Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nội dung luận văn: Nghiên cứu này đã tóm tắt tổng hợp các lý thuyết nền tảng về chiến lược đại dương xanh, các khía cạnh cốt lõi trong chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu liên quan, luận văn xác định được các khoảng trống nghiên cứu nhằm tạo cơ sở để đề xuất các mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu phù hợp với bối cảnh về hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.

Luận văn sử dụng kết quả phỏng vấn, khảo sát các những nhân sự đang công tác, quản lý, các cán bộ làm việc trong ban chiến lược, sản phẩm của 35 ngân hàng thương mại tại Việt Nam để xây dựng thang đo định tính đo lường cho các biến số trong mô hình và thiết lập bảng khảo sát chính thức. Dữ liệu sơ cấp thu thập được, được xử lý bằng SPSS, sau đó thực hiện các kiểm định độ tin cậy, nhân tố khám phá và hồi quy đa biến thì kết quả nghiên cứu nhận được là đáng tin cậy và đảm bảo cho tổng thể. Kết quả nghiên cứu được đưa ra cho thấy các khía cạnh….của chiến lược đại dương xanh có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Cuối cùng, dựa trên kết quả nghiên cứu này, luận văn đề xuất, đưa ra một số gợi ý cho các ngân hàng thương mại Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua việc áp dụng chiến lược đại dương xanh.

Từ khóa: chiến lược đại dương xanh, các khía cạnh của chiến lược đại dương xanh, hiệu quả hoạt động, ngân hàng thương mại Việt Nam.

  • ABSTRACT

Title: The Impact of Blue Ocean Strategy on the Performance of Vietnamese Commercial Banks.

Content: This study synthesizes and summarizes fundamental theories on the Blue Ocean Strategy, highlighting its core aspects in relation to the performance of Vietnamese commercial banks. By reviewing relevant research, the thesis identifies research gaps to establish a foundation for proposing suitable research models and hypotheses that align with the operational efficiency of Vietnamese commercial banks. Primary data was collected through surveys conducted with a number of senior management personnel from various commercial banks in Vietnam. This data was then processed using appropriate analytical methods, followed by reliability tests, exploratory factor analysis, and multiple regression analysis. The research findings are reliable and representative of the overall context. The results indicate that specific aspects of the Blue Ocean Strategy have an impact on the performance of Vietnamese commercial banks. Finally, based on these findings, the thesis provides recommendations and suggestions for Vietnamese commercial banks to enhance their operational efficiency through the adoption of the Blue Ocean Strategy. Keywords: Blue Ocean Strategy, aspects of Blue Ocean Strategy, performance, Vietnamese commercial banks.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Đặt vấn đề Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Kể từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 2007, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng về quy mô (Huỳnh Thị Hương Thảo và Mai Thị Thu Nguyệt, 2025). Các ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng và tham gia sâu rộng vào mọi lĩnh vực kinh tế, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong ngành ngân hàng, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, như tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu giảm tốc, áp lực từ các công ty fintech, yêu cầu đổi mới công nghệ số, yêu cầu về chuẩn hóa, áp dụng các sản phẩm tín dụng xanh,…và xu hướng khách hàng ngày càng ưu tiên trải nghiệm dịch vụ cá nhân hóa (Đào Mỹ Hằng và Lê Thị Diệu Linh, 2025). Điều này đòi hỏi các NHTM phải tìm kiếm những hướng đi mới, chiến lược mới, sản phẩm mới, tầm nhìn mới để duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường hiện nay.

Chiến lược đại dương xanh (Blue Ocean Strategy – BOS) là một khung chiến lược đổi mới sáng tạo được giới thiệu bởi Kim và Mauborgne (2006), chiến lược này được biết đến như một cách tiếp cận đột phá, giúp các tổ chức không chỉ cạnh tranh trong thị trường hiện tại mà còn tạo ra những không gian thị trường mới, không có hoặc có ít sự cạnh tranh. Trên thế giới, chiến lược đại dương xanh đã được nhiều tổ chức áp dụng thành công, tạo ra hướng đi mới, thị trường mới cùng với sự phát triển mạnh mẽ cho doanh nghiệp, có sự đóng góp đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức (Rahman & Choudhury, 2020). Tuy nhiên, tại Việt Nam, chiến lược này còn tương đối mới đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức, đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng do đây là lĩnh vực đặc thù, hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát chặt chẽ, tuân thủ quy định của pháp luật và Ngân hàng Nhà nước. Vậy tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam như thế nào? Đây cũng chính là ý tưởng chủ đạo mà tác giả cố gắng tìm lời giải thích thỏa đáng xuyên suốt nội dung của luận văn.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

Sự gia tăng hội nhập kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam, đã tạo ra những tiêu chuẩn, thách thức, cạnh tranh lớn đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam, hay nói cách khác là “Đại dương đỏ”. Việc phát triển bền vững với ít sự cạnh tranh luôn là định hướng lâu dài của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên việc các NHTM lựa chọn được chiến lược kinh doanh phù hợp, đem lại hiệu quả hoạt động nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo tối ưu về mặt chi phí hiện nay không phải điều dễ dàng. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Trên thế giới, chiến lược đại dương xanh đã và đang được nghiên cứu áp dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực ngân hàng như tác giả Miano (2014) đã có những nghiên cứu về các yếu tố quyết định việc triển khai BOS tại các NHTM ở Kenya và cho rằng ngành ngân hàng cần cắt giảm thời gian chờ đợi của khách hàng, giảm thiểu chi phí vận hành, chi phí cố định, chi phí trực tiếp đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng sự hài lòng của khách hàng. Tác giả Abishua (2011) sau khi nghiên cứu các chiến lược mà ngân hàng Equity sử dụng để cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tại Kenya đã kết luận rằng chiến lược mà Ngân hàng Equity đang thực hiện chủ yếu là chiến lược đại dương xanh đã giúp họ vượt trội hơn so với các đối thủ. Gần đây, trong bài nghiên cứu về tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức tại một số NHTM được chọn ở Mogadishu, Somalia, (Mohamud, Ali và Mohamud, 2025) cho rằng BOS rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Mogadishu, Somalia, giúp các ngân hàng tạo ra các không gian thị trường độc đáo, cung cấp các giá trị sáng tạo và đạt được lợi thế cạnh tranh, đóng góp đáng kể vào sự thành công tổng thể của họ. Đây cũng là quan điểm của Rahman và Choudhury (2020). Ghanbari, Sabzali Yameqani, Rabbani và Sabzali Yamaqani (2025) cũng đã thực hiện bài nghiên cứu Sự hình thành chiến lược đại dương xanh trong ngành dịch vụ ngân hàng:

Nâng cao sự hài lòng của khách hàng thông qua cải thiện việc đáp ứng nhu cầu và trình bày mô hình tối ưu.

Có thể thấy, chiến lược đại dương xanh là chìa khóa mà các ngân hàng thương mại trên thế giới đang hướng đến để thoát khỏi sự cạnh tranh khốc liệt và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của BOS đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả mong muốn lắp đầy.

1.3. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

1.3.1. Mục tiêu tổng quát

Căn cứ các lý thuyết và nghiên cứu trước đây về chiến lược đại dương xanh và tác động của chiến lược này trong lĩnh vực ngân hàng, đề tài tập trung phân tích tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

Trên cơ sở các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, mục tiêu của bài nghiên cứu tập trung các khía cạnh sau:

  • Đánh giá tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của một số NHTM ở Việt Nam.
  • Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2020-2025.
  • Đưa ra một số gợi ý phù hợp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình áp dụng chiến lược đại dương xanh nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

  • Từ những mục tiêu đề ra nêu trên, bài nghiên cứu cố gắng giải quyết, làm rõ các câu hỏi:
  • Tác động của BOS đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam là gì?

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Bài nghiên cứu được tiến hành theo phạm vi không gian là 35 ngân hàng thương mại Việt Nam theo thống kê của Ngân hàng nhà nước đến ngày 30/09/2025. Phạm vi nghiên cứu về thời gian từ năm 2020 đến năm 2025. Bài viết lựa chọn khoảng thời gian này trên cơ sở đây là khoảng thời gian mang tính cập nhật tại thời điểm nghiên cứu, đồng thời đây cũng là giai đoạn tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều biến động bởi dịch bệnh Covid-19, căng thẳng chiến sự ở một số các quốc gia leo thang, lạm phát và thất nghiệp gia tăng (Tổng cục Thống kê, 2024). Tuy nhiên tình hình kinh tế Việt Nam vẫn có sự phục hồi và tăng trưởng về tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP):

  • Bảng 1.1: Bảng tổng hợp GDP bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 2020- 2025

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Luận văn được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định tính bằng cách thực hiện các phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích đánh giá các các tài liệu, các nghiên cứu trước đây liên quan đến tác động của chiến lược đại dương xanh đối với ngành ngân hàng nói chung và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại nói riêng. Từ đó, hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về tác động của chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, để thực hiện mô hình, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực để hoàn chỉnh mô hình nghiên cứu và xây dựng, hiệu chỉnh các thang đo từ các nghiên cứu đi trước.

1.6.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Tác giả thực hiện phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách phân tích nhân tố khám phá EFA. Tác giả gửi bảng câu hỏi khảo sát đến các cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên làm việc tại ngân hàng thương mại Việt Nam, bảng câu hỏi do các cá nhân trả lời và được tác giả tổng hợp, phân tích. Bảng câu hỏi được gửi thông qua Google Docs, sử dụng các nền tảng, cách thức như facebook, zalo, email, messenger, hỏi trực tiếp,…Số liệu thu thập được xử lý thông qua phần mềm SPSS 22.0, kết quả thống kê được tiến hành các kiểm định tương ứng.

Để kiểm tra độ tin cậy của biên số và thang đo, tác giả sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha. Sau đó thực hiện kiểm định nhân tố khám phá EFA để xác định sự hội tự của các thang đo vào nhân tố đại diện. Từ các nhân tố đại diện đó, luận văn tiến hành hồi quy để xác định tác động của chiến lược đại dược xanh đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Tiếp đó tác giả tiến hành kiểm định khuyết tật. Cuối cùng, dựa trên kết quả hồi quy để kết luận giả thuyết thống kê, thảo luận và đề xuất hàm ý.

1.7. Nội dung nghiên cứu Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Nội dung bài nghiên cứu dự kiến thực hiện thành các phần nhằm giải đáp các câu hỏi nghiên cứu đặt ra. Phần thứ nhất làm rõ các tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam; đưa ra các định hướng/ sản phẩm được hướng đến hiện nay trong lĩnh vực ngân hàng là biểu hiện thực tế của chiến lược đại dương xanh. Phần thứ hai mô tả phương pháp, quy trình thực hiện thu thập dữ liệu sơ cấp về tác động của BOS đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dựa vào các kết quả biểu thị tác động của BOS đến hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam nêu trên, ở phần thứ ba, tác giả tập trung thảo luận về các kết quả từ mô hình. Cuối cùng, đưa ra nhận xét và gợi ý tại phần cuối của bài nghiên cứu.

1.8. Đóng góp của đề tài

1.8.1. Về mặt lý thuyết

Hệ thống các NHTM tại Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng trong sự vận hành của nền kinh tế cả nước tuy nhiên khi các NHTM càng phát triển thì mặt còn lại chịu sự cạnh tranh rất lớn trong ngành. Để phát triển bền vững, tăng trưởng vượt bậc nhưng ít chịu sự cạnh tranh trong “đại dương đỏ” đòi hỏi các NHTM phải có những điểm mạnh riêng, tạo sự khác biệt mà đối thủ chưa có hoặc chưa bắt kịp xu hướng, định hướng mới bằng cách áp dụng chiến lược đại dương xanh. Phần lớn các nghiên cứu áp dụng chiến lược đại dương xanh trên thế giới chủ yếu tập trung vào lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, chưa thật sự có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng chiến lược này vào lĩnh vực ngân hàng. Tại Việt Nam, chiến lược đại dương xanh còn khá mới, các bài nghiên cứu về tác động của BOS đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam tương đối ít. Vì vậy, đề tài này là cần thiết để lấp khoảng trống trong các nghiên cứu.

1.8.2. Về mặt thực tiễn

Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho đề tài và đưa ra một số gợi ý cho các NHTM Việt Nam về việc lựa chọn, áp dụng chiến lược đại dương xanh trong quá trình hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.9. Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 5 chương: Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu: Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước: Đưa ra các lý thuyết về chiến lược đại dương xanh, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam và các nghiên cứu đã thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Nêu trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu về tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu liên quan. Chương này cũng trình bày cách thức đo lường các biến và nguồn khai thác dữ liệu nghiên cứu của luận văn.

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Chương này tác giả sẽ tổng hợp các kết quả nghiên cứu bao gồm các yếu tố liên quan như thống kê mô tả nghiên cứu, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, kiểm định nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan giữa các biến bằng phương pháp Pearson, phân tích hồi quy đa biến, kiểm tra sai số và đồng thời dựa trên những kết quả này, tác giả thảo luận kết quả nghiên cứu.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách: Luận văn tóm tắt kết quả nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị liên quan. Trong chương 5 này cũng trình bày những hạn chế mà luận văn chưa giải quyết được và hướng nghiên cứu tiếp theo.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài và các mục tiêu nghiên cứu. Để đạt được mục tiêu đề ra này, tác giả đã xác định câu hỏi cần được trả lời, tìm hiểu đối tượng nghiên cứu, phân tích phạm vi và chỉ ra phương pháp nghiên cứu thích hợp. Các kết quả đóng góp của nghiên cứu như về mặt lý thuyết và về mặt thực tiễn cũng được nêu rõ trong chương này. Chương 1 được kết thúc bằng việc tác giả đề cập đến nội dung khái quát và kết cấu chi tiết của từng chương trong luận văn.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Chiến lược đại dương xanh

2.1.1. Khái niệm về chiến lược đại dương xanh

Chiến lược đại dương xanh là một công cụ chiến lược quản lý được công nhận rộng rãi trong thế kỷ 21 (Wubben, 2013). Khái niệm về chiến lược đại dương xanh được đề cập đến lần đầu tiên vào năm 2006 bởi W. Chan Kim và Renée Mauborgne với cuốn sách mang tựa đề Blue Ocean Strategy. Kim và Mauborgne (2012) khuyến nghị việc tạo ra các “đại dương xanh” – những không gian thị trường chưa có sự cạnh tranh, nơi mà đối thủ trở nên không còn quan trọng. Trong “đại dương xanh” các tổ chức sáng tạo và chiếm lĩnh nhu cầu mới đồng thời mang lại cho khách hàng giá trị vượt trội, trong khi vẫn tối ưu hóa chi phí.

Theo Butler (2009), chiến lược đại dương xanh được hiểu là một cách tiếp cận hệ thống để tạo ra và chiếm lĩnh không gian thị trường mới, làm cho đối thủ cạnh tranh trở nên không còn liên quan thông qua việc đổi mới giá trị – việc theo đuổi đồng thời sự khác biệt hóa và chi phí thấp. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Theo khía cạnh tổng quát hơn, Nicolas (2012) cho rằng chiến lược đại dương xanh là một chiến lược khuyến khích các công ty tiếp cận một thị trường mới, thu hút sự quan tâm của khách hàng và tránh cạnh tranh trong thị trường hiện tại. Chiến lược này giúp các công ty và doanh nhân tăng khả năng thành công của họ.

Hollensen (2014) cho rằng chiến lược đại dương xanh là việc tìm kiếm các phân khúc thị trường mới hoặc tạo ra nhu cầu hoàn toàn mới, nơi doanh nghiệp có thể phát triển mà không phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các đối thủ hiện tại.

Theo Kabukin (2015), chiến lược đại dương xanh cung cấp cho những người sử dụng chiến lược này một khung làm việc để tạo ra không gian thị trường chưa có đối thủ cạnh tranh và chuyển trọng tâm từ việc cạnh tranh hiện tại sang việc tạo ra giá trị mới và nhu cầu mới. Đồng quan điểm với các tác giả trên và cụ thể hơn về các lĩnh vực liên quan đến chiến lược này, Alam và Islam (2018) nhận định chiến lược đại dương xanh là một khái niệm cho phép các tổ chức suy nghĩ và tạo ra sự đổi mới trong hoạt động kinh doanh, hỗ trợ tổ chức đạt được mục tiêu trong các lĩnh vực tài chính và kinh tế – mối quan tâm chính của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi nhuận bền vững.

Theo Carton (2021), để phát triển một chiến lược đại dương xanh cần đồng thời theo đuổi một chiến lược phân biệt và chi phí thấp, điều này sẽ mở ra một không gian thị trường mới và tạo ra nhu cầu mới để thu hút những khách hàng không phải là khách hàng hiện tại vào thị trường. Chiến lược đại dương xanh dựa trên giả định về sự tồn tại của các không gian thị trường chưa được sử dụng, được tạo ra trong các “Đại dương đỏ” thông qua sự phân biệt với các đối thủ khác. Yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành của đại dương xanh là giá trị nhảy vọt, tạo ra sự gia tăng giá trị đổi mới cho khách hàng một mặt, và cho doanh nghiệp mặt khác (Rebbouh, 2020). Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Chiến lược đại dương xanh có những đặc điểm giúp nhận diện các thị trường chưa tồn tại. Tác giả Wubben (2013) đã nhắc về nội dung mà của sách Blue Ocean Strategy đã đề cập: phần lớn các đại dương xanh được tạo ra từ bên trong, chứ không phải nằm ngoài các đại dương đỏ của những ngành công nghiệp hiện tại. Mặt khác, Mohamud và ctg (2025) cho rằng chiến lược đại dương xanh được xây dựng dựa trên ba cấu trúc cốt lõi gồm: Phá vỡ sự đánh đổi giữa giá trị và chi phí, tạo ra và chiếm lĩnh nhu cầu mới, tiên phong trong các thị trường không cạnh tranh. Khác với quan điểm này, Mancuso và cộng sự (2024) nhận định yếu tố cạnh tranh và đổi mới giá trị, đây là yếu tố cốt lõi của chiến lược đại dương xanh.

Trên cơ sở các khái niệm tổng hợp và sự phù hợp với tình hình tại Việt Nam, tác giả thực hiện nghiên cứu tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả động của các NHTM Việt Nam thông qua các yếu tố như sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh, định hướng công nghệ/sản phẩm để tạo sự khác biệt, tạo và nắm bắt nhu cầu mới.

2.1.2. Các khía cạnh cốt lõi của chiến lược đại dương xanh

Chiến lược đại dương xanh gồm 6 nguyên lý quan trọng, được xem là khía cạnh cốt lõi:

  • Nguyên lý 1: Tái cấu trúc ranh giới thị trường bằng cách tự tạo ra thị trường mới vô hiệu hóa sự cạnh tranh với 6 quy ước như nghiên cứu các sản phẩm thay thế, đáp ứng nhu cầu của các nhóm khách hàng khác nhau, phát triển theo các nhóm chiến lược trong ngành, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ bổ sung, định hướng sản phẩm theo chức năng và cảm xúc đối với khách hàng, chú trọng thời gian.
  • Nguyên lý 2: Tập trung vào tổng thể thay vì phân tích chi tiết thị trường hiện tại.
  • Nguyên lý 3: Vượt ra ngoài nhu cầu hiện tại của khách hàng để tìm kiếm những sản phẩm và dịch vụ mà khách hàng mong muốn nhưng thị trường hiện tại chưa đáp ứng hoặc nhóm khách hàng chưa được chú trọng khai thác trước đó.
  • Nguyên lý 4: Xây dựng chuỗi trình tự chiến lược đúng đắn bắt đầu từ việc tìm hiểu về giá trị sản phẩm, xác định giá cả hợp lý, xác định mức chi phí hợp lý và tính toán các trở ngại và rủi ro khi thực hiện.
  • Nguyên lý 5: Xác định và giải quyết các rào cản của tổ chức như thay đổi nhận thức nhân viên, giới hạn nguồn lực, tạo và thúc đẩy động lực cho nhân viên,…
  • Nguyên lý 6: Thực hiện hóa chiến lược bằng cách biến các chiến lược đã đề ra thành hành động cụ thể và đảm bảo quá trình triển khai diễn ra suôn sẻ.

Việc áp dụng hiệu quả chiến lược đại dương xanh phụ thuộc vào cách các doanh nghiệp hiểu và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc vào ngữ cảnh kinh doanh cụ thể của mình để tạo ra sự khác biệt. Việc áp dụng một hoặc nhiều nguyên lý một cách sáng tạo sẽ giúp doanh nghiệp giảm tính cạnh tranh và tăng doanh thu.

2.2. Hiệu quả hoạt động Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

2.2.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại được hiểu là mức độ mà ngân hàng có thể sử dụng các nguồn lực tài chính và con người để tạo ra giá trị gia tăng, lợi nhuận và phục vụ khách hàng một cách tối ưu. Hiện nay cũng có rất nhiều khái niệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trên thế giới.

Theo Farrell (1957), hiệu quả hoạt động của ngân hàng được hiểu là khả năng tối đa hóa đầu ra như doanh thu, lợi nhuận từ các đầu vào sẵn có như vốn, lao động, chi phí hoạt động. Đồng quan điểm, Sealey và Lindley (1977) cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng là hiệu quả trung gian tài chính, thể hiện ở mức độ tối ưu hóa quá trình chuyển đổi đầu vào thành tài sản sinh lời.

Ở quan điểm khác, Mester (1997) cho rằng hiệu quả hoạt động ngân hàng không chỉ được đo bằng lợi nhuận mà còn phải tính đến khả năng quản lý chi phí, quản lý rủi ro và sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ tài chính. Nghĩa là, ngân hàng thương mại phải đạt được sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro, đồng thời phải cải tiến chất lượng dịch vụ để duy trì sự cạnh tranh trên thị trường.

Berger và Humphrey (1997) định nghĩa hiệu quả hoạt động của ngân hàng là mức độ sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào để tạo ra đầu ra tài chính mong muốn như tín dụng, huy động, lợi nhuận. Đây cũng là quan điểm của Sherman và Gold (1985) khi nhấn mạnh hiệu quả hoạt động là khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả nhất để cung cấp dịch vụ với chi phí thấp nhất. Ahmed và Liza (2014) định nghĩa hiệu quả hoạt động là khả năng của ngân hàng trong việc sử dụng các nguồn lực ở mức tối ưu, qua đó giảm chi phí sản xuất dịch vụ và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ có chi phí hiệu quả.

Fried, Lovell và Schmidt (1993) cho rằng hiệu quả hoạt động của ngân hàng bao gồm cả yếu tố kỹ thuật, phân bổ và chi phí, phản ánh khả năng quản trị và công nghệ. Casu và Molyneux (2004) định nghĩa hiệu quả hoạt động là khả năng kiểm soát chi phí, cải thiện năng suất và duy trì lợi nhuận trong môi trường cạnh tranh.

2.2.2. Đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Để quản trị tối ưu doanh nghiệp, trước đây nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động tại các doanh nghiệp đã được thực hiện. Các công trình này đã chỉ ra rằng trước năm 1980, các thước đo hiệu quả hoạt động được sử dụng chủ yếu là các thước đo tài chính, chủ yếu dựa trên các dữ liệu do hệ thống kế toán cung cấp. Các nghiên cứu của tác giả như Kaplan và Norton (1992), Kaplan và Norton (1996); Perera, Harrison và Poole (1997); Ittner, Larcker và Rajan (1997); Ittner và Larcker (1998); Otley (2000); Banker, Potter và Srinivasan (2001) đều đã chỉ ra hạn chế của các thước đo tài chính. Hiện nay việc đo lường hiệu quả hoạt động chỉ dựa trên các thước đo tài chính được coi là không phù hợp với môi trường kinh doanh, đặc biệt liên quan đến các công nghệ mới và sự cạnh tranh gia tăng.

Riêng về hoạt động kinh doanh ngân hàng, Kaplan và Norton (1992) cho rằng lợi nhuận và kiểm soát chi phí là những chỉ báo trực tiếp nhất của hiệu quả hoạt động. Đồng quan điểm với nội dung này, Novickytė và Droždz (2019) cho rằng khía cạnh hiệu quả lợi nhuận được xem là biểu hiện của hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Theo nghiên cứu của Fiordelisi, Marques-Ibanez và Molyneux (2012), ngân hàng có mức hiệu quả hoạt động cao thường gắn với rủi ro thấp hơn và khả năng sinh lợi bền vững hơn, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hiệu quả, quản trị rủi ro và hiệu suất dài hạn.

Mặt khác, Kweh, Lu, Tone và Liu (2025) cho rằng đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại thông qua khả năng sử dụng các nguồn lực như nhân sự, vốn, chi phí hoạt động, tài sản cố định một cách hiệu quả để tạo ra đầu ra.

Gitonga, Kariuki và Kimani (2026) đã chỉ ra rằng việc mở rộng thị phần thị trường liên quan tới lợi thế cạnh tranh, từ đó gián tiếp tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ahmed, Khan và Malik (2025) đã nghiên cứu và phân tích vai trò của năng lực vận hành, năng lực marketing đối với hiệu quả hoạt động đồng thời đưa ra kết luận rằng năng lực marketing và năng lực vận hành đều tác động đáng kể tới hiệu quả hoạt động. Đồng quan điểm với nghiên cứu này, Yu, Wang và Chen (2009) cho rằng năng lực marketing thường có ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, năng lực này bao gồm các chiến lược thâm nhập, mở rộng thị trường và phân phối. Satyasri (2025) đã thực hiện nghiên cứu và cho rằng việc mở rộng thị trường không chỉ trực tiếp tăng doanh thu mà còn vận hành hiệu quả hơn, là biểu hiện của hiệu quả hoạt động. Chen, Lin, Chiu và Yang (2025) thực hiện phân tích cho thấy mở rộng thị trường cùng tối ưu vận hành giúp đạt lợi nhuận bền vững, có mối liên hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Ngoài ra, Hagedoorn và Cloodt (2004) chỉ ra rằng sự đổi mới – tức khả năng chuyển hóa các hoạt động nghiên cứu, phát triển, công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ mới, cũng là biểu hiện ngày càng quan trọng của hiệu quả hoạt động ngân hàng trong kỷ nguyên số.

Có thể thấy ở các khía cạnh tài chính hay phi tài chính đều có những yếu tố là biểu hiện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hay mở rộng ra là hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Ở khía cạnh tài chính, các yếu tố như lợi nhuận, chi phí, quản trị rủi ro, tài sản cố định,…là biểu hiện quan trọng của hiệu quả hoạt động; ở khía cạnh phi tài chính, các yếu tố như sự đổi mới, công nghệ mới, mở rộng thị trường và thâm nhập thị trường,…sẽ là thước đo cho biểu hiện của hiệu quả hoạt động.

Đối với việc đo lường hiệu quả hoạt động trong việc áp dụng chiến lược đại dương xanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, luận văn đo lường hiệu quả hoạt động bằng phương pháp định tính dựa trên cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây có sự cập nhật mới nhất và phù hợp với tính hình thị trường Việt Nam như sự đổi mới, công nghệ mới, mở rộng thị trường và thâm nhập thị trường.

2.3. Lý thuyết về chiến lược đại dương xanh và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

2.3.1. Lý thuyết về chiến lược đại dương xanh

2.3.1.1 Lý thuyết về chiến lược

Lý thuyết chiến lược đại dương xanh, do Kim và Mauborgne (2026) đề xuất, tập trung vào việc giúp doanh nghiệp thoát khỏi cạnh tranh khốc liệt trong các thị trường hiện hữu bằng cách tạo ra không gian thị trường mới, nơi cạnh tranh trở nên không còn hoặc ít liên quan. Khác với các chiến lược truyền thống nhấn mạnh việc đánh bại đối thủ trong cùng một ngành, chiến lược này hướng tới tái định nghĩa ranh giới ngành, mở rộng nhu cầu thị trường và thu hút cả nhóm khách hàng chưa được phục vụ.

Trọng tâm cốt lõi của chiến lược đại dương xanh là khái niệm giá trị đổi mới. Giá trị đổi mới được hiểu là việc đồng thời theo đuổi hai mục tiêu: khác biệt hóa và chi phí thấp, qua đó tạo ra giá trị vượt trội cho khách hàng trong khi vẫn duy trì hoặc cải thiện cấu trúc chi phí của doanh nghiệp. Thay vì lựa chọn một trong hai hướng đi trên, tác giả này cho rằng doanh nghiệp có thể đạt được cả hai thông qua việc loại bỏ và giảm bớt các yếu tố không tạo giá trị, đồng thời gia tăng và sáng tạo các yếu tố mới mà thị trường chưa từng có.

Về mặt đo lường hiệu quả, nhiều nghiên cứu gắn việc triển khai chiến lược đại dương xanh với các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính, bao gồm: lợi nhuận, thị phần, tốc độ tăng trưởng doanh thu, khả năng mở rộng khách hàng và mức độ bền vững của lợi thế cạnh tranh. Kết quả các nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp áp dụng chiến lược đại dương xanh thành công thường không chỉ đạt được kết quả tài chính tích cực trong ngắn hạn mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn thông qua việc xây dựng thị trường mới.

2.3.1.2. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh

Theo Porter (1985), lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu được xây dựng dựa trên hai logic nền tảng là chi phí thấp và sự khác biệt hóa. Chiến lược chi phí thấp tập trung vào việc tối ưu hóa hoạt động nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ với chi phí thấp nhất trong ngành, trong khi chiến lược khác biệt hóa hướng tới việc tạo ra các giá trị độc đáo mà khách hàng sẵn sàng trả giá cao hơn. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Trong khuôn khổ này, chiến lược đại dương xanh có thể được xem là sự phát triển ở mức độ cao hơn của lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter, khi không lựa chọn một trong hai chiến lược, mà kết hợp cả khác biệt hóa và chi phí thấp thông qua giá trị đổi mới (Porter, 1996; Kim và Mauborgne, 2016). Chiến lược đại dương xanh cho rằng doanh nghiệp hoàn toàn có thể phá vỡ sự đánh đổi đó bằng cách thiết kế lại mô hình giá trị.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng chiến lược khác biệt hóa hoặc đổi mới như biến trung gian trong mối quan hệ giữa chiến lược đại dương xanh và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (Porter, 1985; Kim và Mauborgne, 2016). Theo đó, BOS không tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính, mà thông qua việc thúc đẩy đổi mới sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc mô hình kinh doanh, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và cải thiện kết quả hoạt động.

2.3.1.3. Lý thuyết chiến lược cạnh tranh trong ngành ngân hàng

Lý thuyết Structure–Conduct–Performance (SCP) là một trong những khung phân tích kinh điển trong nghiên cứu cạnh tranh, đặc biệt được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính (Bain, 1951). Theo khung lý thuyết này, cấu trúc thị trường bao gồm mức độ tập trung ngành, rào cản gia nhập và số lượng đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chiến lược của các ngân hàng, chẳng hạn như chính sách định giá, mức độ đổi mới sản phẩm và lựa chọn chiến lược cạnh tranh. Những hành vi này, đến lượt mình, sẽ quyết định hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của các ngân hàng trong ngành.

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt của ngành ngân hàng, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc chỉ tập trung vào cạnh tranh giá hoặc mở rộng quy mô có thể dẫn đến suy giảm lợi nhuận và gia tăng rủi ro hoạt động (Berger và Hannan, 1998). Dưới góc độ đó, chiến lược đại dương xanh có thể được xem như một dạng hành vi chiến lược nhằm giúp ngân hàng tránh cạnh tranh trực diện trong các “đại dương đỏ”, thông qua việc phát triển các phân khúc khách hàng mới, cung cấp các dịch vụ tài chính sáng tạo hoặc áp dụng những mô hình cung ứng khác biệt.

Việc triển khai BOS trong ngành ngân hàng được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện trải nghiệm khách hàng và tạo ra các nguồn thu mới, từ đó tác động tích cực đến hiệu quả tổng thể của ngân hàng. Điều này cho thấy chiến lược đại dương xanh có thể được tích hợp hiệu quả vào khung phân tích SCP như một chiến lược cạnh tranh hiện đại, hướng tới tăng trưởng bền vững trong môi trường cạnh tranh cao.

2.3.2. Lý thuyết về nguồn lực và nhân lực Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

2.3.2.1 Lý thuyết dựa trên nguồn lực và mối liên hệ với chiến lược đại dương xanh

Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Resource-Based View – RBV) cho rằng hiệu quả hoạt động và lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc sở hữu và khai thác các nguồn lực và năng lực mang tính chiến lược, đặc biệt là những nguồn lực có giá trị, hiếm có, khó bắt chước và khó thay thế (Barney, 1991). Theo cách tiếp cận này, sự khác biệt về hiệu quả giữa các doanh nghiệp không chỉ xuất phát từ điều kiện thị trường bên ngoài, mà còn từ sự khác biệt nội tại trong cấu trúc và cách thức sử dụng nguồn lực.

Trong bối cảnh đó, chiến lược đại dương xanh thường được lý giải như một quá trình khai thác, kết hợp và cấu hình lại các nguồn lực đặc biệt nhằm tạo ra không gian thị trường mới, nơi cạnh tranh trở nên ít gay gắt hoặc không còn đáng kể (Kim và Mauborgne, 2016). Thay vì cạnh tranh trực tiếp dựa trên các nguồn lực phổ biến, doanh nghiệp theo đuổi BOS tập trung vào việc tận dụng những nguồn lực chiến lược như công nghệ số, thương hiệu, dữ liệu khách hàng, tri thức tổ chức và năng lực đổi mới, qua đó tạo ra các giá trị khác biệt khó bị sao chép.

Đối với ngành ngân hàng, đặc biệt là trong bối cảnh chuyển đổi số, các nguồn lực vô hình như hạ tầng công nghệ thông tin, hệ sinh thái số, dữ liệu lớn (big data) và mối quan hệ với khách hàng ngày càng đóng vai trò then chốt trong việc hình thành lợi thế cạnh tranh. Theo quan điểm RBV, việc triển khai chiến lược đại dương xanh trong ngân hàng có thể được xem là kết quả của khả năng khai thác hiệu quả các nguồn lực chiến lược này, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính trong dài hạn (Barney, 1991; Kim và Mauborgne, 2016). Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

2.3.2.2. Lý thuyết năng lực động

Bên cạnh RBV, lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) mở rộng cách tiếp cận dựa trên nguồn lực bằng cách nhấn mạnh rằng việc sở hữu nguồn lực chưa đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, mà doanh nghiệp cần có khả năng liên tục thích ứng, đổi mới và tái cấu hình nguồn lực trong môi trường biến động (Teece, Pisano và Shuen, 1997). Theo Teece (2008), năng lực động bao gồm ba nhóm năng lực cốt lõi: cảm nhận cơ hội và thách thức, nắm bắt cơ hội, và tái cấu hình nguồn lực.

Trong bối cảnh ngành ngân hàng đang chịu tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, sự nổi lên của fintech, ngân hàng mở và tài chính toàn diện, năng lực động trở thành yếu tố then chốt quyết định khả năng đổi mới mô hình kinh doanh và duy trì hiệu quả hoạt động dài hạn (Teece, 2008). Nhiều nghiên cứu cho rằng chiến lược đại dương xanh trong lĩnh vực ngân hàng số thường gắn liền với năng lực động, khi các ngân hàng chủ động phát hiện nhu cầu chưa được đáp ứng, phát triển các dịch vụ tài chính sáng tạo và tái cấu trúc quy trình vận hành nhằm tạo ra giá trị mới cho khách hàng (Teece và ctg, 1997).

Theo đó, BOS không chỉ là một lựa chọn chiến lược tĩnh, mà là kết quả của quá trình vận hành năng lực động, cho phép ngân hàng liên tục đổi mới, thích nghi với môi trường cạnh tranh và khai thác hiệu quả các cơ hội thị trường mới. Do đó, lý thuyết năng lực động thường được sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa chiến lược đại dương xanh và hiệu quả hoạt động dài hạn, đặc biệt trong các ngành có mức độ biến động cao như tài chính – ngân hàng và công nghệ tài chính (Teece, 2008; Kim và Mauborgne, 2016).

2.3.3. Lý thuyết về đổi mới và hiệu quả Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

2.3.3.1 Lý thuyết về đổi mới

Lý thuyết đổi mới, bắt nguồn từ các công trình kinh điển của Schumpeter, coi đổi mới là động lực cốt lõi thúc đẩy hiệu quả hoạt động, tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp (Schumpeter, 1934). Theo quan điểm này, đổi mới không chỉ giới hạn ở việc phát triển sản phẩm mới, mà còn bao gồm đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức và đổi mới mô hình kinh doanh, qua đó tạo ra sự “phá hủy sáng tạo” đối với các cấu trúc thị trường hiện hữu.

Trong bối cảnh cạnh tranh hiện đại, đặc biệt là trong ngành ngân hàng, đổi mới đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời. Nhiều nghiên cứu cho rằng đổi mới sản phẩm,dịch vụ, đổi mới quy trình nghiệp vụ và đổi mới mô hình phân phối (chẳng hạn như ngân hàng số, mobile banking, ngân hàng không chi nhánh) có tác động tích cực đến các chỉ tiêu hiệu quả tài chính như ROA, ROE và biên lãi ròng (NIM) (Porter, 1985; Schumpeter, 1934).

Chiến lược đại dương xanh thường được xem là một dạng chiến lược đổi mới ở cấp độ cao, khi doanh nghiệp không chỉ cải tiến trong khuôn khổ thị trường hiện tại mà còn tạo ra các không gian thị trường mới thông qua đổi mới toàn diện (Kim và Mauborgne, 2016). Trong các nghiên cứu thực nghiệm, BOS thường được đo lường thông qua mức độ đổi mới sản phẩm/dịch vụ, đổi mới quy trình, đổi mới mô hình phân phối và đổi mới mô hình kinh doanh, từ đó kiểm định tác động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ tài chính (Porter, 1996; Kim và Mauborgne, 2016).

2.3.3.2. Lý thuyết về hiệu quả

Lý thuyết đổi mới giá trị là nền tảng lý thuyết cốt lõi của chiến lược đại dương xanh, nhấn mạnh rằng lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp đồng thời nâng cao giá trị mang lại cho khách hàng và giảm chi phí nội bộ (Kim và Mauborgne, 2006). Khác với các cách tiếp cận chiến lược truyền thống vốn nhấn mạnh sự đánh đổi giữa khác biệt hóa và chi phí thấp, đổi mới giá trị cho rằng doanh nghiệp có thể phá vỡ sự đánh đổi này thông qua việc loại bỏ và cắt giảm các yếu tố không tạo giá trị, đồng thời gia tăng và sáng tạo các yếu tố mới mà thị trường chưa từng có.

Trong lĩnh vực ngân hàng, lý thuyết đổi mới giá trị được nhiều nghiên cứu và luận án sử dụng như nền tảng lý thuyết trực tiếp để giải thích việc áp dụng chiến lược đại dương xanh. Theo đó, các ngân hàng theo đuổi BOS tập trung vào việc thiết kế lại chuỗi giá trị, đơn giản hóa quy trình, ứng dụng công nghệ số và cá nhân hóa dịch vụ nhằm vừa nâng cao trải nghiệm khách hàng, vừa giảm chi phí vận hành, từ đó cải thiện hiệu quả tài chính và năng lực cạnh tranh (Kim và Mauborgne, 2016).

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đổi mới giá trị có mối quan hệ tích cực với hiệu quả tài chính như ROA, ROE, NIM và lợi thế cạnh tranh của ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và chuyển đổi số mạnh mẽ của ngành tài chính – ngân hàng (Kim và Mauborgne, 2006; Kim và Mauborgne, 2016). Do đó, lý thuyết đổi mới giá trị không chỉ đóng vai trò là nền tảng khái niệm của BOS mà còn là cơ sở quan trọng để xây dựng các mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm định tác động của BOS đến hiệu quả hoạt động và tăng trưởng dài hạn của ngân hàng.

2.3.4. Lý thuyết gắn với ngành ngân hàng

2.3.4.1 Lý thuyết cạnh tranh trong ngành ngân hàng Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Lý thuyết cạnh tranh trong ngành ngân hàng (Bank Competition Theory) tập trung phân tích cách thức các ngân hàng thiết kế và triển khai chiến lược cạnh tranh thông qua các yếu tố như cơ cấu sản phẩm, chính sách giá, phạm vi dịch vụ, mức độ đổi mới và khả năng tiếp cận khách hàng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và duy trì lợi thế trên thị trường (Claessens và Laeven, 2005). Khác với nhiều ngành khác, cạnh tranh trong ngân hàng không chỉ diễn ra về giá (lãi suất, phí dịch vụ) mà còn thể hiện ở chất lượng dịch vụ, mức độ đa dạng hóa sản phẩm và khả năng ứng dụng công nghệ.

Các nghiên cứu trong khuôn khổ cạnh tranh truyền thống cho rằng khi thị trường ngân hàng có mức độ cạnh tranh cao, việc cạnh tranh trực diện dựa trên giá hoặc mở rộng quy mô có thể dẫn đến suy giảm lợi nhuận, gia tăng rủi ro và làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng (Bain, 1951). Do đó, trong bối cảnh thị trường ngày càng bão hòa, các ngân hàng cần tìm kiếm những hướng tiếp cận chiến lược mới nhằm thoát khỏi cạnh tranh khốc liệt trong các phân khúc truyền thống.

Dưới góc độ này, chiến lược đại dương xanh được xem như một cách tiếp cận chiến lược giúp các ngân hàng tái định nghĩa không gian cạnh tranh, thay vì chỉ cạnh tranh trong “đại dương đỏ” hiện hữu (Kim và Mauborgne, 2016). Việc triển khai BOS trong ngành ngân hàng thường gắn với sự xuất hiện của ngân hàng số, ngân hàng xanh, tài chính toàn diện, ngân hàng không chi nhánh và các mô hình dựa trên nền tảng công nghệ, qua đó mở rộng tập khách hàng và tạo ra giá trị mới. Do đó, BOS được xem là một hình thức hành vi cạnh tranh chiến lược, giúp ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường năng lực cạnh tranh trong dài hạn.

2.3.4.2. Lý thuyết hiệu quả ngân hàng

Lý thuyết hiệu quả doanh nghiệp, ngân hàng (Firm/Bank Performance Theory) cung cấp một khung tiếp cận hệ thống nhằm đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức tài chính thông qua các chỉ tiêu định lượng. Trong lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả hoạt động thường được đo lường bằng các chỉ số kế toán như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biên lãi ròng (NIM), bên cạnh các chỉ tiêu bổ trợ như thị phần, tốc độ tăng trưởng, mức độ rủi ro và chất lượng tài sản (Berger và Humphrey, 1997).

Theo khung lý thuyết này, hiệu quả ngân hàng phản ánh khả năng sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, quản trị rủi ro và tạo ra lợi nhuận bền vững trong môi trường cạnh tranh. Các chỉ tiêu ROA, ROE và NIM được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu học thuật do khả năng phản ánh tương đối toàn diện hiệu quả tài chính và hoạt động cốt lõi của ngân hàng (Kim & Mauborgne, 2006).

Trong các nghiên cứu về chiến lược đại dương xanh trong ngành ngân hàng, nhóm chỉ tiêu hiệu quả nói trên thường được sử dụng làm biến phụ thuộc nhằm kiểm định tác động của BOS đến kết quả hoạt động và hiệu quả tài chính (Kim và Mauborgne, 2016). Theo đó, việc áp dụng BOS được kỳ vọng sẽ giúp ngân hàng mở rộng nguồn thu, cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản, nâng cao giá trị khách hàng và giảm áp lực cạnh tranh trực diện, từ đó cải thiện các chỉ tiêu ROA, ROE, NIM cũng như hiệu quả tổng thể của ngân hàng trong dài hạn.

2.3.5. Khung lý thuyết tích hợp Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Dựa trên tổng quan các lý thuyết liên quan, luận văn đề xuất một khung lý thuyết tích hợp nhằm giải thích mối quan hệ giữa chiến lược đại dương xanh, lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh và chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ.

Trước hết, lý thuyết dựa trên nguồn lực và lý thuyết năng lực động được sử dụng như nền tảng lý thuyết cốt lõi để giải thích vì sao việc triển khai BOS có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Theo RBV, lợi thế cạnh tranh của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực chiến lược có giá trị, khan hiếm và khó bắt chước, đặc biệt là các nguồn lực vô hình như công nghệ số, thương hiệu, dữ liệu khách hàng và tri thức tổ chức (Barney, 1991). Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh biến động nhanh như ngành ngân hàng, việc sở hữu nguồn lực là chưa đủ; các ngân hàng cần có năng lực động để liên tục cảm nhận cơ hội, nắm bắt và tái cấu hình các nguồn lực nhằm thích ứng và đổi mới mô hình kinh doanh (Teece, 2008).

Trong khuôn khổ này, chiến lược đại dương xanh được xem là kết quả của quá trình vận hành năng lực động trên nền tảng các nguồn lực chiến lược của ngân hàng. BOS cho phép ngân hàng khai thác và cấu hình lại các nguồn lực đặc thù nhằm tạo ra giá trị đổi mới, tức là sự kết hợp đồng thời giữa khác biệt hóa và chi phí thấp, qua đó mở ra các không gian thị trường mới và giảm áp lực cạnh tranh trực diện (Kim và Mauborgne, 2016).

Tiếp theo, khung lý thuyết tích hợp đề xuất mối quan hệ nhân quả theo chuỗi: BOS  →  Lợi  thế  cạnh  tranh  →  Hiệu  quả  hoạt  động  ngân  hàng. Cụ thể, việc triển khai BOS thông qua các yếu tố như đổi mới sản phẩm và dịch vụ, đổi mới mô hình phân phối, đơn giản hóa quy trình và ứng dụng công nghệ số sẽ giúp ngân hàng hình thành lợi thế cạnh tranh dưới các dạng như dịch vụ độc đáo, trải nghiệm khách hàng vượt trội, khả năng tiếp cận các phân khúc khách hàng mới và chi phí vận hành thấp hơn (Kim và Mauborgne, 2006).

Cuối cùng, các lợi thế cạnh tranh này được kỳ vọng sẽ chuyển hóa thành hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của ngân hàng, được đo lường thông qua các chỉ tiêu phổ biến trong lý thuyết hiệu quả ngân hàng như ROA, ROE, tăng trưởng quy mô hoạt động, thị phần và mức độ rủi ro (Berger & Humphrey, 1997). Theo đó, BOS không tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động, mà thông qua vai trò trung gian của lợi thế cạnh tranh, giúp ngân hàng cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực, nâng cao khả năng sinh lời và tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

2.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Các nghiên cứu thực nghiệm về áp dụng chiến lược đại dương xanh hoặc tác động của chiến lược đại dương xanh chủ yếu tập trung tại các thị trường phát triển hoặc các ngành công nghiệp tạo ra một khoảng trống đáng kể trong việc áp dụng BOS trong lĩnh vực ngân hàng (Mohamud và ctg, 2025). Kể từ khi khái niệm về chiến lược đại dương xanh được đề cập, các bài nghiên cứu trên thế giới về chiến lược đại dương xanh trong lĩnh vực ngân hàng tuy có xuất hiện nhưng gần như đổ dồn về hướng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chiến lược đại dương xanh trong lĩnh vực ngân hàng hoặc đưa ra các cách áp dụng chiến lược đại dương xanh trong lĩnh vực ngân hàng mà chưa có nhiều mối quan tâm về tác động của chiến lược này đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Phân tích về các yếu tố quyết định đến việc triển khai chiến lược đại dương xanh trong các ngân hàng thương mại tại Kenya, Miano (2014) cho rằng các yếu tố mà ngành ngân hàng cần giảm thiểu bao gồm thời gian chờ đợi trong hàng đợi, chi phí vận hành, chi phí cố định và chi phí gián tiếp đồng thời nâng cao là sự hài lòng của khách hàng, cải thiện dịch vụ khách hàng, chất lượng và các sản phẩm mới bằng cách tăng cường mối quan hệ với khách hàng, đưa ra các sản phẩm mới, gia tăng sự hài lòng của khách hàng, kéo dài giờ làm việc ngân hàng và quản trị hiệu quả hơn. Kết luận này được đưa ra sau khi tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu dựa trên cuộc khảo và thu thập dữ liệu từ 25 ngân hàng ở Kenya, chiếm 58% so với mục tiêu ban đầu.

Awladthani, Musa và Idris (2024) đã nghiên cứu tác động của BOS đối với các ngân hàng Nigeria và đưa ra nhận định rằng BOS giúp cho các ngân hàng gia tăng thị phần tuy nhiên việc triển khai là không dễ dàng bởi các giới hạn về quy định và kỳ vọng của các khách hàng. Trong nghiên cứu này, tuy tác giả có đề cập đến ưu nhược điểm của BOS đối với ngân hàng tuy nhiên không phân tích sâu về tác động của BOS đối với hiệu quả hoạt động đồng thời chưa nêu ra giải pháp để giải quyết vấn đề tồn tại được nhắc đến. Cùng với quan điểm trên, Albayrak và Beybur (2019) cho rằng BOS đã giúp cho các ngân hàng gia tăng thị phần theo thời gian, đồng thời khuyến nghị các ngân hàng cần phát triển các sản phẩm và dịch vụ mang lại lợi thế cạnh tranh không dựa vào giá, nhằm có được thị phần lớn hơn trong ngành ngân hàng tuy nhiên bài viết chỉ tập trung vào khía cạnh lợi ích mà BOS đem lại cho ngân hàng mà chưa phân tích đến những thách thức mà ngân hàng cần đối mặt.

Ở khía cạnh phân tích về những thách thức mà các ngân hàng lớn tại Kenya phải đối mặt và cách mà các ngân hàng phản ứng với những thách thức này, Nyambane (2013) nhận định rằng thách thức trong quá trình triển khai BOS tại 03 ngân hàng ở Kenya là việc trì hoãn triển khai, xung đột lợi ích, phá hoại, vượt ngân sách, lãng phí và điều này khiến cho việc áp dụng BOS thất bại. Kết luận về vấn đề này, tác giả đưa ra quan điểm việc triển khai thành công chiến lược đại dương xanh phụ thuộc vào nguồn gốc và bản chất của các thử thách. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Ở góc nhìn khác, Mwende (2017) trong bài viết phân tích về tác động của chiến lược đại dương xanh đối với các tổ chức tài chính vi mô tại Kenya cho rằng các yếu tố cốt lõi của chiến lược đại dương xanh như việc giảm chi phí, tăng giá trị cho khách hàng, loại bỏ và giảm thiểu các yếu tố mà ngành cạnh tranh, tiếp nhận cơ hội thị trường mới hoặc phục vụ một phân khúc thị trường mà người khác đã bỏ qua, cũng như điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng thực sự ảnh hưởng lớn đến lợi thế cạnh tranh. Bài viết mặc dù có đề cập đến thách thức của chiến lược đại dương xanh khi được áp dụng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng tuy nhiên khoảng trống là nghiên cứu được thu thập dữ liệu từ 52 tổ chức tài chính vi mô, là thành viên của Hiệp hội Các Tổ chức Tài chính Vi mô (MFIs) vào tháng 12 năm 2016, không bao gồm các dữ liệu, thông tin thu thập từ các ngân hàng thương mại.

Dựa trên nghiên cứu đánh giá việc áp dụng chiến lược đại dương xanh tại ngân hàng thương mại châu Phi (Commercial Bank of Africa Limited) tại Kenya, Omboto (2014) đã chỉ ra một số sản phẩm là ví dụ thực tế về việc triển khai chiến lược đại dương xanh tại ngân hàng, đồng thời đưa ra khuyến nghị rằng chính phủ cần có các chính sách nghiêm ngặt để ngăn chặn sự cạnh tranh không công bằng và các hành vi thiếu đạo đức trong ngành ngân hàng trong quá trình áp dụng chiến lược đại dương xanh. Mặc dù tác giả chỉ ra sản phẩm là ví dụ trong việc triển khai chiến lược đại dương xanh và đưa ra một số khuyến nghị tuy nhiên hạn chế của bài viết là nghiên cứu chỉ dựa trên dữ liệu của một ngân hàng tại Kenya, chưa bao quát hết tình hình chung của các ngân hàng tại nước này khi áp dụng chiến lược đại dương xanh và chưa nêu cụ thể những thách thức mà ngân hàng phải đối mặt khi áp dụng chiến lược này.

Nghiên cứu của Alam và Islam (2018) đánh giá tác động tổng thể của việc áp dụng chiến lược đại dương xanh đối với hiệu suất hoạt động của các tổ chức trên nhiều ngành nghề và quốc gia khác nhau. Nghiên cứu không chỉ khẳng định giá trị của BOS mà còn chỉ ra rõ ràng các điều kiện để thành công, giúp các tổ chức đưa ra quyết định sáng suốt hơn trong việc lựa chọn và triển khai chiến lược. Tuy nhiên, tác giả này lưu ý rằng việc áp dụng BOS cần đi kèm với các đặc thù của doanh nghiệp như quy mô, điều kiện ngành, khả năng thích nghi,… Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Shared (2020) phát hiện rằng các chiều của BOS có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Al-Rajhi tại Ả Rập Xê Út. Tác giả này cũng trích dẫn sáu hướng tiếp cận trong nghiên cứu của mình nhưng không kiểm tra tác động của công cụ này lên năng lực cạnh tranh. Theo đó trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ ra rằng các yếu tố của BOS có mối tương quan tích cực với năng lực cạnh tranh, bao gồm chất lượng dịch vụ, đổi mới, tính linh hoạt, chi phí và khả năng phản hồi khách hàng. Al Nsour (2017) cũng đã thực hiện khảo sát 313 cá nhân là các giám đốc điều hành, giám đốc chi nhánh và phó giám đốc đang làm việc tại các ngân hàng thương mại ở Ả Rập Xê Út, với tổng số 1.556 người vào năm 2015 nhằm xác định tác động thống kê của việc áp dụng chiến lược đại dương xanh đối với việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Ả Rập Xê Út. Nghiên cứu này kết luận rằng có tác động thống kê tích cực của việc áp dụng chiến lược đại dương xanh đối với lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng thương mại tại Ả Rập Xê Út.

Suandi, Lukman, Primalita, Rahim và Nasfi (2021) thực hiện khảo sát 282 khách hàng từ 20 ngân hàng thương mại Hồi giáo và các đơn vị kinh doanh Hồi giáo nhằm đánh giá ảnh hưởng của chiến lược đại dương xanh đối với hành vi khách hàng và cách nó tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả cho thấy chiến lược đại dương xanh có ảnh hưởng tích cực đến hành vi ủng hộ và lòng trung thành của khách hàng, trong đó lòng trung thành lại có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến nhận thức về hiệu quả hoạt động ngân hàng.

  • Bảng 2.1: Tổng hợp nghiên cứu liên quan đến mục tiêu nghiên cứu

Tại Việt Nam hiện nay, chưa có nghiên cứu hoàn chỉnh về tác động chiến lược đại dương xanh đối với hiệu quả hoạt động của một số ngân hàng thương mại ở cả hai mặt tích cực và thách thức, đồng thời cũng chưa có bài viết đưa ra ví dụ về một số sản phẩm thực tế trong việc triển khai chiến lược đại dương xanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đặc biệt là ngân hàng thương mại, do đó tác giả với mong muốn lắp đầy một phần khoảng trống nghiên cứu sẽ thực hiện các nội dung nêu trên nhằm giải quyết và làm rõ câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ban đầu, bên cạnh đó đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị phù hợp với một số ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong quá trình triển khai, áp dụng BOS trong hoạt động kinh doanh.

2.5. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Giả thuyết nghiên cứu được xây dựng thông qua những biến độc lập lựa chọn trong mô hình nghiên cứu và tổng quan thực nghiệm của các nghiên cứu trước đây, luận văn kiểm tra các giả thuyết H1, H2, H3 trong đó:

2.5.1. Đối với sự dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh

Trong lý thuyết lợi thế người tiên phong, Lieberman và Montgomery (1988) cho rằng doanh nghiệp đầu tiên tham gia thị trường có thể đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc chiếm lĩnh nguồn lực khan hiếm, tạo rào cản gia nhập cho đối thủ và xây dựng thương hiệu mạnh. Các nghiên cứu như của Yang và ctg (2023) và Nyambane (2024) chỉ ra rằng doanh nghiệp tiên phong trong việc khai phá thị trường mới thường đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững và hiệu quả hoạt động cao hơn so với những doanh nghiệp theo sau. Nghiên cứu của Suarez và Lanzolla (2008) bổ sung rằng lợi thế tiên phong đặc biệt quan trọng trong các ngành có tốc độ thay đổi công nghệ nhanh, như ngành dịch vụ tài chính ngân hàng hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và fintech. Đối với ngành ngân hàng, việc tiên phong trong các phân khúc khách hàng mới hoặc sản phẩm dịch vụ đổi mới có thể mang lại lợi thế đáng kể (Zahra, Ireland và Hitt, 2001). Đồng quan điểm, Teece (2011) cho rằng các ngân hàng tiên phong trong việc áp dụng công nghệ mới và phát triển các mô hình kinh doanh đột phá có thể tạo ra rào cản chuyển đổi cao cho khách hàng và xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững.

Thị trường ngân hàng Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại và nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2024). Mức độ cạnh tranh cao này đã dẫn đến hiện tượng “đại dương đỏ” với các chiến lược đồng nhất, sản phẩm tương tự và cạnh tranh giá (Võ Thị Quý và Nguyễn Thị Liên Hoa, 2021). Trên cơ sở đó, tác giá đề xuất giả thuyết sau:

(H1) – Giả thuyết 1: Các NHTM Việt Nam áp dụng chiến lược đại dương xanh bằng cách tiên phong dẫn đầu trong các thị trường không cạnh tranh sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại tranh thủ thời cơ sớm thâm nhập/ mở rộng thị trường và giảm cạnh tranh từ đó tăng hiệu quả hoạt động cho ngân hàng.

2.5.2. Đối với định hướng công nghệ/ sản phẩm để tạo sự khác biệt Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

Theo Porter (1985), khác biệt hóa thành công cho phép doanh nghiệp định giá cao hơn, tăng lòng trung thành của khách hàng và giảm nhạy cảm về giá. Sharp và Dawes (2002) bổ sung quan điểm rằng sự khác biệt hóa không chỉ nằm ở tính năng sản phẩm mà còn ở khả năng tạo ra nhận diện thương hiệu mạnh mẽ trong tâm trí khách hàng. Nghiên cứu của Keller (1993) về giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng chỉ ra rằng độ nhận diện thương hiệu cao và các liên tưởng thương hiệu tích cực có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng của khách hàng.

Nghiên cứu của Mbama và Ezepue (2019) chỉ ra rằng việc áp dụng công nghệ số trong ngân hàng, bao gồm mobile banking, internet banking, và các giải pháp thanh toán điện tử, có tác động tích cực đến sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng. Tương tự, Alalwan, Dwivedi và Rana (2018) phát hiện rằng chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định sử dụng và giới thiệu dịch vụ ngân hàng.

Trong bối cảnh Việt Nam, báo cáo của McKinsey và Company (2021) cho thấy các ngân hàng đầu tư mạnh vào công nghệ số có tốc độ tăng trưởng khách hàng và doanh thu cao hơn đáng kể so với các ngân hàng truyền thống. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh & Lê Đình Luân (2023) đã xác nhận rằng chuyển đổi số thông qua các ứng dụng ngân hàng điện tử và ngân hàng số cũng như quá trình xâm nhập nhanh của các công ty công nghệ tài chính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tích cực đến khả năng cạnh tranh của các NHTM. Chuyển đổi số và công nghệ tài chính đang tái định hình ngành ngân hàng toàn cầu và Việt Nam (Nguyễn Thị Hồng, 2020). Bùi Thị Phương Linh và Nguyễn Toàn Trí (2025); Trần Linh Huân & Nguyễn Thị Mỹ Dung (2026) chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại Việt Nam áp dụng công nghệ hiện đại như AI, Big Data, và blockchain không chỉ giúp cải thiện hiệu quả vận hành mà còn tạo ra các sản phẩm dịch vụ khác biệt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng. Vì vậy, tác giả đề xuất giả thuyết sau: Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

(H2) – Giả thuyết 2: Các NHTM Việt Nam áp dụng các công nghệ, sản phẩm, chính sách hiện đại đã tạo ra sự khác biệt sản phẩm và độ nhận diện giúp gia tăng thị phần và thu hút nhiều khách hàng, từ đó gia tăng hiệu quả hoạt động.

2.5.3. Đối với tạo và nắm bắt nhu cầu mới

Christensen, Anthony và Roth (2005) trong lý thuyết về đổi mới đột phá lập luận rằng việc tạo ra thị trường mới bằng cách đáp ứng nhu cầu của những khách hàng bị bỏ qua hoặc phục vụ kém có thể mang lại cơ hội tăng trưởng lớn. Đồng quan điểm, Kim và Mauborgne (2006) đã chỉ ra rằng một trong những nguyên tắc cốt lõi của chiến lược đại dương xanh là tập trung vào người không phải khách hàng thay vì cạnh tranh giành giật khách hàng hiện tại. Khả năng dự đoán và tạo ra nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng là yếu tố quan trọng để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững (Day và Schoemaker, 2017). Kotler và Keller (2017) định nghĩa thu hút khách hàng là quá trình chuyển đổi khách hàng tiềm năng thành khách hàng thực tế thông qua việc tạo ra và truyền đạt giá trị vượt trội. Ngân hàng tạo ra nhu cầu mới bằng cách cung cấp giá trị vượt trội sẽ có khả năng thu hút khách hàng cao hơn (Parasuraman và Grewal, 2001).

Đối với ngành dịch vụ tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại, việc hiểu và nắm bắt nhu cầu khách hàng là yếu tố then chốt để phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2023), tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng tại Việt Nam đã tăng từ 31% trong năm 2015 lên 69% ở năm 2022, tuy nhiên vẫn còn một phần lớn dân số chưa được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ tài chính. Đây là cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam tạo ra và nắm bắt nhu cầu mới từ các phân khúc chưa được phục vụ đầy đủ như cư dân nông thôn, doanh nghiệp siêu nhỏ, và người lao động tự do. Do đó, tác giả đề xuất giả thuyết dưới đây:

(H3) – Giả thuyết 3: Các NHTM Việt Nam tạo ra và nắm bắt nhu cầu mới thông qua BOS sẽ giúp các ngân hàng thu hút và giữ chân khách hàng từ đó sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Thông qua việc trích lược các cơ sở lý thuyết về chiến lược đại dương xanh, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, chương 2 đã xây dựng được nền tảng nghiên cứu để làm cơ sở cho việc tạo dựng và hình thành mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu ở chương 3 tiếp theo. Ngoài ra, tại chương 2 này tác giả cũng đã tóm lược tổng quan các nghiên cứu về tác động của chiến lược đại dương xanh đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước để từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu đang còn tồn tại. Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC của chiến lược đại dương xanh của các NH

One thought on “Luận văn: Tác động của chiến lược đại dương xanh của các NH

  1. Pingback: Luận văn: KQNC của chiến lược đại dương xanh của các NH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *