Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.1.1. Mô hình nghiên cứu

Các lý thuyết nền như lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết lợi thế toàn cầu, lý thuyết quyền lực thị trường… và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây như Dewi và Nugraha (2018), Fathi và Mona (2017), Barako và cộng sự (2007), Griffith và cộng sự (2002), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023)…đã cho thấy tác động khác nhau của cấu trúc sở hữu của nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu của nhà quản lý đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Các quốc gia trên thế giới tương đồng với Việt Nam về môi trường kinh tế như Indonesia, Malaysia, Bangladesh, Kenya…cũng đang trong quá trình cải cách, tìm kiếm cấu trúc sở hữu tối ưu để cải thiện kết quả hoạt động của các ngân hàng. Dựa trên việc kế thừa có chọn lọc từ nghiên cứu của tác giả Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), tác giả đã lựa chọn các biến cho mô hình gồm biến tỷ suất sinh lời ROA, ROE, biến tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, biến quy mô để xây dựng mô hình nghiên cứu tại Việt Nam. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Griffith và cộng sự (2002), tác giả tìm thấy mối quan hệ của sở hữu của CEO với kết quả hoạt động của doanh nghiệp là ngược chiều và phi tuyến tính, tuy nhiên nghiên cứu trên được thực hiện tại Hoa Kỳ, là một quốc gia có nền kinh tế phát triển và khác với bối cảnh kinh tế tại Việt Nam nên chưa thể áp dụng tại Việt Nam, do đó tác giả bổ sung thêm biến sở hữu của CEO để phân tích về mối quan hệ này tại một nền kinh tế đang phát triển. Các biến kiểm soát khác tác giả đưa vào mô hình gồm GDP và lạm phát INF và biến tỷ lệ nợ xấu NPL. Sau khi lược khảo các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sở hữu vốn tác động đến tỷ suất sinh lời như sau:

Mô hình được thiết kế như sau:

Mô hình 1: Tác động của cấu trúc sở hữu đến ROA

  • ROAi,t = β0 + β1GOV i,t+ β2FOR i,t + β3CEO i,t + β4SIZE i,t + β5NPL i,t + β6INF t + β7GDP t + ε i,t

Mô hình 2: Tác động của cấu trúc sở hữu đến ROE

  • ROE i,t = β0 + β1GOV i,t + β2FOR i,t + β3CEO i,t + β4SIZE i,t + β5NPLi,t + β6INFt + β7GDPt + ε i,t

Trong đó:

  • Biến phụ thuộc : ROA, ROE
  • Biến độc lập : GOV, FOR và CEO
  • Biến kiểm soát : SIZE, NPL, GDP, INF
  • β0: Hệ số chặn
  • β1… β7 : Hệ số hồi quy riêng của các biến
  • ε : giá trị sai số
  • i : là ngân hàng trong dữ liệu nghiên cứu
  • t : năm nghiên cứu tương ứng

3.1.2 Mô tả các biến và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Các biến trong mô hình được lựa chọn dựa vào các nghiên cứu trước đó và được trình bày theo bảng bên dưới :

Bảng 3.1 Tổng hợp các biến, đo lường và cơ sở lựa chọn các biến trong mô hình

  • Biến phụ thuộc:

Để nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu, tác giả chọn hai biến tỷ suất lợi nhuận là thước đo tác động, cụ thể gồm:

  • ROA (Return on Assets): Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

ROA là chỉ số hiệu quả được sử dụng thường xuyên nhất trong các nghiên cứu trước đây như Barako và cộng sự (2019), Dewi và Nugraha (2018), Sara và Mona (2017), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Nguyễn Hữu Huân, Dương Trọng Đoàn và Lê Thị Phương Thảo (2019)… Các cổ đông cần được biết ngân hàng đang được quản lý tốt và hoạt động hiệu quả như thế nào và một trong những chỉ tiêu cơ bản được sử dụng đó là: tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA. Chỉ số ROA phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản, năng lực quản lý tài sản để sinh lời.

  • ROE (Return on Equity): Tỷ suất sinh lời sau thuế trên tổng vốn chủ sở hữu

Ngoài ROA, các cổ đông thường quan tâm đến một chỉ tiêu khác là tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thể hiện hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, phản ánh lợi ích cổ đông nhận được khi đầu tư vốn. Một số bài nghiên cứu sử dụng biến phụ thuộc ROE như nghiên cứu của Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Trần Quốc Thịnh (2018), Vu Manh Chien và cộng sự (2017), Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023), Dewi và Nugraha (2018), Abdul và Reja (2015).

Giữa ROA và ROE có mối quan hệ trực tiếp. ROA nói lên mức độ hoạt động hiệu quả của ngân hàng, còn ROE nói lên mức độ hiệu quả trong đầu tư của cổ đông ngân hàng. Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Biến độc lập:

Tác giả sử dụng 3 biến độc lập gồm biến sở hữu nhà nước GOV i,t , biến sở hữu nước ngoài FOR i,t và biến sở hữu của giám đốc điều hành CEO là CEO i,t.. Trong đó:

  • Biến sở hữu nhà nước GOV: tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông là nhà nước.
  • Chỉ số này được đo bằng tỷ lệ phần trăm cổ phần ngân hàng là do nhà nước nắm giữ.

Một số nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu về tác động của sở hữu nhà nước đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng như như Dewi và Nugraha (2018), Sara và Mona (2017), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Trần Quốc Thịnh (2018)…Theo nghiên cứu của Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam do có ưu thế về mạng lưới, kinh nghiệm, cơ sở vật chất, thương hiệu  Ngoài ra các ngân hàng sở hữu nhà nước cũng có ưu thế tiếp cận vốn dễ dàng hơn, các mối quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước, các dự án của nhà nước…Nhiều nghiên cứu của các tác giả khác đa số kết luận sở hữu nhà nước có ảnh hưởng ngược chiều đến suất sinh lời của ngân hàng như Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Trần Quốc Thịnh (2018), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Robin (2018), Abdul và Reja (2015)…Nguyên nhân được lý giải là do các ngân hàng này ưu tiên mục tiêu an sinh, xã hội, lợi ích chính trị thay vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tại Việt Nam, các ngân hàng như Vietcombank, BIDV, Vietinbank giữ vai trò thực hiện các chính sách điều hành của NHNN, điều tiết thị trường vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, chính trị, ổn định hệ thống ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng này đang giảm dần tỷ lệ sở hữu của nhà nước theo định hướng của nhà nước. Ngoài ra, theo lý thuyết chi phí đại diện, các ngân hàng có sở hữu nhà nước chịu chi phí đại diện cao hơn do tình trạng thông tin bất đối xứng. Các cổ đông nhà nước được đại diện bởi một vài cá nhân và các cá nhân này chỉ điều hành chứ không thực sở hữu cổ phần nên ít nỗ lực trong việc tạo ra hiệu quả kinh doanh.

Tại Việt Nam, đại án kinh tế của tập đoàn doanh nghiệp nhà nước Vinashin, gây thất thoát vốn của nhà nước hàng nghìn tỷ đồng, nguyên nhân lớn đến tổng giám đốc là cá nhân được nhà nước bổ nhiệm đứng đầu tập toàn nhưng có nhiều sai phạm, báo cáo không trung thực, cố ý làm sai quy định của nhà nước, năng lực quản lý, đầu tư kinh doanh còn hạn chế gây thua lỗ, công tác quản lý, giám sát hoạt động các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước của các ban ngành còn hạn chế…

Do đó, tác giả chọn biến sở hữu nhà nước để kiểm tra tác động của hình thức sở hữu này đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng. Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Giả thuyết H1: Sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.

Biến sở hữu của nước ngoài FOR: tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông nước ngoài.

Chỉ số này được đo bằng tỷ lệ phần trăm cổ phần ngân hàng là do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ. Một số nghiên cứu của tác giả về mối quan hệ của sở hữu nước ngoài và suất sinh lời như như Dewi và Nugraha (2018), Sara và Mona (2017), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Trần Quốc Thịnh (2018)… Theo lý thuyết lợi thế toàn cầu và kết quả của một số nghiên cứu như Dewi và Nugraha (2018), Claessens và cộng sự (2001), Barako và cộng sự (2007)… cho thấy có mối quan hệ hiệu ứng tích cực của sở hữu nước ngoại đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của ngân hàng do ưu thế về khoa học và công nghệ, quy trình chuyên nghiệp, kỹ năng quản trị, nguồn vốn mạnh, nhân sự có chuyên môn cao, hoạt động giám sát chặt chẽ hơn, tính minh bạch cao, tập trung vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận… Điều này đúng trong bối cảnh tại Việt Nam hiện nay, từ cơ chế đóng cửa sang mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới, các ngân hàng thu hút cổ đông nước ngoài để nâng cao năng lực vốn, công nghệ, năng lực cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài và trong nước, nhiều ngân hàng có tỷ lệ sở hữu hữu nước ngoài cao như Techcombank, ACB, VP Bank…các ngân hàng này có sản phẩm đa dạng, quy mô tài sản lớn, nằm trong top đầu những ngân hàng tư nhân có lợi nhuận cao nhất và đã hoàn thành chỉ tiêu theo chuẩn mực Basel III.

Tại Việt Nam hiện nay, tỷ lệ sở hữu tối đa của cổ đông nước ngoài là 30%, việc nghiên cứu sở hữu nước ngoài là một cơ sở để xem xét về việc cân đối giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài.

  • Giả thuyết H2: Sở hữu nước ngoài có tác động thuận chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.

Biến sở hữu của giám đốc điều hành CEO: tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành CEO, chỉ số này được đo bằng tỷ lệ phần trăm cổ phần ngân hàng do chính CEO của ngân hàng nắm giữ. Một số nghiên cứu của các tác giả về mỗi liên hệ của sở hữu của CEO và lợi nhuận của doanh nghiệp như Phan Bùi Gia Thủy, Trần Đức Tài và Trần Thị Tú Anh (2017), Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019), Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023), Vu Manh Chien và cộng sự (2017), Griffith và cộng sự (2002). Theo lý thuyết người đại diện (Jensen và Meckling, 1976), người quản lý và chủ sở hữu có xung đột về lợi ích, người quản lý thường thực hiện hành vi cơ hội, tư lợi, cá nhân mà bất chấp ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của doanh nghiệp, điều này càng nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp nhà nước do thiếu cơ chế giám sát, động lực kinh doanh hạn chế. Do đó, khi tỷ lệ sở hữu cổ phần của Giám đốc điều hành cao thì họ có động lực hành động vì lợi ích của cổ đông vì lợi nhuận của công ty cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của họ. Điều này làm giảm chi phí đại diện và dẫn đến lợi nhuận tốt hơn. Theo Dzung và cộng sự (2019), sở hữu của cổ đông là giám đốc điều hành CEO khi sở hữu cổ phần đủ lớn thì có thể lạm dụng chức quyền của mình để đưa ra các quyết định quản trị, điều hành phục vụ cho lợi ích riêng của mình.

  • Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu:

Giả thuyết H3: Sở hữu của CEO có tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.

  • Biến kiểm soát: Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Biến kiểm soát gồm quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tốc độ tăng trước tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tỷ lệ lạm phát (INF). Trong đó:

  • Biến quy mô SIZE:

Quy mô ngân hàng được xác định bằng Logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng: Ln (Tổng tài sản). Một số nghiên cứu của các tác giả về tác động của quy mô đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Dewi và Nugraha (2018), Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019, Huân và cộng sự (2019), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023)…Những ngân hàng có quy mô lớn hơn thường tận dụng hiệu quả quy mô nên hiệu quả sinh lời cao hơn.

Giả thuyết H4: Quy mô ngân hàng có ảnh hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP.

  • Biến tỷ lệ nợ xấu NPL:

Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng tài sản, có ảnh hưởng đến lợi nhuận của mỗi ngân hàng. là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ lành mạnh, ổn định tài chính của mỗi ngân hàng thương mại và toàn hệ thống ngân hàng, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý nợ xấu, tái cơ cấu hệ thống hiện nay. Tỷ lệ nợ xấu cao có thể dẫn đến tình trạng ngân hàng mất khả năng thanh khoản. Biến tỷ lệ nợ nợ xấu thể hiện tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng dư nợ của ngân hàng, là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng, chất lượng tài sản của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Một số nghiên cứu của các tác giả về tác động của tỷ lệ nợ xấu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng như Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), Son và cộng sự (2015).

Giả thuyết H5: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP

  • Biến tốc độ tăng trưởng GDP:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo lường tổng giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ trong phạm vi quốc gia tại một thời điểm nhất định. GDP là một chỉ số cực kỳ quan trọng thể hiện tốc độ tăng trưởng của quốc gia. GDP tăng thể hiện nền kinh tế hoạt động tốt, doanh nghiệp đầu tư nhiều và ngược lại. Mức tăng GDP hàng năm của Việt Nam được thu thập từ website của Worldbank. Trong thời kỳ kinh tế bùng nổ, GDP ở mức cao, các ngân hàng được kỳ vọng có kết quả kinh doanh cao và ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Tăng trưởng kinh tế cao hơn giúp người đi vay có thể hoàn thành nghĩa vụ đi vay tại ngân hàng, giảm rủi ro tín dụng, ngược lại khi kinh tế bất lợi có thể làm tăng các khoản nợ xấu và làm giảm lợi nhuận ngân hàng. Bài nghiên cứu sử dụng tỷ lệ tăng trưởng như một biến dự kiến có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất sinh lời của ngân hàng. Một số nghiên cứu của các tác giả về tác động của GDP đến khả năng sinh lời của các ngân hàng như Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Phan Bùi Gia Thủy, Trần Đức Tài và Trần Thị Tú Anh (2017), Vu Manh Chien và cộng sự (2017), Robin, Salimb và Bloch (2018), Dương Trọng Đoàn và Nguyễn Hữu Huân (2019)…

Giả thuyết H6: Tỷ lệ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội có tác động cùng chiều với tỷ suất sinh lời của các NHTMCP.

INF: Tỷ lệ lạm phát là chỉ số kinh tế vĩ mô, thể hiện sự tăng mức giá chung liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Lạm phát vượt ngưỡng cho phép sẽ gây khủng hoảng kinh tế, gây tác động tiêu cực đến hoạt động ngân hàng. Lạm phát hàng năm của Việt Nam được thu thập từ website của Worldbank. Lạm phát cao hơn có thể làm tăng lợi nhuận của ngân hàng khi thu nhập tăng nhiều hơn chi phí. Lạm phát dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng vì lạm phát làm giảm thu nhập thực tế của các hộ gia đình, dẫn đến tổng nhu cầu hàng hoá và dịch vụ giảm. Từ đó, các tổ chức giảm sản xuất và cắt giảm kế hoạch đầu tư cũng như vay mượn, đặc biệt đối với các khoản vay có lãi suất thay đổi (Umer và cộng sự 2014, Boyd và cộng sự 2001). Các nghiên cứu về tác động của tỷ lệ lạm phát đến hiểu quả hoạt động của các ngân hàng như Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Robin, Salimb và Bloch (2018), Dương Trọng Đoàn và Nguyễn Hữu Huân (2019).

Giả thuyết H7: Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP.

3.2 Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Thu thập và xử lý dữ liệu

Quy mô mẫu dữ liệu là của 20 ngân hàng thương mại tiêu biểu tại Việt Nam từ 2012 đến 2023 gồm 240 quan sát. Các dữ liệu ROA, ROE, tỷ lệ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, quy mô được thu thập từ nguồn tài liệu của Fin Pro và Vietstock, là 2 trang web khá uy tín về cung cấp dữ liệu tài chính tại Việt Nam. Dữ liệu tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát INF được thu thập từ website của ngân hàng Thế giới Worldbank. Lý do tác giả chọn 20 ngân hàng này vì các ngân hàng được thu thập có dữ liệu đầy đủ đối với các mẫu nghiên cứu cần thu thập trong khoảng thời gian nghiên cứu, các ngân hàng không công bố đủ dữ liệu thì tác giả đã loại ra để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu. Đồng thời các ngân hàng này có quy mô và mức độ ảnh hưởng lớn, có tính đại diện cho hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam khi có thời gian hoạt động lâu dài, ổn định và chiếm tỷ lệ khoảng 80% trên tổng tài sản và thị phần trên toàn hệ thống các NHTMCP Việt Nam. Các ngân hàng này cũng trải qua quá trình tái cơ cấu và đa số hoàn thành các chuẩn mực Basel II, hướng tới Basel III, do đó phản ánh tương đối đặc trưng cho hệ thống các ngân hàng tại Việt Nam.

Lý do tác giả chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ 2012 đến năm 2023 vì đây là khoảng thời gian gần nhất đối với thời điểm thực hiện nghiên cứu (năm 2024) thể hiện bối cảnh, xu hướng hiện tại của nền kinh tế và tương đối dài (12 năm) phản ánh các biến động của cấu trúc sở hữu để phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam. Giai đọan này nền kinh tế cũng trải qua ảnh hưởng tiêu cực từ các sự kiện kinh tế, chính trị toàn cầu như dịch Covid 19, chiến tranh Nga – Ukraina… Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng trải qua quá trình thực hiện tái cấu trúc mạnh mẽ theo Đề án của Chính Phủ, các ngân hàng có nhiều sự thay đổi trong cơ cấu sở hữu, hoạt động và kết quả kinh doanh. Kèm theo đó, các ngân hàng cũng trải qua quá trình triển khai Basel II, hướng tới Basel III, việc áp dụng các chuẩn mực Basel dẫn đến sự thay đổi trong quản trị rủi ro, an toàn vốn, cấu trúc sở hữu. Do đó tác giả chọn thời gian từ năm 2012 đến năm 2023 để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu một cách toàn diện trong bối cảnh các chuẩn mực quốc tế đang được triển khai sâu rộng tại Việt Nam.

Do giới hạn về thời gian và dữ liệu nghiên cứu nên để có mô hình nghiên cứu phù hợp nhất và cho kết quả đáng tin cậy, các phương pháp ước lượng khác nhau được tác giả đã thực hiện để kiểm tra độ bền vững của kết quả.

Sau khi thu thập số liệu, tác giả tổng hợp và xử lý số liệu trên phần mềm excel theo các công thức đã được nêu tại bảng về đo lường các biến. Các biến được thể hiện dưới dạng số thập phân.

3.3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

3.3.1 Quy trình nghiên cứu

  • Hình 3.1 Các bước trong quá trình nghiên cứu

3.3.2 Trình tự thực hiện nghiên cứu

Tác giả thực hiện phân tích mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến dựa trên dữ liệu bảng gồm là phương pháp bình phương tối thiểu (OLS), hiệu ứng tác động cố định (FEM), hiệu ứng tác động ngẫu nhiên (REM), bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS), hồi quy GMM trên phần mềm STATA 17.

  • Phân tích thống kê mô tả dữ liệu

Từ bảng tổng hợp số liệu, tác giả mô tả đặc điểm của dữ liệu thu thập được như giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất, giá trị trung vị và sai số chuẩn giữa các giá trị.

  • Phân tích, lựa chọn, kiểm định mô hình hồi quy

Một số đặc điểm của các mô hình ước lượng được sử dụng trong nghiên cứu như sau:

  • Mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất OLS

Mô hình này còn được gọi là mô hình ước lượng OLS (Ordinary Least Squares), là phương pháp tìm ra các hệ số ước lượng cho các biến độc lập dựa trên giá trị trung bình của biến phụ thuộc, dựa trên nguyên tắc tối thiểu hóa tổng bình phương các sai số của mô hình. Mô hình hồi quy OLS có thể được biểu diễn dưới dạng: Yit = β0 + βiXit + εit

Trong đó:

  • β 0 là hệ số chặn,
  • βi là hệ số hồi
  • ε là sai số ngẫu nhiên của các yếu tố chưa quan sát được
  • i là ngân hàng trong dữ liệu nghiên cứu
  • t là năm nghiên cứu tương ứng
  • Yit: biến phụ thuộc của ngân hàng i trong năm t
  • Xit: biến độc lập của ngân hàng i trong năm t

Phương pháp này đơn giản, dễ ước lượng, tuy nhiên còn hạn chế là chưa xét đến sự khác nhau giữa các đối tượng quan sát.

  • Mô hình tác động cố định FEM Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Mô hình FEM (Fixed Effects Model) là mô hình giả định các đơn vị trong dữ liệu nghiên cứu có đặc điểm riêng biệt và có thể gây ảnh hưởng đến các biến giải thích, có tác động cố định không đổi theo thời gian, thể hiện các yếu tố không quan sát được nhưng bất biến theo thời gian như chiến lược kinh doanh, văn hóa tổ chức hoặc quy trình quản trị nội bộ…Mô hình hồi quy FEM được biểu diễn dưới dạng: Yit = αi + βiXit + εit

Trong đó:

  • αi là hệ số chặn cho từng ngân hàng i
  • βi hệ số hồi quy
  • ε là sai số ngẫu nhiên
  • i là ngân hàng trong dữ liệu nghiên cứu
  • t là năm nghiên cứu tương ứng
  • Yit: biến phụ thuộc của ngân hàng i trong năm t
  • Xit: biến độc lập của ngân hàng i trong năm t

Mô hình tác động ngẫu nhiên REM

Mô hình REM (Random Effects Model) là mô hình giả định rằng các đơn vị trong dữ liệu có đặc điểm riêng ngẫu nhiên và không có mối quan hệ tương quan giữa biến độc lập và hiện tượng sai số trong mô hình. Mô hình hồi quy REM được biểu diễn dưới dạng: Yit = α + βiXit + µit

Trong đó:

  • α là hệ số chặn của mô hình
  • βi hệ số hồi
  • µit là sai số tổng hợp (bao gồm thành phần sai số theo đơn vị chéo εi và sai số chéo và chuỗi thời gian kết hợp εit)
  • i là ngân hàng trong dữ liệu nghiên cứu
  • t là năm nghiên cứu tương ứng
  • Yit: biến phụ thuộc của ngân hàng i trong năm t
  • Xit: biến độc lập của ngân hàng i trong năm t

Để xác định mô hình nào phù hợp nhất, tác giả sử dụng các kiểm định F-Test (so sánh giữa các mô hình OLS và FEM), Breuch-Pagan (lựa chọn giữa các mô hình OLS và REM), Hausman (chọn giữa mô hình FEM và REM).

Sau khi đã chọn được mô hình phù hợp nhất, tác giả tiếp tục tiến hành kiểm định hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, nếu mô hình được chọn mắc một hoặc hai hiện tượng trên, tác giả sẽ sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS để khắc phục. Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

  • Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS)

Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square –FGLS) là phương pháp ước lượng được dùng khi giả định về phương sai không đồng nhất. Trong trường hợp mô hình hồi quy có hiện tượng phương sai thay đổi hoặc tự tương quan hoặc có cả 2, thì FGLS được dùng để điều chỉnh phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, mô hình hồi quy được cải thiện chính xác hơn, các ước lượng thu được vững hơn.

  • Phương pháp ước lượng moment tổng quát hệ thống (SGMM)

SGMM (System Generalized Method of Moments) là phương pháp giúp giải quyết những vấn đề tự tương quan, phương sai sai số không đồng nhất và vấn đề biến nội sinh trong mô hình hồi quy mà các ước lượng thông thường như OLS, FEM, REM hay FGLS không thể giải quyết được. Cụ thể, trong trường hợp phát hiện mô hình FGLS tồn tại hiện tượng không tốt như nội sinh dẫn tới việc ước lượng không còn chính xác, nguyên nhân có thể là do bỏ sót biến quan trọng, hồi quy SGMM được sử dụng để khắc phục để số liệu đầu ra của nghiên cứu vững, hiệu quả. Các kiểm định cần thiết để đánh giá mô hình hồi quy hợp lệ và không lạm dụng biến công cụ như:

  • Số lượng biến công cụ không vượt quá số lượng các nhóm quan sát.
  • Kiểm định Abond AR (2): kiểm tra tính tự tương quan bậc 2 của mô hình
  • Kiểm định Hansen/Sargan: kiểm tra tính hợp lệ của biến công cụ.
  • Kiểm định Arellano-Bond (AR): kiểm tra tự tương quan của sai số.

Các kiểm định khuyết tật mô hình

  • Kiểm định đa cộng tuyến bằng chỉ tiêu Vif

Đa cộng tuyến là hiện tượng các biến độc lập trong mô hình tương quan tuyến tính với nhau. Nghiên cứu tiến hành kiểm định giả thuyết mô hình không bị hiện tượng đa cộng tuyến bằng cách dùng chỉ tiêu VIF. Nếu chỉ tiêu VIF của tất cả các biến độc lập đều < 10 thì hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình không quá nghiêm trọng.

  • Kiểm định F-test

Kiểm định F-test được dùng để so sánh giữa mô hình OLS và mô hình FEM. Trong đó, giả thuyết là:

H0: αi=0 => không có hiệu ứng cố định, mô hình OLS phù hợp hơn. H1: αi≠0 => có hiệu ứng cố định, mô hình FEM phù hợp hơn

  • Kết quả kiểm định là: Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Nếu p-value < 0.05 → Bác bỏ H0, có hiệu ứng cố định, lựa chọn mô hình FEM.

Nếu p-value > 0.05 → Chấp nhận H0, không có hiệu ứng cố định, lựa chọn mô hình OLS là mô hình tốt hơn.

  • Kiểm định Breuch-Pagan

Kiểm định Breuch – Pagan được dùng để so sánh và lựa chọn giữa mô hình OLS và mô hình REM. Trong đó, giả thuyết là:

  • H0: σ 2 = 0 => không có sự khác biệt giữa các đơn vị, không có hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình OLS phù hợp hơn.
  • H1: σ 2 > 0 => tồn tại sự khác biệt giữa các đơn vị, có hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình REM phù hợp hơn

Kết quả kiểm định:

  • Nếu p-value < 0.05 → Bác bỏ H0, sử dụng mô hình REM.
  • Nếu p-value > 0.05 →Không có đủ bằng chứng để bác bỏ H0 nên sử dụng mô hình OLS.

Kiểm định Hausman:

Tác giả dùng kiểm định Hausman để so sánh và lựa chọn giữa mô hình FEM và REM. Trong đó, giả thuyết là:

  • H0: E(αi∣Xit) = 0, không có mối quan hệ giữa các biến độc lập và yếu tố ngẫu nhiên, hiệu ứng ngẫu nhiên, mô hình REM phù hợp hơn.
  • H1: E(αi∣Xit) ≠ 0, có mối quan hệ giữa các biến độc lập và yếu tố ngẫu nhiên, hiệu ứng cố định, mô hình FEM phù hợp hơn.

Kết quả kiểm định:

  • Nếu p-value < 0.05 → Bác bỏ H0, sử dụng mô hình FEM.
  • Nếu p-value > 0.05 → Không có đủ bằng chứng để bác bỏ H0, sử dụng mô hình REM.

Kiểm định phương sai sai số thay đổi White:

Kiểm định giả thuyết phương sai của sai số không đổi bằng kiểm định White là cần thiết vì phương sai của sai số thay đổi sẽ làm cho các ước lượng thu được vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi quy không còn đáng tin cậy. Từ đó dẫn đến hiện tượng ngộ nhận các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa.

Trong đó, giả thuyết:

  • H0: không có hiện tượng phương sai thay đổi.
  • H1: có hiện tượng phương sai thay đổi

Kết quả kiểm định: Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

Nếu giá trị p-value ≤ 5%: bác bỏ H0, mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Nếu giá trị p-value > 5%, chấp nhận H0, không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan Wooldridge

Tự tương quan (autocorrelation) là hiện tượng mà sai số tại thời điểm t có mối quan hệ với sai số tại thời điểm trong quá khứ. Giữa các sai số có mối quan hệ tương quan với nhau sẽ làm cho các ước lượng thu được vững nhưng không hiệu quả, các kiểm định hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy. Vì thể để biết mô hình có hiện tượng tự tương quan hay không, bài luận sử dụng kiểm định Wooldridge với giả thuyết:

  • H0: không có sự tự tương quan trong mô hình H1: có hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Kết quả kiểm định:
  • Nếu giá trị p-value ≤ 5%, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1, nghĩa là có xuất hiện tự tương quan trong mô hình.
  • Nếu giá trị p-value > 5%, ta chấp nhận H0, không có đủ bằng chứng kết luận mô hình bị tự tương quan.

Kiểm định yếu tố nội sinh bằng phương pháp ivregress hồi quy 2 giai đoạn 2sls

Tác giả sử dụng kiểm định Durbin Wu-Hausman để kiểm tra, xác định các biến trong mô hình có phải biến nội sinh hay không. Kiểm định được đưa ra với mục đích kiểm tra biến X có phải là biến nội sinh không, nếu mô hình tồn tại hiện tượng nội sinh thì sẽ xử dụng phương pháp S-GMM để xử lý nội sinh.

Trong đó, giả thuyết:

  • H0: biến X không phải biến nội sinh
  • H1: biến X là biến nội sinh.

Dựa vào giá trị p-value của kiểm định Wu-hausman :

Nếu p-value ≤ 5%, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1, nghĩa là biến X là biến nội sinh Nếu p-value > 5%, ta chấp nhận H0, nghĩa là biến X không phải biến nội sinh.

TÓM TẮT CHƯƠNG 3

Trong chương 3, tác giả đã trình bày về mô hình nghiên cứu của đề tài, dữ liệu nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Luận văn đưa ra những mô hình phù hợp để kiểm định, bao gồm kiểm định F-Test dùng để so sánh mô hình OLS và FEM, kiểm định Hausman so sánh mô hình FEM và REM, kiểm định Breusch and Pangan dùng để so sánh mô hình OLS và REM. Để khắc phục những khuyết tật còn tồn đọng trong mô hình, tác giả sử dụng mô hình FGLS, nếu còn mắc hiện tượng nội sinh, mô hình SGMM được sử dụng để xử lý nội sinh và từ đó đưa ra kết quả mô hình tốt nhất. Những phương pháp kiểm định được nhắc đến ở chương 3 sẽ là cơ sở để tác giả thực hiện và thảo luận các kết quả nghiên cứu ở chương tiếp theo. Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

One thought on “Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

  1. Pingback: Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *