Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Nguyên nhân đề xuất các biện pháp quản lý
Việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
3.1.1 Nguyên tắc phát huy vai trò các chủ thể của quá trình dạy học
Dạy học là hoạt động đặc thù cơ bản nhất của giáo dục, nó được tạo ra bởi sự tương tác trực tiếp giữa thầy và trò, giữa người học với nhau, giữa dạy học và xã hội; là sự thống nhất chặt chẽ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Trong quá trình dạy học thầy và trò vừa là chủ thể, vừa là đối tác. Người thầy đóng vai trò chủ thể của hoạt động dạy, còn học sinh lại đóng vai trò chủ thể của hoạt động học.
Trong công tác quản lý Hoạt động tự học của nhà trường, vai trò chủ thể – người học cần được tạo những điều kiện để phát huy cao độ, nhưng không tách rời với vai trò của hoạt động dạy, do đó cũng không tách rời vai trò chủ thể -người dạy. Khi vai trò của các chủ thể được xác định, các hoạt động sẽ thống nhất, quy trình vận hành trở nên liên tục và không bị cản trở. Muốn kết quả của quá trình dạy học đạt tốt thì đồng thời cả hoạt động dạy và hoạt động học cần phải được thực hiện tốt, vai trò của chủ thể quyết định cho sự thành bại.
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Tất cả các hoạt động giáo dục trong nhà trường nói chung đều nhằm hướng đến mục đích của giáo dục. Khi xây dựng các biện pháp quản lý Hoạt động tự học cần phải cân nhắc một cách kỹ lưỡng, sao cho vừa phù hợp với nội dung chương trình, với mục tiêu chung và tình hình thực tế của địa phương trong việc quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ.
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ
Công tác quản lý Hoạt động tự học xét dưới góc độ quản lý, hoạt động của tổ chức bao giờ cũng mang tính hệ thống chặt chẽ. Các giải pháp đề ra phải đảm bảo tính đồng bộ. Cán bộ quản lý cần phải chú ý đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến các biện pháp, mối quan hệ giữa các yếu tố này khi tác động đến quá trình thực thi các biện pháp.
Chẳng hạn khi triển khai ứng dụng các biện pháp Cán bộ quản lý và GV cần chú ý đến các yếu tố, đặc thù của Học sinh dân tộc thiểu số, điều kiện tự nhiên và xã hội trên địa bàn, có như vậy thì mới được thực hiện một cách đồng bộ, mới phát huy được hết thế mạnh của từng biện pháp và sự hỗ trợ giữa các biện pháp với nhau.
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Việc nghiên cứu và đưa ra các biện pháp phải trên quan điểm kế thừa và phát triển. Những nội dung thực hiện phải dựa trên kết quả đã đạt được, những biện pháp đã thực hiện của ngành GD&ĐT và những quy định của địa phương trong những năm vừa qua, tiếp thu có chọn lọc và có sự cải tiến, đề xuất mới phù hợp, đáp ứng các yêu cầu để phát triển tốt hơn, hoàn thiện hơn. Mặt khác phải thấy được việc triển khai các biện pháp quản lý Hoạt động tự học phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của Phụ huynh học sinh, Cán bộ quản lý, GV và đa số Học sinh dân tộc thiểu số đang công tác và học tập tại các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ hiện nay.
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và khả thi
Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học Mác – Lê nin: “Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.
Các biện pháp đề xuất phải đảm bảo tính thực tiễn, tức là phải sát với yêu cầu thực tế của ngành, phù hợp với điều kiện thực tế của các trường học, có khả năng triển khai thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện, đảm bảo tiến độ thực hiện. Bên cạnh đó còn phải phù hợp với điều kiện và khả năng, hoàn cảnh thực tế của HS, không có những vướng mắc, khó khăn khi triển khai mà nguyên nhân là do nội dung của biện pháp quy định.
Các biện pháp đề ra phải được kiểm chứng, thử nghiệm để có căn cứ khách quan; có khả năng áp dụng vào thực tiễn, có tác động nhanh và có hiệu quả cao khi thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp.
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và bền vững
Khi xây dựng các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HS cần có kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra một cách khoa học (tránh lãng phí về sức lực, tiền của, thời gian) và phải phù hợp đối với điều kiện, hoàn cảnh của từng trường, từng lớp. Tính khoa học còn được thể hiện ở cách thức tổ chức quản lý của các nhà quản lý và việc thực hiện các Hoạt động tự học của HS để đem lại hiệu quả cao.
Việc lựa chọn và đưa ra các biện pháp cần phải xem xét và cân nhắc thật kỹ để không những tránh hiệu quả thấp, gây tốn kém, mất lòng tin của HS và GV mà còn bảo đảm tính lâu dài, bền vững. Có nghĩa là các biện pháp đưa ra có khả năng thích hợp với các trường Trung học cơ sở ở huyện Hoành Bồ có Học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tập trong giai đoạn hiện nay.
3.1.7. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Các biện pháp được xây dựng đều phải có mục tiêu và quy trình hợp lý, phải đạt được hiệu quả đó là nâng cao được chất lượng giáo dục ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hoành Bồ.
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức và chỉ đạo việc nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường về tự học, tầm quan trọng của Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học trong quá trình dạy học
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Giúp Cán bộ quản lý, GV, HS và gia đình HS nhận thức đầy đủ hơn về tự học, ý nghĩa và vai trò của hoạt động tự học; xác định được cốt lõi của việc học, chính là tự học của bản thân người học; thấy được tầm quan trọng, tính tích cực và hiệu quả của việc nâng cao nhận thức quản lý Hoạt động tự học cho HS vùng dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng đáp ứng được xu thế đổi mới giáo dục hiện nay. Trên cơ sở đó giúp HS định hướng được mục đích, động cơ học tập đúng đắn, có niềm tin, hình thành thói quen, có thái độ và hành động tích cực, chủ động, tìm tòi, sáng tạo trong học tập.
- Nội dung và cách thức thực hiện
Điều tra, khảo sát thực trạng nhận thức về Hoạt động tự học, về quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ đối với Cán bộ quản lý, GV, HS và Phụ huynh học sinh; trên cơ sở đó tăng cường tuyên truyền, giáo dục ý thức tự giác học tập cho HS; quán triệt sâu sắc tới toàn thể Cán bộ, giáo viên trong ngành, Phụ huynh học sinh, các tổ chức xã hội để có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về tự học cũng như tầm quan trọng của tự học.
Thông qua giờ lên lớp, các hoạt động nội, ngoại khóa; GV cần tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác học tập cho HS. Thực tế lượng kiến thức HS tiếp thu được khi học ở trên lớp là rất hạn chế, nếu HS không có ý thức học tập, tự nghiên cứu tìm hiểu thêm, với khả năng nhận thức của HS Trung học cơ sở vùng dân tộc thiểu số lại càng khó hơn khi các em biến những kiến thức học được trên lớp thành của mình. Chính vì vậy việc tự học rất quan trọng và cần thiết, nhà trường phải coi đó là một hoạt động trong nội dung chương trình kế hoạch, phải được triển khai thực hiện từ Ban giám hiệu tới các tổ bộ môn, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành các cấp, các tổ chức đoàn thể; tăng cường công tác tuyên truyền, vận động Phụ huynh học sinh và HS về tầm quan trọng, việc cần thiết phải học tập và tự học của HS Trung học cơ sở ở các nhà trường, đặc biệt là Học sinh dân tộc thiểu số sống trên địa bàn huyện Hoành Bồ – một huyện miền núi còn nhiều khó khăn.
Tổ chức các hội nghị có sự tham gia của lãnh đạo các xã, thị trấn, thủ trưởng các cơ quan ban ngành, đoàn thể trên địa bàn xã, thị trấn quán triệt đường lối của Đảng, Nhà nước về xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời là rất cần thiết bởi Học sinh dân tộc thiểu số là những cán bộ nguồn cần được đào tạo để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Thông qua chương trình kế hoạch GDĐT và bồi dưỡng của các nhà trường, thảo luận bổ sung vào kế hoạch GDĐT phù hợp với thực tế.
Qua đó lãnh đạo các trường, Phụ huynh học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc học tập, và cần phải tự học mới đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa và hiện đại hóa, từ đó tạo điều kiện để HS có thêm thời gian tự học.
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên
GV là người trực tiếp tổ chức và điều hành chủ yếu các hoạt động dạy học trên lớp, hơn ai hết GV là người hiểu rõ nhất về HS, biết HS học được gì, học như thế nào và cần phải làm gì để kết quả học tập đạt kết quả tốt. Chính vì vậy người GV phải là những người đi tiên phong trong tổ chức, phát động, hướng dẫn thực hiện Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số; phát triển Hoạt động tự học trở thành phong trào rộng khắp mang lại hiệu quả học tập, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường.
Tổ chức quán triệt sâu rộng đến Cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường các văn bản pháp quy, các nội quy, quy chế của ngành; triển khai tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua của ngành và địa phương phát động. Tập trung dân chủ, thảo luận thống nhất xây dựng các quy định về tự học; tổ chức triển khai thực hiện trong tình hình cụ thể của nhà trường. Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới Phương pháp dạy học nhằm vào mục tiêu nâng cao chất lượng, nâng cao khả năng tự học cho HS. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
CBQL đưa Hoạt động tự học của HS, Nội dung tự học của HS vào nội dung quản lý chỉ đạo của trường; Kế hoạch xây dựng theo một hệ thống trước hết từ lãnh đạo nhà trường trên cơ sở căn cứ nội dung, chương trình và điều kiện thực tế của Học sinh dân tộc thiểu số; đồng thời phải nắm được nhu cầu và nguyện vọng học tập của HS.
Thống nhất xây dựng mục tiêu giáo dục trên cơ sở nâng cao chất lượng dạy học và hiệu quả Hoạt động tự học của HS. Xác định quá trình, đánh giá hiệu quả thực hiện và điều chỉnh kịp thời.
Đề cao tính nhân văn trong giảng dạy. Thực hiện sứ mạng của nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh phát huy trí lực, khả năng tự học, dành kết quả tốt trong học tập và tạo ra thói quen tự học, tự nghiên cứu sau này. Đặc biệt quan tâm đối tượng HS là người dân tộc thiểu số để có phương pháp và cách thức phù hợp.
- Tăng cường nhận thức cho học sinh
Khi HS nhận thức đầy đủ về tự học, hiểu được lợi ích, vai trò và ý nghĩa thiết thực và tính quyết định trong kết quả học tập; HS sẽ hình thành ý thức tự học như một thói quen, chủ động tự học như một nhiệm vụ chính của học tập. Trong thực tế, một số Học sinh dân tộc thiểu số đã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của Hoạt động tự học nhưng vẫn chưa tự giác, chủ động trong Hoạt động tự học, điều đó đặt ra phải có các biện pháp rèn luyện cho HS tính chủ động, tự giác, biết cách học phù hợp, hiệu quả cho bản thân trong tự học nói riêng và học tập nói chung:
- Tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn cho HS nhận thức đúng và đầy đủ về Hoạt động tự học; không chỉ ngoài giờ học khi vắng mặt GV, mà ngay cả khi học tập, nghe giảng ở trên lớp cũng cần đến tự học.
- Hội đồng sư phạm cần phát động phong trào tự học, tự tìm tòi khám phá kiến thức trong nhà trường, tạo ra không khí, môi trường tự học tác động trực tiếp đến nhận thức HS. GV bằng đổi mới phương pháp, thông qua những bài giảng, dẫn dắt HS hiểu sâu ý nghĩa tự học, tạo ra tình huống nhận thức.
- Cùng với tạo dựng cho HS nhận thức đầy đủ về vấn đề tự học thì việc nêu gương tự học, động viên, khen thưởng là những hình thức khích lệ HS học tập đạt thành tích cao bằng tự học.
- Xây dựng môi trường học tập thân thiện, giúp đỡ học hỏi lẫn nhau cùng tự học và học tập tiến bộ.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện khả thi, triển khai đầy đủ nhiệm vụ đến các bộ phận chức năng trong nhà trường, Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn. Tổ chức phối hợp thực hiện đồng nhất với các đoàn thể trong nhà trường, tuyên truyền đến các bậc Phụ huynh học sinh cùng phối hợp thực hiện. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Cán bộ quản lý lập kế hoạch, tổ chức thường xuyên tuyên truyền đề cao ý nghĩa, vai trò Hoạt động tự học, xây dựng nét đẹp về Hoạt động tự học, tạo cảm hứng cho HS vui thích trong Hoạt động tự học.
Giáo viên chủ nhiệm thực hiện tuyên truyền cụ thể vào các giờ sinh hoạt lớp, các buổi hoạt động tập thể ngay từ đầu năm học, giúp cho HS nhận thức đầy đủ, nghiêm túc về nhiệm vụ học tập và yếu tố quyết định chất lượng học tập là Hoạt động tự học. Đồng thời, cần tổ chức cho HS được trao đổi, thảo luận về kinh nghiệm học tập với nhau; kịp thời khen thưởng những học sinh tiêu biểu trong lớp có cách tự học, học tập hiệu quả. Cùng với Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn yêu cầu nhiệm vụ học tập theo đặc thù bộ môn, qua đó HS ý thức được nhiệm vụ học tập của bộ môn và thực hiện nhiệm vụ tự học.
Tổ chức Đoàn, Đội thực hiện tổ chức thi đua, tuyên truyền về vai trò và ý nghĩa của tự học trong đội viên, đoàn viên thanh niên trong nhà trường; xây dựng các tiêu chí thi đua gắn với Hoạt động tự học.
Phụ huynh học sinh thường xuyên nhắc nhở và động viên các em, giúp các em hiểu thêm về Hoạt động tự học; khuyến khích, tạo điều kiện cho các em tự học.
- Tăng cường nhận thức cho gia đình học sinh và các tổ chức xã hội
Qua khảo sát thực trạng, trao đổi thực tế đã đưa ra một số số liệu khá đầy đủ về nhận thức của phụ huynh và gia đình học sinh, các tổ chức xã hội trên địa bàn còn nhiều hạn chế. Cần thay đổi và tăng cường nhận thức của Phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội về tự học, vai trò, ý nghĩa của Hoạt động tự học. Nêu cao vai trò, trách nhiệm của gia đình cũng như các tổ chức xã hội trong việc kiểm tra, đôn đốc, động viên khuyến khích con em tự học, đạt kết quả tốt trong học tập, cùng con em chuẩn bị các điều kiện thuận lợi cho Hoạt động tự học.
CBQL nhà trường cần chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp, phân công trách nhiệm trong giáo dục với gia đình HS, tổ chức hội nghị Phụ huynh học sinh; tổ chức tuyên truyền, giải thích rộng rãi về Hoạt động tự học, phân tích vai trò và ý nghĩa của Hoạt động tự học; thống nhất nội dung, ký cam kết thực hiện. Sau từng kỳ học có thông tin tổng thể về việc thực hiện. Đối với những HS ở nội trú, bán trú, nhà trường cần có kế hoạch và quy định rõ ràng, thực hiện nghiêm túc công tác quản sinh. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền sâu rộng, đầy đủ ý nghĩa của việc đầu tư cho giáo dục nói chung và tự học nói riêng.
GVCN thực hiện việc trao đổi thông tin thường xuyên, thăm hỏi, xem xét, đánh giá về điều kiện của gia đình HS. Định hướng cho gia đình trong quản lý Phân tích các nguyên nhân, kết quả, kịp thời biểu dương những gương tự học tiến bộ cho gia đình HS; đưa ra những mô hình tự học phù hợp với từng hoàn cảnh gia đình HS.
GVBM thông tin cho Giáo viên chủ nhiệm và gia đình học sinh các nội dung về đặc thù môn học và kết quả, Nội dung tự học. Cùng Giáo viên chủ nhiệm thực hiện việc tuyên truyền hướng dẫn gia đình HS hiểu đầy đủ về vai trò, ý nghĩa Hoạt động tự học và những kế hoạch định hướng của nhà trường về tự học.
- Điều kiện thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Đội ngũ Cán bộ quản lý và GV phải có nhận thức đúng, đầy đủ về sự cần thiết và tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch tổng thể cho công tác quản lý Hoạt động tự học.
CBQL nhà trường xây dựng kế hoạch cụ thể chi tiết, tham khảo ý kiến của Giáo viên chủ nhiệm, Giáo viên bộ môn. Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, thu nhận những thông tin phản hồi từ gia đình HS, HS và địa phương. Từng tháng, quý, kỳ học đánh giá rút kinh nghiệm quá trình thực hiện, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực hiện.
GVCN làm tốt công tác tham mưu, triển khai đầy đủ các kế hoạch của nhà trường cũng như kế hoạch chủ nhiệm; chủ động tiếp cận với gia đình HS.
GVBM chia sẻ và thực hiện tốt chức năng với môn mình phụ trách, cùng tham gia vào quá trình thực hiện các biện pháp tăng cường nhận thức của gia đình HS và các tổ chức xã hội ở địa phương đạt hiệu quả.
HS căn cứ Kế hoạch tự học của nhà trường và của môn học cùng với sự hướng dẫn của GV xây dựng Kế hoạch tự học của mình sao cho phù hợp với điều kiện thực tế.
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức, hướng dẫn học sinh hình thành kỹ năng lập kế hoạch tự học và thực hiện hoạt động tự học có sự kiểm tra, đánh giá của giáo viên
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Giúp đỡ HS biết kế hoạch hóa thời gian học tập sẽ tránh được sự lãng phí về mặt thời gian và quá trình học tập có sự khoa học logic, có ý chí tự học, tự nghiên cứu. HS chủ động hoàn thành nhiệm vụ học tập hàng ngày, hàng tuần theo đúng Kế hoạch tự học và đảm bảo chất lượng tự học. Cải tiến nội quy học tập theo hướng giúp cho HS tự giác thực hiện sự tự học sẽ giúp kết quả học tập của HS được tốt hơn.
Nâng cao vai trò tổ chức, định hướng học tập của GV thông qua công tác quản lý tự học, tạo mối quan hệ tương tác giữa thầy và trò. GV nắm được vấn đề tự học và thời gian tự học của HS, từ đó có cách thức tổ chức cho HS tự học đạt hiệu quả cao. Thúc đẩy HS tìm kiếm các Phương pháp tự học tương ứng với điều kiện, trình độ, năng lực; biết hợp tác học tập, biết tự đánh giá việc thực hiện Nội dung tự học.
- Nội dung và cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Muốn xây dựng được kế hoạch quản lý Hoạt động tự học của HS, người quản lý phải căn cứ nội dung, chương trình và điều kiện thực tế của HS và nhà trường, đồng thời phải nắm được nhu cầu và nguyện vọng học tập của HS.
Nhà trường xây dựng kế hoạch tổng thể cho công tác quản lý bao gồm Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tủ sách, thư viện; hướng dẫn, kiểm tra – đánh giá kết quả; phân công Cán bộ, giáo viên theo dõi kiểm tra việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch tự học.
GVCN, Giáo viên bộ môn căn cứ kế hoạch của nhà trường, xây dựng Kế hoạch tự học của lớp hoặc môn mình phụ trách. Hướng dẫn và quản lý Kế hoạch tự học của HS để đảm bảo tính hợp lý và có khả năng thực thi. Đồng thời, GV yêu cầu HS và kiểm tra việc xác định mục tiêu tự học, thời gian tự học, lựa chọn HTTH, Nội dung tự học và kết quả thực hiện Hoạt động tự học.
GV phối hợp với cán sự lớp, cán sự môn học và gia đình HS để đôn đốc, giúp đỡ HS tự học theo kế hoạch đã lập. Hướng dẫn cho HS những kỹ năng tự học ngay trên lớp thông qua tăng cường các Phương pháp dạy học tích cực, phân công thực hiện các nhiệm vụ môn học như chuẩn bị bài mới, làm bài tập về nhà, học bài, ôn tập…
Khảo sát phân loại đối tượng HS. Tổ chức cho HS tham gia trao đổi kinh nghiệm học tập giữa các nhóm học tập, giữa các lớp và khối lớp.
Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS thông qua các môn học, các hoạt động; có động viên, khen thưởng kịp thời.
HS căn cứ Kế hoạch tự học của lớp và của môn học cùng với sự hướng dẫn của GV xây dựng Kế hoạch tự học của mình sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với khối lượng thông tin tương ứng của các môn học, khả năng trình độ nhận thức của cá nhân đối với từng môn học và phân phối hợp lý thời gian cho các hoạt động trên lớp, ngoài giờ lên lớp (giờ tự học). Việc thực hiện kế hoạch và thời gian biểu một cách nghiêm túc để tạo thói quen, nề nếp, sẽ không mang tính chất bắt buộc, gượng ép trong học tập.
- Điều kiện thực hiện biện pháp
CBQL, GV, gia đình HS quan tâm và quản lý chặt chẽ kế hoạch, thời gian tự học của HS.
GV áp dụng Phương pháp dạy học tích cực, phù hợp với đối tượng Học sinh dân tộc thiểu số; hướng dẫn HS lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và có kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS. Việc thu thập kết quả kiểm tra, bên cạnh tính chất đánh giá kết quả phải thực hiện được các chức năng thúc đẩy, điều chỉnh Hoạt động tự học của HS.
HS phải có ý thức lập Kế hoạch tự học và cố gắng, tự giác, nghiêm túc thực hiện theo kế hoạch đã lập.
3.2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tạo động cơ để thúc đẩy học sinh tự học, tự nghiên cứu Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Đội ngũ GV là lực lượng đóng vai trò quyết định chất lượng giáo dục, vì vậy phải quản lý, bồi dưỡng về phẩm chất chính trị, đạo đức tác phong; để GV luôn có ý thức vươn lên về chuyên môn nghiệp vụ như nghiên cứu đổi mới Phương pháp dạy học, thu hút được HS, giúp HS biết cách học và tự học đạt kết quả cao.
- Nội dung và cách thức thực hiện
Việc cải tiến Phương pháp dạy học rất quan trọng, người GV luôn phải nghiên cứu, tìm hiểu cái mới, buộc họ phải năng động hơn, sáng tạo hơn và vượt qua những lối mòn mà người học luôn cảm thấy nhàm chán. Có cải tiến Phương pháp dạy học mới tạo cho HS thay đổi hướng tư duy, HS hứng thú hơn, cảm nhận được bài học sinh động, nắm vững kiến thức và tự tin hơn; thể hiện được tính độc lập, khả năng khai thác sử dụng thông tin có hiệu quả hơn. Đặc biệt, với đối tượng Học sinh dân tộc thiểu số, cần có sự linh hoạt, mềm dẻo, sử dụng những cách truyền đạt và tổ chức lớp phù hợp với nội dung.
Giúp HS phương pháp học: Để tìm được cách học hiệu quả nhất, HS cần hiểu rõ về bản thân, khả năng học của mình, nắm được cách học hiệu quả mà HS đã từng sử dụng; có đam mê, kiến thức, bộ môn và những vấn đề muốn học.
Cần đánh giá cách học của HS, việc xây dựng kế hoạch có phù hợp với sở trường và điều kiện của bản thân không, từ đó tìm ra được những thay đổi, điều chỉnh để việc học đạt hiệu quả hơn.
Trong quá trình dạy – tự học, để thể hiện có hiệu quả vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, người cố vấn, trọng tài và là “người cổ vũ” thì GV phải cải tiến Phương pháp dạy học của mình theo hướng “dạy học tích cực – lấy HS làm trung tâm”; phải luôn quan tâm hàng đầu đến việc dạy cách học, chú trọng cá nhân hóa việc học, phát triển ở HS kỹ năng và năng lực học tập độc lập, tự tìm tòi, nghiên cứu. Tạo điều kiện để trò tự điều chỉnh hành vi và nhận thức của mình.
Để việc cải tiến phương pháp giảng dạy được tiến hành thường xuyên, có định hướng rõ ràng thì cần phải có các biện pháp tổ chức và quản lý thích hợp. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Cần quán triệt trong tập thể Cán bộ, giáo viên nhà trường về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đổi mới Phương pháp dạy học đối với việc nâng cao kết quả học tập của HS. Cải tiến Phương pháp dạy học theo hướng tích cực đang là vấn đề quan tâm của toàn ngành và toàn xã hội, nhằm bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề; làm cho lớp học trở thành nơi giao tiếp thường xuyên giữa trò và trò (dưới sự hướng dẫn của thầy) và giữa trò với thầy. HS không còn thụ động với việc truyền đạt kiến thức của thầy mà trở thành chủ thể của quá trình nhận thức; từ tìm hiểu, phân tích, xử lý để tìm ra “cái chưa biết”, tự tìm ra được kiến thức, chân lý.
Cần phải kế thừa những yếu tố tích cực của Phương pháp dạy học truyền thống như: Thuyết trình, đàm thoại, trực quan…, mặt khác phải biết lựa chọn, áp dụng những yếu tố thích hợp của Phương pháp dạy học hiện đại để phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS, từng bước chuyển từ lối dạy thụ động, truyền thụ một chiều, thầy dạy trò ghi nhớ phổ biến thành “thầy dạy – trò tự học, tự nghiên cứu”, tạo ra năng lực tự học của HS.
Cải tiến việc soạn bài: Nghiên cứu kỹ chương trình SGK, SGV, đảm bảo yêu cầu về mục tiêu, thời gian, phương pháp, phương tiện, hình thức kiểm tra (nếu có). Hệ thống câu hỏi phải đảm bảo vừa sức, có tính gợi mở, ngắn gọn, rõ ràng và kích thích được tư duy của HS.
Đổi mới phương pháp truyền thụ kiến thức: Thay đổi dần phương pháp truyền thụ kiến thức, từ yêu cầu thấp đến yêu cầu cao đối với HS theo các mức độ từ nêu vấn đề và giúp đỡ HS cách thức tiến hành để giải quyết vấn đề đó (thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở, yêu cầu HS phải trả lời); GV nêu vấn đề, HS tự tìm tòi, nghiên cứu (dưới sự hướng dẫn của GV) để giải quyết vấn đề GV nêu ra; HS tự nêu ra vấn đề trên cơ sở tự đọc SGK và đề xuất luôn phương pháp giải quyết vấn đề đó (mức độ này GV trở thành người tổ chức, hướng dẫn, trọng tài, cố vấn cho HS). Thực tế hiện nay cũng chỉ có một số GV áp dụng Phương pháp dạy học hai mức độ ban đầu.
Xây dựng mối quan hệ hợp tác thầy – trò, trò – trò: Thay đổi dần mối quan hệ thầy trò trong khi lên lớp, tạo ra bầu không khí lao động hợp tác, tạo hứng thú học tập cho HS, tạo điều kiện cho các em suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận được nhiều hơn, chuyển từ việc tiếp thu kiến thức thụ động thành chủ động. Tổ chức cho HS được trao đổi với nhau trong nhóm những nội dung phù hợp, qua đây HS có thể giải quyết các khúc mắc mà vì lý do thời gian, hoặc tâm lý các em chưa thể giải đáp được.
Thực hiện dạy học phân hóa cá thể trong từng tiết học: Mỗi HS là một thế giới riêng biệt, với các đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, điều kiện hoàn cảnh, sở trường, nguyện vọng, ý chí khác nhau. Do vậy cần chú ý tới cá biệt hóa quá trình dạy học tức là phân chia HS theo đặc điểm, khả năng khác nhau để có cách dạy thích hợp, đảm bảo việc tiếp thu kiến thức được dễ dàng.
Tổ chức các hoạt động học tập phong phú: Do Học sinh dân tộc thiểu số dễ tiếp thu kiến thức theo hình thức “vừa học vừa chơi”, qua hoạt động tập thể, hội thi, hoạt động ngoại khóa nên GV cần quan tâm đến việc tổ chức các hình thức học tập thông qua các hoạt động khác nhau của nhóm, của lớp, của trường. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Hướng dẫn bài tập tự học ở nhà: Sau mỗi tiết học GV phải có một thời gian thích hợp củng cố kiến thức và hướng dẫn đọc bài ở nhà (bao gồm các câu hỏi lý thuyết và các loại bài tập, sau đây gọi là bài tập tự học (BTTH)).
Do đặc điểm tâm sinh lý của Học sinh dân tộc thiểu số, ý thức tự giác chưa cao, chưa có “chiến lược học tập” rõ ràng, nếu không có yêu cầu cụ thể của GV thì các em sẽ không biết học gì, học như thế nào trong thời gian ở nhà. BTTH sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy độc lập, sáng tạo cho HS; tập cho các em làm quen với Hoạt động tự học, giáo dục ý thức trách nhiệm và giúp đỡ cho các em chiếm lĩnh được kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu bài học.
Khi giao BTTH cho HS cần chú ý: BTTH cần thiết cho tất cả các môn; do trình độ HS khác nhau nên việc ra BTTH phải chú ý đến nhiều loại, có dễ, có khó để kích thích được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của tất cả các đối tượng trong lớp. BTTH phải phù hợp mục đích và nhiệm vụ của bộ môn, phù hợp với nội dung chương trình và quỹ thời gian, vốn hiểu biết của HS và phát triển theo hướng mức độ khó ngày càng cao. BTTH phải diễn tả tối thiểu tường minh ra vở để GV có thể kiểm tra, kiểm soát được.
GV cần nắm vững BTTH với các dạng cơ bản: BTTH củng cố kiến thức, BTTH rèn luyện kỹ năng, BTTH mở rộng đào sâu kiến thức, BTTH lĩnh hội tri thức mới, BTTH tìm tòi sáng tạo.
- Điều kiện thực hiện biện pháp
Sự chỉ đạo sát sao của Phòng GD&ĐT về công tác chuyên môn, thống nhất xây dựng và triển khai tập huấn đổi mới Phương pháp dạy học đến Cán bộ, giáo viên.
BGH nhà trường cần có sự định hướng, khuyến khích GV tự học, tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn; tổ chức chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn theo hướng đổi mới Phương pháp dạy học, linh hoạt để phù hợp với điều kiện nhà trường và đối tượng HS.
Đòi hỏi người GV phải có năng lực sư phạm, tích cực nghiên cứu, học tập, cập nhật thông tin thường xuyên và hơn nữa, là tình cảm nghề nghiệp, là sự gần gũi, hiểu biết, cảm thông và sẻ chia với Học sinh dân tộc thiểu số.
HS biết tự đánh giá khả năng học tập của bản thân, biết hợp tác tích cực với thầy cô trong các giờ học.
3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức thực hiện việc nâng cao vai trò của các chủ thể quản lý hoạt động tự học, hoàn thiện biện pháp quản lý trong nhà trường nhằm hướng tới chất lượng và hiệu quả hoạt động tự học, xây dựng không khí học tập trong toàn trường
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của đội ngũ trong quản lý Hoạt động tự học để tổ chức thực hiện đúng mục đích, yêu cầu của hoạt động; giúp đội ngũ nhận thức được “đổi mới Phương pháp dạy học phù hợp đối tượng” là động lực để thúc đẩy hoạt động học – tự học của HS, qua đó thống nhất trong quan điểm, đồng bộ trong hoạt động nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS.
Các biện pháp quản lý trong nhà trường được hoàn thiện, tác động đến cả thầy và trò, từ đó kích thích hứng thú học tập, tạo niềm tin trong HS. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường trong hai hoạt động trọng tâm: quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng dạy học.
- Nội dung và cách thức thực hiện
- Bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên
Lập kế hoạch thực hiện, chỉ đạo tổ chức bồi dưỡng đầu năm học. Tăng cường lý luận dạy học và định hướng đúng cho GV trong việc đổi mới Phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng HS dân tộc.
- Tổ chức các chuyên đề, thảo luận và rút kinh nghiệm, thống nhất trong đội ngũ.
- Xây dựng quy chế chuyên môn theo đặc điểm từng trường.
- Tổ chức dạy học phân hóa theo hai mức: Phụ đạo cho HS trung bình, yếu, kém và bồi dưỡng nâng cao cho HS khá, giỏi; thông qua hoạt động này để giao nhiệm vụ tự học sát với đối tượng và mục tiêu.
Có kế hoạch kiểm tra, đánh giá của nhà trường, của tổ bộ môn, thu nhận thông tin phản hồi để điều chỉnh hoặc tác động thích hợp với những chuyển biến từ đội ngũ GV và HS.
- Quản lý hoạt động học tập trên lớp
HS khi lên lớp phải hoàn thành tốt các bài tập, các vấn đề mà GV đưa ra, giao cho HS tự đọc, tự học ở nhà từ những tiết trước. Ngoài ra, HS cần xem trước bài sẽ học và đặt câu hỏi về những kiến thức mới trong SGK.
HS phải tập trung nghe, ghi chép các nội dung chủ yếu, cơ bản, chấp hành sự hướng dẫn và điều khiển của GV khi học trên lớp. Tích cực phát biểu ý kiến đối với các vấn đề hay câu hỏi mà GV đưa ra.
Tăng thời gian trao đổi giữa GV và HS trong giờ học trên lớp để người học phát huy tính tích cực sẽ có tác dụng tốt đến hiệu quả tự học (100% ý kiến GV cho rằng đây là biện pháp có hiệu quả). Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
GV cần kết hợp những nội dung cơ bản, chủ yếu từ SGK và thực tế xung quanh để tác động tích cực đến người học.
Tăng cường các hình thức kiểm tra, đánh giá trong giờ học; động viên, khuyến khích kịp thời HS, tổ, nhóm khi lên lớp. Duy trì nền nếp đánh giá nhận xét lớp học trong sổ ghi đầu bài và rút kinh nghiệm sau mỗi giờ học, tuần học.
Học sinh có mặt trước giờ học 15 phút để cùng nhau trao đổi bài và chuẩn bị giờ học chính thức (trong một tuần có thể dành vài buổi cho việc sinh hoạt tập thể như: tập hát, đọc báo, kể chuyện….). Không nên duy trì hình thức cán sự bộ môn lên bảng ghi lại tất cả các bài tập về nhà, mà nên tổ chức trao đổi theo từng nhóm (mỗi nhóm có một vài em học khá giỏi).
Đảm bảo đủ thời gian quy định cho một tiết học (45 phút), và thời gian nghỉ giữa hai tiết, có như vậy HS mới đủ điều kiện tâm sinh lý để tiếp thu tốt bài học.
- Phát huy tính tích cực của HS trong giờ học
HS phải chăm chú nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ, hăng hái phát biểu xây dựng bài. Theo ý kiến của GV trong trường thì việc chú ý nghe giảng, hay phát biểu xây dựng bài có tác động tốt tới hiệu quả tự học. GV kết hợp việc giảng dạy bài mới, kiểm tra bài cũ và động viên những em tích cực phát biểu xây dựng bài bằng cách cho điểm (lấy điểm kiểm tra miệng). Giữ gìn trật tự, không làm việc riêng.
- Đảm bảo các điều kiện cho giờ học
Phải đảm bảo các điều kiện phục vụ học tập như: Tập giấy nháp (bắt buộc phải có), sách, vở, dụng cụ học tập, giấy kiểm tra. Lớp học sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh sáng, bảng đen đảm bảo tiêu chuẩn, bàn ghế ngay ngắn…
Giáo viên bộ môn quản lý tiết học
Ở mỗi tiết học, GV bộ môn phải chịu trách nhiệm trước nhà trường trong việc quản lý và tổ chức lớp học. GV cần nắm được số HS vắng mặt, bao quát được trật tự trong lớp, xây dựng và duy trì nền nếp học tập.
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp của học sinh
Nhà trường phải kết hợp chặt chẽ với hội cha mẹ HS để quản lý HS học tập ngoài những buổi đến trường. Giáo viên chủ nhiệm quản lý việc học tập của HS lớp mình phụ trách thông qua đội ngũ cán bộ lớp, sự theo dõi của mình và sự trao đổi với Giáo viên bộ môn. Giáo viên chủ nhiệm lớp tăng cường kiểm tra việc thực hiện kế hoạch học tập của HS tại nhà, kết hợp với Phụ huynh học sinh giám sát việc thực hiện kế hoạch thời gian biểu nhằm tạo thành nếp học có hiệu quả cho HS. Khi thực hiện theo đúng kế hoạch do HS tự lập nên và tự đánh giá kết quả học tập của mình. Mỗi HS cần có sổ ghi kết quả học tập, tự phân tích lý do chưa đạt kết quả tốt, có kế hoạch phấn đấu cho từng môn học.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là không bắt buộc, nhưng sẽ mở rộng tầm hiểu biết và đào sâu tri thức của từng Hoạt động này có thể thực hiện bằng những hình thức như: Tổ chức toạ đàm, thảo luận chuyên đề theo từng môn học hay chuyên đề về phương pháp học tập của HS: Giới thiệu sách tham khảo của từng môn trong thư viện… Khuyến khích HS học mọi lúc, mọi nơi, mọi cách, mọi nội dung. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Phối hợp hoạt động của các tổ chức nhằm thúc đẩy việc học tập của HS như giao lưu văn hoá, tọa đàm, thăm quan, trao đổi kinh nghiệm học tập với những HS học tốt trong và ngoài nhà trường để thu hút các em vào hoạt động học tập.
- Điều kiện thực hiện biện pháp
Được sự đồng thuận của Phòng GD&ĐT về công tác bồi dưỡng, mời chuyên gia, đầu tư nội dung và kinh phí thực hiện. Đảm bảo chế độ ngoài giờ cho GV thực hiện nhiệm vụ trực quản lý tự học cho HS hoặc cho công tác quản sinh (với trường nội trú, bán trú).
Có biện pháp quản lý đội ngũ tốt, phân công nhiệm vụ đúng người, đúng việc và làm đúng yêu cầu.
Động viên, khuyến khích, khen thưởng kịp thời; công bằng trong quản lý, phân công; quy định rõ đối với đội ngũ về định mức làm việc trong các buổi trực và trách nhiệm của GV.
Thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, đảm bảo tính dân chủ, thống nhất, xây dựng các biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm tình hình nhà trường và đối tượng HS.
3.2.5 Biện pháp 5: Chỉ đạo, kiểm tra việc đầu tư, mua sắm, sử dụng cơ sở vật chất có hiệu quả, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhằm đáp ứng hoạt động tự học của học sinh Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
CSVC là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục. Thực tiễn cho thấy, sự thành công trong giáo dục của các nước trên thế giới bắt nguồn từ sự nhận thức đúng vai trò, vị trí của giáo dục đối với sự phát triển quốc gia. Do vậy, cần đầu tư kinh phí cho giáo dục để đổi mới hệ thống Cơ sở vật chất – kỹ thuật của nhà trường, mà bản chất là đổi mới về điều kiện và phương pháp giảng dạy, học tập.
Các thiết bị kỹ thuật của nhà trường có vai trò làm cầu nối giữa kiến thức và thực tiễn, giữa việc học tập đi đôi với thực hành; qua đó tính tích cực, tính tự giác của người học được phát huy, làm cho quá trình nhận thức trở nên tự nhiên và sâu sắc.
Với vai trò quan trọng như đã nêu trên, tăng cường Cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp, sử dụng đúng mục đích và tạo điều kiện cho HS tự học, phải được xem là một đòi hỏi có tính khách quan, là yêu cầu mà nhà trường cần phải giám sát thực hiện nếu muốn thực hiện nhiệm vụ, sứ mệnh của mình.
- Nội dung và cách thức thực hiện
- Khai thác các phương tiện và các điều kiện hiện có
Phương tiện, thiết bị dạy học bao gồm những phương tiện, đồ dùng dạy học như: Sách, thiết bị thí nghiệm tranh, ảnh, mô hình, mẫu vật, các thiết bị kỹ thuật, máy chiếu, radio, catset, máy vi tính, máy chiếu bản trong, máy chiếu qua đầu… Đó là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quá trình đào tạo, là những phương tiện mà GV và HS sử dụng để nâng cao hiệu quả truyền thụ và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả các phương tiện cần phải căn cứ vào kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo; lập kế hoạch khai thác sử dụng tốt các thiết bị, đồ dùng dạy học. Sử dụng phương tiện dạy học phải đúng lúc, đúng mức và thời gian hợp lý, bảo quản đi đôi với khai thác, sử dụng, nhất là để HS sử dụng trong học tập.
Bố trí lịch thực hành trên các phương tiện kỹ thuật (máy vi tính), thí nghiệm và thực hành môn học theo phương châm lý thuyết gắn với thực hành để nâng cao chất lượng học tập của HS và đúng phân phối chương trình. Với mỗi HS phải có góc học tập, đảm bảo thời gian tự học theo kế hoạch, có đầy đủ đồ dùng học tập, có kế hoạch cho HS được làm thí nghiệm và sử dụng thiết bị dạy học tại phòng thí nghiệm nhà trường. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Các biện pháp bổ sung phương tiện và tạo điều kiện
SGK, tài liệu học tập cần cung ứng đủ và kịp thời ngay từ đầu năm học. Các trường thành lập tủ sách dùng chung để giải quyết khó khăn cho những đối tượng chính sách, học sinh thuộc diện hộ đói, hộ nghèo, gia đình vùng sâu, vùng xa được hỗ trợ SGK.
Hàng năm có kế hoạch bổ sung sách tham khảo cho thư viện để tạo điều kiện cho GV và HS mượn, nâng cao chuyên môn và nghiên cứu sâu về môn mình phụ trách; mở rộng kiến thức, phục vụ cho các kỳ thi mà HS phải trải
Lập kế hoạch mua sắm bộ thiết bị thí nghiệm chuẩn theo danh mục tối thiểu của Bộ GD&ĐT để phục vụ cho các bài thực hành trong phân phối chương trình. Hàng năm phát động phong trào làm đồ dùng dạy học, có đánh giá, trao giải, khen thưởng kịp thời.
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá việc xây dựng trường lớp, xây dựng thêm các phòng học bộ môn, liên môn để HS học tập tốt hơn.
Trao đổi với Phụ huynh học sinh để gia đình tạo điều kiện cho con em có góc học tập, có thời gian tự học theo kế hoạch, vui chơi, giải trí, biết giúp bố mẹ; thực hành gắn vào việc giải các bài tập, vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày.
Điều kiện thực hiện biện pháp:
- Căn cứ vào nguồn ngân sách hàng năm được phân khai cho các đơn vị; kinh phí huy động từ nguồn xã hội hóa trên địa bàn.
- Sự đồng ý của Phòng GD&ĐT về phát triển cơ sở vật chất trường học.
- Quy mô và kế hoạch xây dựng phát triển nhà trường trong tương
- Sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận quản lý trong nhà trường.
3.2.6 Biện pháp 6: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, tạo sự đồng bộ trong quản lý hoạt động tự học cho học sinh dân tộc thiểu số.
- Mục tiêu và ý nghĩa của biện pháp
Thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường, tạo nguồn nhân lực cho địa phương. Nhà trường chủ động thiết lập mối quan hệ giáo dục và tìm kiếm sự đồng thuận về chính sách của các cấp quản lý, chính quyền địa phương trong giáo dục và đào tạo HS dân tộc. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Tăng cường hoạt động xã hội hóa giáo dục đối với đặc điểm quản lý HS nơi cư trú trong toàn huyện, tạo được sự phối hợp giáo dục với cha mẹ HS, sự hỗ trợ của các tổ chức quản tâm đến giáo dục dân tộc; sự gắn kết với các lực lượng giáo dục, chính quyền ở các địa phương trong toàn huyện.
- Nội dung và cách thức thực hiện
Quán triệt và thực hiện đúng các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh, của huyện, của ngành; có mối liên hệ thường xuyên với chính quyền các xã, thị trấn trên địa bàn huyện; đưa ra những giải pháp hợp lý, khả thi để tạo sự đồng tình và giúp đỡ của các cấp trong quá trình giáo dục của các nhà trường nói chung, quá trình dạy học nói riêng. Căn cứ vào đặc điểm, trình độ HS để tổ chức Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động học tập của HS; đề xuất cho Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT những biện pháp có tính quy tắc để có cơ sở pháp lý khi thực hiện các hoạt động quản lý và giáo dục trong nhà trường.
Thông báo các yêu cầu, quy định của nhà trường với Phụ huynh học sinh và cam kết thực hiện, các quy định về trao đổi thông tin và đề nghị hợp tác giáo dục giữa nhà trường, địa phương và gia đình HS.
Hợp tác tốt với Phụ huynh học sinh và chính quyền địa phương thu nhận và phản hồi thông tin giáo dục HS một cách hiệu quả; thông tin đầu vào, đầu ra; đánh giá đúng chất lượng HS để có biện pháp cụ thể.
Thông báo chất lượng đầu vào cho Phụ huynh học sinh và chính quyền địa phương để nắm tình hình, có biện pháp phối hợp tốt với nhà trường.
Nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc liên hệ, thông tin, tạo cầu nối cho những hoạt động phối hợp giáo dục giữa nhà trường và cha mẹ HS. Thu nhận thông tin HS từ khi vào trường đến khi ra trường, theo dõi quá trình đào tạo và trở về phục vụ địa phương.
Mỗi năm học, trường xây dựng kế hoạch đi thăm nắm tình hình một số gia đình HS và chính quyền các địa phương, tạo hệ thống liên lạc thường xuyên; qua đó tác động cụ thể nhằm giúp HS nhận thức đúng về yêu cầu đào tạo của địa phương và mục tiêu của nhà trường. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Phối hợp các lực lượng giáo dục trên địa bàn hoạt động của trường, tạo các điều kiện giao lưu văn hóa, học tập các chương trình hỗ trợ giáo dục HS để tăng tính tự giác học tập của HS.
Hàng năm có thông báo các số liệu HS của trường và các yêu cầu phối hợp với chính quyền quản lý địa bàn trường. Đảm bảo các hoạt động hỗ trợ về an ninh học đường, liên kết các hoạt động giao lưu văn hóa ở địa phương, tham gia các phong trào xây dựng thôn, xã, thị trấn; hình thành nếp nghĩ, lối sống văn minh cho HS, tạo ý thức học để biết, để làm và tự khẳng định trong cộng đồng.
Chủ động tạo quan hệ với Hội khuyến học, các tổ chức liên quan đến giáo dục dân tộc, chính quyền các cấp để hỗ trợ, tạo điều kiện tăng cường cho Hoạt động dạy học, giới thiệu các HS đạt thành tích tốt hoặc có hoàn cảnh đặc biệt nhưng quyết tâm vươn lên để có sự động viên, khuyến khích bằng học bổng hoặc các trang bị phục vụ học tập.
Điều kiện thực hiện biện pháp:
- Cần có quy chế phối kết hợp của nhà trường với các cơ quan, đơn vị, tổ chức liên quan đóng trên địa bàn.
- Khả năng ngoại giao, thiết lập mối quan hệ tích cực của nhà trường với các lực lượng giáo dục mang lại lợi ích cho hoạt động giáo dục của nhà trường và hoạt động học tập của HS.
- Chất lượng giáo dục của nhà trường cơ bản đáp ứng được với yêu cầu của xã hội, của địa phương.
- CBQL, GV biết giao tiếp bằng ngôn ngữ của một dân tộc chiếm đa số trên địa bàn để thuận lợi cho công tác vận động, tuyên truyền và giáo dục.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Các biện pháp mà tác giả nêu ra chính là các yếu tố khách quan có tác dụng rất lớn để thúc đẩy tính tích cực, chủ động tự học của HS. Mỗi biện pháp có một vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng và chức năng đặc thù với nhiệm vụ cụ thể của công tác quản lý. Trong quá trình vận dụng, chúng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Do vậy, các biện pháp đó không được tách rời, độc lập mà chúng thống nhất với nhau, ràng buộc lẫn nhau. Thực hiện được biện pháp này cũng có thể là cơ sở và điều kiện để thực hiện các biện pháp khác, đồng thời các biện pháp quản lý Hoạt động tự học còn bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học, các biện pháp được áp dụng theo các mức độ và yêu cầu khác nhau, đòi hỏi sự vận dụng khác nhau trong từng hoàn cảnh và thời điểm. Vì vậy, các biện pháp đề xuất trên cần được tiến hành đồng bộ, được sự thống nhất thực hiện cao độ trong Cán bộ quản lý, GV và HS.
3.4 Kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các Trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
3.4.1. Mô tả cách thức khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Để xem xét về tính khả thi và tính cấp thiết của các biện pháp quản lý hoạt động chuyên sâu được đề xuất ở trên, tác giả đã tiến hành khảo sát theo các bước:
- Bước 1: Lập phiếu điều tra (Phụ lục 4).
Nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý theo 4 mức thực hiện.
- Bước 2: Chọn đối tượng điều tra là Cán bộ quản lý và GV trong các nhà trường.
Gồm: 14 Cán bộ quản lý và 134 GV Trung học cơ sở.
- Bước 3: Phát phiếu điều tra.
- Bước 4: Thu phiếu điều tra để tiến hành phân tích. Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu.
3.4.2. Các kết quả khảo nghiệm và nhận xét, đánh giá
Qua khảo sát lấy ý kiến trước khi đưa các biện pháp và thực hiện với đối tượng trong nhà trường là cán bộ quản lý, giáo viên, kết quả thu được như sau:
Bảng 3.1. Kết quả thăm dò tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất
- Về tính cấp thiết của các biện pháp quản lý
Biểu đồ 3.1. Tính cấp thiết của các biện pháp quản lý Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Các biện pháp đề xuất đều được đánh giá ở mức độ rất cấp thiết với tỷ lệ cao, đều từ 90% trở lên. Đặc biệt đối với biện pháp “tổ chức và chỉ đạo việc nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường về tự học, tầm quan trọng của Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học trong quá trình dạy học” và “theo dõi, kiểm tra việc đầu tư, mua sắm, sử dụng Cơ sở vật chất có hiệu quả, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhằm đáp ứng Hoạt động tự học của HS” được Cán bộ quản lý và GV đánh giá tính cấp thiết với tỷ lệ đều là 95 – 98%.
- Về tính khả thi của các biện pháp quản lý
Biểu đồ 3.2. Tính khả thi của các biện pháp quản lý
Mặc dù cũng được đánh giá ở mức độ rất khả thi tương đối cao, nhưng so với mức độ rất cấp thiết thì thấp hơn. Biện pháp “tổ chức và chỉ đạo việc nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường về tự học, tầm quan trọng của Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học trong quá trình dạy học” được đánh giá mức độ rất cấp thiết là 98,64%, nhưng đánh giá về tính khả thi thì mức độ rất khả thi chỉ đạt 66,21%; hay biện pháp “chỉ đạo GV đổi mới Phương pháp dạy học theo hướng tạo động cơ để HS tự học, tự nghiên cứu” mặc dù 93,24% đánh giá là rất cấp thiết, nhưng đánh giá ở mức độ rất khả thi chỉ đạt 57,44%…
Như vậy, hầu hết các biện pháp đều được đánh giá là rất cấp thiết và rất khả thi nhưng từ ý tưởng trở thành hiện thực còn gặp nhiều khó khăn. Từ các kết quả khảo nghiệm, có thể nhận xét như sau:
- Các biện pháp quản lý Hoạt động tự học được đề xuất là cần thiết với điều kiện thực tế của các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ.
- Các biện pháp được đề xuất mang tính khả thi, trong điều kiện được quan tâm chỉ đạo và tổ chức sử dụng phối hợp đồng bộ.
- Đặc biệt, trong công tác quản lý Hoạt động tự học đối với Học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đang sinh sống tại những vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của huyện sẽ có những trở ngại lớn nhất định, không thể rập khuôn, máy móc mà căn cứ vào điều kiện cụ thể.
Để quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ là rất cấp thiết và phải khẩn trương tiến hành 6 biện pháp nêu trên và các biện pháp này đều có tính khả thi cao, trong đó mỗi một biện pháp được thể hiện bằng các tỷ lệ điều tra theo từng mức độ cụ thể.
Tiểu kết chương 3 Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Trên cơ sở các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý Hoạt động tự học, căn cứ thực trạng Hoạt động dạy học và điều kiện của các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tác giả đề xuất đưa ra 6 biện pháp cơ bản nhằm quản lý tốt Hoạt động tự học của HS.
Các biện pháp với mục đích, ý nghĩa, nội dung và phương pháp thực hiện được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc khoa học nhằm giải quyết thực trạng và nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường đã thể hiện được sự cần thiết và tính khả thi. Bước đầu vận dụng vào thực tế đã góp phần giúp HS tự giác, chủ động trong học tập (thể hiện ở kết quả khảo sát trong chương 2). Nhìn chung, ở những trường có điều kiện tự học thuận lợi hơn, đa số HS đã có ý thức, thái độ tích cực trong Hoạt động tự học.
Các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đã giúp cho Cán bộ quản lý, GV và HS của các nhà trường hình thành được một tác phong dạy – học mới hiệu quả, bổ ích; giúp xóa bỏ khoảng cách, giảm thiểu những hạn chế của Học sinh dân tộc thiểu số trong học tập; tạo đà cho sự phát triển giáo dục của nhà trường và địa phương.
Kết luận và khuyến nghị Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
1. Kết luận
HĐDH là hoạt động chính trong nhà trường, là hoạt động cơ bản nhất của quá trình giáo dục HS. Trong Hoạt động dạy học bên cạnh hoạt động dạy của người thầy, hoạt động học của trò là yếu tố quyết định, người học là trung tâm của quá trình học tập; ở đó nổi bật lên Hoạt động tự học của người học được coi như cái gốc sự phát triển của mỗi cá nhân, là quá trình giải quyết những mâu thuẫn bên trong của mỗi con người, là cách thức để người học thực hiện tự hoàn thiện bản thân, hình thành kỹ năng học tập và học tập suốt đời.
Việc quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục của các trường, là con đường ngắn nhất để tạo ra nguồn nhân lực cho địa phương. Đây là phương thức phát huy nội lực để thực hiện mục tiêu giáo dục, chiến lược giáo dục đã được Đảng và Nhà nước chỉ ra, đó là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” và “tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học tạo ra năng lực tự học sáng tạo của HS, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học” [47]; Đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong thực tế xã hội hiện đại, thời kỳ Công nghệ thông tin, văn minh tri thức, cách mạng khoa học kỹ thuật.
Trong đề tài nghiên cứu, dựa trên cơ sở khoa học của hệ thống lý luận về quản lý, quản lý giáo dục soi đường giúp cho việc lựa chọn biện pháp phù hợp nhất trong việc tạo ra hiệu quả giáo dục, dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ. Sau khi đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động tự học, nhóm nghiên cứu đã tổ chức khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi, kết quả là đa số Cán bộ quản lý và GV ủng hộ và tán thành các biện pháp. Như vậy, công tác nghiên cứu đã được thực hiện tốt, các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đã được giải quyết, mục đích nghiên cứu của đề tài đã đạt được với ý nghĩa lý luận và thực tiễn rõ rệt, bởi chúng được xây dựng trên cơ sở những điều kiện cụ thể của nhà trường, đồng thời phát huy được nội lực chủ quan của Cán bộ quản lý, GV, nhân viên và HS trong nhà trường.
Các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HSDTTS ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ được thực hiện giúp cho HS trong các nhà trường có được nhận thức đầy đủ, có thái độ đúng đắn, biết cách tổ chức thực hiện việc tự học một cách khoa học và hiệu quả; giúp cho đội ngũ nhà giáo nâng cao tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp, chủ động thực hiện đổi mới Phương pháp dạy học theo hướng hiệu quả tích cực “lấy người học làm trung tâm”; phát huy tính chủ động tự giác, tích cực học tập của các em; nhà trường thực hiện hết vai trò trong cộng đồng, xã hội thực hiện tốt phương châm xã hội hóa giáo dục.
Để phát huy được những tác dụng và thực hiện có hiệu quả các biện pháp, Cán bộ quản lý và GV các nhà trường cần tập trung cao độ sự thống nhất, đoàn kết vượt qua khó khăn, thực hiện tốt quan điểm “tất cả vì học sinh thân yêu”, vì sự tiến bộ và trưởng thành của các em HS, hướng đến một nền giáo dục phát triển bền vững và toàn diện.
2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo
Đối với Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa từ năm 2018 cần thực hiện việc biên soạn, cải tiến theo hướng tinh giản vững chắc, tập trung vào hệ thống cốt lõi cơ bản trong SGK ở cấp học nhằm khuyến khích năng lực tự học của HS. Quan tâm hơn đến vấn đề giảm tải nội dung, tránh những bất cập giữa thời gian và khối lượng kiến thức, giữa thời gian học và thời gian nghỉ ngơi của HS. (Ví dụ cần xây dựng hệ thống câu hỏi trong bài học, phần bài tập trong SGK theo hướng đổi mới nhằm phát triển năng lực HS, tuy nhiên cần theo cách đơn giản, dễ đón nhận để thúc đẩy HS học tập; tránh việc phức tạp hóa vấn đề gây áp lực với HS).
2.2. Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh
Có chính sách nhằm động viên, khuyến khích HS như : hỗ trợ chi phí học tập, tặng học bổng cho HS nghèo là dân tộc thiểu số có tinh thần vượt khó, đạt thành tích cao nhờ tự học.
2.3 Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh
Xây dựng kế hoạch, chương trình tập huấn, bồi dưỡng GV đổi mới Phương pháp dạy học theo hướng thúc đẩy HS tự học, tự nghiên cứu.
2.4. Đối với UBND huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Quan tâm đầu tư kinh phí xây dựng Cơ sở vật chất, tạo các nguồn lực cho các trường học để đáp ứng nhu cầu dạy – học cũng như các hoạt động học tập theo hướng đổi mới, chú trọng vào Hoạt động tự học nhằm ổn định và tạo đà để ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Mở các lớp học tiếng dân tộc tại huyện; tạo điều kiện cho Cán bộ, giáo viên tham gia, thuận lợi cho công tác quản lý, dạy học trong trường có Học sinh dân tộc thiểu số.
Quan tâm, tạo điều kiện nhiều hơn nữa cho những Học sinh dân tộc thiểu số con em gia đình chính sách, hộ nghèo, giúp các em có điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian tham gia học tập, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho địa phương.
2.5. Đối với Cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Bằng những việc làm cụ thể và nhiều hình thức khác nhau để tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về môi trường giáo dục và tầm quan trọng của Hoạt động tự học trong HS, GV và các lực lượng có liên quan khác. Đặc biệt quan tâm việc vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho Phụ huynh học sinh để HS được tạo điều kiện tốt nhất về học tập và thời gian tự học.
Coi trọng công tác quản lý Hoạt động tự học của HS, xác định là một nội dung, nhiệm vụ của các nhà Quản lý giáo dục, trong đó đưa việc xây dựng chương trình và Kế hoạch tự học vào quy chế hoạt động chuyên môn của trường.
Tăng cường Cơ sở vật chất như phòng học, xây dựng phòng truyền thống, phòng đọc, thư viện theo hướng hiện đại; tìm nguồn đầu tư để mua thêm SGK và tài liệu tham khảo.
Tăng cường bồi dưỡng GV, tích cực nghiên cứu, đổi mới Phương pháp dạy học, có quy định bắt buộc GV ngoài việc lên lớp còn tham gia hướng dẫn và quản lý Hoạt động tự học của HS.
Chú trọng công tác kiểm tra đánh giá Hoạt động tự học của HS, có nhiều hình thức động viên khen thưởng, kịp thời biểu dương, nêu gương đối với những GV điển hình và những HS có nhiều thành tích, tiến bộ trong học tập và tự học.
2.6. Đối với giáo viên
Tích cực tham gia các lớp tập huấn chuyên môn ; tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức về phương pháp dạy tự học, quan tâm đối tượng HS và thực hiện đúng yêu cầu trong quá trình dạy học trong nhà trường.
Tham gia quản lý Hoạt động tự học của HS, chấp hành đúng sự phân công của Ban giám hiệu và có những giải pháp linh hoạt, thiết thực giúp Học sinh dân tộc thiểu số có kỹ năng học, tự học hiệu quả. Tổ chuyên môn có kế hoạch quản lý chất lượng soạn giảng của GV theo đúng hướng dạy học tích cực. Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số

Pingback: Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số