ứng trễ theo thời gian của chiến lược này. Những nỗ lực trong việc tạo và nắm bắt nhu cầu mới đang được triển khai tại thời điểm khảo sát hoàn toàn có thể chỉ thực sự phản ánh rõ ràng vào hiệu quả hoạt động trong các giai đoạn tiếp theo. Đây là một hạn chế cố hữu của thiết kế nghiên cứu cắt ngang khi được áp dụng để đánh giá các chiến lược mang tính dài hạn.

Tóm lại, việc khía cạnh tạo và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng chưa cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả hoạt động không phủ nhận giá trị lý thuyết của chiến lược đại dương xanh, mà phản ánh rằng các điều kiện cần thiết để khía cạnh này phát huy tác động bao gồm môi trường pháp lý linh hoạt, năng lực đổi mới chủ động và thời gian triển khai đủ dài, chưa hội tụ đầy đủ trong bối cảnh ngành ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Kết quả này đồng thời gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cần xem xét bổ sung biến kiểm soát liên quan đến môi trường thể chế, cũng như áp dụng thiết kế nghiên cứu theo dữ liệu bảng nhằm kiểm định đầy đủ hơn mối quan hệ này trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra kiến nghị, đề xuất để các ngân hàng thương mại Việt Nam có những chiến lược, chính sách phù hợp nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động.

5.2. Đề xuất Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

5.2.1 Hàm ý quản trị có giá trị cho các nhà lãnh đạo ngân hàng thương mại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đổi mới công nghệ có tác động tích cực và mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và kỳ vọng khách hàng không ngừng gia tăng, chuyển đổi số không còn là một lựa chọn hay xu hướng thời thượng mà đã trở thành chiến lược sống còn quyết định sự thành bại của mỗi ngân hàng. Phân tích chiến lược của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam trong năm 2025 càng khẳng định xu hướng này, khi hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam đều đặt chuyển đổi số ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển của mình.

Thứ nhất, các ngân hàng cần có cam kết mạnh mẽ về nguồn lực cho chuyển đổi số. Đây không phải chỉ là việc phân bổ một khoản ngân sách nhỏ trong tổng chi phí hoạt động, mà đòi hỏi một khoản đầu tư đáng kể. Cam kết này cần được thể hiện rõ ràng qua việc xây dựng lộ trình chuyển đổi số chi tiết với các mốc thời gian và chỉ số đo lường hiệu quả (KPI) cụ thể. Lộ trình cần bao gồm ba giai đoạn chính: giai đoạn số hóa các quy trình hiện có, chuyển đổi các quy trình nghiệp vụ để tối ưu hiệu quả và cuối cùng là chuyển đổi toàn diện mô hình kinh doanh để tạo ra giá trị mới.

Để đảm bảo chuyển đổi số được thực thi hiệu quả, các ngân hàng cần thiết lập cơ chế quản trị chuyển đổi số mạnh mẽ với Ban chỉ đạo chuyển đổi số do các cá nhân của ban lãnh đạo trực tiếp đứng đầu. Đồng thời, văn hóa số cần được xây dựng và thấm nhuần trong toàn bộ tổ chức, không chỉ giới hạn ở bộ phận công nghệ thông tin mà lan tỏa đến mọi cấp từ lãnh đạo cao nhất đến nhân viên tuyến đầu. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Thứ hai, các ngân hàng cần tích cực ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tại (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data),… AI và Big Data đang mở ra những khả năng chưa từng có trong việc cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng. Thông qua phân tích hành vi, lịch sử giao dịch và các dữ liệu phi cấu trúc như tương tác trên mạng xã hội, ngân hàng có thể hiểu sâu sắc nhu cầu của từng khách hàng và đề xuất các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng cá nhân.

Thứ ba, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ khác biệt dựa trên công nghệ là yếu tố then chốt để tạo lợi thế cạnh tranh bền vững. Trong bối cảnh các sản phẩm ngân hàng truyền thống ngày càng trở nên đồng nhất và lợi nhuận bị thu hẹp do cạnh tranh lãi suất khốc liệt, việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khác biệt có giá trị gia tăng cao trở thành con đường sống còn. Thay vì cạnh tranh bằng lãi suất thấp nhất – một cuộc đua không bền vững và làm xói mòn lợi nhuận của toàn ngành, các ngân hàng cần tập trung vào việc tạo ra giá trị vượt trội thông qua đổi mới sản phẩm. Sản phẩm cá nhân hóa cao dựa trên phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là hướng đi quan trọng. Thay vì cung cấp các gói sản phẩm chuẩn cho tất cả khách hàng, ngân hàng cần sử dụng dữ liệu lớn để phân tích sâu hành vi, nhu cầu, khả năng tài chính và mục tiêu của từng khách hàng, từ đó thiết kế các sản phẩm phù hợp riêng.

Giải pháp tài chính toàn diện cũng là xu hướng quan trọng khác. Thay vì chỉ cung cấp từng sản phẩm riêng lẻ, ngân hàng cần phát triển các gói giải pháp tích hợp đáp ứng toàn bộ nhu cầu tài chính của khách hàng trong một hệ sinh thái duy nhất.

Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái số tích hợp là bước tiến chiến lược quan trọng. Xu hướng toàn cầu cho thấy các ngân hàng thành công không chỉ là nhà cung cấp sản phẩm tài chính mà đang chuyển mình thành nền tảng số kết nối nhiều dịch vụ và đối tác. Áp dụng mô hình một ứng dụng duy nhất tích hợp đa dạng dịch vụ đang được nhiều ngân hàng thương mại tiên phong triển khai. Đây cũng là kênh giúp gia tăng điểm chạm hàng ngày của khách hàng, tăng tính gắn kết và thu thập dữ liệu phong phú về hành vi, sở thích, nhu cầu của khách hàng.

Thứ năm, đầu tư vào hạ tầng công nghệ hiện đại, an toàn và bảo mật là nền tảng không thể thiếu cho mọi sáng kiến chuyển đổi số. Kiến trúc công nghệ cần được hiện đại hóa để đáp ứng yêu cầu về tính linh hoạt, khả năng mở rộng và tốc độ đổi mới.

Trong bối cảnh số hóa toàn diện, an ninh mạng và bảo mật dữ liệu trở thành ưu tiên tuyệt đối. Các vụ tấn công mạng vào ngành tài chính ngày càng tinh vi và có quy mô lớn, gây thiệt hại không chỉ về tài chính mà còn uy tín thương hiệu. Các ngân hàng cần áp dụng mô hình Zero Trust Architecture – mô hình không tin tưởng theo mặc định bất kỳ truy cập nào dù từ bên trong hay bên ngoài tổ chức, yêu cầu xác thực và ủy quyền cho mọi kết nối.

Xác thực đa yếu tố cần được triển khai bắt buộc cho tất cả giao dịch quan trọng, kết hợp nhiều phương thức như mật khẩu, sinh trắc học (vân tay, nhận diện khuôn mặt), mã xác thực một lần, token cứng hoặc mềm. Mã hóa dữ liệu toàn diện cả khi lưu trữ và khi truyền tải cần sử dụng các chuẩn mã hóa mạnh. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Cuối cùng, phát triển năng lực số cho đội ngũ nhân sự là yếu tố quyết định thành công của chuyển đổi số. Công nghệ tiên tiến nhất cũng chỉ phát huy tác dụng khi có đội ngũ nhân sự có năng lực vận hành, phát triển và tối ưu hóa chúng. Mọi nhân viên trong ngân hàng, không chỉ riêng bộ phận công nghệ thông tin, cần được đào tạo về kiến thức số cơ bản bao gồm hiểu biết về công nghệ số, an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, các xu hướng công nghệ mới và cách chúng ảnh hưởng đến ngành ngân hàng. Chương trình đào tạo này cần bắt buộc cho toàn bộ nhân viên và được cập nhật thường xuyên để theo kịp sự phát triển của công nghệ.

Ngoài kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, các kỹ năng mềm cũng rất quan trọng. Tư duy đổi mới giúp nhân viên không ngừng tìm kiếm cách làm mới, tốt hơn. Kỹ năng làm việc thích nghi nhanh với thay đổi.

5.2.2. Hàm ý đối với các nhà hoạch định chính sách

Đối với các nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò then chốt của Nhà nước và các cơ quan quản lý trong việc kiến tạo môi trường thể chế thuận lợi nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong ngành ngân hàng. Trong bối cảnh công nghệ tài chính phát triển nhanh chóng, nếu thiếu các chính sách hỗ trợ kịp thời và phù hợp, các ngân hàng thương mại sẽ gặp nhiều rào cản trong việc đầu tư công nghệ, đổi mới mô hình kinh doanh và triển khai các dịch vụ ngân hàng số một cách hiệu quả và an toàn.

Trước hết, cần xây dựng và hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư cho chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. Các ưu đãi về thuế, tín dụng và hỗ trợ tài chính đối với các dự án ứng dụng công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và công nghệ chuỗi khối (Blockchain) sẽ góp phần giảm áp lực chi phí đầu tư ban đầu cho các ngân hàng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ, vốn gặp nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính và công nghệ so với các ngân hàng lớn. Thông qua các cơ chế hỗ trợ phù hợp, Nhà nước có thể tạo điều kiện để toàn bộ hệ thống ngân hàng cùng tham gia tiến trình chuyển đổi số, tránh nguy cơ phân hóa quá lớn về năng lực công nghệ giữa các ngân hàng. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Bên cạnh đó, khung pháp lý đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy hay kìm hãm đổi mới sáng tạo trong ngành ngân hàng. Các nhà hoạch định chính sách cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng linh hoạt, cập nhật và thích ứng nhanh với sự phát triển của công nghệ số. Việc ban hành các quy định rõ ràng liên quan đến ngân hàng số, thanh toán điện tử, bảo mật dữ liệu, định danh điện tử (eKYC) và chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức tài chính sẽ giúp giảm thiểu rủi ro pháp lý, đồng thời tạo niềm tin cho các ngân hàng khi triển khai các sản phẩm và dịch vụ mới. Ngoài ra, cơ chế “sandbox” cho phép thử nghiệm có kiểm soát các mô hình kinh doanh và công nghệ mới trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính cần được mở rộng và vận hành hiệu quả hơn, qua đó tạo không gian cho đổi mới sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính.

Một yếu tố không thể thiếu khác là đầu tư vào hạ tầng công nghệ số ở cấp độ quốc gia. Hạ tầng dữ liệu, hệ thống định danh số, an ninh mạng và kết nối số đồng bộ là nền tảng quan trọng để các ngân hàng triển khai dịch vụ ngân hàng số trên diện rộng. Nếu hạ tầng công nghệ không đồng đều giữa các khu vực, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, quá trình chuyển đổi số trong ngành ngân hàng sẽ khó đạt được hiệu quả toàn diện và có thể làm gia tăng khoảng cách tiếp cận dịch vụ tài chính giữa các nhóm dân cư. Do đó, các chính sách đầu tư công cần ưu tiên phát triển hạ tầng công nghệ và viễn thông, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp ở mọi khu vực có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng số một cách thuận tiện và an toàn.

Song song với việc hỗ trợ chuyển đổi số, các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch trong ngành ngân hàng. Một môi trường cạnh tranh công bằng sẽ tạo động lực cho các ngân hàng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cải thiện trải nghiệm khách hàng và không ngừng đổi mới, thay vì chỉ tập trung vào việc mở rộng quy mô hoạt động hoặc gia tăng thị phần bằng các biện pháp ngắn hạn. Điều này đòi hỏi cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát, đảm bảo tuân thủ các quy định về minh bạch thông tin, quản trị rủi ro và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính.

Ngoài ra, chính sách cạnh tranh cần hướng đến việc khuyến khích cạnh tranh dựa trên giá trị và chất lượng, thay vì cạnh tranh bằng lãi suất hoặc ưu đãi ngắn hạn thiếu bền vững. Khi các ngân hàng được đặt trong môi trường cạnh tranh minh bạch và công bằng, họ sẽ có động lực đầu tư dài hạn cho công nghệ, nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng. Về lâu dài, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân các ngân hàng, mà còn góp phần nâng cao mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

5.3. Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Mặc dù đã đạt được các mục tiêu đề ra, nghiên cứu vẫn tồn tại một số hạn chế cần được lưu ý. Thứ nhất, nghiên cứu sử dụng dữ liệu cắt ngang tại một thời điểm, do đó không thể nắm bắt được tác động dài hạn của các chiến lược, đặc biệt là những chiến lược như tiên phong vào thị trường mới có thể cần nhiều năm để phát huy hiệu quả. Thứ hai, mẫu nghiên cứu với 323 cá nhân có thể chưa đại diện đầy đủ cho toàn ngành, đặc biệt là sự đa dạng về quy mô và loại hình ngân hàng. Thứ ba, có thể có sự chồng chéo về khái niệm giữa một số biến, dẫn đến khó khăn trong việc phân biệt rõ ràng các yếu tố. Cuối cùng, mô hình chỉ giải thích được 28.6% sự biến thiên của hiệu quả hoạt động, cho thấy còn nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ngân hàng chưa được đưa vào mô hình.

5.4. Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Dựa trên những hạn chế đã nêu, nghiên cứu đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo như sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu tương lai nên sử dụng dữ liệu bảng theo dõi các ngân hàng qua nhiều năm để bắt giữ được tác động dài hạn và tác động của các chiến lược, đặc biệt là chiến lược tiên phong và tạo nhu cầu mới.

Thứ hai, cần mở rộng quy mô mẫu và đảm bảo tính đại diện cao hơn, bao gồm các ngân hàng với quy mô và loại hình khác nhau (ngân hàng nhà nước, NHTM cổ phần, ngân hàng nước ngoài).

Thứ ba, nên cải tiến và phát triển thang đo phù hợp hơn với bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là các thang đo liên quan đến khái niệm “đại dương xanh” để phân biệt rõ hơn với đổi mới sản phẩm thông thường.

Thứ tư, các nghiên cứu tiếp theo có thể xem xét các biến trung gian và điều tiết như quy mô ngân hàng, loại hình sở hữu, năng lực quản trị, văn hóa doanh nghiệp, và mức độ cạnh tranh của thị trường để hiểu rõ hơn về cơ chế tác động của các chiến lược đến hiệu quả hoạt động. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Thứ năm, có thể bổ sung các biến độc lập khác vào mô hình như quản trị rủi ro, chất lượng tài sản, hiệu quả chi phí, năng lực nhân sự, và mối quan hệ khách hàng để nâng cao khả năng giải thích của mô hình.

Thứ sáu, nghiên cứu so sánh giữa các nhóm ngân hàng lớn – nhỏ, nhà nước – tư nhân hoặc nghiên cứu định tính bổ sung thông qua phỏng vấn sâu các nhà quản lý cấp cao có thể cung cấp những hiểu biết phong phú hơn về thực tiễn áp dụng các chiến lược này.

Cuối cùng, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự xuất hiện của các mô hình ngân hàng mới (neobank, digital-only bank,….), các nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào vai trò của công nghệ số như một yếu tố chuyển đổi căn bản chứ không chỉ là một yếu tố đổi mới sản phẩm, và nghiên cứu cách thức mà các ngân hàng truyền thống có thể thích ứng với những thay đổi này.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

Chương 5 đã hoàn thành nhiệm vụ diễn giải và thảo luận các kết quả nghiên cứu, đặt chúng trong bối cảnh lý thuyết và thực tiễn của ngành ngân hàng Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định vai trò then chốt của đổi mới công nghệ và sản phẩm/dịch vụ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng, đồng thời làm rõ những giới hạn của chiến lược đại dương xanh trong ngành này. Những phát hiện này không chỉ có giá trị học thuật mà còn cung cấp những hướng dẫn thực tiễn có ích cho các nhà quản trị ngân hàng và nhà hoạch định chính sách. Mặc dù còn một số hạn chế, nghiên cứu đã đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm hiểu sâu hơn về các yếu tố chiến lược tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng trong thời đại chuyển đổi số. Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH

One thought on “Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH

  1. Pingback: Luận văn: PPNC của chiến lược đại dương xanh của các NH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *