Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Để thu được kết quả từ phân tích định lượng. Ở Chương 4, tác giả thực hiện các bước hồi quy cần thiết để tìm ra các kết quả cụ thể cho mô hình và trình bày các phát hiện của nghiên cứu.
4.1 TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ FINTECH
4.1.1 Tài chính toàn diện
Bảng 4.1 cho thấy Việt Nam ghi nhận mức tăng sở hữu tài khoản cao hơn 48% trong giai đoạn 2017–2024. Tuy nhiên, mức này vẫn thấp hơn trung bình thế giới. Loại trừ các nước thu nhập cao do mức đạt được quá cao và khó so sánh, tỷ lệ sở hữu tài khoản ở Việt Nam vẫn thấp hơn khu vực Đông Á và Thái Bình Dương cũng như nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp.
- Bảng 4.1 Người lớn sở hữu tài khoản
4.1.2 Fintech
Bảng 4.2 cho thấy hiệu quả của công nghệ tài chính trong việc mở rộng tiếp cận và sử dụng tài khoản tiền di động thể hiện rõ nhất tại Việt Nam, 38,7% người trưởng thành hiện sở hữu tài khoản tiền di động, hơn gấp hai lần tỷ lệ ghi nhận năm 2021 và là mức cao nhất trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Cùng với sự tăng trưởng mạnh về mức sử dụng tiền di động, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản tiền di động của Việt Nam vẫn chênh lệch đáng kể so với mức của thế giới và nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2024, con số 38,7% của Việt Nam đã vượt mức trung bình toàn cầu, dù còn tụt hậu vào năm 2014.
- Bảng 4.2 Người lớn sở hữu tài khoản tiền di động
Bảng 4.3 cho thấy tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, 18,2% người trưởng thành báo cáo đã thanh toán hóa đơn tiện ích bằng điện thoại di động. Việt Nam tụt sau vào các năm 2014 và 2017 nhưng đến năm 2021 và 2024 đã vượt mức trung bình của nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp. Ngoài ra, Việt Nam thấp hơn mức trung bình khu vực vào các năm 2014 và 2017, song đã vượt lên vào năm 2021 và năm 2024, cho thấy tốc độ tiến bộ nhanh hơn.
- Bảng 4.3 Người lớn thanh toán hóa đơn tiện ích bằng điện thoại di động
4.2 TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ CÁC YẾU TỐ KHÁC TẠI VIỆT NAM Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
4.2.1 Tài chính toàn diện và giới tính
Chênh lệch giới được đo bằng tỷ lệ sở hữu tài khoản của nam trừ đi tỷ lệ của nữ. Trên phạm vi toàn cầu, 80,9% nam giới và 76,6% nữ giới có tài khoản, phản ánh khoảng cách giới tính là 4,3%. Việt Nam ghi nhận khoảng cách tương tự ở mức 1,3%, với 71,2% nam giới và 69,9% nữ giới có tài khoản. Mặc dù sở hữu tài khoản tăng ở cả nam và nữ trong giai đoạn 2014–2024, khoảng cách giới vẫn duy trì, dù đã thu hẹp xuống 4,3% ở quy mô toàn cầu vào năm 2024. (Bảng 4.4).
- Bảng 4.4 Mức độ chênh lệch giới tính trong sở hữu tài khoản
4.2.2 Tài chính toàn diện và giới thu nhập
Trên phạm vi toàn cầu, người trưởng thành giàu hơn có khả năng sở hữu tài khoản cao hơn người nghèo. Ở Việt Nam, mức chênh lệch trung bình giữa hai nhóm ở mức cao so với nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp và so với thế giới, nhưng lại khả quan hơn khi so với các nước khác trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương. Các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực phát triển, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, qua đó cải thiện tài chính toàn diện. Tại Việt Nam, chênh lệch sở hữu tài khoản giữa người giàu và người nghèo đạt mức hai chữ số, khoảng 37% cao hơn ở nhóm giàu so với nhóm nghèo vào năm 2021 (Bảng 4.5).
- Bảng 4.5 Người trưởng thành nghèo có xác suất sở hữu tài khoản thấp hơn người giàu
4.2.3 Tài chính toàn diện và giáo dục Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Người trưởng thành có học vấn cao có xu hướng sở hữu tài khoản nhiều hơn người ít học. So với các quốc gia trong cùng khu vực và mức thu nhập, tác động của trình độ học vấn lên sở hữu tài khoản tại Việt Nam tương tự xu hướng toàn cầu. Tuy nhiên, trên thế giới và ở nhóm nước thu nhập cao, khoảng cách theo học vấn đang dần thu hẹp để nhóm ít học có thể tiếp cận tài chính toàn diện. Trái lại, tại Việt Nam xu hướng này biến động liên tục. Thiếu giáo dục và hiểu biết tài chính khiến Việt Nam khác biệt so với các nước khác (Bảng 4.6).
Mẫu hình ở Việt Nam về bình quân cũng tương tự, với khoảng cách sở hữu tài khoản giữa nhóm tiểu học hoặc thấp hơn và nhóm trung học trở lên đạt xấp xỉ 40%, dù tỷ lệ sở hữu tài khoản nói chung vẫn thấp hơn mức toàn cầu.
- Bảng 4.6 Người trưởng thành ít học có khả năng sở hữu tài khoản thấp hơn người có trình độ học vấn cao
4.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.3.1 Thống kê mô tả
Bảng 4.7 báo cáo thống kê tóm tắt cho tất cả các biến được sử dụng trong ước lượng cùng với kỳ vọng dấu của hệ số. Mẫu bao gồm người trưởng thành Việt Nam từ 15 đến 81 tuổi. Tuổi trung bình của người trả lời là 38. Nữ giới chiếm 57,1% mẫu và 69,9% người trưởng thành Việt Nam có tài khoản tại tổ chức tài chính chính thức.
Bảng trình bày thống kê mô tả cho chỉ báo tài chính toàn diện mà tác giả dùng trong các ước lượng. Tác giả cung cấp giá trị trung bình của mẫu và so sánh với trung bình toàn cầu tính theo Global Findex. Nhờ vậy có chuẩn tham chiếu để so sánh Việt Nam với thế giới, các nền kinh tế thu nhập cao và thu nhập trung bình thấp.
Sở hữu tài khoản, chỉ báo chính của tài chính toàn diện, ở Việt Nam thấp hơn mức trung bình toàn cầu. Ở Việt Nam, 69,9% người trưởng thành cho biết có tài khoản chính thức, so với 78,7% trên toàn cầu. Ở các nền kinh tế thu nhập cao, sở hữu tài khoản gần như phổ cập ở mức 95%. Ở các nền kinh tế đang phát triển được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm thu nhập trung bình thấp, tỷ lệ là 70%. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
- Bảng 4.7 Tóm tắt thống kê mô tả
4.3.2 Kết quả kiểm định
Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định Wald để kiểm tra các hệ số của các biến có đồng thời bằng không hay không bằng phần mềm Stata 16. Giả thuyết không bị bác bỏ khi p-value < 0,05, nghĩa là việc đưa các biến này vào tạo ra cải thiện có ý nghĩa thống kê về độ phù hợp của mô hình. Phương pháp kiểm định nhân tử Lagrange được thực hiện để kiểm tra mức thay đổi kỳ vọng về độ phù hợp của mô hình nếu một hoặc nhiều tham số hiện đang bị ràng buộc được cho phép ước lượng tự do. Kết quả cho thấy không có sự thay đổi ở thống kê chi bình phương của mô hình khi thêm một biến hoặc một tập biến vào mô hình.
4.3.3 Kết quả nghiên cứu
Sau khi chạy hồi quy probit, kết quả mô hình được trình bày trong Bảng 4.8
- Bảng 4.8 Các yếu tố tài chính toàn diện ở Việt Nam
Bảng 4.8 mô tả các ước lượng probit về mối quan hệ giữa Fintech, các yếu tố quyết định khác và tài chính toàn diện tại Việt Nam, qua đó cung cấp bằng chứng về cách các yếu tố này có thể ảnh hưởng tới xác suất sở hữu tài khoản chính thức được dùng như chỉ báo của tài chính toàn diện.
Kết quả hồi quy của mô hình probit cho kết luận chặt chẽ hơn so với thảo luận ban đầu dựa trên thống kê mô tả; kiểm định Wald chi2 = 713 (Prob = 0.0000) cho thấy mức độ phù hợp của mô hình là rất tốt. Các hệ số ước lượng của biến độc lập mang dấu dương hàm ý khi biến đó tăng một đơn vị hay cá nhân có thuộc tính đó thì xác suất sở hữu tài khoản tăng, khi các biến khác giữ nguyên; ngược lại, hệ số âm là các yếu tố làm giảm xác suất sở hữu tài khoản nếu biến đó tăng hay thuộc tính đó xuất hiện trong điều kiện các biến còn lại cố định. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Bộ biến độc lập gồm hai nhóm. Nhóm thứ nhất là Fintech bao gồm dùng sở hữu tài khoản tiền di động, dùng điện thoại để thanh toán hóa đơn tiện ích, dùng điện thoại để nhận các khoản chi trả và sở hữu điện thoại di động. Nhóm thứ hai là đặc điểm cá nhân gồm tuổi, giới, trình độ học vấn, mức thu nhập. Kết quả cho thấy tất cả các chỉ báo Fintech đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% ngoại trừ sở hữu điện thoại di động không có ý nghĩa. Cụ thể, các biến account_mob, utilitybill_payment, payment_received có hệ số dương, nghĩa là việc dùng tài khản tiền di động và điện thoại để sử dụng dịch vụ xác định, thanh toán hóa đơn tiện ích và nhận chi trả làm tăng khả năng có tài khoản tại tổ chức tài chính.
Biến độc lập chủ chốt có tác động mạnh nhất đến tài chính toàn diện là sở hữu tài khoản tiền di động. Tác động của biến này là dương và có ý nghĩa rất cao. Hệ số của nó là logarit tự nhiên của hệ số ước lượng giữa nhóm sở hữu tài khoản và nhóm không sở hữu. Khi biến account_mob tăng thêm một đơn vị, logarit tự nhiên của hệ số ước lượng thay đổi 1,259 đơn vị. Điều đó có nghĩa là hệ số ước lượng có tài khoản của một người trưởng thành sử dụng điện thoại cho các dịch vụ cụ thể cao hơn 3,522 lần so với người không sử dụng. Phù hợp với kỳ vọng về biến dẫn dắt, kết quả cho thấy những người sở hữu tài khoản tiền di động có khả năng sở hữu tài khoản cao hơn đáng kể so với những người không dùng, qua đó củng cố vai trò của điện thoại di động trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua các dịch vụ này. Tương tự nghiên cứu của Son và các cộng sự (2019), các tác giả chỉ ra tiền di động có thể làm tăng xác suất sở hữu tài khoản ngân hàng với hệ số dương ở mức ý nghĩa 1%.
Tác động của việc dùng điện thoại di động để thanh toán hóa đơn tiện ích lên tài chính toàn diện là dương và có ý nghĩa rất cao. Kết quả cho thấy hành vi thanh toán hóa đơn làm tăng hệ số ước lượng của biến kết cục khoảng 7,655 lần. Điều này gợi ý rằng tham gia các hoạt động thanh toán chính thức có mối liên hệ chặt chẽ với biến phụ thuộc. Hệ số ước lượng dương và có ý nghĩa ở mức 1%, nghĩa là mức độ sử dụng điện thoại để thanh toán hóa đơn càng cao thì xác suất có tài khoản càng lớn. Tương đồng với các phát hiện trước đây (Demir và các cộng sự, 2020), Fintech có tác động tích cực và có ý nghĩa đến khả năng sở hữu tài khoản.
Tác động của việc dùng điện thoại di động để nhận chi trả lên tài chính toàn diện là dương và có ý nghĩa thống kê. Xác suất có tài khoản của người dùng điện thoại để nhận chi trả cao gấp 5,862 lần so với người không sử dụng, tức việc nhận chi trả gắn với mức tăng 100% ở hệ số ước lượng của biến kết cục. Kết quả này phù hợp với phát hiện của Koh và các cộng sự (2018) tại Philippines.
Trái với các nghiên cứu hiện hành, kết quả này cho thấy sự bình đẳng giới trong tiếp cận tài chính giữa nam và nữ tại Việt Nam, qua đó thách thức truyền thống về tình trạng loại trừ tài chính dựa trên bất bình đẳng về giáo dục và thu nhập.
Kết quả thống kê cho thấy nữ có hệ số ước lượng đạt được biến kết cục cao hơn nam 21%, gợi ý một hiệu ứng liên quan đến giới. Điều này nhất quán với Demirgüç-Kunt và Klapper (2012), theo đó khoảng cách giới được ghi nhận phổ biến trong mức độ thâm nhập tài khoản ở các nước đang phát triển. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Kết quả quan sát cũng cho thấy những người đã hoàn tất trung học và bậc đại học trở lên có xác suất sở hữu tài khoản cao hơn. Khi các yếu tố khác giữ nguyên, trình độ học vấn càng cao thì khả năng có tài khoản càng lớn; bậc đại học có hệ số xấp xỉ gấp đôi bậc trung học, và cả hai đều dương với ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tất cả các nhóm thu nhập cao hơn đều có hệ số dương có ý nghĩa so với nhóm tham chiếu thu nhập thấp nhất; chẳng hạn, nhóm thứ năm có hệ số 0,945 (p < 0,01), tương ứng hệ số ước lượng gần gấp đôi (1,99 lần) so với nhóm thấp nhất, nhấn mạnh vai trò của thu nhập trong dự báo kết cục. Kết quả phù hợp với Zins và Weill (2016) và có thể được giải thích bởi việc nhóm ít học, hiểu biết tài chính còn hạn chế, chưa nhận thức đầy đủ lợi ích của dịch vụ tài chính chính thức, nên gặp rào cản lớn trong việc có tài khoản tại các tổ chức tài chính. Xét theo khía cạnh học vấn, thu nhập là yếu tố chi phối xác suất không có tài khoản tại tổ chức tài chính, trong khi không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về khả năng sở hữu tài khoản giữa các nhóm; ngoại trừ nhóm thứ năm (giàu nhất) được ước lượng có hệ số dương và có ý nghĩa. Xác suất sở hữu tài khoản của nhóm giàu nhất cao hơn 3,170 lần so với nhóm kém giàu. Học vấn trung học có tỷ số hệ số ước lượng là 3,170, còn bậc đại học khoảng 1,663, cả hai đều có ý nghĩa ở mức 1%. Giáo dục bậc cao làm tăng đáng kể xác suất đạt được kết cục, trong đó bậc đại học tác động mạnh nhất. Phát hiện này phù hợp với Zins và Weill (2016) rằng người giàu hơn có nhiều khả năng có tài khoản tại tổ chức tài chính.
Ở chiều ngược lại, kết quả cho thấy cả tuổi và bình phương tuổi đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Tuy nhiên, giữa hai biến có khác biệt: thứ nhất, tuổi tương quan dương đáng kể với tài chính toàn diện, còn bình phương tuổi tác động âm đến khả năng có tài khoản tại các tổ chức tài chính; thứ hai, xét về ý nghĩa thống kê, bình phương tuổi cho tín hiệu mạnh hơn tuổi. Phù hợp với dòng nghiên cứu ở châu Phi, mối quan hệ giữa tuổi và sở hữu tài khoản có dạng chữ U ngược, nghĩa là càng lớn tuổi cá nhân càng có xu hướng có tài khoản để đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính; trước khi đạt một ngưỡng nhất định khoảng 25–45 tuổi, xác suất có tài khoản tăng theo tuổi, sau đó các hạn chế thể chất cản trở việc tiếp cận tổ chức tài chính làm mức độ toàn diện suy giảm. Kết quả này tương đồng với phát hiện tại Trung Quốc, nghiên cứu trước của Fungáčová và Weill (2014) lý giải theo “hiệu ứng thế hệ”.
- Tóm tắt chương 4
Dựa trên phân tích hồi quy probit từ Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 tại Việt Nam, tác giả kết luận về tác động của Fintech đến tài chính toàn diện và các yếu tố quyết định liên quan. Tất cả các chỉ báo Fintech đều có ý nghĩa thống kê, phù hợp với kỳ vọng của tác giả và nhất quán với lý thuyết cùng các nghiên cứu trước.
Kết quả mô hình là cơ sở để Chương 5 đề xuất một số khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Chính phủ nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Trong Chương 5, tác giả tổng kết trên cơ sở các kết quả định lượng và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Từ những kết luận đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị để nhà hoạch định chính sách có cái nhìn cụ thể hơn về tài chính toàn diện.
5.1 KẾT LUẬN
Tài chính toàn diện được xem là một trong những trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Đến nay, hơn 60 quốc gia đã xây dựng và triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia. Tài chính toàn diện giữ vai trò then chốt trong giảm nghèo, giảm bất bình đẳng, tạo việc làm và thúc đẩy thịnh vượng quốc gia. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ các chỉ báo Tài chính toàn diện. Đề án thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam do Thủ tướng phê duyệt từ năm 2006 đến nay đang được triển khai cho giai đoạn 2016–2020. Ngày 20/02/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ký Quyết định số 149/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo chiến lược, đến năm 2025 “Ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng”. Mục tiêu trọng tâm “Ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản” cũng là mục tiêu trong nghiên cứu này.
Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ngân hàng tăng mạnh trong những năm gần đây, từ khoảng 66% năm 2021 lên 77,41% cuối năm 2022 và đạt 87,08% cuối năm 2023, tương đương xấp xỉ 183 triệu tài khoản thanh toán cá nhân. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2024 và đầu 2025 cho thấy tỷ lệ này cơ bản ổn định ở mức trên 87% người trưởng thành, suy ra khoảng 67,5–68,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản theo quy mô dân số. Các con số này dựa trên dữ liệu hành chính về tài khoản thanh toán của cá nhân từ 15 tuổi, không phải ước lượng từ khảo sát. Tuy nhiên, 13% còn lại là nhóm khó tiếp cận nhất, chịu loại trừ tài chính; công nghệ và hoàn thiện pháp lý sẽ đóng vai trò quan trọng để thực thi chiến lược. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Sử dụng mô hình hồi quy probit và Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 về tài chính toàn diện (Ngân hàng Thế giới), dữ liệu mới nhất cập nhật năm 2018, nghiên cứu cung cấp đánh giá toàn diện về Fintech và tài chính toàn diện tại Việt Nam, xem xét thêm các yếu tố cấu trúc và tổng hợp các động lực chính của xu hướng quan sát được.
Thứ nhất, các biến Fintech gồm sử dụng tiền di động cho dịch vụ cụ thể, thanh toán hóa đơn tiện ích bằng điện thoại, nhận chi trả qua điện thoại và sở hữu điện thoại di động đều có ý nghĩa thống kê và mang hệ số dương. Để thúc đẩy tài chính toàn diện, các dịch vụ như ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt cần sớm được cải thiện về môi trường và hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam được đánh giá có dân số trẻ, hiểu biết công nghệ, tỷ lệ truy cập Internet và sử dụng điện thoại di động cao.
Cùng với phát triển kinh tế, nhu cầu về tài khoản chính thức của người dân và doanh nghiệp gia tăng, góp phần mở rộng tài chính toàn diện. Tuy vậy vẫn còn những phân khúc khách hàng chưa tiếp cận được dịch vụ ngân hàng. Vì thế, phổ cập dịch vụ tài chính để người dân và doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng, thuận tiện hơn giữ vai trò then chốt trong thúc đẩy tài chính toàn diện.
Thứ hai, tài chính toàn diện được định hình bởi tập hợp yếu tố rộng hơn, trong đó giáo dục và thu nhập là các chỉ báo trung tâm giúp tiếp cận và sử dụng bền vững dịch vụ tài chính chính thức. Phù hợp với Allen và các cộng sự (2012), nghiên cứu cho thấy người Việt Nam học vấn cao hơn (hoàn tất trung học, thậm chí đại học trở lên) được hưởng lợi nhiều hơn từ mức tài chính toàn diện cao hơn. Nghĩa là trình độ học vấn càng cao thì xác suất được bao hàm tài chính càng lớn; thiếu giáo dục dễ bị loại trừ. Hơn nữa, nhóm giàu thuộc nhóm thu nhập thứ năm có xu hướng sở hữu tài khoản tại tổ chức tài chính. Các yếu tố khác cũng có ý nghĩa. Cả tuổi và bình phương tuổi đều vào mô hình với ý nghĩa thống kê, phù hợp với tài chính toàn diện. Riêng tại Việt Nam, khác với một số kết quả toàn cầu, giới tính và tình trạng tham gia lực lượng lao động không ảnh hưởng hữu ý đến xác suất sử dụng dịch vụ tài chính chính thức.
5.2. ĐỀ XUẤT Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
Các phát hiện thực nghiệm của nghiên cứu cung cấp hai điểm nhấn để thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam. Điểm thứ nhất là bức tranh tổng quan về Fintech và tài chính toàn diện, xem xét câu hỏi “Fintech ảnh hưởng đến tài chính toàn diện như thế nào”, từ đó nêu các yếu tố đóng góp cho tài chính toàn diện ở Việt Nam. Điểm thứ hai là nhận diện các nhóm bị loại trừ tài chính, tức các đối tượng và yếu tố tiềm năng để thúc đẩy bao hàm tài chính. Các khuyến nghị chính sách dưới đây được đề xuất trên cơ sở các bằng chứng này.
Thứ nhất, các dịch vụ dựa trên Fintech qua điện thoại di động hiện chủ yếu do các công ty khởi nghiệp Fintech cung cấp. Để thúc đẩy các dịch vụ này, Chính phủ nên ban hành các chính sách hỗ trợ hình thành vốn cho công ty khởi nghiệp Fintech, ví dụ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp có mục tiêu trong 5 năm đầu hoạt động nhằm kích thích đầu tư giai đoạn sớm. Song song, chính sách ngành tài chính cần mở rộng danh mục dịch vụ di động sẵn có cho người dùng. Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan cần tăng cường phối hợp nghiên cứu và thiết kế chính sách cho các mô hình, công nghệ mới nổi, bao gồm: (i) Thí điểm cho phép tài khoản tiền di động sử dụng cho thanh toán bán lẻ giá trị nhỏ, (ii) Hoàn thiện nghị định thiết lập cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát, tức “regulatory sandbox”, làm khung thử nghiệm cho Fintech trong lĩnh vực ngân hàng, và (iii) Soạn thảo, ban hành khung pháp lý toàn diện bao quát sản phẩm, mô hình kinh doanh, phương tiện thanh toán và các công nghệ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong thanh toán.
Thứ hai, cần phát triển hoạt động thanh toán hóa đơn tiện ích qua điện thoại di động. Nên xây dựng chính sách mở rộng điểm chấp nhận thanh toán và giảm thuế đối với nhà cung cấp điện, nước. Bên cạnh đó, có thể áp dụng mức ưu đãi khi thanh toán hóa đơn để khuyến khích vận hành thanh toán hiệu quả hơn, qua đó gia tăng tài chính toàn diện.
Thứ ba, cần khuyến khích nhận các khoản thanh toán như lương, trợ cấp chính phủ, thanh toán nông nghiệp, thu nhập tự doanh qua điện thoại di động. Chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện nên tập trung xây dựng thêm các hệ thống thanh toán di động dễ tương thích với các thành phần kinh tế thực hiện giao dịch qua di động. Đồng thời, cho phép cấp phép startup Fintech hoạt động như trung gian thanh toán giữa Chính phủ và người dân thay vì chỉ qua ngân hàng như trước.
Ngoài ra, cần xây dựng và triển khai các giải pháp chung nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý tài chính và hiểu biết của khách hàng về sản phẩm dịch vụ tài chính. Thực tế tỷ lệ sử dụng điện thoại cao nhưng nhận thức và hiểu biết tài chính của người dân còn hạn chế. Ví dụ, cung cấp các sản phẩm dịch vụ an toàn, thân thiện, thuận tiện.
Mặt khác, các nhóm dễ bị tổn thương như người trưởng thành có trình độ học vấn thấp và người nghèo thường thiếu công cụ để tiếp cận tài chính chính thức. Do đó, tăng cường giáo dục dựa vào cộng đồng là thiết yếu. Cơ quan hoạch định chính sách và các đơn vị giáo dục cộng đồng cần triển khai chương trình nâng cao hiểu biết tài chính, qua đó cải thiện mức sống. Củng cố kênh tài chính vi mô và ngân hàng xã hội, đồng thời tăng năng lực cung ứng để phục vụ người thu nhập thấp. Bên cạnh đó, quy định tương xứng và đơn giản hóa yêu cầu định danh khách hàng, hồ sơ giấy tờ có thể giảm rào cản và mở rộng độ phủ dịch vụ. Ví dụ, xây dựng khung chương trình giáo dục tài chính quốc gia nhằm hình thành năng lực hiểu biết tài chính cơ bản (kiến thức, hành vi, thái độ) cho thanh thiếu niên, người trưởng thành chưa có kiến thức tài chính và những người có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ tài chính. Theo đó, chiến lược sẽ thiết lập các chương trình giáo dục tài chính ở mọi cấp nhằm hình thành kiến thức có hệ thống, bồi dưỡng thói quen tốt cho thế hệ trẻ, đồng thời gắn đào tạo, bồi dưỡng tài chính với chương trình quốc gia về khởi nghiệp. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
5.3 HẠN CHẾ VÀ TƯƠNG LAI CỦA NGHIÊN CỨU
Thứ nhất, mặc dù khảo sát bao quát ba năm, phân tích được thực hiện tại một thời điểm và cho một quốc gia. Thiết kế cắt ngang này hạn chế khả năng quan sát cách cá nhân sử dụng dịch vụ tài chính theo thời gian và khai thác biến thiên trong nội bộ quốc gia. Phù hợp với nhấn mạnh của Allen và các cộng sự (2012), phân tích cắt ngang chỉ cho thấy các tương quan có ý nghĩa giữa các biến chứ không thiết lập quan hệ nhân quả.
Thứ hai, còn có các chỉ báo Fintech khác và các yếu tố quyết định khác của tài chính toàn diện. Trong nghiên cứu này, tài chính toàn diện được đo từ phía cầu, chỉ bằng sở hữu tài khoản, mà không đánh giá các chỉ báo tài chính toàn diện khác như nhiều nghiên cứu trước. Bên cạnh đó, các chỉ báo Fintech khác như hành vi sử dụng tiền di động, kiều hối chưa được xét đến dù đã được mô tả trong Global Findex 2024.
Thứ ba, khung khổ tiền di động của Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn thí điểm cấp quốc gia: Nghị quyết số 87/NQ-CP ngày 15/4/2025 gia hạn thí điểm đến 31/12/2025, tiếp nối Nghị quyết số 192/NQ-CP ngày 18/11/2023 đã gia hạn tới năm 2024; thí điểm ban đầu được Thủ tướng cho phép tại Quyết định số 316/QĐ-TTg ngày 09/3/2021. Song song, Nghị định số 52/2024/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt có hiệu lực từ 01/7/2024 như một khung pháp lý rộng hơn, và cơ quan quản lý đang tham vấn một nghị định riêng điều chỉnh tiền di động trong thời gian tới. Khi thí điểm tiến triển, các nghiên cứu tương lai có thể khắc phục hạn chế hiện tại bằng cách đo lường Fintech toàn diện hơn thông qua các chỉ báo tiền di động. Cơ sở lý thuyết được phát triển ở đây giúp thu hẹp khoảng trống nghiên cứu và cung cấp nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Tóm tắt chương 5
Nội dung chương này, tác giả rút ra các kết luận từ kết quả mô hình và từ đó kiến nghị thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech. Các đóng góp của nghiên cứu có thể tạo nên cái nhìn tổng quan hơn về sự phát triển Fintech trong tương lai. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Chính phủ cần ban hành các chính sách có ý nghĩa để thúc đẩy tài chính toàn diện dựa vào Fintech. Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech

Pingback: Luận văn: PPNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech