Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT ĐỀ ÁN
Tên đề án: Nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn.
Tóm tắt đề án: Đề án đã tiến hành tổng hợp lý luận về cho vay đối với khách hàng cá nhân, các chỉ tiêu đo lường về phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại theo hai góc độ giữa ngân hàng và khách hàng. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan để rút ra các nhân tố ảnh hưởng đến ý định vay vốn của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng, đây là cơ sở quan trọng trong việc thu hút khách hàng cá nhân vay vốn tại ngân hàng. Ngoài ra với việc tổng hợp các bài học kinh nghiệm từ các ngân hàng thương mại trên thế giới và trong nước để rút ra bài học về phát triển dịch vụ thẻ cho Eximbank Chợ Lớn. Với dữ liệu thứ cấp thu thập của chi nhánh từ năm 2023 – 2025 thì đề án đã phân tích tình hình kinh doanh chung của Eximbank Chợ Lớn, đồng thời phân tích tình hình thực trạng cho vay đối với khách hàng tại chi nhánh. Nhìn chung, qua các năm từ 2023 – 2025 thì cho vay đối với khách hàng cá nhân tại chi nhánh vẫn có sự tăng trưởng đều đặn về số lượng khách hàng tham gia lẫn doanh thu đem về cho ngân hàng. Mặt khác, khi phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định vay của khách hàng cá nhân tại chi nhánh thì kết quả cho thấy chất lượng dịch vụ; thời gian giao dịch; thương hiệu ngân hàng; chi phí đi vay; chính sách tín dụng; nhân viên và cơ sở vật chất; ảnh hưởng xã hội nếu được chi nhánh đảm bảo sẽ làm tăng ý định lựa chọn của khách hàng khi muốn vay vốn. Từ những phân tích đánh giá thực trạng thì đề án đã rút ra được các điểm mạnh và hạn chế của chi nhánh trong việc kinh doanh dịch vụ thẻ và đưa ra những đề xuất giải pháp cho chi nhánh nhằm phát triển dịch vụ này trong tương lai.
Từ khóa: Eximbank Chợ Lớn, tín dụng, khách hàng cá nhân, tăng trưởng cho vay.
- ABSTRACT
Title: Enhancing personal customer loan activities at Vietnam Export-Import Commercial Joint Stock Bank – Cho Lon Branch.
Thesis summary: The project has synthesized theoretical knowledge on personal customer lending, as well as key performance indicators for the development of personal customer loans at commercial banks from both the bank’s and the customers’ perspectives. Additionally, through a review of related studies, the project has identified factors influencing personal customers’ loan intentions at banks, which are crucial for attracting individual borrowers to the bank. Furthermore, by compiling lessons learned from commercial banks worldwide and domestically, the project has drawn lessons for the development of card services for Eximbank Cho Lon. Using secondary data collected from the branch from 2023 to 2025, the project has analyzed the overall business situation of Eximbank Cho Lon and assessed the current lending practices for customers at the branch. Overall, from 2023 to 2025, personal customer lending at the branch has experienced steady growth in both the number of participating customers and the revenue generated for the bank. Moreover, when analyzing the factors influencing personal customers’ loan intentions at the branch, the results show that service quality, transaction time, bank brand, borrowing costs, credit policies, staff, facilities, and social influence, if ensured by the branch, will increase the likelihood of customers choosing to borrow from the bank. Based on the analysis of the current situation, the project has identified the strengths and weaknesses of the branch in providing card services and proposed solutions to help the branch further develop this service in the future.
Keywords: Eximbank Cho Lon, credit, personal customers, loan growth.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Ngân hàng Thương mại (NHTM), với vai trò là trung gian tài chính huyết mạch, đóng vai trò không thể thay thế trong việc phân bổ vốn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc gia. Trong môi trường kinh doanh hiện đại, sự tồn tại và phát triển bền vững của các Ngân hàng thương mại phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và hiệu quả hoạt động, trong đó, hoạt động cho vay (tín dụng) luôn được đặt lên hàng đầu. Tín dụng không chỉ là nguồn thu nhập chính mà còn là công cụ quan trọng nhất để bơm dòng vốn, kích thích sản xuất, tiêu dùng, và tăng trưởng GDP.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được quỹ đạo tăng trưởng tích cực, với tốc độ tăng trưởng GDP được duy trì ở mức cao và lạm phát được kiểm soát. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) luôn cân đối các chính sách tiền tệ và tín dụng một cách thận trọng nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển này là nhu cầu vốn khổng lồ. Số liệu thống kê cho thấy, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống thường xuyên duy trì ở mức cao, thậm chí đạt xấp xỉ 17% vào năm 2024. Sự gia tăng nóng của tín dụng, nếu không được quản lý chặt chẽ về mặt chất lượng, dễ dàng dẫn đến sự mất cân đối giữa tốc độ tăng trưởng và mức độ rủi ro của danh mục đầu tư, từ đó làm giảm hiệu quả hoạt động chung của hệ thống. Đây chính là thách thức cốt lõi đặt ra cho các Ngân hàng thương mại hiện nay: Làm thế nào để đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả, an toàn và bền vững?
Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn (Eximbank Chi nhánh Chợ Lớn) là một trong những đơn vị kinh doanh trọng điểm của Eximbank, hoạt động tại một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất của TP. Hồ Chí Minh. Đặc biệt, trong giai đoạn 2022 – 2024, dưới tác động sâu sắc của Đại dịch COVID-19, đời sống và thu nhập của người dân trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, khiến nhu cầu vay vốn cá nhân để phục vụ các hoạt động thiết yếu trong cuộc sống (tiêu dùng, tái thiết sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ) trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chi nhánh đã tập trung nguồn lực đáng kể để đáp ứng nhu cầu này, dẫn đến việc dư nợ cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) liên tục gia tăng và chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng danh mục tín dụng. Cụ thể, trong suốt giai đoạn này, cho vay Khách hàng cá nhân luôn chiếm trên 45% tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh, tạo ra nguồn thu nhập và lợi nhuận chủ yếu. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng dư nợ Khách hàng cá nhân của Chi nhánh lại có dấu hiệu sụt giảm và thiếu ổn định do chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ các Ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn, vốn cũng đang đẩy mạnh phân khúc bán lẻ. Sự sụt giảm này, nếu không được cải thiện, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh và khả năng hoàn thành mục tiêu lợi nhuận của Chi nhánh. Từ những vấn đề thực tiễn trên, cùng với những quan sát và kinh nghiệm tích lũy qua thời gian làm việc tại Eximbank Chợ Lớn, tác giả nhận thấy sự cần thiết phải có một nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân. Đây không chỉ là giải pháp củng cố vị thế cạnh tranh mà còn là chìa khóa để đảm bảo Chi nhánh tăng trưởng an toàn và bền vững. Với tính cấp thiết đó, đề tài “Nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn” được lựa chọn làm đề án tốt nghiệp
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn. Từ đó, đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại chi nhánh trong tương lai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại, đồng thời xác định các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá mức độ phát triển của hoạt động này.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn, qua đó làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp phù hợp và khả thi nhằm phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Eximbank – Chi nhánh Chợ Lớn trong thời gian tới.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân và các chỉ tiêu dùng để đánh giá hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại như thế nào?
Thứ hai, thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Eximbank Chợ Lớn hiện nay ra sao? Những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại chi nhánh là gì? Nguyên nhân của những hạn chế này là gì?
Thứ ba, các giải pháp nào được đề xuất nhằm nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Eximbank Chợ Lớn trong tương lai?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đang được triển khai tại Eximbank Chợ Lớn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Eximbank Chợ Lớn
- Về mặt thời gian: Số liệu về cho vay khách hàng cá nhân tổng hợp trên báo cáo tài chính của Eximbank Chợ Lớn qua các năm trong giai đoạn 2023 – 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu thứ cấp và sơ cấp đã được tác giả sử dụng trong đề án này. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn sau đây: Nguồn thông tin bên trong ngân hàng bao gồm tài liệu và số liệu của ngân hàng, chẳng hạn như tín dụng tiêu dùng hàng năm, dư nợ, thu nợ, tổ chức và nhân viên. Báo cáo quyết toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo tổng kết của Eximbank Chợ Lớn. Thông tin từ nguồn bên ngoài bao gồm thông tin về các chủ đề văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội từ các loại sách, tạp chí và trang web của các ngân hàng. Đề án của những người đi trước, đã được kế thừa một cách hợp lý trong đề án, cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo quý giá trong các báo cáo khoa học. Phương pháp điều tra đã được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp về Khách hàng cá nhân vay vốn tại Eximbank Chợ Lớn. Mục đích của phương pháp này là đánh giá ý kiến của khách hàng về các hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân tại Chi nhánh.
5.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu
- Đối với dữ liệu thứ cấp
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để thu thập và khai thác các dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, tài liệu nội bộ và các văn bản quy định liên quan đến hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Eximbank – Chi nhánh Chợ Lớn.
Phương pháp phân tích mô tả được áp dụng để trình bày thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân theo các khía cạnh như quy trình cho vay, sản phẩm tín dụng, kết quả kinh doanh và tình hình rủi ro tín dụng.
Ngoài ra, phương pháp so sánh đối chiếu cũng được sử dụng nhằm tham khảo một số mô hình hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng tương đồng, từ đó rút ra bài học cho Eximbank – Chi nhánh Chợ Lớn.
- Đối với dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc (semi-structured interview) với hai nhóm đối tượng chính: Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Cán bộ tín dụng và quản lý cấp trung tại Eximbank – Chi nhánh Chợ Lớn
- Khách hàng cá nhân đã và đang sử dụng dịch vụ vay vốn tại chi nhánh
Các câu hỏi phỏng vấn tập trung khai thác nhận thức, trải nghiệm, đánh giá và đề xuất liên quan đến quy trình, sản phẩm, chất lượng phục vụ và những khó khăn trong quá trình vay vốn.
Dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn được xử lý bằng phương pháp phân tích nội dung (content analysis), qua đó mã hóa thông tin, phân loại chủ đề và trích xuất các ý kiến tiêu biểu nhằm phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp với bối cảnh thực tiễn của chi nhánh.
6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Eximbank Chợ Lớn mang thực tiễn, cần được cập nhật và nghiên cứu thêm nhiều khía cạnh. Cụ thể là đề án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân và mở rộng hoạt động này tại Ngân hàng thương mại. Đồng thời xem xét đánh giá thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Eximbank Chợ Lớn giai đoạn năm 2023 – 2025. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Eximbank Chợ Lớn trong thời gian tới.
7. Kết cấu của đề án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề án được chia thành ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Eximbank – Chi nhánh chợ lớn.
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
1.1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm khách hàng cá nhân và cho vay khách hàng cá nhân
Khách hàng cá nhân được hiểu là các cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng các dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp, bao gồm các hoạt động như gửi tiền, vay vốn, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác. Những khách hàng này không hoạt động dưới hình thức pháp nhân, mà chủ yếu vay vốn phục vụ các mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc đầu tư nhỏ lẻ (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2021). Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Theo Hồ Diệu (2001) hoạt động cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng tại các Ngân hàng thương mại hay các TCTD, trong đó việc cấp tín dụng cho các đối tượng hộ gia đình hay Khách hàng cá nhân để phục vụ cho các mục đích tiêu dùng, mua sắm hay cải thiện đời sống. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đối tượng Khách hàng cá nhân và mục đích sử dụng vốn của họ thì Ngân hàng thương mại sẽ quy định việc cấp tín dụng này có hay không việc cần TSĐB để thế chấp và thời hạn vay vốn ra sao ? Thông thường với hình thức cho vay với đối tượng Khách hàng cá nhân thì mục đích sử dụng vốn chủ yếu là mua sắm nhà cửa, xe ô tô, giáo dục, tiêu dùng cải thiện cuộc sống,… Theo Lê Văn Tư (2007) cho vay theo hình thức này là việc mà Ngân hàng thương mại cấp vốn cho các Khách hàng cá nhân hoặc các hộ gia đình đáp ứng nhu cầu mua sắm, chi tiêu. Khoản vốn được cấp này hỗ trợ cho Khách hàng cá nhân có thể trang trải cuộc sống, mua sắm nhà, phương tiện đi lại, cải thiện sinh hoạt, tăng cường giáo dục,… trước khi họ có đủ năng lực tài chính để tự mua sắm.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2017) hiện nay tại các Ngân hàng thương mại thì việc cho vay đối với Khách hàng cá nhân hay còn được gọi là cho vay tiêu dùng, là hoạt động mà Ngân hàng thương mại cấp vốn cho các Khách hàng cá nhân hay hộ gia đình vay tiền để phục vụ các mục đích cá nhân riêng tư để mua sắm tài sản, sửa chữa hay bổ sung vốn lưu động để kinh doanh. Do đó, cho vay đối với đối tượng Khách hàng cá nhân rất quan trọng và giải quyết vấn đề xu thế của thị trường. Đặc biệt với vai trò là trung gian tài chính thì việc cho vay với Khách hàng cá nhân sẽ đem lại nguồn lợi cũng như thu nhập lớn cho ngân hàng, ngoài ra hoạt động cho vay này được ngân hàng thiết kế với nhiều sản phẩm khác nhau và khách hàng có thể lựa chọn phù hợp với mục đích sử dụng của mình (Phan Thị Thu Hà, 2015).
Tóm lại, tại đề án này cho vay đối với Khách hàng cá nhân được kiểu là hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại cho đối tượng là các Khách hàng cá nhân nhằm thỏa mãn các mục đích liên quan đến mua sắm tài sản, phương tiện đi lại, bổ sung nguồn vốn để kinh doanh, cải thiện đời sống hay giáo dục. Đồng thời, việc cho vay này có cần thế chấp tài sản hay mức lãi suất khách hàng cần trả tùy thuộc vào mục đích sử dụng của họ. Việc cho vay này vẫn tuân theo các nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi của khách hàng với ngân hàng, đồng thời ngân hàng có thể thiết kế nhiều sản phẩm riêng biệt để khách hàng lựa chọn, do đó có thể xem các sản phẩm của hoạt động này là dịch vụ mà ngân hàng tạo ra cho khách hàng sử dụng (Phan Thị Thu Hà, 2015).
1.1.2. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2017) thì đặc điểm tín dụng đối với khách hàng cá nhân được phản ảnh qua số lượng quy mô khoản vay và các rủi ro của khoản vay.
- Số lượng và quy mô khoản vay
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2013) thì cho vay đối với Khách hàng cá nhân thì số lượng hồ sơ vay rất nhiều nhưng quy mô vay thì lại nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu là do các khoản vay này nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng và mua sắm là chủ yếu, đối tượng lại là các Khách hàng cá nhân riêng lẻ do đó số lượng sẽ đông đảo nhưng giá trị khoản vay được duyệt sẽ không lớn.
Đối với hình thức vay này của các Khách hàng cá nhân thì đều bị các Ngân hàng thương mại giới hạn về những điều kiện bắt buộc trong việc sử dụng nguồn vốn vì nó bị ảnh hưởng bởi năng lực trả nợ hàng kỳ và TSĐB có được thế chấp hay không ? Nhưng số lượng vay vẫn rất lớn vì đối tượng áp dụng khoản vay này là mọi Khách hàng cá nhân thuộc mọi tầng lớp, không phân biệt các nhân tố nhân khẩu học và đặc biệt thu nhập từ thấp đến cao đều phù hợp. Mặt khác, nhu cầu và mục đích vay vốn đa dạng cùng với sự phát triển của xã hội và mong muốn cải thiện chất lượng cuộc sống của khách hàng. Tiền lãi từ các khoản vay này thường được căn cứ vào quy định với mức lãi suất mà khách hàng và ngân hàng ký kết với nhau. Thông thường đối với hình thức vay này thì phương án tính lãi có thể là lãi gộp cuối kì hay giảm dần theo dư nợ, thời gian để khách hàng trả nợ tương đối dài để Khách hàng cá nhân thu xếp tình hình tài chính để trả hàng kỳ (tháng/quý/năm) hoặc trả vào cuối kỳ. Lãi suất cho vay thường có sự biến động hay điều chỉnh tùy theo sự thay đổi của thị trường kinh tế hay các chính sách của NHNN.
Đối với các khoản cấp tín dụng dành cho Khách hàng cá nhân thì quy mô dư nợ được cấp thường nhỏ nhưng số hợp đồng được thiết lập lại rất nhiều, vì số lượng Khách hàng cá nhân trong thị trường rất lớn. Đồng thời, các khoản cấp tín dụng này thường được các Ngân hàng thương mại xem xét đến các nhân tố như trình độ học vấn, công việc và thu nhập hiện tại hay điều kiện gia đình. Thông thường các đối tượng có thu nhập cao thì họ có thể được ngân hàng cho vay nhiều hơn và thời gian trả nợ có thể kéo dài, điều này mang lại thu nhập và nguồn lợi cho ngân hàng. Nhưng cũng đặt ra vấn đề khi Khách hàng cá nhân càng hiểu biết thì họ lại hiểu biết các sản phẩm thì thường hay cân nhắc để lựa chọn có lợi cho mình giữa thời hạn và lãi suất vay. Vì vậy, các khoản vay đối với các Khách hàng cá nhân thường được họ cân nhắc sử dụng khi khẩn cấp nhằm thanh toán tức thời cho các khoản chi tiêu. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Rủi ro của khoản vay
Phan Thị Thu Hà (2015) chỉ ra rằng đối với hoạt động tín dụng nói chung và với các khoản vay đối với Khách hàng cá nhân nói riêng thì các rủi ro hay gặp đó là thông tin bất cân xứng, rủi ro tác nghiệp, tốn kém chi phí.
Thông tin bất cân xứng: Đối với các hình thức vay thì thông tin khách hàng là rất quan trọng để Ngân hàng thương mại thẩm định tư cách và quyết định mức cấp tín dụng, đồng thời cân nhắc phương án có cần thế chấp TSĐB, các nguồn thu nợ và giá trị thu nợ hàng kì,… Tuy nhiên, đối với Khách hàng cá nhân thì thông tin thu thập được khả năng bất cân xứng cao vì tính di chuyển của khách hàng cao nên có thể những thông tin đưa ra không chính xác. Ngoài ra, thời điểm vay thì mọi tình hình tài chính của khách hàng ổn định nhưng trong quá trình sử dụng vốn vay thì khách hàng lại bị mất việc, bệnh tật, tai nạn, chết chóc,… mà những thông tin này thì Ngân hàng thương mại không kiểm soát được.
Rủi ro tác nghiệp: Rủi ro này được hình thành trong quá trình làm thủ tục thẩm định đến giải ngân cho khách hàng. Vì đặc thù số lượng hồ sơ nhiều và đối tượng khách hàng đông đảo, trong khi ngân hàng muốn thực hiện tất cả các hồ sơ này để cho vay được và thu lãi nhiều thì các chính sách hay nguyên tắc tín dụng bị nới lỏng. Vì vậy, các khách hàng do muốn được duyệt hồ sơ nên thông đồng với cán bộ tín dụng làm gia tăng sự uy tín của hồ sơ, che dấu những khuyết điểm hay làm giả hồ sơ về hạn mức được vay, đặc biệt là các vấn đề về thân nhân khách hàng tốt hay xấu không được xem xét.
Gây tốn kém chi phí: Do số lượng hồ sơ và Khách hàng cá nhân đông đảo nên việc để hoàn tất hồ sơ thì cần rất nhiều chi phí bỏ ra, đặc biệt là các Khách hàng cá nhân phân tán sinh sống tại nhiều địa điểm khác nhau thì càng gây tốn kém về mặt thời gian.
Đặc biệt để Khách hàng cá nhân đến giao dịch với ngân hàng thì cần phải có những hoạt động quảng cáo, quảng báo, tiếp thị, tri ân. Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân sự hay hỗ trợ kinh doanh để thực hiện nhanh chóng hồ sơ, tiết kiệm thời gian cho khách hàng thì gây ra tốn kém chi phí rất lớn cho ngân hàng.
Ngoài ra vì thông tin của khách hàng thu thập bất cân xứng do đó Ngân hàng thương mại để hạn chế được rủi ro thì phải đầu tư trang thiết bị đến đội ngũ nhân lực để xử lý hồ sơ từ khâu tiếp nhận – xử lý – ra quyết định. Mặt khác, các chi phí liên quan đến văn phòng phẩm, quản lý và vận hành hay hoa hồng cho nhân viên tín dụng đều phải gia tăng rất nhiều.
1.1.3. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
- Phân theo mục đích vay vốn Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Tín dụng Khách hàng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại theo mục đích vay bao gồm hai hình thức là phục vụ sản xuất kinh doanh và vay tiêu dùng.
Cho vay để sản xuất kinh doanh: Đây là hình thức mà Ngân hàng thương mại cho các khách hàng vay nhằm phục vụ cho mục đích bổ sung vốn kinh doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hóa, trả lương cho công nhân, mua sắm thêm các loại Tài sản cố định để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Đặc điểm chính đối với hoạt động cho vay này là nguồn trả nợ chính sẽ xuất phát từ mục bán hàng thu được, thời gian vay vốn thường ngắn kéo dài từ 6 tháng đến 12 tháng đối với nhu cầu vốn lưu động và trên 12 tháng đối với nhu cầu đầu tư vào các loại Tài sản cố định dài hạn. Lãi suất vay của hình thức này thường thấp và được hưởng nhiều chính sách ưu đãi của ngân hàng. Vòng vay vốn liên tục và nguồn tiền bán hàng sẽ được ngân hàng giám sát chặt chẽ.
Cho vay phục vụ hoạt động tiêu dùng: Đây là hình thức mà ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho khách hàng khi họ có mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình. Cái khoản vay tiêu dùng này là nguồn tài chính quan trọng giúp cho khách hàng có thể trang trải các nhu cầu của cuộc sống như mua nhà ở, xây dựng, sửa chữa, mua sắm phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế. Hình thức cho vay tiêu dùng này giúp cho khách hàng thỏa mãn và thu hưởng các dịch vụ mang lại và họ sẽ dùng nguồn tài chính của mình để trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn, kỳ hạn này có thể theo hàng tháng hàng quý hoặc hàng năm tùy vào thoả thuận với ngân hàng.
- Phân loại theo thời hạn khoản vay
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 01 năm. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ nhu cầu vốn lưu động cho cá nhân, nhu cầu chi tiêu ngắn hạn, tiêu dùng của cá nhân.
Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 01 năm đến đến 05 năm. Ngân hàng cho vay trung hạn nhằm tài trợ nhu cầu tiêu dùng trung hạn cho cá nhân. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Cho vay dài hạn: Là khoản vay có thời hạn trên 05 năm trở lên. Ngân hàng cho vay dài hạn nhằm tài trợ cho nhu cầu vốn tiêu dùng cá nhân vào các nhu cầu mua nhà ở, đất ở, xây nhà, …
- Phân loại theo phương thức cho vay
Cho vay từng lần: Đây là phương pháp là ngân hàng sẽ cho khách hàng vay thực hiện làm các thủ tục tín dụng cần thiết. Nhưng khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng làm hồ sơ xin vay khoản tiền với mục đích sử dụng cụ thể. Hoặc với giá trị cho vay lớn, thì ngân hàng sẽ không giải ngân một lần mà sẽ chia nhỏ khoản cấp tín dụng thành nhiều lần.
Cho vay theo hạn mức: Hình thức này là cho vay với vốn luân chuyển, khách hàng chỉ cần làm hồ sơ vay lần đầu. Sau đó dựa trên hợp đồng tín dụng đã ký, mỗi lần cần nhận tiền vay, khách hàng chỉ cần lập giấy nhận nợ kèm theo các chứng từ để chứng minh mục đích sử dụng vốn vay của mình thì ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân cho khách hàng. Đối với phương thức này thì sẽ áp dụng đối với những khách hàng có nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường xuyên, đều đặn, vòng quay vốn nhanh, ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng cụ thể. Đồng thời, khách hàng cần phải mở một tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng để theo dõi dòng tiền của khách hàng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, thanh toán đối với các đơn vị khác.
Cho vay với các hình thức khác: Ngân hàng sẽ cho khách hàng vay để mua dự án đầu tư, ứng trước, trả góp, hoặc cho vay thấu chi,…
- Phân loại theo hình thức bảo đảm
Cho vay có tài sản để đảm bảo: Khách hàng không được cấp tín dụng nếu họ không có tài sản đảm bảo. Bất động sản, động sản, máy móc thiết bị là các loại TSĐB cần được khách hàng và ngân hàng hoàn thành các thủ tục theo quy định của pháp luật trước hoặc sau khi khách hàng nhận được vốn vay.
Cho vay không có TSĐB: Ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết để được cấp tín dụng mà không có bảo đảm. Để đưa ra các lựa chọn tín dụng phù hợp, ngân hàng sẽ xem xét cả khả năng trả nợ của khách hàng và các yếu tố phi tài chính. Trong trường hợp khách hàng khách hàng vi phạm các cam kết trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thu hồi nợ trước hạn.
1.1.4. Vai trò hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2017) thì tín dụng Khách hàng cá nhân sẽ có những vai trò nhất định đối với kinh tế xã hội, ngân hàng thương mại và Khách hàng cá nhân.
- Đối với kinh tế xã hội
Trên cơ sở hoạt động tín dụng ngân hàng cấp cho các khách hàng, sẽ có vốn để tổ chức sản xuất, qua đó tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong nền kinh tế.
Tín dụng thúc đẩy tiêu dùng thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, qua đó trực tiếp làm tăng tổng cầu hàng hóa dịch vụ trong xã hội và gián tiếp thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất, mở rộng đầu tư, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng thương mại
Qua quan hệ tín dụng, các Ngân hàng thương mại hoạt động tốt sẽ có cơ hội giới thiệu và quảng bá đến khách hàng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới, tạo ra nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng đối với khách hàng mới cũng như tạo mối quan hệ tin tưởng với khách hàng cũ, tạo dựng nguồn khách hàng truyền thống và trung thành đối với ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là hoạt động thường đem lại trên 80% tổng nguồn thu của các Ngân hàng thương mại hiện nay, quyết định chính đến hiệu quả và lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại.
- Đối với khách hàng cá nhân
Thông qua tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho Khách hàng cá nhân để duy trì quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu, góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quyết định đến thời cơ kinh doanh và tính chủ động trong hoạt động kinh doanh. Nhờ nguồn vốn tín dụng bổ sung kịp thời, các khách hàng mới có cơ hội để khai thác và nắm bắt được thời cơ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Vai trò của tín dụng cá nhân có ý nghĩa rất đặc biệt và quan trọng đối với cá nhân ở những tình huống cấp bách như ốm đau, bênh tật, nhu cầu xe cộ, nhà cửa,.. vào những thời điểm này vốn vay ngân hàng thật sự hiệu quả hơn các nguồn tín dụng đen bên ngoài ngân hàng với lãi suất rất cao, đến với tín dụng ngân hàng thì khách hàng có thể an tâm sử dụng và trả nợ.
1.1.5. Nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
Bản chất của việc nâng cao hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại là hoạt động của ngân hàng nhằm tìm cách gia tăng doanh số cho vay Khách hàng cá nhân đi cùng với việc nâng cao chất lượng hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân này, đảm bảo sự gia tăng chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại an toàn và hiệu quả (Nguyễn Văn Tiến, 2017). Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Để thực hiện được, đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải có những cách thức, phương án hữu hiệu. Việc phát triển cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại có thể được thực hiện theo 2 cách. Đó là phát triển dịch vụ theo chiều rộng và phát triển dịch vụ theo chiều sâu.
Thứ nhất, phát triển hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại chiều rộng (Phát triển thị trường và phát triển khách hàng): Là việc Ngân hàng thương mại thực hiện xâm nhập và thị trường mới, thị trường mà khách hàng chưa biết đến sản phẩm của ngân hàng mình. Ở đây có thể mở rộng hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân theo vùng địa lý, theo đối tượng khách hàng.
Phát triển cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại theo vùng địa lý: Là việc phát triển theo khu vực địa lý hành chính nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch, qua đó làm tăng khách hàng, sản phẩm được sử dụng nhiều hơn. Để có thể phát triển hoạt động theo vùng địa lý đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có khoảng thời gian nhất định để các sản phẩm có thể tiếp cận được với khách hàng và thích ứng với từng khu vực và ngân hàng phải tổ chức được mạng lưới giao dịch tối ưu.
Phát triển cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại theo đối tượng khách hàng: Cùng với việc mở rộng hoạt động theo vùng địa lý, có thể mở rộng hoạt động bằng cách khuyến khích, kích thích các nhóm Khách hàng cá nhân của đối thủ cạnh tranh chuyển sang sử dụng dịch vụ cho vay của ngân hàng mình.
Thứ hai, phát triển hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại theo chiều sâu (Đa dạng hoá và nâng cao chất lượng dịch vụ): Là việc Ngân hàng thương mại khai thác tốt hơn thị trường Khách hàng cá nhân hiện có của mình, phân loại thị trường để thõa mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng. Việc phát triển cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại theo chiều sâu có thể bằng cách đa dạng hóa sản phẩm cho vay Khách hàng cá nhân và nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay Khách hàng cá nhân. Phát triển cho vay Khách hàng cá nhân bằng cách đa dạng hóa sản phẩm là việc Ngân hàng thương mại thực hiện đa dạng hoá hình thức và phương thức cho vay, mà không tạo thêm sản phẩm mới. Phát triển cho vay Khách hàng cá nhân bằng cách đa dạng hóa sản phẩm một mặt sẽ giúp cho Ngân hàng thương mại có thêm nhiều sản phẩm cho vay Khách hàng cá nhân để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú của khách hàng. Mặt khác giúp cho Ngân hàng thương mại nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm rủi ro trong hoạt động, nâng cao tỷ lệ thu nhập từ dịch vụ cho vay trên tổng thu nhập. Phát triển cho vay Khách hàng cá nhân bằng nâng cao chất lượng dịch vụ là việc Ngân hàng thương mại nâng cao mức độ hài lòng của Khách hàng cá nhân trong quá trình cảm nhận tiêu dùng dịch vụ cho vay so với kỳ vọng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
1.2.1. Nhóm nhân tố khách quan
Đầu tiên, môi trường chính trị và xã hội: Ổn định chính trị là cơ sở cho ổn định và phát triển kinh tế; có mối quan hệ biện chứng giữa ổn định chính trị và phát triển kinh tế. Sản xuất kinh doanh được thúc đẩy bởi kinh tế phát triển ổn định, chính trị và an ninh giữ vững. Do đó, các khoản cho vay Khách hàng cá nhân có thể phát triển. Tình hình chính trị trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến phát triển cho vay. Nền kinh tế thế giới ảnh hưởng đến nền kinh tế mở. Các sự thay đổi trên thị trường toàn cầu ngay lập tức ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước, ảnh hưởng đến giá cả và sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển cho vay của ngân hàng. Nền kinh tế toàn cầu phát triển ổn định góp phần thúc đẩy sự phát triển của các khoản cho vay, trong đó có khoản cho vay liên quan đến các chủ đề Khách hàng cá nhân.
Thứ hai, môi trường kinh tế vĩ mô: Chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân cũng bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh tế vĩ mô. Cho đến cùng, việc phát triển cho vay an toàn và hiệu quả phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế. Sự phát triển kinh tế thúc đẩy phát triển cho vay, trong khi suy thoái kinh tế sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển cho vay. Trong khi đó, kinh tế phát triển cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác, bao gồm cả các vấn đề xã hội, an ninh và quốc phòng, ngoài các yếu tố kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế phát triển ổn định niềm tin của công chúng, điều này khiến cho vay Khách hàng cá nhân phát triển. Phát triển cho vay bị ảnh hưởng bởi các chỉ số kinh tế vĩ mô như cán cân thương mại, tăng trưởng kinh tế, chỉ số CPI và các chỉ số thị trường chứng khoán. Mỗi biến số vĩ mô của nền kinh tế giống như một cơ thể, vì vậy mọi thay đổi trong một biến số sẽ ảnh hưởng đến tất cả các biến số khác và ngược lại. Điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định và phát triển khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư, và nhu cầu vốn đầu tư tăng khiến các ngân hàng thương mại phát triển cho vay.
Thứ ba, môi trường pháp lý: Sự phát triển của cho vay của ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng đáng kể bởi hệ thống pháp lý, đặc biệt là các bộ luật liên quan đến tín dụng và ngân hàng. Hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh và ổn định cung cấp cho các ngân hàng thương mại cơ hội phát triển cho vay. Ngược lại, hệ thống pháp luật thiếu hoặc không nghiêm minh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của các ngân hàng. Sẽ không có cơ sở để xử lý vi phạm liên quan đến ngân hàng khi hệ thống pháp luật không đầy đủ. Pháp luật không nghiêm ngặt cho phép những kẻ lừa đảo lấy tài sản của ngân hàng. Những sự kiện đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng, bao gồm cả cho vay Khách hàng cá nhân.
Thứ tư, mức độ cạnh tranh địa phương giữa các ngân hàng: Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng là một yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân. Khi có nhiều cạnh tranh hơn, khả năng phát triển cho vay sẽ trở nên khó khăn hơn. Ngược lại, khi có ít cạnh tranh hơn, khả năng phát triển cho vay sẽ dễ dàng hơn. Khi nhiều ngân hàng hoạt động trên cùng một khu vực, thị trường sẽ được chia cho họ. Tỷ lệ khách hàng phân chia giữa các ngân hàng khác nhau phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Năng lực mạnh sẽ chiếm được nhiều thị trường, trong khi năng lực yếu sẽ bị hạn chế thị trường. Các ngân hàng thường phát triển chính sách khách hàng và thị trường mục tiêu để phát triển các sản phẩm cho vay độc đáo. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
1.2.2. Nhóm nhân tố chủ quan
- Năng lực và uy tín của ngân hàng
Ngân hàng phải có đủ năng lực như nguồn vốn, nhân lực, mạng lưới phân phối và công nghệ nếu họ muốn cho vay Khách hàng cá nhân có chất lượng.
Về nguồn vốn: Chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân phụ thuộc vào quy mô vốn của ngân hàng; chỉ khi có nguồn vốn mới có thể mở rộng cho vay. Sức mạnh tài chính của một ngân hàng thương mại được thể hiện bằng vốn tự có; vốn tự có cao hơn thể hiện sức mạnh tài chính của ngân hàng đó. Chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng bởi những yếu tố này, dù trực tiếp hay gián tiếp.
Về nhân lực: Chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân bị ảnh hưởng bởi quy mô và chất lượng CBNV của ngân hàng. Chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân đòi hỏi phải có nguồn nhân lực phù hợp. Nhân lực phải đủ về chất lượng và số lượng. Nếu chất lượng cán bộ cho vay không đảm bảo, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cho vay, ảnh hưởng đến chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân.
Về mạng lưới hoạt động: Mạng lưới hoạt động rộng có tác động tích cực đến chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân. Mạng lưới rộng sẽ làm tăng nguồn huy động vốn, ảnh hưởng đến cho vay Khách hàng cá nhân. Khách hàng sẽ có nhiều cơ hội hơn khi giao dịch với ngân hàng nhờ mạng lưới rộng hơn so với phát triển cho vay. Mặt khác, mạng lưới hoạt động rộng cũng giúp các ngân hàng mở rộng các dịch vụ của họ. Điều này gián tiếp thúc đẩy các khoản cho vay Khách hàng cá nhân.
Về công nghệ: Các ngân hàng thương mại thường đi đầu về các ứng dụng công nghệ, chủ yếu là công nghệ tin học. Công nghệ quản lý phải được cải thiện trong khi chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân và số lượng giao dịch tăng lên. Ngược lại, năng suất lao động được nâng cao nhờ công nghệ quản lý hiện đại sẽ có tác động trở lại đến phát triển cho vay.
- Chiến lược và chính sách cho vay của ngân hàng Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Chính sách tín dụng của ngân hàng: Đây là các chính sách do Ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra bao gồm hệ thống các quy định liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp Tín dụng nhằm đạt các mục tiêu đã hoạch định để hạn chế rủi ro, tăng lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoat động của ngân hàng. Chính sách tín dụng quá mở rộng đồng nghĩa với việc Ngân hàng thương mại hạ thấp tiêu chuẩn đối với khách hàng vay vốn, nghĩa là bên cạnh việc cho vay đối với những khách hàng có khả năng trả nợ tốt, Ngân hàng thương mại cho vay cả những khách hàng có khả năng trả nợ kém. Điều này sẽ khiến nợ xấu gia tăng, từ đó gây rủi ro cho hoạt động của Ngân hàng thương mại, khả năng thu hồi vốn sẽ bị giảm thấp.
Chất lượng thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là các thông tin liên quan đến khách hàng vay vốn bao gồm: Lịch sử hoạt động vay trả từ ngân hàng hoặc các TCTD khác, tình hình tài chính của khách hàng; thực tế số lượng, chất lượng thông tin tín dụng liên quan chặt chẽ đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại. Thông tin tín dụng càng đầy đủ, càng chính xác thì cán bộ tín dụng có cơ sở phân tích trước khi người có thẩm quyền phê duyệt. Khi chất lượng thông tin tốt đồng nghĩa chất lượng tín dụng của ngân hàng ngày càng cao, vì dự báo khả năng trả nợ của ngân hàng chính xác.
Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng bao gồm những quy định, các bước cần phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng thương mại. Quy trình tín dụng bắt đầu khi ngân hàng tiếp nhận đơn cấp tín dụng, thẩm định tín dụng, giải ngân đến khi thu hồi được nợ. Một ngân hàng các bước của quy trình càng được tuân thủ chặt chẽ thì chất lượng tín dụng cao, vì một mặt hạn chế được rủi ro, mặt khác đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm thời gian cho khách hàng.
Hoạt động kiểm soát quá trình cấp tín dụng: Một trong những hoạt động nhằm mục đích giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro trong hoạt động là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát. Công tác này không chỉ thực hiện đối với khách hàng (như kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay) mà còn được thực hiện với bản thân ngân hàng như kiểm tra quá trình thực hiện cho vay xem đã đúng quy trình chưa. Kiểm soát tốt sẽ loại trừ những cán bộ mất phẩm chất, tiêu cực, tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của ngân hàng đối với khách hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi ngân hàng phải chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra đề kịp thời ngăn chặn, phát hiện được những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng cũng như bảo vệ được tài sản, cán bộ, uy tín của ngân hàng. Muốn vậy phải bố trí cán bộ có phẩm chất và trách nhiệm cao thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra giám sát quá trình cấp tín dụng.
1.3. Các lý thuyết liên quan đến nâng cao hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
1.3.1. Lý thuyết cung cầu tín dụng (Loanable Funds Theory)
Lý thuyết cung cầu tín dụng là một trong những khung phân tích cơ bản nhất trong kinh tế học vĩ mô và tài chính, giải thích cách lãi suất được xác định trên thị trường vốn vay. Lý thuyết này lập luận rằng lãi suất không phải là một yếu tố cố định mà là điểm cân bằng giữa tổng cung vốn khả dụng để cho vay và tổng cầu về các khoản vay. Về phía cung vốn, nguồn chủ yếu đến từ tiết kiệm của các hộ gia đình (thông qua tiền gửi ngân hàng, mua trái phiếu), lợi nhuận giữ lại của các doanh nghiệp, và đôi khi là từ chính sách của chính phủ hoặc ngân hàng trung ương. Các nhà cung cấp vốn này sẽ có xu hướng tăng lượng vốn cung cấp khi lãi suất tăng, bởi vì lãi suất cao hơn mang lại lợi tức lớn hơn cho việc từ bỏ tiêu dùng hiện tại. Ngược lại, về phía cầu vốn, nhu cầu vay xuất phát từ các doanh nghiệp (để đầu tư vào nhà máy, thiết bị, mở rộng sản xuất), các hộ gia đình (để mua nhà, xe cộ, tiêu dùng lớn) và chính phủ (để tài trợ cho chi tiêu công hoặc bù đắp thâm hụt ngân sách). Các chủ thể này sẽ giảm nhu cầu vay khi lãi suất tăng, do chi phí vay vốn trở nên đắt đỏ hơn.
Để nâng cao dư nợ cho vay, ngân hàng phải là một người chơi hiệu quả trong thị trường vốn khả dụng này. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải có chiến lược huy động vốn cạnh tranh để tăng cung nội bộ và đồng thời thiết kế các sản phẩm cho vay hấp dẫn để kích thích cầu. “Lãi suất là ‘giá’ của vốn vay, và giống như bất kỳ thị trường nào, điểm cân bằng cung cầu sẽ quyết định mức lãi suất và khối lượng giao dịch.” (Mishkin, 2020). Ngoài ra, Mishkin (2020) cũng nhấn mạnh vai trò của lãi suất như một cơ chế điều chỉnh cung và cầu trong thị trường vốn. Ngân hàng thành công là ngân hàng có thể xác định được điểm cân bằng tối ưu giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, đủ để thu hút cả người gửi tiền và người vay, đồng thời đảm bảo lợi nhuận và quản lý rủi ro.
Sự hiểu biết sâu sắc về các yếu tố dịch chuyển đường cung và đường cầu (như chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương, niềm tin kinh doanh, thu nhập hộ gia đình) cho phép ngân hàng chủ động điều chỉnh chiến lược lãi suất và marketing để tối đa hóa dư nợ cho vay trong từng thời kỳ. Ví dụ, khi Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất điều hành, chi phí vốn của các ngân hàng thương mại giảm xuống, tạo điều kiện để họ hạ lãi suất cho vay, từ đó kích thích nhu cầu tín dụng từ phía doanh nghiệp và cá nhân. Ngược lại, trong bối cảnh lạm phát cao, ngân hàng cần thận trọng điều chỉnh lãi suất để vừa đảm bảo lợi nhuận thực, vừa không làm “nguội” nhu cầu vay vốn một cách thái quá.
1.3.2. Lý thuyết về hoạt động trung gian tài chính của ngân hàng Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Lý thuyết này làm rõ vai trò thiết yếu của ngân hàng như một trung gian tài chính, không chỉ đơn thuần kết nối người gửi tiền và người vay mà còn thực hiện các chức năng chuyển hóa và giảm thiểu rủi ro quan trọng. Các chức năng này cho phép vốn luân chuyển hiệu quả hơn trong nền kinh tế so với việc giao dịch trực tiếp giữa các bên. Một trong những chức năng chính là chuyển hóa kỳ hạn (Maturity Transformation). Ngân hàng thu hút các khoản tiền gửi ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 1 năm) và sử dụng chúng để cấp các khoản vay dài hạn hơn (cho vay mua nhà, đầu tư dự án). “Ngân hàng thực hiện chức năng chuyển hóa kỳ hạn bằng cách đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền về khả năng thanh khoản và nhu cầu của người vay về các khoản vay dài hạn.” (Frederic S. Mishkin, “The Economics of Money, Banking, and Financial Markets”).
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện chuyển hóa quy mô (Denomination Transformation), gom góp nhiều khoản tiền gửi nhỏ lẻ từ hàng ngàn khách hàng để tạo thành các khoản vốn lớn, đủ để tài trợ cho các dự án đầu tư quy mô lớn mà một cá nhân hay doanh nghiệp nhỏ không thể cung cấp trực tiếp. Song song đó là chức năng giảm thiểu rủi ro (Risk Reduction/Diversification). Bằng cách đa dạng hóa danh mục cho vay trên nhiều khách hàng và ngành nghề khác nhau, ngân hàng giảm thiểu rủi ro vỡ nợ của từng khoản vay riêng lẻ. Ngân hàng cũng sở hữu chuyên môn và công nghệ để thẩm định, giám sát rủi ro tín dụng hiệu quả hơn so với một cá nhân.
Khả năng của một ngân hàng trong việc nâng cao dư nợ cho vay phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả của chức năng trung gian này. Ngân hàng càng hiệu quả trong việc huy động vốn giá rẻ, chuyển hóa kỳ hạn và quản lý rủi ro, càng có thể cung cấp các khoản vay với chi phí cạnh tranh và quy mô lớn hơn, từ đó tăng cường dư nợ. Việc nâng cao dư nợ thông qua vai trò trung gian này đòi hỏi ngân hàng phải liên tục cải thiện quy trình nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động, và xây dựng niềm tin với cả người gửi tiền và người vay để duy trì nguồn vốn ổn định.
1.3.3. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory)
Lý thuyết thông tin bất cân xứng, với những đóng góp tiên phong của George Akerlof (1970) về “thị trường Lemon” và sau đó được phát triển bởi Michael Spence và Joseph Stiglitz, là nền tảng để hiểu nhiều vấn đề trong tài chính ngân hàng. Lý thuyết này cho rằng trong các giao dịch tài chính, một bên (thường là người vay) có nhiều thông tin hơn về bản thân, khả năng trả nợ và ý định của mình so với bên còn lại (ngân hàng). Sự chênh lệch thông tin này dẫn đến hai vấn đề chính, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng và chất lượng dư nợ của ngân hàng. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Vấn đề đầu tiên là lựa chọn đối nghịch (Adverse Selection), xảy ra trước khi giao dịch được thực hiện. Do ngân hàng khó có thể phân biệt chính xác giữa người vay tốt (ít rủi ro) và người vay xấu (nhiều rủi ro), ngân hàng có thể đưa ra mức lãi suất chung cho tất cả. Mức lãi suất này có thể quá cao đối với người vay tốt (khiến họ rút lui khỏi thị trường) và lại quá hấp dẫn đối với người vay xấu (khiến họ tích cực tham gia). “Nếu người cho vay không thể phân biệt giữa người vay tốt và xấu, thì chỉ những người vay xấu nhất mới sẵn sàng chấp nhận các điều khoản cho vay của họ, dẫn đến một thị trường ‘lemon’.” (Akerlof, 1970). Kết quả là, danh mục cho vay của ngân hàng có xu hướng chứa nhiều khách hàng rủi ro hơn, làm tăng nợ xấu và hạn chế khả năng mở rộng tín dụng an toàn.
Vấn đề thứ hai là rủi ro đạo đức (Moral Hazard), phát sinh sau khi giao dịch được thực hiện. Sau khi nhận được khoản vay, người vay có thể thay đổi hành vi theo hướng rủi ro hơn vì họ biết rằng một phần rủi ro đã được chuyển sang ngân hàng. Ví dụ, họ có thể sử dụng vốn vay vào các dự án rủi ro cao hơn so với cam kết ban đầu, hoặc không nỗ lực tối đa để đảm bảo khả năng trả nợ. “Rủi ro đạo đức phát sinh khi một bên thay đổi hành vi của mình theo cách không thể quan sát được sau khi một hợp đồng được ký kết, gây thiệt hại cho bên kia.” (Stiglitz and Weiss, 1981). Để khắc phục vấn đề thông tin bất cân xứng và thúc đẩy dư nợ, ngân hàng cần đầu tư mạnh vào hệ thống thu thập và phân tích thông tin (bao gồm lịch sử tín dụng, báo cáo tài chính, mô hình chấm điểm tín dụng), xây dựng quy trình thẩm định chặt chẽ, và phát triển các công cụ giám sát sau vay hiệu quả (như điều khoản hợp đồng rõ ràng, yêu cầu báo cáo định kỳ, kiểm tra đột xuất).
1.3.4. Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Theory)
Lý thuyết chi phí giao dịch, được phát triển đáng kể bởi Ronald Coase (1937) và Oliver Williamson (1985), giải thích rằng các giao dịch kinh tế không diễn ra một cách miễn phí mà phát sinh nhiều loại chi phí ngoài giá cả trực tiếp của hàng hóa/dịch vụ. Trong bối cảnh cho vay ngân hàng, lý thuyết này rất quan trọng vì nó làm nổi bật các chi phí liên quan đến việc tổ chức và thực hiện một khoản vay, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và khả năng mở rộng dư nợ. Các loại chi phí giao dịch chính bao gồm chi phí tìm kiếm và thông tin (chi phí để ngân hàng tìm kiếm khách hàng tiềm năng và thu thập thông tin, hoặc khách hàng tìm kiếm ngân hàng), chi phí đàm phán và ra quyết định (chi phí về thời gian, nhân lực để thương lượng các điều khoản vay, thẩm định hồ sơ, và đưa ra quyết định cấp tín dụng).
Ngoài ra còn có chi phí giám sát và thực thi (chi phí để ngân hàng theo dõi việc sử dụng vốn vay, đảm bảo tuân thủ hợp đồng, và thực hiện các biện pháp thu hồi nợ nếu khách hàng không trả đúng hạn, bao gồm cả chi phí pháp lý). “Các tổ chức như ngân hàng tồn tại để giảm thiểu chi phí giao dịch mà các cá nhân sẽ phải đối mặt nếu họ cố gắng giao dịch trực tiếp với nhau.” (Williamson, 1985). Chi phí giao dịch cao có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và hạn chế khả năng mở rộng cho vay, đặc biệt là đối với các khoản vay nhỏ hoặc khách hàng mới.
Để nâng cao dư nợ, ngân hàng phải tìm cách tối ưu hóa các chi phí này. Việc ứng dụng công nghệ (Fintech, AI, Blockchain) vào quy trình cho vay có thể cắt giảm đáng kể chi phí tìm kiếm, đàm phán và giám sát. Ví dụ, tự động hóa quy trình chấm điểm tín dụng và phê duyệt khoản vay nhỏ có thể giảm chi phí giao dịch trên mỗi khoản vay, cho phép ngân hàng phục vụ được nhiều khách hàng hơn và mở rộng dư nợ. Điều này cũng giúp ngân hàng tập trung nguồn lực vào các khoản vay lớn, phức tạp hơn.
1.3.5. Lý thuyết hành vi tài chính (Behavioral Finance) trong cho vay Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Lý thuyết hành vi tài chính là một lĩnh vực tương đối mới, kết hợp tâm lý học và kinh tế học để giải thích tại sao các quyết định tài chính của con người thường không hoàn toàn lý trí như các lý thuyết kinh tế học truyền thống giả định. Trong bối cảnh cho vay ngân hàng, lý thuyết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các thiên kiến tâm lý của cả người vay và người cho vay (cán bộ ngân hàng) có thể ảnh hưởng đến dư nợ và chất lượng tín dụng.
Về phía người vay, họ có thể mắc phải thiên kiến “quá tự tin” (overconfidence), đánh giá quá cao khả năng trả nợ của mình hoặc đánh giá thấp rủi ro của dự án đầu tư. Họ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi “hiệu ứng neo” (anchoring effect), bám víu vào một mức lãi suất hoặc điều kiện vay nào đó trong quá khứ, khiến họ ngần ngại vay khi điều kiện thị trường thay đổi. Về phía người cho vay (ngân hàng/cán bộ tín dụng), họ có thể mắc phải “thiên kiến xác nhận” (confirmation bias), chỉ tìm kiếm thông tin xác nhận định kiến của mình về khách hàng, hoặc “tâm lý bầy đàn” (herd behavior), có xu hướng cho vay theo trào lưu vào các ngành/lĩnh vực mà các ngân hàng khác đang tập trung, bỏ qua việc đánh giá rủi ro độc lập.
Sau một giai đoạn nợ xấu tăng cao, ngân hàng có thể trở nên “nghi ngại rủi ro” (loss aversion) quá mức, thắt chặt tín dụng ngay cả khi các điều kiện cơ bản đã cải thiện, hoặc ngược lại, trở nên quá lạc quan trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nóng. “Con người không phải lúc nào cũng là những người ra quyết định hợp lý; các yếu tố tâm lý thường dẫn đến các thiên kiến có hệ thống trong các quyết định tài chính.” (Kahneman và Tversky, 1979 – về Lý thuyết triển vọng). Các quyết định tín dụng không chỉ dựa trên phân tích số liệu tài chính mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố tâm lý và thiên kiến hành vi của những người ra quyết định. Để nâng cao dư nợ một cách bền vững, ngân hàng cần nhận thức và kiểm soát các thiên kiến này. Điều này bao gồm việc xây dựng các quy trình đánh giá khách hàng khách quan, dựa trên dữ liệu; đa dạng hóa danh mục cho vay để tránh rủi ro tập trung do tâm lý bầy đàn; và đào tạo cán bộ tín dụng về các nguyên tắc hành vi tài chính để họ có thể đưa ra quyết định lý trí hơn, không bị chi phối bởi cảm tính hoặc áp lực từ thị trường. Việc này giúp ngân hàng vừa mở rộng được dư nợ, vừa duy trì được chất lượng tài sản tín dụng.
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nâng cao hoạt động cho vay khách hàng cá nhân với khía cạnh ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Đây được xem là tiêu chí để nâng cao hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại theo chiều rộng. Hay nói cách khác đây là cách thức mà ngân hàng dựa trên các chỉ số tính toán để đánh giá sự phát triển và định hướng các chiến lược.
1.4.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá về lượng
- Tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân
Dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân là chỉ tiêu phản ánh số tiền mà Ngân hàng thương mại đã giải ngân cho Khách hàng cá nhân nhưng chưa thu lại được tại một thời điểm nhất định, dư nợ càng cao thì quy mô càng lớn. Dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân là toàn bộ số tiền mà Khách hàng cá nhân còn nợ Ngân hàng thương mại tại 1 thời điểm bất kỳ; được xác định theo công thức = Nợ gốc + Nợ lãi. Sự biến động của dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân theo thời gian được đo lường thông qua chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân. Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân phản ánh được quy mô và xu hướng tín dụng Khách hàng cá nhân tăng trưởng hay thu hẹp trong một thời kỳ nhất định thường là một năm. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Tỷ trọng giá trị cho vay đối với Khách hàng cá nhân so với tổng giá trị cho vay: Tỷ lệ này cho thấy hoạt động cho vay đối với Khách hàng cá nhân chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng giá trị cho vay của ngân hàng. Công thức được mô tả như sau:
Tỷ trọng cho vay Khách hàng cá nhân trên tổng dư nợ của ngân hàng càng cao thì có nghĩa là đối tượng Khách hàng cá nhân được xem là tiềm năng và chiếm vai trò quan trọng đối với ngân hàng. Tỷ trọng này có thể xem là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của hoạt động cho vay lẫn dự báo tiềm năng cho ngân hàng đối với đối tượng Khách hàng cá nhân khi cho vay. Tuy nhiên, tỷ trọng này chỉ phản ánh được mức độ tăng trưởng bền vững của đối tượng Khách hàng cá nhân khi ngân hàng cho vay.
Vì hiệu quả của hoạt động cho vay đối với Khách hàng cá nhân cần phản ánh qua chất lượng tín dụng hay khả năng sinh lãi và thu hồi. Mặt khác, khi tỷ trọng này tăng cao cũng phản ánh mức tăng trưởng nóng, nhưng nếu tính kiểm soát của ngân hàng kém thì việc cho vay tập trung vào nhóm đối tượng này sẽ tạo ra sự rủi ro cho ngân hàng, ngoài ra sự cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng làm dư nợ tăng nhanh nhưng lại làm giảm đi phần thu nhập của ngân hàng. Vì thế, tỷ trọng cho vay đối với Khách hàng cá nhân nếu được xem xét độc lập mà không kết hợp với các chỉ tiêu khác để xem xét sự phát triển thì có thể không chính xác. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Tăng trưởng số lượng khách hàng cá nhân
Tổng số lượng Khách hàng cá nhân thiết lập giao dịch vay tiền tại các Ngân hàng thương mại thường là các đối tượng có phát sinh các nhu cầu sử dụng vốn vay để xoay vòng vốn kinh doanh, tiêu dùng vào các việc như sử chữa nhà ở, mua sắm Tài sản cố định, phương tiện đi lại hoặc cải thiện các mặt trong đời sống. Số lượng Khách hàng cá nhân được thể hiện qua quy mô khách hàng, do đó quy mô càng lớn thể hiện Ngân hàng thương mại đang thực hiện mở rộng hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân theo chiều rộng. Tăng trưởng số lượng Khách hàng cá nhân là thể hiện số lượng Khách hàng cá nhân không ngừng được tăng lên theo thời gian. Tốc độ tăng trưởng số lượng Khách hàng cá nhân được xác định theo công thức:
Với tốc độ cho sự tăng trưởng về số lượng Khách hàng cá nhân lớn hơn 0 cho thấy ngân hàng đang duy trì được sự gia tăng về số lượng Khách hàng cá nhân trong hai năm liên tiếp, với sự tăng trưởng này là điều kiện để các ngân hàng duy trì và tạo cơ hội cho việc phát triển các loại sản phẩm để giữ chân hoặc thu hút thêm khách hàng. Ngược lại với sự tăng trưởng âm thì đang phản ánh số lượng khách hàng đang giảm trong hai năm phân tích, đây là dấu hiệu cảnh báo cho nguy cơ sụt giảm Khách hàng cá nhân cho các ngân hàng và cần phải có biện pháp để thu hút và gia tăng số lượng trong tương lai.
- Tăng trưởng dư nợ bình quân trên một khách hàng
Hai chỉ tiêu này đo lường mức độ gia tăng của dư nợ bình quân trên mỗi Khách hàng cá nhân, cho biết mức dư nợ cho vay của mỗi Khách hàng cá nhân mặt bằng chung của chi nhánh như thế nào. Ngoài ra, mức tăng trưởng cho biết khả năng gia tăng dư nợ cho mỗi Khách hàng cá nhân vay để phục vụ mục đích cá nhân của mình.
- Cơ cấu dư nợ cho vay khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Thay đổi cơ cấu dư nợ cho vay của Khách hàng cá nhân tại ngân hàng sẽ làm cho hoạt động cấp tín dụng tại các chi nhánh thay đổi theo hướng xuất hiện các nguy cơ lẫn rủi ro và lợi nhuận. Các sự thay đổi trong dư nợ cho vay của Khách hàng cá nhân thường có xu hướng phải đáp ứng được nhu cầu vốn về thời hạn, loại tiền, đối tượng khách hàng,… của ngân hàng trong tương lai. Mặt khác, sự thay đổi về cơ cấu khách hàng thường được các ngân hàng ưu tiên theo hướng giảm thiểu rủi ro trong quy trình cho vay, ảnh hưởng đến nguồn vốn của khách hàng.
Cơ cấu vay của Khách hàng cá nhân thường được phân chia theo các tiêu chí như kỳ hạn, sản phẩm. Trong đó kỳ hạn thì có ngắn, trung và dài hạn. Đối với sản phẩm thì liên quan trực tiếp đến nhu cầu vay của khách hàng như phục vụ kinh doanh, tiêu dùng hay các mục đích khác. Tùy vào nhu cầu của mình mà Khách hàng cá nhân có thể lựa chọn sản phẩm vay hoặc kỳ hạn phù hợp với năng lực trả nợ của mình. Việc phân tích sự phát triển cho vay của Khách hàng cá nhân theo nhóm sản phẩm cho biết hiện nay tại ngân hàng thì khách hàng đang tập trung vào kỳ hạn nào, sản phẩm nào, có phù hợp với định hướng hay hoàn cảnh cho vay của ngân hàng. Từ đó, xác định mức độ rủi ro, sự phù hợp và những dự báo cho sự điều chỉnh hoặc đề xuất chiến lược kinh doanh cho ngân hàng.
Với cơ cấu theo thời hạn vay thì có ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong đó, thì các khoản vay đến tay Khách hàng cá nhân với tháng hạn ngắn thì được xem là ít rủi ro hơn so với thời hạn trung và dàn hạn. Vì với thời hạn ngắn thì ngân hàng sẽ nhanh chóng thu hồi được gốc và lãi vay, về phía khách hàng với các khoản vay ngắn hạn thì họ sẽ sắp xếp phương án vay vốn có tính xoay vòng nhanh và hạn chế được các rủi ro. Nhưng nếu tập trung vào các khoản vay ngắn hạn thì các khoản vay tiêu dùng khác sẽ bị hạn chế và không tận dụng được nguồn thu. Do đó, tỷ trọng cơ cấu cho vay đối với Khách hàng cá nhân theo kỳ hạn để phản ánh sự an toàn vốn của ngân hàng, hạn chế các rủi ro tín dụng với nợ xấu và nợ quá hạn.
- Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay khách hàng cá nhân
Phan Thị Thu Hà (2015) cho rằng nợ xấu cho vay Khách hàng cá nhân là khoản cấp tín dụng của ngân hàng cho Khách hàng cá nhân đã đến hạn thanh toán mà họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vô điều kiện, điều này làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi. Các khoản nợ này bị quá thời hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Mặt khác, các TSĐB đem thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh tại ngân hàng sẽ được tiến hành thanh lý để xử lý nợ nhưng khả năng không đủ để bù đắp cho khoản nợ này. Ngoài ra, nợ xấu được xác định thông qua quy định chung của quốc tế và hiệu chỉnh theo tình hình kinh tế đặc thù của mỗi quốc gia với hoạt động kinh doanh riêng của hệ thống Ngân hàng thương mại.
Theo TT11/2023/TTNHNN thì các khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 được xếp vào tính chất khó thu hồi hay dẫn đến không thu hồi được thì được xem là nợ xấu. Các khoản nợ này gia tăng thì các Ngân hàng thương mại buộc phải đối diện với sự suy giảm tài sản, lợi nhuận lẫn uy tín của mình do bị đe dọa bởi các khoản thanh toán tiền gửi tiết kiệm khi đến hạn. Theo Nguyễn Văn Tiến (2017) thì nợ xấu của các Ngân hàng thương mại bắt nguồn từ nợ quá hạn và diễn tiến đến từng nhóm khi khách hàng bị nhảy nhóm nợ. Nợ quá hạn tại các Ngân hàng thương mại được định nghĩa là một phần hay toàn bộ nợ gốc cho khách hàng vay đã quá ngày trả tại bất cứ lý do gì. Theo thông tư 11/2023/TT-NHNN quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thì nợ quá hạn được xem là khoản cấp tín dụng bao gồm gốc và lãi có một phần hay toàn toàn bộ giá trị đã quá thời hạn thanh toán.
Hay nói cách khác nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng vay có thể là cá nhân hoặc tổ chức vay của các Ngân hàng thương mại không thể chi trả đúng hạn với gốc, lãi theo đúng như thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng. Mặc dù việc quá hạn này không được phép hay không đủ điều kiện để gia hạn nợ từ ngân hàng. Nợ quá hạn được chia thành 5 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì ngân hàng có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi như trên hợp đồng tín dụng. Nhưng khoản nợ này có thể đã quá hạn thanh toán dưới 10 ngày nhưng vẫn được đánh giá có thể thu hồi gốc và lãi hay lãi phạt quá hạn đúng ngày. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Nhóm 2 (Nợ cần được chú ý): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 10 đến 90 ngày hoặc khoản nợ có sự điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần thứ nhất.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 91 đến 180 ngày hoặc, nợ gia hạn lần thứ nhất. Với khoản nợ này thì ngân hàng có thể miễn giảm lãi cho khách hàng do không đủ khả năng chi trả lãi theo thỏa thuận ban đầu trên hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi từ 181 đến 360 ngày. Nợ cơ cấu lần thứ nhất dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần thứ nhất và tiến hành cơ cấu lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất gốc): Với nhóm nợ này thì khách hàng đã quá hạn thanh toán gốc lãi trên 360 ngày, nhóm nợ này thì các khoản cơ cấu lần thứ nhất và lần thứ hai không thể thanh toán được gốc lãi cho ngân hàng.
Trong năm nhóm nợ liệt kê phía trên thì nợ xấu thuộc nhóm 3,4,5 có nghĩa là khách hàng không trả nợ với thời gian quá hạn bắt đầu từ 90 ngày trở lên. Những nhóm nợ này buộc các Ngân hàng thương mại phải tiến hành trích lập các khoản dự phòng để phòng ngừa cho các rủi ro và đảm bảo khả năng thanh toán các khoản tiền gửi huy động đến hạn của mình (Phan Thị Thu Hà, 2015). Vì vậy, nợ xấu được xem là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng khoản cấp tín dụng và dấu hiệu đáng báo động của rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu cho vay Khách hàng cá nhân càng cao phản ánh khả năng quản lý cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại trong khâu cho vay Khách hàng cá nhân, đôn đốc thu hồi nợ của Ngân hàng thương mại đối với các khoản vay càng thấp, thể hiện chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân càng thấp. Bên cạnh đó, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu cho vay Khách hàng cá nhân càng cao phản ánh khả năng quản lý cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại trong khâu cho vay Khách hàng cá nhân, đôn đốc thu hồi nợ của Ngân hàng thương mại đối với các khoản vay càng thấp, thể hiện chất lượng cho vay Khách hàng cá nhân càng thấp. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Tăng trưởng lãi từ hoạt động cho vay khách hàng cá nhân
Lãi từ hoạt động cho vay đối với Khách hàng cá nhân được các Ngân hàng thương mại thu từ mức lãi suất thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng. Khoản lãi được thu này được xem là doanh thu cho vay của ngân hàng, nếu khoản thu này càng lớn cũng phản ánh mức quy mô cho vay cao. Do đó, tốc độ tăng trưởng thu lãi phản ảnh mức độ thay đổi trong hai năm liên tiếp, giá trị này phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động và hiệu quả cho vay về mặt lợi nhuận.
Tốc độ tăng trưởng thu lãi từ hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân phản ánh được quy mô hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân tăng trưởng hay thu hẹp trong một thời kỳ nhất định thường là một năm tại Ngân hàng thương mại. Tỷ trọng thu lãi từ hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân/ tổng thu lãi của Ngân hàng thương mại: Chỉ tiêu này cho biết cứ trong 100 đồng tổng thu lãi thì có bao nhiêu lãi thu từ hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân mang lại. Thu lãi do hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân mang lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn cả lãi, đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân.
1.4.2. Chỉ tiêu đánh giá phát triển cho vay khách hàng cá nhân với khía cạnh của khách hàng
Việc đánh giá sự phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân không chỉ dựa vào các chỉ số định lượng mà cần xem xét trên góc nhìn định tính, phản ánh trải nghiệm, sự hài lòng và mức độ tin cậy mà khách hàng cảm nhận được khi sử dụng dịch vụ. Theo các chuyên gia, hành vi lựa chọn ngân hàng của khách hàng cá nhân không hình thành tức thời mà là kết quả của một quá trình tích lũy nhận thức, trải nghiệm dịch vụ và niềm tin vào tổ chức tín dụng. Từ đó, hành vi vay vốn được định hình, củng cố và tái diễn trong tương lai.
Đánh giá sự phát triển cho vay khách hàng cá nhân (KHCN) từ góc độ khách hàng là cách tiếp cận theo chiều sâu, phản ánh mức độ hài lòng và ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ tín dụng tại ngân hàng. Khách hàng có xu hướng lựa chọn ngân hàng dựa trên trải nghiệm, sự tin tưởng, và cảm nhận về chất lượng dịch vụ, từ đó hình thành ý định hành vi vay vốn. Việc hiểu rõ tiến trình này giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả tiếp cận và giữ chân khách hàng. Đây là cơ sở để thu hút khách hàng cá nhân vay vốn hay sử dụng dịch vụ tín dụng của ngân hàng.
- Hành vi sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng tại ngân hàng thương mại
Lewis (2008) cho rằng hành vi của khách hàng là một quá trình cụ thể mà họ lựa chọn, cân nhắc và đi đến việc mua hay sử dụng sản phẩm dịch vụ. Quá trình này được diễn ra theo trình tự từ suy nghĩ, tích lũy kinh nhiệm và trải nghiệm rồi dẫn đến hành vi thật sự để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn.
Walsh và Mitchell (2012) cho rằng hành vi của khách hàng sẽ tập trung vào vấn đề chủng loại sản phẩm dịch vụ, tại đâu, trong thời gian nào và sử dụng bao nhiêu lần? Do đó, để có được hành vi thật sự thì cần trả qua các bước đánh giá và cảm nhận.
- Bảng 1.1: Tiến trình hành vi của khách hàng Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Dựa trên mô hình hình thành ý định hành vi của khách hàng Kotler (2001) cho thấy tiến trình trước đó rất rõ ràng, trong việc khách hàng có những nhận thức và trải nghiệm ban đầu về sản phẩm dịch vụ. Những nhận thức này được khách hàng tự động thu thập hoặc có sự giới thiệu hay tự mình trải nghiệm dưới dạng thông tin và được nghe tư vấn. Ngoài ra, trong ý định của mình khách hàng rất tập trung đến đơn vị kinh doanh và phân phối dịch vụ vì nó thể hiện niềm tin và chủ quan của họ, thông thường họ sẽ lựa chọn thương hiệu mà mình thích nhất.
Tóm lại, tại nghiên cứu này khi so sánh với bối cảnh ngân hàng thì tiến trình để khách hàng hình thành ý định vay vốn thì cũng cần phải trải qua một quá trình xác định. Với loại dịch vụ đặc thù này thì khách hàng cần phải nhận thức được chức năng của nó khi sử dụng, thông qua tìm kiếm các thông tin giới thiệu liên quan đến dịch vụ tín dụng hoặc nghe tư vấn từ các nhân viên ngân hàng. Sau đó, sẽ tổng hợp lại các đánh giá chuẩn chủ quan của mình hình thành nên ý thức sử dụng và ý định hành vi. Trong đó, đối với dịch vụ này khách hàng thường ưu tiên những đơn vị uy tín để đảm bảo được sự an toàn cho thông tin bản thân và những quyền lợi được bảo vệ.
- Hành vi lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ tại ngân hàng thương mại
Đối với bối cảnh Ngân hàng thương mại thì Trịnh Quốc Trung (2010) cho rằng khi khách hàng có hành vi lựa chọn sử dụng dịch vụ thì sẽ trải qua ba giai đoạn đó là trước khi sử dụng, thực hiện sử dụng và sau khi sử dụng.
- Bảng 1.2: Hành vi lựa chọn sử dụng dịch vụ tại ngân hàng thương mại
Dựa trên quy trình hình thành hành vi sử dụng dịch vụ của khách hàng tại hình 1.2 thì ta thấy Trịnh Quốc Trung (2010) cũng xây dựng tương đồng với tiến trình hành vi khách hàng của Kotler (2001). Trong đó, các sản phẩm dịch vụ được cung cấp tại ngân hàng cũng xem như một mặt hàng mà khách hàng có nhu cầu muốn mua. Do đó, giai đoạn trước khi có được hành vi sử dụng cũng xem như trước khi mua, khách hàng cũng sẽ tập trung vào các nhu cầu của mình, xem xét các thông tin về nơi cung cấp dịch vụ và đánh giá các thông tin dựa trên các phản hồi từ nhiều phía. Hay đây là quá trình quan trọng nhất mà các đơn vị kinh doanh có thể tạo dựng được ý định hành vi của khách hàng hay không? Mặt khác, Trịnh Quốc Trung (2010) cũng đã lập luận rằng việc các ngân hàng giúp cho khách hàng nhận thức được nhu cầu thật sự của mình thông qua các thông tin rất quan trọng. Nó được thực hiện chủ yếu thông qua các thông tin được niêm yết hay phản hồi từ các phía khác, sự tư vấn từ nhân viên hay các hoạt động chăm sóc ban đầu. Chính từ các hoạt động đó giúp cho khách hàng định hình rõ hơn về nhu cầu thật sự của mình và ý định mà mình muốn thực hiện với loại dịch vụ nào tại ngân hàng.
Tóm lại, thông qua các mô hình lý thuyết liên quan đến ý định hành vi của khách hàng thì đề án rút ra đối với bối cảnh các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thì ý định vay vốn của khách hàng doanh nghiệp là kết quả của giai đoạn trước khi mua hay giai đoạn tìm hiểu và đánh giá thông tin về dịch vụ mà ngân hàng cung cấp (Trinh Quốc Trung, 2010). Ngoài ra, trong giai đoạn này thì ý định hành vi của khách hàng không chỉ dừng lại với một ngân hàng mà sẽ rất nhiều đơn vị, vì đây là quá trình tìm hiểu và đánh giá thông tin với các trải nghiệm ban đầu. Do đó, để chuyển biến thành hành vi thật sự thì trước hết các ngân hàng cần phải tạo được nền tảng dịch vụ và các nhân tố liên quan thật tốt để hình thành ý định. Sau đó thông qua các nhân tố kích thích và động viên mới chuyển biến thành quyết định với hành vi thật sự. Vì vậy, đề án sẽ chọn đối tượng khách hàng đang vay vốn tại ngân hàng, do đối tượng này đã có hành vi vay vốn thật sự tại ngân hàng nên việc khảo sát về ý định trước đây với việc vay sẽ thuận tiện hơn. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Các nghiên cứu liên quan về hành vi lựa chọn ngân hàng thương mại của khách hàng để vay vốn:
- Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Hy Lạp, khi nghiên cứu ý định vay vốn của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại thì Frangos và cộng sự (2014) đã khảo sát 277 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ, chính sách cho vay, thương hiệu ngân hàng, chi phí vay, sự thuận tiện, cơ sở vật chất, hoạt động quảng bá ảnh hưởng gia tăng ý định lựa chọn của khách hàng.
Tại Nigeria, khi nghiên cứu về ý định lựa chọn ngân hàng để vay vốn thì Aliero và cộng sự (2020) đã khảo sát 356 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng lãi suất vay, tốc độ giao dịch, cách thức dễ dàng ảnh hưởng gia tăng ý định lựa chọn của khách hàng.
Tại Ấn Độ, khi nghiên cứu về ý định lựa chọn ngân hàng để giao dịch thì Arora và Kaur (2021) đã khảo sát 683 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ, sự trải nghiệm, sự tiện lợi, sự tư vấn, thương hiệu ngân hàng, hiệu quả quy trình, chi phí và công nghệ ảnh hưởng đến ý định lựa chọn ngân hàng để giao dịch sắp tới trong tương lai.
- Các nghiên cứu trong nước
Phan Quan Việt và cộng sự (2022) khi nghiên cứu về lựa chọn vay vốn tại BIDV Bình Thuận thì nhóm tác giả đã khảo sát 200 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng lợi ích tài chính, sự thuận tiện, đội ngũ nhân viên, sự giới thiệu, thương hiệu ngân hàng, cơ sở vật chất và sự chăm sóc của ngân hàng ảnh hưởng gia tăng ý định lựa chọn ngân hàng để vay vốn của khách hàng.
Bùi Văn Thụy và cộng sự (2023) khi nghiên cứu về lựa chọn tại VCB Đồng Nai thì nhóm tác giả đã khảo sát 341 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ, thương hiệu ngân hàng, lãi suất cho vay, sự thuận tiện, ảnh hưởng xã hội, nhân viên ngân hàng, chính sách tín dụng ảnh hưởng tích cực đến sự lựa chọn của khách hàng. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Lê Hoàng Trường Hải và Trịnh Xuân Hoàng (2024) khi nghiên cứu về quyết định lựa chọn ngân hàng vay vốn tại Vietinbank Tây Sài Gòn thì nhóm tác giả đã khảo sát 235 khách hàng. Đồng thời, dữ liệu được hồi quy với mô hình đa biến theo phương pháp OLS. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng thương hiệu, lãi suất vay, sự hữu hình, hệ thống Internet Banking ảnh hưởng gia tăng lựa chọn ngân hàng để vay vốn của khách hàng.
Dựa trên các nghiên cứu lược khảo được thì đề án nhận thấy các nghiên cứu đều tập trung phân tích các nhân tố thuộc ngân hàng để gia tăng sự thu hút khách hàng. Hay gia tăng sự đánh giá thông tin và cảm nhận ban đầu của khách hàng nhằm có được ý định hành vi hay sự lựa chọn của khách hàng (Trịnh Quốc Trung, 2010).
Do đó, đề án này cũng sẽ kế thừa các nhân tố sau để đánh giá sự ảnh hưởng của chúng đến ý định lựa chọn Eximbank Chợ Lớn để vay vốn của các Khách hàng cá nhân. Hay đây là cơ sở để chi nhánh xác định được cơ sở để gia tăng được số lượng khách hàng này thông qua cải thiện dịch vụ này với các nhân tố ảnh hưởng. Gồm các nhân tố sau:
Sự tin cậy: Nhóm nhân tố này phản ánh niềm tin của khách hàng về các thông tin mà ngân hàng niêm yết, quy trình, chính sách cho vay, uy tín của tổ chức luôn được thực hiện đúng từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc sử dụng dịch vụ. Mặt khác, các sản phẩm dịch vụ mà khách hàng sử dụng dựa trên sự phù hợp và có lợi cho đôi bên.
Sự đáp ứng: Nhóm nhân tố này phản ánh ngân hàng luôn có những sản phẩm nền tảng cốt lõi để phục vụ, ngoài ra cần có sự sự đa dạng của sản phẩm để có các phương án thay thế cho khách hàng lựa chọn.
Năng lực phục vụ: Nhân tố này phản ánh sự đảm bảo của ngân hàng về đội ngũ nhân lực của ngân hàng có chuyên môn, kỹ năng,… khi tư vấn và thiết lập quy trình giao dịch cũng như sự chăm sóc sau đó. Ngoài ra, nhân tố này đề cập khả năng hoàn thành giao dịch với thời gian ngắn nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác. Đồng thời, các thời điểm có rủi ro giao dịch vẫn được xử lý hay đưa ra các phương án phòng ngừa kịp thời
Sự đồng cảm: Nhóm nhân tố này phản ánh khách hàng luôn được nhận các tư vấn hay thông tin dựa trên hoàn cảnh và điều kiện bản thân của mình, với sự thấu cảm và cảm thông cho những khó khăn của mình.
Phương tiện hữu hình: Nhóm nhân tố này phản ánh sự đánh giá của khách hàng về khả năng của ngân hàng về mọi mặt đầu tư, cơ sở vật chất, công nghệ, không gian hay địa điểm tọa lạc,… Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
1.5. Kinh nghiệm phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại một số ngân hàng thương mại trong nước và bài học đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn
1.5.1. Kinh nghiệm phát triển cho vay từ các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Kinh nghiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Dương
Với chiến lược phát triển và mở rộng hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân (KHCN) trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Bình Dương (Vietcombank Bình Dương) đã đạt được những kết quả tích cực. Tính đến năm 2021, chi nhánh có hơn 350.000 Khách hàng cá nhân phát sinh giao dịch tại đơn vị. Trong hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân, dư nợ cho vay có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ, từ 3.598 tỷ đồng năm 2017 (chiếm 58,9% tổng dư nợ của chi nhánh) lên 7.917 tỷ đồng vào năm 2021 (chiếm 65,4%).
- Để đạt được kết quả trên, chi nhánh đã triển khai các giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, chi nhánh thận trọng trong việc áp dụng quy trình cho vay đối với Khách hàng cá nhân theo các quy định chung của Vietcombank, trên cơ sở tìm hiểu đầy đủ thông tin về khách hàng cũng như điều kiện vay vốn của ngân hàng. Từ đó, chi nhánh tiếp cận và lựa chọn những khách hàng tốt thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng. Công tác thẩm định và đề xuất cấp tín dụng được thực hiện theo đúng quy định, đảm bảo các mục tiêu an toàn, hiệu quả và tuân thủ pháp luật.
Thứ hai, mạng lưới hoạt động kinh doanh được mở rộng thông qua việc củng cố các phòng giao dịch hiện hữu, đồng thời thành lập thêm các bàn huy động vốn lưu động tại các cụm dân cư, cũng như thành lập mới các phòng giao dịch. Mục tiêu đặt ra là đảm bảo bình quân mỗi 4 – 6 phường có một điểm giao dịch, góp phần tăng khả năng tiếp cận của khách hàng với dịch vụ ngân hàng. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
Thứ ba, công tác kiểm tra, kiểm soát được thực hiện thường xuyên nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các biểu hiện suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ trong hoạt động cho vay, từ đó hạn chế thất thoát vốn và nâng cao hiệu quả tín dụng cho chi nhánh.
Thứ tư, chi nhánh chú trọng đến công tác đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ Khách hàng cá nhân thông qua các khóa tập huấn tập trung tại Hội sở Vietcombank, cũng như các khóa đào tạo chuyên sâu do chi nhánh tổ chức nhằm nâng cao nghiệp vụ cho vay đối với Khách hàng cá nhân.
Thứ năm, nhằm đảm bảo chất lượng và an toàn tín dụng, chi nhánh thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo đúng quy định. Tỷ lệ trích lập dự phòng tại chi nhánh tương đối cao và có xu hướng tăng qua các năm, trong đó riêng năm 2021 đạt mức 4,02%.
- Kinh nghiệm tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội chi nhánh Bình Dương
Trong giai đoạn 2017 – 2021, ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Bình Dương (MB Bình Dương) luôn hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh. Tính đến 31/12/2021, dư nợ cho vay khách hàng đạt gần 2.400 tỷ đồng, tăng 15,5% so với năm 2020. MB Bình Dương tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân theo định hướng phát triển hoạt động ngân hàng bán lẻ, dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân tăng 23%, gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của ngân hàng.
Tỷ trọng dư nợ cho vay Khách hàng cá nhân tăng từ 36% năm 2020 lên 38,4% năm 2021. Ngân hàng MB Bình Dương luôn là ngân hàng đi đầu trong kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, với tỷ lệ nợ xấu năm 2021 giảm từ 1,22% năm 2020 xuống 0,98% năm 2021. Để đạt được kết quả đó, Ngân hàng MB Chi nhánh Hoàn Kiếm đã thực hiện một số giải pháp:
- Thứ nhất, thực hiện tốt các chính sách chăm sóc khách hàng
Không chỉ được hưởng lãi suất ưu đãi hấp dẫn, khách hàng vay vốn tại MB Binfh Dương còn được hưởng nhiều ưu đãi từ các sản phẩm dịch vụ khác như tặng voucher 500,000 đồng mở tài khoản số đẹp, miễn phí phát hành thẻ, miễn phí mở và chuyển tiền trên App MBBank, tặng 1 triệu đồng/con khi khách hàng đăng ký gói Combo family hoặc quà tặng lên đến 3 chỉ vàng khi tham gia bảo hiểm… Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Thứ hai, thường xuyên nâng cấp cơ sở vật chất, phục vụ công tác phát triển cho vay Khách hàng cá nhân
Các phòng nghiệp vụ tại Chi nhánh định kì được kiểm tra và nâng cấp đường truyền, trang bị đầy đủ máy tính, máy in, máy fax và các loại máy móc, thiết bị khác,.. Bên cạnh đó, Chi nhánh xây dựng tiêu chuẩn khu vực giao dịch Khách hàng cá nhân phải rộng rãi, thoáng mát, tiện nghi đầy đủ để tạo sự thoải mái cho khách hàng trong thời gian chờ đợi giao dịch hay bàn việc với các nhân viên.
- Thứ ba, thực hiện đào tạo nâng cao trình độ nhân lực
Chi nhánh luôn quan tâm đặc biệt tới việc phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho công tác phát triển cho vay Khách hàng cá nhân nói riêng, bởi đây là nhân tố có vai trò quyết định. Công việc của cán bộ cho vay Khách hàng cá nhân đòi hỏi không chỉ kiến thức chuyên sâu về hoạt động trong lĩnh vực tín dụng mà còn phải hiểu rõ vấn đề khác có liên quan đến tình hình tài chính của khách hàng. Do đó, Chi nhánh thường xuyên thực hiện đào tạo qua nhiều hình thức như đào tạo thông qua việc huấn luyện, tập huấn nghiệp vụ hàng tuần tại chi nhánh, đào tạo online, cử đi học các lớp đào tạo của Ngân hàng MB, gửi cán bộ đi tham gia các lớp đào tạo chuyên sâu trong các lĩnh vực kế toán, tín dụng, công nghệ thông tin,…. nhằm đảm được việc nâng cao trình độ, kỹ năng cho cán bộ, vừa đảm bảo được kế hoạch kinh doanh của chi nhánh. Chỉ có liên tục nâng cao trình độ cán bộ thì ngân hàng mới theo kịp sự đổi mới, tiến bộ của xã hội, ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh.
1.5.2. Bài học đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn về nâng cao hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
- Từ những kinh nghiệm phát triển cho vay tại một số Ngân hàng thương mại có thể rút ra bài học đối với Eximbank Chợ Lớn bao gồm:
Thứ nhất, nắm vững những thông tin về Khách hàng cá nhân vay vốn nhất là thông tin lịch sử về khách hàng, thực tiễn thị trường luôn biến động vì vậy cần phải thu thập từ nhiều kênh khác nhau để thường xuyên cập nhật thông tin đầy đủ và chính xác về khách hàng. Bên cạnh đó, nắm vững và theo dõi sát sao tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng. Nhiệm vụ đối với cán bộ tín dụng là phải thường xuyên theo dõi tình hình sử dụng vốn vay của Khách hàng cá nhân đã vay của ngân hàng để thực hiện theo mục đích vay vốn, tránh tình trạng không quản lý được tình hình sử dụng vốn vay.
Thứ hai, đánh giá khả năng trả nợ của Khách hàng cá nhân. Khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào các khoản thu trong tương lai khi hợp đồng tín dụng đến hạn thanh toán, có thể nói các khoản thu này là kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Khách hàng cá nhân vay vốn trong từng chu kỳ nhiệm vụ của cán bộ tín dụng là phải nắm bắt phân tích được nguồn thu này.
Thứ ba, cho vay dựa vào tài sản thế chấp, cầm cố, các bảo đảm tiền vay khác đây là một trong những điều kiện nhằm giúp cho chi nhánh có khả năng thu hồi nợ khi khách hàng không còn khả năng trả nợ. Tuy nhiên, khi đánh giá TSĐB tiền vay cần có sự vận dụng thực tiễn để đảm bảo an toàn , nhưng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người vay trên cơ sở hiệu quả kinh doanh, uy tín, xu hướng phát triển thị trường của sản phẩm.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nhân lực đảm bảo công tác phát triển cho vay Khách hàng cá nhân tại chi nhánh. Chi nhánh cần quan tâm đúng mức việc đào tạo từ cơ bản đến chuyên sâu về từng nghiệp vụ cụ thể, từng đối tượng khách hàng có đặc điểm đặc thù về sản xuất kinh doanh. Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề trao đổi các bài học kinh nghiệm liên quan đến cho vay. Cập nhật kiến thức nghiệp vụ và tập huấn quy định pháp luật mới.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nội dung Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại, phát triển cho vay Khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại. Từ những kinh nghiệm về hoạt động cho vay đối với Khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi Bình Dương và ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi Nhánh Bình Dương, tác giả đã rút ra bài học đối với Eximbank Chợ Lớn. Luận văn: Hoạt động cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng cho vay khách hàng tại Ngân hàng Eximbank

Pingback: Luận văn: Giải pháp cho vay khách hàng cá nhân tại Eximbank