Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1 Kết quả thống kê mô tả và ma trận tương quan của các biến trong mô hình nghiên cứu

4.1.1 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1 mô tả thông tin tổng quan các biến trong mẫu dữ liệu với 240 quan sát của 20 NHTMCP từ 2012 – 2023, kiểm định sử dụng phần mềm STATA 17.0. Các giá trị thống kê mô tả bao gồm số quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của các biến.

  • Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả

Dữ liệu thống kê mô tả dựa vào bảng 4.1 như sau:

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA của 20 NHTMCP có giá trị trung bình là 0,0103 cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản của các NHTMCP Việt Nam khá thấp, khoảng 1%. Độ lệch chuẩn thấp là 0,0072, cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng.

Giá trị nhỏ nhất là 0,0001 tại NH Bản Việt năm 2016 cho thấy suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng tại năm này thấp, giá trị lớn nhất là 0,0358 tại NH Techcombank năm 2021cho thấy ngân hàng này có lợi nhuận tốt, quản lý tài sản sinh lời hiệu quả.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE của 20 NHTMCP có giá trị trung bình khá ổn định là 0,1239, tỷ lệ trung bình của ROE cao hơn gấp 12 lần so với chỉ số ROA cho thấy các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính lớn. Độ lệch chuẩn là 0,0721 cho thấy có sự phân hóa giữa các ngân hàng về tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, có những ngân hàng có khả năng sinh lời cao trong khi một số ngân hàng khác có suất sinh lời kém hơn. Giá trị nhỏ nhất là 0,0008 tại NH Bản Việt năm 2016 cho thấy ngân hàng này hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, giá trị lớn nhất là 0,2773 tại NH ACB năm 2018 cho thấy ngân hàng có hiệu quả tài chính tốt, sử dụng vốn hiệu quả.

Tỷ lệ sở hữu của nhà nước GOV: Bảng 4.1 cho thấy giá trị trung bình của thành phần sở hữu nhà nước đạt mức 0,1344 cao hơn thành phần sở hữu nước ngoài ở mức 0,1191. Tuy nhiên tỷ lệ sở hữu nhà nước cao tập trung ở nhóm ngân hàng lớn Big 4 nên dẫn đến độ lệch chuẩn của thành phần sở hữu nhà nước ở mức 0,2695 cao hơn so với sở hữu nước ngoài ở mức 0,1203. Một số ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nước rất cao Tỷ lệ sở hữu nhà nước cao nhất là 0,9576 tại BIDV vào năm 2012 và 2014, giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 0. Các ngân hàng không có nhà nước sở hữu, kiểm soát và quản lý, nghĩa là tỷ lệ sở hữu nhà nước bằng 0, được sở hữu hoàn toàn là tư nhân như Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), Nam A Bank, Bac A Bank, Bản Việt, Sacombank, VP Bank. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Tỷ lệ sở hữu nước ngoài FOR: Đối với thành phần sở hữu nước ngoài, giá trị trung bình là 0,1191, các giá trị lớn nhất là 0,3 và nhỏ nhất là 0. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài bằng 0 trong trường hợp không có nhà đầu tư nước ngoài nào sở hữu tài sản và tham gia quản lý hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng không có yếu tố sở hữu nước ngoài như Bac A Bank. Tỷ lệ sở hữu cao nhất là 30% theo quy định của ngân hàng như ACB, An Bình, Công Thương, Xuất Nhập Khẩu, Hàng Hải, Tiên Phong.

Tỷ lệ sở hữu của nhà quản lý CEO: Tỷ lệ trung bình là 0,0047 (khoảng 0,4%), độ lệch chuẩn là 0,0113 cho thấy phần lớn CEO không sở hữu nhiều cổ phiếu tại các NHTM. Các ngân hàng không có CEO sở hữu cổ phiếu như Sacombank, TP Bank, Vietcombank, BIDV. Giá trị lớn nhất là 0,0433 tại NH Bắc Á vào năm 2017 cho thấy ngân hàng này có sự gắn kết chặt chẽ giữa CEO và ngân hàng.

Quy mô ngân hàng SIZE có giá trị trung bình là 32,9644, độ lệch chuẩn của SIZE có giá trị là 1,0492, giá trị nhỏ nhất là 30,3470 tại NH Tiên Phong bank năm 2012, giá trị lớn nhất là 35,3721 tại NH BIDV năm 2023. Qua đó cho thấy quy mô của một số ngân hàng khá lớn như BIDV, Vietinbank, Vietcombank, một số NH có quy mô nhỏ như NH Bản Việt, NH Nam Á, Ngân hàng Phương Đông OCB…

Tỷ lệ nợ xấu NPL có giá trị trung bình thấp là 0,0194, độ lệch chuẩn thấp nhất của NPL có giá trị 0,0128. Biến NPL có giá trị nhỏ nhất là 0, giá trị lớn nhất là 0,09 tại ngân hàng SHB năm 2012. Qua đó cho thấy các NHTMCP kiểm soát nợ xấu ở mức khá tốt.

Tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP có giá trị trung bình là 0,0596, độ lệch chuẩn là 0,0169. Biến GDP có giá trị nhỏ nhất là 0,0255 vào năm 2021, giá trị lớn nhất là 0,0812 vào năm 2022. Qua đó cho thấy mức tăng trưởng được duy trì khá ổn định ở mức 5,9% nhưng cũng có giai đoạn biến động mạnh như từ 2021 – 2022.

Tỷ lệ lạm phát INF có giá trị trung bình là 0,0370, độ lệch chuẩn có giá trị 0,0211 cho thấy lạm phát được kiểm soát ổn định và không biến động quá mạnh, giá trị nhỏ nhất là 0,0063 năm 2015 cho thấy lạm phát được kiểm soát tốt, chỉ số lạm phát gần như không đáng kể, giá trị lớn nhất là 0,0910 vào năm 2012 cho thấy sự tăng giá đáng kể của nền kinh tế.

4.1.2 Phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Tác giả xem xét sự tương quan giữa các biến trong mô hình thông qua ma trận tương quan xem có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hay không. Đa cộng tuyến (Multicollinearity) là một hiện tượng trong mô hình nghiên cứu khi các biến độc lập có mức độ tương quan tuyến tính cao làm cho mô hình không phù hợp. Ma trận tương quan biểu thị mối tương quan cặp giữa các biến. Điều kiện để xác định mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến là tất cả hệ số tương quan giữa các biến đều phải nhỏ hơn 0.8.

  • Bảng 4.2 Ma trận thể hiện sự tương quan giữa các biến trong mô hình 1 – ROA

Căn cứ bảng 4.2, ta thấy các hệ số tương quan giữa các biến đều có giá trị dưới 0.8 nên mô hình 1 ROA không mắc hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Trong đó, biến phụ thuộc ROA có sự tương quan với các biến độc lập GOV, FOR, CEO, SIZE, NPL, GDP, INF, cụ thể như sau:

Các biến GOV, CEO, NPL, GDP, INF ít tương quan với biến ROA với các giá trị lần lượt là -0,0165, -0,1441, -0,1448, -0,1223, -0,1339. Biến sở hữu nhà nước GOV có tương quan âm thấp nhất với biến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA, khoảng -1,65% với mức ý nghĩa vượt quá 10%. Biến sở hữu của giám đốc điều hành CEO và nợ xấu NPL tác động ngược chiều đến ROA với mức ý nghĩa 5%. Biến tỷ lệ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát INF tác động ngược chiều tới ROA với mức ý nghĩa 10%. Các biến có tương quan âm với ROA có thể tác động làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Biến sở hữu nước ngoài FOR và quy mô ngân hàng SIZE tương quan dương với ROA với các giá trị lần lượt là 0,3900 và 0,4006 với mức ý nghĩa 1%. Các biến có tương quan dương với ROA có thể giúp ngân hàng đạt lợi nhuận nhiều hơn.

  • Bảng 4.3 Ma trận thể hiện sự tương quan giữa các biến trong mô hình 2 – ROE

Căn cứ bảng 4.3, ta thấy các hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình đều có giá trị dưới 0.8 nên mô hình không mắc hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Trong đó, biến phụ thuộc ROE có sự tương quan với các biến độc lập GOV, FOR, CEO, SIZE, NPL, GDP, INF, cụ thể như sau:

Các biến GOV, CEO, NPL, INF ít tương quan với biến ROE với các giá trị lần lượt là -0,1911, -0,1498, -0,2630, -0,2038 với mức ý nghĩa nhỏ hơn 5%. Biến sở hữu nhà nước GOV, sở hữu nước ngoài FOR, biến SIZE ảnh hưởng tích cực đến biến suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE và có giá trị lần lượt là 0,1911, 0,3696, 0,5818 với mức ý nghĩa 1%. Biến tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành CEO ảnh hưởng tiêu cực đến ROE và có giá trị -0,1498 với mức ý nghĩa 5%.

4.2 Kết quả các mô hình nghiên cứu và kiểm định kết quả nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

4.2.1 Mô hình hồi quy OLS

Kết quả chạy mô hình hồi quy OLS như sau:

  • Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình OLS – ROA

Bảng 4.4 có Prob>F: 0,0000 cho thấy mô hình có ý nghĩa tổng thể. Trong đó, tỷ lệ sở hữu nhà nước GOV có tác động âm đến ROA với giá trị khoảng -1,2% và có ý nghĩa thống kê (p = 0,000 < 0,05). Tỷ lệ sở hữu nước ngoài FOR có ảnh hưởng tích cực đến ROA có giá trị khoảng 0.9% (p = 0,0016 < 0,05). Tỷ lệ sở hữu của CEO không có tác động đến ROA (p=0,484 > 0,05). Biến quy mô SIZE có mối liên hệ tích cực đến ROA, có giá trị khoảng 0,39% (p=0,0000 < 0,05). Biến nợ xấu NPL có mối quan hệ nghịch chiều đến ROA, có giá trị khoảng -7,6% (p = 0,018 < 0,05). Biến GDP và INF không có mối liên hệ với ROA (có p-value là p = 0,445 và p = 0,242 > 0,05).

  • Bảng 4.5: Kết quả ước lượng mô hình OLS – ROE

Qua bảng 4,5 cho thấy mô hình có Prob > F: 0,0000 cho thấy mô hình có ý nghĩa tổng thể: tỷ lệ sở hữu nhà nước GOV có tác động âm đến ROE, có giá trị là -8,7% và có ý nghĩa thống kê (p = 0,000 < 0,05), Tỷ lệ sở hữu nước ngoài FOR và CEO không có tác động đến ROE (p=0,843 > 0,05, p=0,631 > 0,05), Biến quy mô SIZE có tác động dương đến ROE có giá trị khoảng 5,2% (p = 0,0000 < 0,05), Biến NPL có tác động âm đến ROE, có giá trị khoảng -128% (p = 0,000 < 0,05), Biến GDP và INF không có ảnh hưởng đến ROE ( p-value lần lượt là p = 0,783, p=0,269).

Để xem xét mô hình OLS có bị hiện tượng đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi không, tác giả thực hiện các kiểm định sau đây:

  • Kiểm định đa cộng tuyến VIF

Tác giả sử dùng hệ số phóng đại phương sai VIF (Varian Inflation factor), trường hợp VIF nhỏ hơn 10 được xem không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra với quy tắc nếu giá trị VIF < 5 thì ít có khả năng xảy ra đa cộng tuyến và ngược lại, hệ số VIF lớn hơn 10 thì chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Bảng 4.6: Kết quả kiểm định VIF của 2 mô hình ROA và ROE

Căn cứ vào bảng 4.6, các biến độc lập có VIF < 10, trung bình VIF = 1,5 < 5 nên chấp nhận được, qua đó cho thấy mô hình không mắc đa cộng tuyến nghiêm trọng. Ta giữ nguyên các biến trên và chạy mô hình.

  • Kiểm định phương sai sai số thay đổi White

Để xem xét mô hình OLS có xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không, tác giả thực hiện kiểm định White và cho kết quả như sau:

  • Bảng 4.7: Kết quả kiểm định White mô hình ROA

Từ bảng 4.7 ta thấy p-value = 0,0000 < 5% nên mô hình OLS ROA mắc hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

  • Bảng 4.8: Kết quả kiểm định White mô hình ROE

Từ bảng 4.8 ta thấy p-value = 0,1584 > 5% nên mô hình OLS ROE không mắc hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

Vì dữ liệu bảng đã thu thập có sự khác biệt giữa các ngân hàng thì mô hình OLS có thể bị chệch nên tác giả ước lượng thêm 2 mô hình FEM và REM.

4.2.2 Mô hình FEM Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Tác giả thực hiện chạy mô hình FEM và cho kết quả như sau:

  • Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình FEM – ROA
  • Bảng 4.10: Kết quả ước lượng mô hình FEM – ROE

4.2.2.1 Mô hình REM

Tác giả thực hiện chạy mô hình REM và cho kết quả như sau:

  • Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình REM – ROA
  • Bảng 4.12: Kết quả ước lượng mô hình REM – ROE

Kiểm định F Test

Để lựa chọn giữa mô hình OLS và mô hình FEM, dựa trên kết quả hồi quy của mô hình FEM-ROA và FEM-ROE có hiển thị kết quả kiểm định F-Test để lựa chọn mô hình OLS hay mô hình FEM. Kết quả cho thấy Prob > F của mô hình FEM ROA và mô hình FEM ROE đều = 0.0000 nhỏ hơn 5% nên mô hình FEM ROA và FEM ROE phù hợp hơn mô hình OLS ROA và OLS ROE.

  • Kiểm định Breusch-Pagan

Để lựa chọn giữa mô hình OLS và mô hình REM, tác giả thực hiện kiểm định Breusch-Pagan:

  • Bảng 4.13 Kết quả kiểm định Breusch-Pagan mô hình ROA
  • Bảng 4.14 Kết quả kiểm định Breusch-Pagan mô hình ROE
  • Bảng 4.15: Bảng tổng hợp kết quả chọn mô hình OLS – REM

Căn cứ vào bảng 4.15, giữa mô hình OLS và mô hình REM, ta có thể thấy cả 2 mô hình nghiên cứu đều có giá trị P-value (Prob>chibar2) < 5%. Vì thế ta bác bỏ H0, chấp nhận H1 và thông qua đó kết luận rằng mô hình REM là phù hợp hơn so với mô hình OLS.

  • Kiểm định Hausman

Tác giả thực hiện kiểm định Hausman để chọn giữa mô hình FEM và mô hình REM và cho kết quả như sau:

  • Bảng 4.16: Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình ROA
  • Bảng 4.17: Kết quả kiểm định Hausman Test mô hình ROE
  • Bảng 4.18: Bảng tổng hợp kết quả chọn mô hình FEM/REM

Dựa vào bảng 4.18 cho 2 mô hình ROA, ROE lần lượt có giá trị Prob>chi2 là 0,3309 và 0,5502 > 5%. Vì vậy ta chấp nhận H0, đồng nghĩa mô hình tác động ngẫu nhiên REM phù hợp hơn mô hình tác động cố định FEM.

Từ các kiểm định trên, ta thấy mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên REM ROA và REM ROE là phù hợp nhất so với các mô hình còn lại.

Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để biết mô hình có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không. Kết quả chạy mô hình như sau: Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Bảng 4.19: Kết quả kiểm định Breusch and Pagan mô hình REM ROA

Dựa vào bảng trên ta thấy Prob > chibar2 = 0,0000 < 5% nên kết luận tồn tại phương sai sai số trong mô hình REM ROA.

  • Bảng 4.20: Kết quả kiểm định Breusch and Pagan mô hình REM ROE

Dựa vào bảng trên ta thấy Prob > chibar2 = 0,0000 < 5% nên kết luận có tồn tại phương sai sai số trong mô hình REM ROE.

Tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp kiểm định Wooldridge để biết mô hình có tồn tại hiện tượng tự tương quan hay không.

  • Bảng 4.21: Kết quả kiểm định tự tương quan mô hình REM ROA
  • Bảng 4.22: Kết quả kiểm định tự tương quan mô hình REM ROE

Dựa vào bảng 4.21 và 4.22, ta thấy giá trị p ở 2 mô hình ROA và ROE LÀ 0,0000 bé hơn 0,05, vậy ta bác bỏ H0 và kết luận rằng cả 2 mô hình ROA và ROE đều mắc tự tương quan.

Tác giả tiếp tục ước lượng mô hình bằng FGLS để xử lý hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan cho 2 mô hình ROA và ROE và cho kết quả như sau:

  • Bảng 4.23: Kết quả ước lượng mô hình FGLS ROA
  • Bảng 4.24: Kết quả ước lượng mô hình FGLS ROE

Từ 2 bảng trên ta thấy, mô hình ROA và ROE sau khi sử dụng FGLS khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi thì 2 mô hình có ý nghĩa do Prob>chi2 = 0.0000 < 0.05. Tuy nhiên mô hình này vẫn có thể bị hiện tượng nội sinh.

Để kiểm tra mô hình có bị nội sinh hay không, tác giả thực hiện kiểm định Wu-Hausman. Đầu tiên tác giả sẽ thực hiện với mô hình ROA:

  • Bảng 4.25: Kết quả kiểm định về nội sinh của mô hình ROA

Căn cứ vào bảng trên ta thấy biến SIZE và GDP là biến nội sinh với giá trị p-value lần lượt là 0,000 và 0,0245, đều nhỏ hơn 5%.

Tiếp đến tác giả thực hiện kiểm đinh nội sinh với mô hình ROE

  • Bảng 4.26: Kết quả kiểm định về nội sinh của mô hình ROE

Căn cứ vào bảng trên ta thấy biến SIZE là biến nội sinh với giá trị p-value là 0,000 nhỏ hơn 5%.

Do hai mô hình đều tồn tại biến nội sinh nên tác giả thực hiện khắc phục khuyết tật mô hình bằng phương pháp S-GMM.

  • Phương pháp ước lượng Moment tổng quát (GMM)

Để khắc phục hiện tượng nội sinh, tác giả sử dụng ước lượng mô hình GMM ROA và GMM ROE hệ thống. Tác giả thực hiện kiểm định sự ngoại sinh của các biến công cụ thông qua việc kiểm định tính thỏa hơn điều kiện xác định (overidentification) cho kết quả như sau: Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Bảng 4.27 Kết quả mô hình GMM ROA hệ thống

  • Qua bảng 4.27 ta thấy:

Số lượng biến công cụ (Number of instrument) là 19 < số lượng cỡ mẫu ban đầu (number of group) là 20. Kiểm định Abond khi xét tương quan bậc 2 AR(2) có kết quả p-value 0,529 > 0,05 nên mô hình không bị tự tương quan bậc 2. Kiểm định Hansen cho kết quả p-value = 0,205 > 0,05 nên các biến công cụ không tương quan với sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định Sagan có p-value = 0,675 > 0,05 nên các biến công cụ là biến ngoại sinh và các công cụ phù hợp. Từ kết quả trên cho thấy mô hình hồi quy hợp lệ và không bị lạm dụng công cụ. Do đó, mô hình GMM ROA là mô hình vững và hiệu quả để phân tích mối liên hệ của cấu trúc sở hữu đến ROA của các ngân hàng tại Việt Nam.

  • Bảng 4.28: Kết quả mô hình GMM ROE hệ thống

Qua bảng 4.28 ta thấy: Số lượng biến công cụ (Number of instrument): 16 < số lượng cỡ mẫu ban đầu ( number of group): 20 . Kết quả kiểm đinh Abond cho thấy p-value = 0,369 > 0,05 nên mô hình không bị tự tương quan bậc 2. Kết quả kiểm định Hansen có p-value = 0,896 > 0,05 nên các biến công cụ không tương quan với sai số trong mô hình. Kết quả kiểm định Sagan cho kết quả p-value = 0,751 > 0,05 nên các biến công cụ là biến ngoại sinh. Từ những kết quả trên cho thấy mô hình hồi quy hợp lệ và không bị lạm dụng biến công cụ. Với các kết quả kiểm định này thì mô hình GMM ROE là mô hình vững và hiệu quả để phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến ROE của các NHTMCP Việt Nam.

4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu

  • Bảng 4.29: Kết quả nghiên cứu và kỳ vọng của mô hình GMM ROA và GMM ROE

Bảng 4.29 cho thấy kết quả của phương pháp hồi quy SGMM, kết quả này được dùng để phân tích mối liên hệ của các loại hình cơ cấu sở hữu khác nhau đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam từ 2012 – 2023.

Các hệ số hồi quy có dấu khác nhau cho thấy xu hướng ảnh hưởng khác nhau, tích cực (hệ số dương) và tiêu cực (hệ số âm) đến suất sinh lời.

  • Đối với biến trễ tỷ lệ ROA (L.ROA):

Biến trễ ROA có hệ số hồi quy là 0.612 với mức ý nghĩa 1% cho thấy mối quan hệ cùng chiều của suất sinh lời ROA của năm trước đến ROA của năm sau.

  • Đối với biến sở hữu nhà nước (GOV) Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Biến sở hữu nhà nước GOV trong Bảng 4.29 có ảnh hưởng tiêu cực, đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng với giá trị hệ số là -0.0083 và -0.1163 với mức ý nghĩa 5%. Điều này cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước càng cao thì khả năng sinh lời càng giảm. Quyền sở hữu của nhà nước đối với các hiệu quả sinh lời của các ngân hàng có mối liên hệ ngược chiều. Kết quả này được lý giải qua các yếu tố sau:

Theo lý thuyết chi phí đại diện, ngân hàng có sở hữu nhà nước cao có chi phí đại diện cao hơn do sự bất cân xứng thông tin. Theo Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023) từ góc độ lí thuyết thông tin bất đối xứng, các ngân hàng này chịu tác động lớn hơn của vấn đề người đại lí – người ủy thác. Ban quản lý của ngân hàng sở hữu nhà nước cũng ít chịu áp lực về kết quả hoạt động hoặc giám sát chặt chẽ bởi cổ đông như ngân hàng tư nhân nên tăng nguy cơ tham nhũng, lạm dùng quyền lực.

Phù hợp với lý thuyết phúc lợi xã hội, các ngân hàng sở hữu nhà nước mục tiêu ưu tiên trong hoạt động là an toàn hệ thống, phục vụ an sinh xã hội cao, chính trị chưa tối ưu hóa lợi nhuận kinh doanh, ví dụ như các chương trình, chính sách như hỗ trợ vay ưu đãi với lãi suất thấp các lĩnh vực ưu tiên như phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay đóng tàu biển…

Các ngân hàng sở hữu nhà nước cũng được tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn từ ngân hàng nhà nước so với ngân hàng tư nhân (vay vốn NHNN, nguồn tái cấp vốn…). Từ đó hiệu quả sử dụng tài sản và vốn của những ngân hàng TMCP nhà nước kém hơn ngân hàng sở hữu của tư nhân.

Các ngân hàng NHTMCP nhà nước vẫn còn thiếu linh hoạt, cơ chế quản trị và báo cáo các cấp quản lý nhà nước đòi hỏi nhiều thời gian hơn (Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm, 2017), từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến ROA và ROE.

Kết quả này đồng nhất với các nghiên cứu trước đây được thực hiện bởi Abdul và Reja (2015), Robin (2018), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Trần Quốc Thịnh (2018), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017)…các nghiên cứu cho rằng quyền sở hữu của nhà nước đối với các ngân hàng có liên quan đến hiệu quả tài chính kém. Kết quả này cũng phản ánh thực tế tại Việt Nam khi các ngân hàng có sở hữu nhà nước đang phải thực hiện một số nhiệm vụ cho Chính phủ, không đơn thuần kinh doanh với mục tiêu là tối đa lợi nhuận.

Từ kết quả trên, giả thuyết H1 được chấp nhận, tỷ lệ sở hữu nhà nước có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất lợi nhuận của các NHTMCP.

  • Yếu tố sở hữu nước ngoài FOR

Kết quả ghi nhận biến sở hữu nước ngoài FOR có mối tương quan cùng chiều đến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA nhưng không có ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE. Mức tác động dương với ROA có hệ số hồi quy là 0.0141 với mức ý nghĩa 5% cho thấy tỷ lệ sở hữu nước ngoài có có ảnh hưởng tích cực tới khả năng sinh lời của ngân hàng và được lý giải vì những nguyên nhân sau: Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Phù hợp với lý thuyết lợi thế toàn cầu và lý thuyết cấu trúc hiệu quả, ngân hàng có sở hữu nước ngoài được hỗ trợ về kinh nghiệm quản trị, công nghệ kỹ thuật mà các chủ sở hữu nước ngoài mang đến môi trường làm việc của họ. Kết quả này cũng phù hợp với đặc điểm của một quốc gia đang phát triển là Việt Nam khi được chuyển giao công nghệ, cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất công việc, tăng cường giám sát, làm giảm giảm chi phí vận hành và chi phí đại diện, từ đó nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh.

Có cơ chế quản lý, giám sát hiện đại, minh bạch, tuân thủ các chuẩn mực quản trị tốt, báo cáo và kiểm toán thường xuyên hơn, góp phần làm giảm tình trạng thông tin bất đối xứng, giảm chi phí đại diện, tăng lợi nhuận hoạt động kinh doanh.

Độc lập, tự chủ trong việc ra các quyết định của ngân hàng, không bị chi phối như ngân hàng thương mại nhà nước chiếm tỷ lệ sở hữu chi phối.

Thuận lợi hơn trong việc mở rộng thị trường quốc tế, dễ tiếp cận các mối quan hệ với đối tác quốc tế, các nguồn tài chính và nhân lực chất lượng, có trình độ chuyên môn cao.

Kết quả này cũng ủng hộ kết quả nghiên cứu trước đây của Phong và Tuân (2019), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Uwalomwa và Olamide (2012), các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ sở hữu nước ngoài càng tăng thì càng có lợi cho hiệu suất sinh lời của ngân hàng. Kết quả cũng phù hợp với lý thuyết “lợi thế toàn cầu”, các ngân hàng nước ngoài có thể có lợi thế cạnh tranh so với các ngân hàng trong nước nhờ tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn, nguồn lực dồi dào hơn và ít gặp vấn đề về chi phí đại diện. Lợi thế này giúp các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn so với ngân hàng nội địa (Berger và cộng sự, 2000).

  • Biến sở hữu nước ngoài có tác động đến ROA nhưng không có tác động đến ROE có thể lý giải vì lý do sau:

Khi có thêm sở hữu nước ngoài, tổng tài sản có thể tăng, tuy nhiên, đối với chỉ số ROE, khi tổng tài sản tăng kéo theo tăng vốn sở hữu do yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn. Các ngân hàng có yếu tố sở hữu nước ngoài thường tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn theo các chuẩn mực quốc tế Basel II, Basel III chặt chẽ hơn, dùng đòn bẩy tài chính ít hơn, lợi nhuận ít hơn nên có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Do đó chỉ số ROE không tăng nhiều dù ROA có tăng.

Ngoài ra, ngân hàng có nhà đầu tư nước ngoài có thể giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thay vì chia cổ tức cho cổ đông, do đó vốn chủ sở hữu tăng, trong khi lợi nhuận nếu chỉ tăng nhẹ thì chỉ số ROE không tăng.

Qua đó, tác giả chấp nhận giả thuyết H2, sở hữu nước ngoài có tác động thuận chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam, cụ thể là ROA nhưng không có tác động đến ROE. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Biến sở hữu của CEO

Kết quả hồi quy cho thấy có mối tương quan âm giữa biến sở hữu của CEO và biến ROA và ROE với các hệ số lần lượt là -0.1404 và -2.0339 với mức ý nghĩa lần lượt là 1% với 5%. Qua đó cho thấy tỷ lệ sở hữu của CEO có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Nguyên nhân có thể được lý giải như sau:

Khi tỷ lệ sở hữu đủ lớn, giám đốc điều hành CEO có thể lạm dụng chức quyền để đưa ra các quyết định quản trị, chiến lược điều hành ích kỷ, tư lợi, các mối quan hệ cá nhân, tham nhũng tài sản. Đồng thời có thể can thiệp vào các quyết định của Hội đồng quản trị về chiến lược hoạt động, cản trở việc bổ nhiệm nhân sự cấp cao như giám đốc điều hành tiếp theo nếu họ không chấp thuận.

Nguyên nhân khác như còn thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ dẫn đến những hoạt động tiêu cực và hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng giữa giám đốc điều hành và hội đồng quản trị do CEO trực tiếp điều hành nên nắm rõ tình hình hoạt động của ngân hàng.

Kết quả này cũng đồng nhất với các nghiên cứu của Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019), Vu Manh Chien và cộng sự (2017), Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023), Griffith và cộng sự (2002).

Từ đó, tác giả bác bỏ giả thuyết H3. Tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành CEO có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sinh lời của các NHTMCP.

  • Biến của quy mô SIZE

Quy mô ngân hàng không có tương quan với tỷ lệ ROA nhưng có tác động tích cực, đáng kể đến tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE của các ngân hàng, có giá trị là 0.0481 với mức ý nghĩa 1%. Qua đó cho thấy quy mô của ngân hàng càng lớn thì càng có lợi cho kết quả hoạt động của ngân hàng. Những ngân hàng lớn có lợi thế là đat hiệu quả quy mô tốt hơn. Ngoài ra theo lý thuyết sức mạnh thị trường, những ngân hàng lớn đạt hiệu quả sinh lời tốt hơn do có quyền lực thị trường lớn hơn.

  • Biến quy mô có tác động đến ROE mà không tác động đến ROA có thể được lý giải vì những lý do sau:

Khi tổng tài sản tăng thì việc quản lý tài sản sẽ khó khăn hơn và tốn nhiều chi phí hơn, và nếu tài sản tăng lên đến từ nguồn vốn nợ thì tốn thêm chi phí từ nợ, trường hợp này có thể lợi nhuận được tạo ra tăng lên không quá nhiều so với việc tăng tổng tài sản nên ROA không đổi.

ROE được tính bằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, trường hợp tổng tài sản tăng do tăng từ nguồn vốn nợ nên vốn chủ sở hữu tăng ít so với lợi nhuận, dẫn đến ROE tăng. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Kết quả này cũng trùng với nghiên cứu của Sara và Mona (2017), Dewi và Nugraha (2018), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Robin, Salimb và Bloch (2018). Qua đó cho thấy các ngân hàng lớn có lợi nhuận cao hơn, các ngân hàng nhỏ có thể sáp nhập để nâng cao quy mô tài sản (Robin, Salimb và Bloch, 2018).

Tác giả chấp nhận giả thuyết H4.

  • Biến tỷ lệ nợ xấu NPL

Biến tỷ lệ nợ xấu có tác động âm đến tỷ suất sinh lời ROA và ROE có giá trị là -0.3374 và -2.6829 với mức ý nghĩa lần lượt là 1% và 10%. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu hiện nay chưa chưa được tính toán chính xác và đầy đủ, tuy nhiên dễ dàng nhận thấy tỷ lệ nợ xấu càng tăng thì trích lập dự phòng cho hoạt động tín dụng càng nhiều, dẫn đến tác động tiêu cực đến lợi nhuận kinh doanh. Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong quá trình tái cơ cấu của các nước trong khu vực và trên thế giới để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu tại Việt Nam trong giai đoạn tái cơ cấu hiện nay, theo Son và cộng sự (2015). Kết quả này trùng khớp với nghiên cứu của Son và cộng sự (2015).

Tác giả chấp nhận giả thuyết H5.

  • Biến tốc độ tăng trưởng GDP

Tốc độ tăng trưởng GDP có mối quan hệ thuận chiều đến tỷ suất sinh lời ROA và ROE với các giá trị lần lượt là 0.0601 và 0.9881 với mức ý nghĩa 1%. Khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, nhu cầu tiêu dùng và sản xuất kinh doanh, xuất khẩu tăng giúp tăng trưởng hoạt động tín dụng. Kinh tế phát triển, người đi vay đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ thanh toán nợ vay, các ngân hàng giảm nợ xấu, gia tăng lợi nhuận hoạt động. Do đó, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả này trùng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Vu Manh Chien và cộng sự (2017).

Tác giả chấp nhận giả thuyết H6.

  • Tỷ lệ lạm phát INF

Tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ nghịch biến với tỷ suất sinh lời ROA và ROE với các giá trị lần lượt là -0.2127 và -3.4443 với mức ý nghĩa 1%. Với các điều kiện khác không đổi, khi lạm phát giảm thì hiệu quả sinh lời của tổng tài sản và hiệu quả sinh lời trên vốn chủ sở hữu tăng. Điều này có thể được giải thích lạm phát giảm làm giảm chi phí đầu vào, chi phí từ huy động vốn, chi phí hoạt động, họ từ đó làm tăng lợi nhuận của ngân hàng và suất sinh lời. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Dương Trọng Đoàn và Nguyễn Hữu Huân (2019). Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Tác giả chấp nhận giả thuyết H7.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Trong chương này tác giả đã chạy các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM, FGLS, SGMM dựa trên số liệu thu thập được của 20 NHTM Việt Nam từ năm 2012 – 2023. Đầu tiên tác giả mô tả tổng quát mẫu nghiên cứu thông qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, đồng thời tác giả xem xét hiện tượng tương quan của các biến độc lập trong mô hình. Sau đó, tác giả chạy các mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định và khẳng định mô hình GMM ROA và GMM ROE là 2 mô hình mang lại ước lượng vững và hiệu quả nhất để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam từ 2012 – 2023. Từ kết quả này, tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận giả thuyết thống kê đồng thời khuyến nghị các hàm ý trong chương 5.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu

Mục tiêu hoạt động sau cùng của các NHTM là đạt được lợi nhuận và xây dựng cấu trúc sở hữu để tối ưu hóa lợi nhuận là vấn đề cấp thiết cần quan tâm và nghiên cứu. Các ngân hàng đang dùng nhiều biện pháp để tăng vốn cho hoạt động kinh doanh cũng như hạn chế rủi ro, đạt lợi nhuận bền vững cũng đảm bảo an toàn cho hệ thống.

Luận văn này xem xét mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc sở hữu và tỷ suất sinh lời trên 20 NHTM CP Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2023. Từ kết quả thực nghiệm cho thấy các biến đều có tác động đến biến phụ thuộc ở các mức ý nghĩa khác nhau gồm 1%, 5% và 10%. Bằng việc sử dụng phương pháp định lượng đo lường, kết quả thu được từ việc sử dụng mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM, FGLS GMM và sử dụng các kiểm định thu được kết quả tối ưu từ mô hình GMM, cho thấy sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đáng kể về mặt thống kê đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng được đo bằng ROA nhưng không có tác động đến ROE. Quyền sở hữu của Nhà nước và sở hữu của CEO có tác động tiêu cực, đáng kể về mặt thống kê đến tỷ suất sinh lời được đo bằng ROA và ROE. Quy mô ngân hàng SIZE và tỷ lệ tăng trưởng GDP có tác động tích cực và đáng kể đến ROA và ROE, các biến kiểm soát còn lại là tỷ lệ nợ xấu NPL và chỉ số làm phát INF có tác động âm tới ROA và ROE. Từ đó tác giả đưa ra những khuyến nghị, đề xuất các hàm ý chính sách về tác động của cấu trúc sở hữu nhằm thúc đẩy tỷ suất sinh lời của các NHTM tại Việt Nam.

5.2 Hàm ý quản trị Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Từ các kết quả nghiên cứu đã phân tích ở trên, đề tài đề xuất một số hàm ý quản trị như sau:

5.2.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước:

Giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các NHTM Nhà nước: Hiện nay, theo Quyết định số 986/QĐ-TT ngày 08/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2023 nêu rõ: Giai đoạn 2021-2025, các NHTM có vốn nhà nước đảm bảo tỷ lệ sở hữu nhà nước ở mức 51% (Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân, 2019) do đó cần có lộ trình giảm dần tỷ lệ sở hữu của nhà nước tại các NHTM có vốn nhà nước chiếm tỷ lệ lớn chi phối như các ngân hàng BIDV, Vietcombank, Vietinbank về mức 51% theo quyết định 986 và nghiên cứu giảm về tỷ lệ sở hữu thấp hơn và vẫn đảm bảo an toàn hệ thống. Việc này giúp các ngân hàng có quyền tự chủ lớn hơn, linh hoạt trong việc đưa ra các quyết định hoạt động kinh doanh dựa trên tiêu chí hiệu quả, từ đó tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của các NHTM. Đồng thời, thúc đẩy cơ chế thị trường, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh công bằng.

  • Tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài:

Cổ đông nước ngoài có các ưu thế về công nghệ, quy trình, quản trị, minh bạch thông tin, quản lý rủi ro chặt chẽ và sinh lời Để nâng cao hiệu quả sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam thì cần tăng giới hạn tỷ lệ sở hữu của cổ đông nước ngoài và phù hợp theo nhóm ngân hàng. Việc tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính uy tín tham gia vào cấu trúc sở hữu của NHTM Việt Nam góp phần cải thiện quản trị, công nghệ và khả năng sinh lời, gia tăng nguồn lực kinh tế, giảm áp lực nợ vay, phát triển bền vững. Đồng thời để đạt mục tiêu theo quyết định 689/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là hình thành các ngân hàng lớn, có tầm quan trọng trong hệ thống và khu vực.

Do đó, các quy định về tỷ lệ sở hữu tối đa, điều kiện tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cần được tạo điều kiện tối ưu để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Các cơ quan quản lý nhà nước xem xét về quy định pháp lý, đề xuất nâng cao tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài tại mỗi ngân hàng TMCP tại Việt Nam, hiện tại được giới hạn 30% theo luật các Tổ chức tín dụng. Tỷ lệ sở hữu thấp nên quyền can thiệp quản trị cũng hạn chế, do đó để hấp dẫn và giữ chân các cổ đông nước ngoài thì nhà nước cân nhắc tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài trên 30%. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Hoàn thiện pháp chế, hệ thống pháp luật:

Hoàn thiện pháp chế, có hệ thống giám sát hoạt động của doanh nghiệp, công khai thông tin minh bạch, để hạn chế tình trạng bất đối xứng thông tin, dẫn tới các quyết định không chính xác, một bên lừa dối và bên còn lại chịu thiệt hại.

Hoàn thiện pháp lý bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, hạn chế tình trạng cổ đông kiểm soát chiếm đoạt lợi ích hoặc của cổ đông thiểu số do quyền lực chủ yếu tập trung ở cổ đông lớn như nhà nước, gia đình. Từ đó cổ đông kiểm soát có thể giảm tỷ lệ sở hữu để huy động vốn hoặc đa dạng hóa mà không sợ mất đi quyền kiểm soát và lợi ích cá nhân. Đồng thời, có chính sách bảo vệ cổ đông nước ngoài, cổ đông nhỏ, nhà đầu tư để tăng cường nguồn vốn huy động cũng như thu hút cổ đông nước ngoài. Hệ thống tòa án cần minh bạch, tránh tình trạng tham nhũng, nâng cao tính hiệu quả trong việc thực thi hợp đồng, tăng cường ứng dụng công nghệ để cải thiện thủ tục hành chính được tinh gọn, tối ưu thời gian, bộ máy hành chính hiệu quả, ít quan liêu, chính sách vĩ mô ổn định. Theo La Porta và cộng sự (1997), thị trường chứng khoán vừa rộng lớn hơn vừa có giá trị hơn ở những quốc gia có sự bảo vệ pháp lý tốt hơn cho những cổ đông thiểu số. Các quy định pháp lý và khả năng thực thi hiệu quả tăng cường niềm tin của nhà đầu tư, thúc đẩy thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế.

Quy định trách nhiệm trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường giám sát đối với người đại diện phần vốn nhà nước để bảo toàn nguồn vốn nhà nước.

  • Dự báo về lạm phát:

Có cơ chế dự báo hiệu quả về mức độ lạm phát để các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp chủ động trong hoạt động kinh doanh để hạn chế rủi ro và có kết quả sinh lời tốt hơn.

  • Kiểm soát tỷ lệ sở hữu của CEO và tăng cường cơ chế giám sát

Trường hợp CEO nắm giữ tỷ lệ lớn cổ phần của ngân hàng sẽ có thể trở nên lạm quyền, hành động vì lợi ích cá nhân. Do đó, cần có giới hạn tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành phù hợp và có cơ chế giám sát chặt chẽ để hạn chế chi phí đại diện, tình trạng bất cân xứng thông tin, lạm quyền, tham nhũng.

5.2.2 Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Tăng cường quy định giám sát và chính sách thông tin: Để giảm thiểu tình trạng thông tin bất đối xứng dẫn đến chi phí đại diện, chủ sở hữu cần tăng cường công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xấu, giảm xung đột lợi ích tiềm ẩn giữa người sở hữu và người quản lý. Chính sách thông tin cần minh bạch để tạo sự tin tưởng cho khách hàng và nhà đầu tư.

  • Thiết lập cơ chế giám sát nội bộ để hạn chế hành vi vụ lợi và tăng tính minh bạch.
  • Đổi mới hệ thống quản trị của ngân hàng theo hướng hiện đại, áp dụng khoa học công nghệ số, xây dựng cơ chế quản trị thích hợp.
  • Hoàn thiện và tận dụng ưu thế của cấu trúc sở hữu: Điều chỉnh theo định hướng của cơ quan quản lý nhà nước đồng thời tận dụng, khắc phục các yếu điểm và kết hợp lợi thế của từng loại hình sở hữu phù hợp nhất đối với đặc điểm doanh nghiệp để gia tăng lợi nhuận kinh doanh, khả năng sinh lời:

NHTMCP có sở hữu nhà nước trên 50%: Cải thiện vấn đề minh bạch thông tin, giảm chi phí đại diện do tình trạng bất đối xứng thông tin như đảm bảo cơ chế thông tin, báo cáo, ủy quyền. Đồng thời đẩy mạnh tái cấu trúc hoạt động, xây dựng các phương án nâng cao năng suất, hiệu quả, chất lượng hoạt động, giảm chi phí để gia tăng lợi nhuận. Tăng vốn điều lệ để cải thiện năng lực cạnh tranh.

NHTMCP có sở hữu nước ngoài: Tận dụng các lợi thế quốc tế như kỹ thuật, quản trị, công nghệ hiện đại, chuẩn quốc tế, mạng lưới quốc tế để nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng tệp khách hàng. Tăng cường hợp tác với ngân hàng quốc tế, nhà đầu tư quốc tế để để chia sẻ kinh nghiệm, tiếp cận vốn với giá tốt hơn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Duy trì hoặc tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài đến mức tối đa theo quy định hiện tại, trước hết là đạt mức tối đa 30% sở hữu nước ngoài như quy định của nhà nước để nâng cao lợi nhuận ngân hàng.

Các ngân hàng TMCP tư nhân khác: Thu hút nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính uy tín để nâng cao quản trị, công nghệ, mở rộng mạng lưới, tăng cường năng lực cạnh tranh. Tăng cường tỷ lệ sở hữu nước ngoài bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông nước ngoài tham gia vào việc góp vốn chủ sở hữu: thủ tục, pháp lý, quản lý…Tăng cường đầu tư công nghệ, kỹ thuật, quản trị để cải thiện kết quả kinh doanh, các chỉ số quản lý rủi ro để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Mở rộng thị trường ra quốc tế để tăng cường cơ hội tiếp xúc và thu hút cổ đông nước ngoài. Ngoài ra, ngân hàng tận dụng tính linh hoạt của hình thức sở hữu tư nhân để đổi mới sản phẩm dịch vụ, đa dạng sản phẩm, áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, phát triển theo xu hướng số hóa để tiếp cận được nhiều đối tượng khách hàng, kể cả vùng sâu vùng xa. Đa dạng hình thức sở hữu cũng góp phần cải thiện cơ cấu vốn, giảm chi phí vốn từ vay nợ, từ đó nâng cao lợi nhuận.

Tuân thủ quy định nhà nước theo chuẩn mực Basel II, Basel III về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hệ thống kiểm soát nội bộ để theo kịp các chuẩn mực quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh, tăng cao giá trị doanh nghiệp, hấp dẫn nhà đầu tư trong và ngoài nước góp vốn, tạo điều kiện cải thiện công nghệ, nhân lực, năng suất cao hơn, tạo ra hiệu quả sinh lời cao hơn, đồng thời để bảo vệ khoản đầu tư của cổ đông nước ngoài, giảm rủi ro, tăng hiệu quả sinh lời để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, nhà nước cũng thoái vốn dễ dàng hơn.

Đào tạo nhân sự, nâng cao năng lực quản trị, năng lực công nghệ, chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài vốn có ưu thế về công nghệ.

5.2.3 Đối với nhà đầu tư

Tìm hiểu kỹ và đánh giá về doanh nghiệp từ nhiều nguồn để tránh tình trạng bất đối xứng thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nắm và tuân thủ quy định của pháp luật về những giới hạn đầu tư để tránh rủi ro pháp lý.

5.3 Hạn chế của đề tài Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Do không thu thập đủ dữ liệu để nghiên cứu nên tác giả chỉ giới hạn trong 20 NHTM Việt Nam, nghiên cứu chỉ tiến hành trong phạm vi các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam mà chưa đề cập đến các trung gian tài chính khác.

Tác giả chưa đủ điều kiện để thu thập dữ liệu để nghiên cứu cho một vài biến khác có khả năng tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng như văn hoá kinh doanh, cơ chế pháp lý, luật pháp kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, các chính sách kinh tế liên quan đến hoạt động ngân hàng…để xem xét, phân tích các yếu tố khác có tác động đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng.

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Các nghiên cứu sắp tới sẽ cập nhật thêm thông tin dữ liệu về không gian và thời gian để nâng cao ý nghĩa thống kê.
  • Bài nghiên cứu này có số lượng ngân hàng còn hạn chế, chỉ có 20 NHTMCP, trường hợp có thể thu thập đủ dữ liệu để nghiên cứu thì có thể tăng thêm số lượng ngân hàng, số lượng mẫu nghiên cứu.
  • Khi nghiên cứu thì có thể áp dụng thêm các mô hình hoặc phương pháp khác để đạt được kết quả tốt hơn.
  • Bổ sung thêm các biến khác để xem xét chiều hướng tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM như xem xét tác động khi CEO kiêm chủ tịch hội đồng quản trị…

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Dựa vào kết quả hồi quy và luận ở Chương 4, Chương 5 trình bày những kết luận chính và gợi ý những đề xuất hàm ý chính sách, đóng góp để các nhà quản lý ngân hàng thương mại có định hướng về việc quản lý cấu trúc sở hữu cũng như tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Các đề xuất liên quan đến việc tăng, giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước và nước ngoài hợp lý. Ngoài ra, chương 5 còn nêu ra những mặt hạn chế còn tồn đọng và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

2 thoughts on “Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

  1. Pingback: Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

  2. Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời says:

    Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *