Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng Hoạt động tự học và công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Vị trí địa lý, dân số, lao động huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Hoành Bồ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Ninh. Vị trí địa lý của huyện Hoành Bồ có vai trò là vùng ngoại ô của Thành phố Hạ Long, Thành phố Uông Bí, Thành phố Cẩm Phả, tiếp giáp Cửa Lục, nơi có Cảng nước sâu Cái Lân là cửa ngõ quan trọng của khu vực phía Bắc.
Toàn huyện có 12 xã và 01 thị trấn. Diện tích tự nhiên của huyện là 84.463 ha; dân số toàn huyện trên 52 nghìn nhân khẩu, chiếm tỷ trọng 14% về diện tích và 3,6% về dân số so với toàn tỉnh; Gồm 8 dân tộc đang sinh sống trong đó dân tộc thiểu số chiếm 36% (gồm các dân tộc Dao, Hoa, Tày, Nùng, Sán Dìu, Cao Lan, Mường).
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế – xã hội huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Ngày 5/3/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2017/QĐ-TTg về Danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn trên phạm vi cả nước [42]. Quyết định này là căn cứ để thực hiện một số chế độ, chính sách đặc thù nhằm phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các vùng khác trong cả nước. Huyện Hoành Bồ đứng thứ 2 về khó khăn trong tỉnh với 08/13 xã, thị trấn: Vũ Oai, Quảng La, Bằng Cả, Đồng Sơn, Đồng Lâm, Tân Dân, Hoà Bình và Kỳ Thượng. Trong Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của chương trình 135 năm 2024 và năm 2025 [57], số xã đặc biệt khó khăn của huyện giảm xuống, còn 03/13 xã, thị trấn (gồm xã Đồng Lâm, xã Đồng Sơn, xã Kỳ Thượng). Với các chương trình, dự án, các chính sách được triển khai hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực, góp phần thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao của huyện.
Với vị trí địa lý và giao thông thuận lợi, Hoành Bồ có nhiều điều kiện giao lưu hàng hóa và kinh tế – xã hội phát triển những lợi thế của huyện như dịch vụ du lịch, phát triển công nghiệp. “Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, xây dựng huyện Hoành Bồ có kinh tế phát triển nhanh, mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn kết liên thông trong vùng đô thị trung tâm của tỉnh Quảng Ninh; môi trường trong sạch, bền vững; bản sắc văn hóa dân tộc được bảo tồn và phát huy; trật tự – an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh bảo đảm. Đến năm 2040, huyện Hoành Bồ trở thành một trong những vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Quảng Ninh, với cơ cấu kinh tế Dịch vụ – Công nghiệp – Nông nghiệp; khu vực dịch vụ văn minh -chất lượng cao, công nghiệp sạch, hiện đại, nền nông nghiệp hàng hóa công nghệ cao; là một trong những trung tâm phát triển đô thị sinh thái của tỉnh Quảng Ninh” [12].
2.2. Sơ lược về các trường có học sinh Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
2.2.1. Quy mô trường lớp
Huyện có 14 trường học có HS Trung học cơ sở, nằm trên địa bàn 13 xã, thị trấn. Khoảng cách các trường cách xa nhau từ 8 – 15 km. Trường xa nhất cách trung tâm huyện 45 km; Giao thông đi lại khó khăn do địa bàn vùng núi hiểm trở, cơ sở hạ tầng xuống cấp. Do hạn chế về ngân sách, cơ sở vật chất và do số lượng HS từng xã, thị trấn nên chỉ có 07/14 trường Trung học cơ sở, còn lại là các trường liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở, Trung học cơ sở&THPT. Có 02/14 trường Trung học cơ sở mới được thành lập năm 2022, 3/14 trường thành lập năm 2021, tách ra từ trường liên cấp theo đề án chính sách phát triển giáo dục Trung học cơ sở, còn một số trường được tách sớm hơn.
Đặc thù của huyện Hoành Bồ là 100% các trường có cấp Trung học cơ sở đều có Học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tập. Trong đó có 01 trường phổ thông dân tộc nội trú (HS ăn, ở, học tập và tham gia hoạt động tại trường); 04 trường có HS bán trú (TH&THCS Đồng Sơn, Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Đồng Lâm, Tiểu học và Trung học cơ sở Kỳ Thượng, Trung học cơ sở Tân Dân với số lượng HS được ăn, ở tại trường theo quy định trong Thông tư liên tịch số 65/2021/TTLT-BGDĐT-BTC-BKHĐT ngày 22/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Hướng dẫn số 1678/HDLN-SGDĐT – STC ngày 15/05/2023 của Giám đốc Sở GD&ĐT và Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh). Năm học 2025 – 2026 tại 03 trường thuộc 03 xã đặc biệt khó khăn và 01 trường dân tộc nội trú có từ 97% đến 100% Học sinh dân tộc thiểu số. Các xã vùng cao, miền núi có người Kinh cư trú, công tác, có con em học tập tại địa phương chiếm tỉ lệ rất thấp. Các trường gần trung tâm thị trấn số lượng HS dân tộc ít hơn. Quy mô trường, lớp không đồng đều giữa các xã, thị trấn. Số lượng HS cũng theo sự phân bố dân cư ở các vùng trong huyện. Kết quả thống kê mạng lưới trường học Trung học cơ sở của huyện được tổng hợp qua bảng 2.1 như sau:
- Bảng 2.1. Mạng lưới trường học Trung học cơ sở của huyện Hoành Bồ năm học 2025 – 2026
2.2.2. Chất lượng giáo dục Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW [38], ngành GD&ĐT huyện đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như: Đổi mới công tác Quản lý giáo dục; đổi mới Phương pháp dạy học, kiểm tra, thi cử, đánh giá HS; chú trọng công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho HS… Phòng GD&ĐT huyện Hoành Bồ đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo ngành chức năng, các xã, thị trấn quan tâm đầu tư sửa chữa, xây dựng trường lớp; trang bị phương tiện, dụng cụ giảng dạy, học tập cho GV, HS.
Bên cạnh đó, huyện cũng còn những hạn chế, khó khăn trong phát triển giáo dục, đó là: Ở nhiều điểm trường vùng cao, điều kiện công tác hạn chế; HS nhận thức chậm, phụ huynh chưa quan tâm đến học tập của con em. Cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ dạy học còn thiếu thốn; cơ chế thu hút GV giỏi về địa phương công tác chưa thực sự hấp dẫn. Một số GV chưa đáp ứng được yêu cầu về nâng cao chất lượng giảng dạy. Điều đó cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng hai mặt giáo dục của ngành qua các năm học chưa thật đồng đều, có chuyển biến nhưng chưa rõ rệt. Ví dụ như năm học 2025 – 2026, số lượng HS giỏi tăng trên 2% so với năm học 2024 -2025, HS yếu giảm, nhưng lại xuất hiện HS kém (chiếm 0,11%).
- Bảng 2.2. Chất lượng hai mặt giáo dục của các trường Trung học cơ sở từ năm học 2021 – 2022 đến năm học 2025 – 2026
Trong đó, tỉ lệ Học sinh dân tộc thiểu số đạt học lực giỏi, khá còn thấp so với HS khác. Ở các trường vùng cao, vùng sâu chất lượng HS giỏi, khá thực chất không bằng HS giỏi, khá của các trường trung tâm, trường vùng thấp của huyện; HS khuyết tật nhiều hơn. Học sinh dân tộc thiểu số cũng được quan tâm, tạo điều kiện hơn về điểm số và dễ được động viên, khích lệ khi có năng lực học tập. Trong hai năm học gần đây, chất lượng HS giỏi, khá có phần được nâng lên; HS yếu, kém giảm. Các em Học sinh dân tộc thiểu số đã được tổ chức, tham gia nhiều hoạt động phục vụ cho học tập. Một số em đã được bồi dưỡng và đạt nhiều thành tích về mặt bề nổi, các chương trình hành động của trường, của huyện, của tỉnh; song bên cạnh đó, chưa khai thác được nhiều thế mạnh của các em đối với các bộ môn văn hóa và công tác mũi nhọn.
Bảng 2.3. Chất lượng hai mặt giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở năm học 2024 – 2025 và năm học 2025 – 2026
2.2.3 Đặc điểm học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.2.3.1 Đặc điểm về ngôn ngữ
Tiếng Việt là ngôn ngữ chính dùng trong nhà trường, song ngôn ngữ là một trong những rào cản chính đối với trẻ em người dân tộc thiểu số trong việc tiếp cận nền giáo dục có chất lượng. Thực tế đó đòi hỏi cần phải có những Phương pháp dạy học thích hợp, tăng cường dạy tiếng Việt để giúp các em tiếp thu tốt các kiến thức tại trường.
HS đã quen tiếp xúc với môi trường hẹp ở thôn bản, gia đình hoặc thông qua tiếp xúc với cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ nên các em có lối diễn đạt, cách nghĩ rất riêng; nhất là khi giao tiếp với thầy cô hoặc người lớn thường lời nói không có chủ ngữ, hay nói trống không, nhiều dấu và chữ phát âm sai (đặc biệt là dấu ngã (~) với dân tộc Dao, dấu hỏi (?) và dấu (~) với dân tộc Sán Dìu, HS người Dao còn sai nhiều trong phát âm và dùng từ ngữ…).
2.2.3.2 Đặc điểm về tâm lý Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
HS dân tộc đang có chuyển biến rõ về đi học đúng độ tuổi nhưng vẫn còn trường hợp HS ra lớp học nhiều tuổi, bỏ học rồi đi học lại. Các em thường ngại ngùng, lảng tránh khi giao tiếp với thầy cô, người lạ. Các em HS đều từ các thôn bản có địa hình phức tạp, thiếu kỹ năng sống, nhất là trong trường cùng chung sống hòa nhập với các bạn dân tộc khác. Đặc điểm tâm lý nổi bật nhất là các em vốn nhút nhát, tự ti nhưng lòng tự ái rất cao, khó gần gũi. Đối với HS ở lớp 8, 9 thường hay nghỉ học hoặc trốn về nhà (với HS bán trú) giúp đỡ gia đình hoặc có biểu hiện dễ nảy sinh tình cảm yêu đương, lấy vợ, lấy chồng sớm.
2.2.3.3 Đặc điểm về trình độ nhận thức
HS dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở đã hoàn thành chương trình Tiểu học, nhiều em được học tập ở các điểm trường, cách trường Tiểu học chính từ 5 đến 15 km. Một số em ở điểm trường thường được học ghép 2 trình độ trong một lớp, khả năng nói, viết và diễn đạt tiếng Việt không thành thạo nên tỷ lệ đầu vào lớp 6 thấp. Phần lớn các em vốn quen tiếp xúc với tự nhiên, thiên nhiên, núi rừng xung quanh nên có kỹ năng lao động khá tốt. HS có trình độ không đồng đều, thể hiện ở kết quả học tập, sự nỗ lực về tỷ lệ chuyên cần. HS phần lớn đạt kết quả học tập ở mức độ yếu và trung bình, hai năm gần đây số lượng HS khá đã tăng nhưng chất lượng thực vẫn còn đáng lo ngại. Việc học tập của các em HS như một sự bắt buộc, trách nhiệm trong độ tuổi, sự hứng thú học tập cũng như nhu cầu, động cơ học tập không cao.
2.2.3.4 Đặc điểm hoàn cảnh gia đình
HS ở lứa tuổi này được coi là lực lượng lao động chính trong gia đình. Hiện tượng HS bỏ học do tư tưởng lập gia đình sớm hay đi làm để trang trải cuộc sống, lao động giúp đỡ gia đình khiến công tác duy trì sĩ số luôn ở tình trạng báo động.
Tỷ lệ thu nhập bình quân theo đầu người thấp, chủ yếu dựa vào chăn nuôi và khai thác nông, lâm sản. Phụ huynh do trình độ văn hóa thấp, thậm chí đã xóa mù chữ nhưng tái mù chữ, hoàn cảnh gia đình kinh kế khó khăn, đông con, nảy sinh nạn cờ bạc, tảo hôn, trộm cắp, thậm chí cả nghiện hút. Chính điều đó dẫn tới việc không quan tâm, thúc giục con em, không phối kết hợp với GV mà ủy thác việc giáo dục con em cho nhà trường.
2.2.3.5 Đặc điểm về phong tục tập quán
Đồng bào dân tộc thiểu số ở Hoành Bồ có đời sống tinh thần đoàn kết được thể hiện ở các nghi lễ, lễ hội, phong tục tập quán mang bản sắc riêng. HS cũng là lực lượng đông để tham gia vào các phong tục tập quán, các lễ hội và văn hóa truyền thống dân tộc của gia đình, dòng họ và địa phương. Đám cưới, đám ma, lễ cấp sắc kéo dài trong nhiều ngày; lễ cầu an, lễ cầu mùa, văn hóa ném còn, bắn nỏ, kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố của nam nữ là sức hấp dẫn với các em HS, nhất là những ngày giáp hạt, ngày gần Tết (có lễ cấp sắc một lớp học 10/18 HS nghỉ hàng tuần vì liên quan họ nội, họ ngoại hoặc thậm chí để phục vụ, để xem các thầy nhảy múa…).
2.2.4 Đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Về tình hình cán bộ quản lý Trung học cơ sở:
Cán bộ quản lý (CBQL) các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số, ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều lệ trường học phải nắm vững chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, có hiểu biết về phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và đặc điểm tâm lý HS dân tộc của địa phương, biết sử dụng ít nhất một tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương để sử dụng trong giao tiếp với HS và cộng đồng, tạo cơ sở thuận lợi cho công tác quản lý. Theo định biên Cán bộ quản lý cơ bản đã đủ về số lượng quy định khung của Trung ương. 100% Cán bộ quản lý đều là Đảng viên; 100% đều có trình độ đào tạo đạt chuẩn, trong đó trên chuẩn (đại học) 95,65%, có 21/22 Cán bộ quản lý (chiếm 91,30%) có trình độ trung cấp lý luận chính trị. Về nghiệp vụ quản lý 23/23 Cán bộ quản lý (chiếm 100%) được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý ngắn hạn, có 6/23 Cán bộ quản lý (chiếm 26,08%) đã qua đào tạo quản lý giáo dục, từ đó cho thấy năng lực của Cán bộ quản lý tương đối vững về lý luận chính trị và nghiệp vụ trong quản lý nhà trường.
- Bảng 2.4. Thống kê độ tuổi, thâm niên Cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở năm học 2025 – 2026
- Bảng 2.5. Thống kê trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ của Cán bộ quản lý các trường Trung học cơ sở năm học 2025 – 2026
Về tình hình đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở:
GV ở các trường miền núi, vùng cao chủ yếu được điều động, tăng cường từ các nơi có điều kiện thuận lợi đến công tác nghĩa vụ, ít có GV đến định cư và công tác lâu dài tại địa phương. GV dạy ở các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số cũng phải biết sử dụng ít nhất một tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương để sử dụng trong giao tiếp với HS và cộng đồng, nắm vững phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và đặc điểm tâm lý HS các dân tộc nơi công tác. Có Phương pháp dạy học phù hợp, linh hoạt với trình độ nhận thức của Học sinh dân tộc thiểu số, bảo đảm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông và nhiệm vụ của nhà trường.
Về trình độ đào tạo của đội ngũ GV Trung học cơ sở đang dần chuẩn hóa đáp ứng được yêu cầu; trong tổng số 281 giáo viên, hiện nay 100% số giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó có 159/281 (56,58%) GV có trình độ đào tạo trên chuẩn (đại học). Đa số GV đều có ý thức tốt trong công tác, tâm huyết với nghề nghiệp, tích cực học tập, tự bồi dưỡng về chuyên môn để đáp ứng yêu cầu công tác được giao. Phòng GD&ĐT huyện cũng đã làm tốt công tác tham mưu tạo mọi điều kiện để GV được cử đi học tập nâng cao trình độ trên chuẩn, đáp ứng yêu cầu đổi mới, đến nay tỷ lệ GV đạt trên chuẩn tuy chưa cao nhưng theo lộ trình đang thực hiện đến năm 2030, 90% GV đạt trình độ trên chuẩn. Thống kê chất lượng, cơ cấu đội ngũ GV Trung học cơ sở đã tuyển dụng từ năm học 2021 – 2022 đến năm học 2025 – 2026 qua bảng 2.6 như sau:
- Bảng 2.6. Chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở đã tuyển dụng từ năm học 2021 – 2022 đến năm học 2025 – 2026
2.3. Khái quát về tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
2.3.1. Mục đích điều tra khảo sát
Đánh giá thực trạng nhận thức về Hoạt động tự học, thực trạng Hoạt động tự học, thực trạng quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng.
2.3.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng nhận thức về Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh.
- Thực trạng Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng
- Thực trạng quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh.
- Nguyên nhân của thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến Hoạt động tự học, quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng
2.3.3. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Đối tượng khảo sát: 454/1366 người (khảo sát phiếu, ngoài ra còn khảo sát trực tiếp một số Cán bộ quản lý, GV, HS, Phụ huynh học sinh và đại diện các tổ chức, đoàn thể).
- HS dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh (khảo sát phiếu 306/1062 em).
- GV ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh (khảo sát phiếu 134/281 GV).
- Cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh (khảo sát phiếu 14/23 Cán bộ quản lý).
2.3.4. Phương pháp khảo sát
- Quan sát Hoạt động tự học của HSDTTS trong mối quan hệ với hoạt động dạy và học.
- Nghiên cứu kế hoạch quản lý Hoạt động tự học của HS đối với tổ giáo vụ, GV bộ môn, GV chủ nhiệm các trường Trung học cơ sở.
- Điều tra bằng phiếu hỏi, trao đổi trò chuyện với Ban giám hiệu (BGH), GV chủ nhiệm (GVCN), GV bộmôn (GVBM), HS của các trường Trung học cơ sở.
- Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý kết quả khảo sát.
2.4. Kết quả khảo sát
2.4.1 Thực trạng nhận thức về tự học, vai trò và ý nghĩa hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.4.1.1 Nhận thức của học sinh về tự học
Trong “Tự học – một nhu cầu thời đại” (Nguyễn Hiến Lê dịch) đã khẳng định: “tự học là một nhu cầu tự nhiên của loài người” [31]. Với sự phát triển chung của xã hội, nhu cầu tự học của con người càng được đề cao và thể hiện ở mọi phương diện. Hiện nay, từ nhà trường, thầy cô, với nhiều kênh thông tin, HS Trung học cơ sở cũng đã có nhận thức được khái niệm, bản chất, nội dung, vị trí, vai trò của tự học và ý thức được nhu cầu học tập của bản thân.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Học sinh dân tộc thiểu số nhiều em vẫn chưa xác định được mục tiêu học tập, nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của học tập, vẫn còn tư tưởng bỏ học vì những quan niệm, những hủ tục lạc hậu, chậm tiến hoặc vì thiếu tinh thần vượt khó. Sự quản lý lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm của các bậc phụ huynh đã tạo cơ hội cho các em sống tự do, dễ dãi, đua đòi (đặc biệt là các em nữ), cộng thêm những ham muốn trước mắt, các em thiếu ý chí dành cho sự học. GV vùng cao, miền núi luôn phải tự tìm biện pháp để duy trì sĩ số, để HS tập trung vào bài giảng trên lớp đã khó nên việc các em nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tự học không phải là điều dễ dàng. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Tác giả tiến hành điều tra với mẫu phiếu số 1 gồm 10 câu hỏi tại 5 trường; đối tượng học sinh là lớp 8 và lớp 9, bởi các em sẽ có nhận thức đầy đủ và rõ ràng hơn. Cụ thể: 02 lớp của trường DTNT huyện với 60 HS, 04 trường thuộc 04 xã vùng cao của huyện (TH&THCS Đồng Sơn gồm 02 điểm trường – 04 lớp với 79 HS, Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Đồng Lâm gồm 02 điểm trường – 04 lớp với 65 HS, Tiểu học và Trung học cơ sở Kỳ Thượng – 02 lớp với 23 HS, Trung học cơ sở Tân Dân – 02 lớp với 79 HS). Từ việc nắm bắt điều kiện học tập, xác định HS ngoài học trên lớp có dành thời gian học ở nhà, với bao nhiêu thời gian, có tự giác hay được người thân nhắc nhở, quan tâm, vào thời điểm nào, nội dung học là gì và khó khăn ra sao còn biết được các em còn có hình thức học tập nào khác và xác định nhận thức của các em đối với nhiệm vụ học tập cũng như hiểu biết của các em về tự học.
- Bảng 2.7. Nhận thức của học sinh về tự học
HS dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh là những đối tượng còn nhiều hạn chế về tư tưởng, nhận thức, trình độ cũng như điều kiện, phương tiện hỗ trợ cho học tập. Về điều kiện học tập, trên 70% HS có bàn học chung hoặc riêng, số HS có góc học tập chưa đến 30%; ngoại trừ HS nội trú, bán trú thì một số ít HS tự giác học tập, rất ít HS được người thân nhắc nhở, bảo ban và hầu hết các em học vào buổi tối, với lượng thời gian khoảng 2 tiếng; chủ yếu các em học theo kiểu “hoàn thành nhiệm vụ được giao” và những khó khăn các em gặp phải cũng khác nhau. Đối với vấn đề tự học, các em đã hiểu một cách chung chung.
Tự học gắn với quá trình giảng dạy, có kiểm tra đánh giá theo từng giai đoạn học tập như: Các tuần, học kỳ, cả năm học và đánh giá chung cho toàn bộ cấp học, khi xét công nhận tốt nghiệp… Thi tuyển vào THPT đối với HS là một trong những đánh giá tương đối chính xác quá trình học tập, tự học của HS Trung học cơ sở. Tuy nhiên, ở đây chỉ hiểu đơn thuần là “tự học là học một mình” mà chưa hiểu được rằng vấn đề tự học là có sự hướng dẫn trực tiếp hay gián tiếp của thầy cô giáo, tự học ở trường và tự học ở nhà. Do vậy, HS chưa tìm ra được Phương pháp tự học một cách có hiệu quả, chưa có sự sáng tạo trong học tập và chưa đạt được kết quả như mong muốn.
2.4.1.2 Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học
Thực tế thì kết quả học tập của HS phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nhận thức về vai trò và ý nghĩa của Hoạt động tự học. Khi nhận thức đúng đắn, đầy đủ, HS luôn có ý chí cố gắng vươn lên, tự giác trong học tập, định hướng đúng cho Hoạt động tự học và ý thức về Hoạt động tự học của bản thân, tự tìm và tự tạo cho mình cơ hội để thực hành, luyện tập. Ngược lại, khi không nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, HS sẽ chỉ học với tính chất đối phó nên không thực sự cố gắng vượt qua các trở ngại trong quá trình tự học dẫn đến kết quả không cao hoặc có khi thất bại trong việc học tập.
Tự học là một quá trình tự giác, chủ động và tích cực của mỗi HS. Tìm hiểu về vấn đề này đã thu được kết quả trả lời của HS như sau: Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Bảng 2.8. Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học
Từ các số liệu ở bảng 2.8 cho thấy, HS có nhận thức về vai trò, ý nghĩa của tự học ở mức độ khác nhau, thiếu đồng nhất. Trong đó “tự học giúp học sinh đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, được thầy cô khen ngợi”, “giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào bài tập và thực tế tốt hơn” được HS đánh giá quan trọng hàng đầu – điều này hoàn toàn phù hợp với tâm lý chung của đa số HS, đặc biệt là Học sinh dân tộc thiểu số. Ngược lại, quan niệm tự học giúp học sinh “hình thành thói quen, năng lực tư duy, học tập suốt đời” và đối với vai trò, ý nghĩa chiều sâu như “hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách” HS đánh giá thấp, còn có nhiều HS không đồng ý và phân vân, chưa xác định rõ ràng.
Qua phỏng vấn trực tiếp một số HS lớp 6, lớp 7 ở một số trường có cấp Trung học cơ sở khác thì nhận thức của các em cũng ở những mức độ khác nhau, một số em không trả lời hoặc trả lời bằng…tiếng dân tộc ! (với HS lớp dưới chúng tôi chỉ hỏi về “tự học và tác dụng của tự học ?”).
Như vậy, một số Học sinh dân tộc thiểu số của các nhà trường đã có nhận thức về tự học, vai trò, ý nghĩa của tự học đối với cá nhân HS. Tuy nhiên, đó chỉ là những HS dân tộc đang học ở các trường trung tâm hoặc ven thị trấn; còn đa số HS mới chỉ nhận thức được khái niệm tự học một cách lý thuyết cũng như vai trò, ý nghĩa của tự học có tính thực tế, đơn giản, trước mắt, đó là mang lại kết quả cao trong kiểm tra, thi hoặc kết quả cao trong học tập; trong việc củng cố kiến thức và hiểu bài kỹ hơn vẫn đứng sau; chưa thấy được kết quả tiềm ẩn, lâu dài của việc tự học đối với các vai trò, ý nghĩa như: Tự học giúp hình thành thói quen, năng lực tư duy, học tập suốt đời hay giúp hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách. Với nhận thức chưa đầy đủ thì HS khó có lòng say mê, vượt mọi khó khăn để tự mình chiếm lĩnh tri thức.
2.4.2 Thực trạng hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.4.2.1 Thực trạng tự học của học sinh
Đối tượng cần được quan tâm nhiều chính là Học sinh dân tộc thiểu số ở các xã vùng khó. Nhiều năm trước đây, Phụ huynh học sinh vẫn phải đóng góp cho các lớp bán trú (góp gạo, góp rau), nền nếp thiếu ổn định, GV quản sinh không có chế độ nên trách nhiệm chưa cao, HS bán trú cũng không khác HS ở nhà. Những năm gần đây, HS học nội trú, bán trú được hưởng chế độ hỗ trợ, được ưu tiên, ưu đãi theo Quyết định số 85/2020/QĐ-TTg [60], Quyết định số 36/2023/QĐ-TTg [60], mới nhất là thông tư 01/2026/TT-BGDĐT [7]; trường có GV quản sinh, trực ban để quản lý, đôn đốc và giám sát việc tự học của các em. HS được quy định thời gian tự học vào các buổi chiều và buổi tối (trung bình là 4 tiếng/ngày), ngoài ra các em cũng được tham gia, tổ chức các hoạt động phục vụ học tập, phát huy năng lực của mỗi cá nhân.
Qua trao đổi trực tiếp, một số HS đang học tập tại trường nội trú, bán trú cho thấy các em có quan điểm và suy nghĩ gần giống nhau ở chỗ, vì ở trong môi trường bán trú, nội trú nên việc học tập của các em là bắt buộc, và phải học theo quy định của nhà trường, có thời gian và địa điểm cụ thể, và có người quản lý, nên các em buộc phải tuân thủ theo quy định của trường, còn ý thức tự giác học vì nhu cầu muốn nâng cao hiểu biết cho bản thân thì chưa cao. Với những HS điều kiện học tập chưa tốt (không có bàn học hoặc bàn học dùng chung, nhiều thế hệ cùng chung sống, không gian hẹp cho sinh hoạt…), phải tham gia nhiều công việc giúp đỡ gia đình thì các em học nửa ngày, nửa ngày đi làm, tối cần nghỉ ngơi hoặc khó tập trung học tập; bài học thông thường cũng khó hoàn thành, chưa kể đến việc nghiên cứu sách báo tham khảo, tìm tòi tài liệu trên mạng internet…
Thực tế thì giáo viên ở các trường có nhiều Học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tập cũng chưa quan tâm đến việc hướng dẫn HS cách tự học như thế nào. Qua khảo sát cho thấy, các nhà trường đã triển khai kịp thời, tổ chức nhiều hoạt động học tập phong phú; GV đã hướng dẫn HS, tích cực trong đổi mới Phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động của HS. Mặc dù vậy, do những hạn chế của HS nên GV chưa chú trọng vấn đề tự học, theo đánh giá của HS hầu hết chỉ đạt mức khá và trung bình. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Thực trạng lập kế hoạch tự học và sử dụng thời gian tự học của học sinh
- Lập kế hoạch tự học
HS muốn có kết quả tự học tốt thì các em phải xây dựng được Kế hoạch tự học cụ thể, lượng hóa được thời gian tự học tương ứng với từng nhiệm vụ học tập. Việc xây dựng Kế hoạch tự học giúp cho HS biết mình phải làm gì để đạt mục tiêu nào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng dự kiến, giúp HS thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ và kiểm soát được quá trình tự học một cách thuận lợi, tiết kiệm thời gian.
KHTH của HS càng rõ ràng thì càng thuận lợi cho việc kiểm tra – đánh giá kết quả và mức độ đạt mục tiêu tự học, tự đào tạo của HS. Muốn vậy Kế hoạch tự học của HS cần được cụ thể hóa thành thời gian biểu tự học cho từng buổi học, từng tuần, từng tháng và cả năm học. Nhưng với Học sinh dân tộc thiểu số, từ nếp sống, suy nghĩ đến hành động, các em đều thực hiện một cách tự do, tự phát; việc xây dựng thời gian biểu, lập kế hoạch và học tập có kế hoạch là vấn đề khó khăn. Trong khi đó, nguyên nhân cũng chính là GV – chưa quan tâm hướng dẫn HS lập thời gian biểu hay Kế hoạch tự học.
- Bảng 2.9. Việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học của học sinh
Qua bảng khảo sát 2.9 có thể thấy phần lớn HS không xây dựng thời gian biểu hoặc có nhưng không thực hiện đúng. Việc lập Kế hoạch tự học của HS mới chỉ dừng ở lập kế hoạch chung, thực ra đó chính là kế hoạch của nhà trường do một số em HS nội trú hoặc bán trú xác định thực hiện. Các em quan niệm Kế hoạch tự học là thời khoá biểu và thực hiện thời khoá biểu là thực hiện Kế hoạch tự học. Qua nghiên cứu trực tiếp hồ sơ học tập của HS các lớp được khảo sát, số HS xác định “GV giao nhiệm vụ học tập và có hướng dẫn, nhưng không kiểm tra việc lập kế hoạch” là do các em được GV hướng dẫn trong giờ học của bộ môn Giáo dục công dân, còn lại các em đều khẳng định thầy cô chỉ giao nhiệm vụ học tập và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ học tập của HS vào các giờ học. Thực tế cho thấy những em thực hiện nghiêm túc thời gian biểu thường biết cách học và học có hiệu quả, thành tích trội hơn các bạn khác.
Việc lập kế hoạch rất quan trọng để giúp HS định hướng các nội dung công việc cần hoàn thành, nhưng nhận thức của Học sinh dân tộc thiểu số đối với việc lập Kế hoạch tự học còn rất đơn giản, hầu hết các em hiểu mơ hồ, qua loa. Từ đó ảnh hưởng đến việc xây dựng Kế hoạch tự học và hoàn thành nội dung công việc theo kế hoạch. Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu của xã hội, của giáo dục với nhận thức và thực tiễn trong công tác lập Kế hoạch tự học và thực hiện Kế hoạch tự học của Học sinh dân tộc thiểu số. Từ đó đặt ra cho nhà trường phải có những biện pháp quản lý công tác hướng dẫn và xây dựng kế hoạch học tập của HS.
- Thời gian tự học của học sinh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Tìm hiểu thời gian dành cho việc tự học của HS, nhóm nghiên cứu thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.10. Thời gian tự học của học sinh
Nhìn vào vào bảng 2.10, chúng ta thấy HS dành thời gian tự học trên 03 tiếng rất ít. Học sinh dân tộc thiểu số có ưu điểm là thật thà, trung thực, chính vì vậy ngay cả HS nội trú và HS bán trú cũng tự nhận xét mình chưa tự học trên 3 giờ dù thời gian trường đã quy định là 4 giờ tự học/ngày. Điều này phản ánh đặc trưng tâm lý lứa tuổi, HS khi lên lớp cao hơn thì ngoài thời gian dành cho việc học tập, tự học thì các em có xu hướng còn tham gia tích cực vào các mối quan hệ bạn bè, các hoạt động đoàn thể của trường, lớp và hoạt động giải trí hoặc cũng có khi thiếu tập trung. Vì thế, thời gian dành cho việc tự học cũng bị ảnh hưởng. Song, chúng ta cũng thừa nhận rằng khi khảo sát Học sinh dân tộc thiểu số không thể cho một kết quả chính xác, vì nhiều em chọn lựa khi không thực sự hiểu rõ nội dung mình đang trả lời (qua trò chuyện với HS).
Số HS giỏi dành thời gian tự học từ 03 giờ trở lên chiếm tỷ lệ là 6,86%, HS khá là 10,13% và HS trung bình là 2,61%, không có HS yếu. Ngược lại, số HS yếu dành thời gian tự học dưới 01 giờ chiếm tỷ lệ là 1,63%, HS trung bình là 28,43%, HS khá là 0,98% và không có HS giỏi. Như vậy, chúng ta thấy có sự liên quan nhất định giữa học lực của HS với việc dành thời gian tự học. HS khá, giỏi dành thời gian tự học nhiều hơn là HS trung bình, HS yếu. Kết quả này có thể khẳng định rằng: Những học sinh khá, giỏi là những HS có ý thức tự học cao.
- Thực trạng nội dung tự học và việc sử dụng các Phương pháp tự học của học sinh
Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát để đánh giá thực trạng Nội dung tự học và thực trạng việc sử dụng các Phương pháp tự học của học sinh qua bảng khảo sát 2.11 và 2.12.
- Thực trạng nội dung tự học
NDTH của HS sẽ quyết định đến kết quả học tập của các em. Bởi khi các em xác định được cần phải học cái gì và hoàn thành Nội dung tự học theo mình đề ra nghĩa là các em đã có Kế hoạch tự học và thực hiện được Kế hoạch tự học. Vậy với thực trạng HS còn chưa được quan tâm trong việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch tự học, các em sẽ tự học những nội dung gì ?
- Bảng 2.11. Thực trạng nội dung tự học của học sinh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Khi được hỏi về Nội dung tự học, phần lớn các em HS trả lời là thực hiện ở mức độ tốt việc “học lý thuyết và làm bài tập thầy cô kiểm tra vào giờ sau” (65,68%), “làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới” (56,86%), “đọc lại nội dung SGK và làm các bài tập trong SGK” (40,84%); các em thực hiện ở mức trung bình việc “đọc lại kiến thức trong vở ghi” (58,49%), “đọc lại vở ghi và SGK” (57,18%). Thực chất, những nội dung tự học này chủ yếu là để đối phó, để thực hiện nhiệm vụ được giao. Còn những nội dung tự học khác thể hiện tính tích cực của HS thì tỷ lệ không cao. Có từ 71,56% – 86,27% HS thực hiện rất yếu việc “đọc sách nâng cao, sách tham khảo và làm bài tập nâng cao”, “Viết lại bài giảng của giáo viên theo ý hiểu của mình để tự làm bài tập” và “Đọc và tìm hiểu các kiến thức liên quan trong sách báo, trên mạng internet”. Có một số HS không trả lời đối với ba nội dung này.
Việc tự học của các em thường chỉ là đáp ứng những yêu cầu của GV một cách máy móc, chưa có sự tìm tòi, mở rộng kiến thức hoặc hướng vào việc đọc lại kiến thức trong vở ghi nhằm phát triển năng lực của bản thân. Những HS thực hiện tốt các Nội dung tự học là những HS được thầy cô đánh giá cao.
- Thực trạng việc sử dụng các phương pháp tự học
PPTH quyết định tới kết quả học tập của HS. Nhìn chung, HS Trung học cơ sở chưa biết Phương pháp tự học hoặc biết phương pháp nhưng chưa thực hiện được, với HS Trung học cơ sở là dân tộc thiểu số điều này lại càng hạn chế, bởi chỉ một số rất ít những em có năng lực và học tốt.
- Bảng 2.12. Thực trạng việc sử dụng phương pháp tự học của học sinh
Qua khảo sát thực trạng việc sử dụng Phương pháp tự học thì đa số HS chưa biết kết hợp nhiều phương pháp học tập khác nhau để đạt được mục tiêu học tập. Thậm chí các em còn lúng túng trước những phương pháp học tập được đề ra. Còn nhiều HS chưa có phương pháp học tập khoa học, hợp lý; việc tự học của các em mới chỉ dừng lại ở những phương pháp đơn lẻ để hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể trước mắt, chưa biết kết hợp giữa các Phương pháp tự học để mở rộng, đào sâu kiến thức nâng cao hiệu quả học tập.
Tỉ lệ HS thực hiện các Phương pháp tự học tốt là rất ít, cụ thể là có 9,15% HS thực hiện tốt phương pháp “làm hết các bài tập trong sách giáo khoa và làm bài tập nâng cao để đào sâu kiến thức”; có 1,63% HS thực hiện tốt phương pháp“học thuộc lòng tất cả các lý thuyết và các công thức cần ghi nhớ”. Chủ yếu HS quan tâm đến việc “chuẩn bị kỹ bài mới trước khi lên lớp”. Khi trao đổi trực tiếp, nhiều HS trả lời chỉ soạn đề cương để chuẩn bị cho các bài kiểm tra từ 45 phút trở lên. Hầu hết các phương pháp học tập không được các em trả lời đầy đủ, phần vì các em phân vân chưa hiểu, phần vì các em chưa thực hiện.
- Hình thức tự học (HTTH) Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Như đã phân tích ở trên, về nhận thức nhiều HS chưa hiểu rõ về tự học, còn ít HS thấy được ý nghĩa, vai trò và sự cần thiết của Hoạt động tự học, vậy Hoạt động tự học của các em thực tế được thực hiện dưới những hình thức như thế nào?
- Bảng 2.13. Hình thức tự học của học sinh
HTTH được HS nói đến nhiều nhất là HS “tự suy nghĩ, tự tìm hiểu các tài liệu để trả lời câu hỏi và làm bài tập của thầy cô giáo ở lớp”(85,29%) và “thường xuyên được thảo luận nhóm và tự trình bày sau đó thầy cô đánh giá” (55,88%). Thời gian gần đây, ngành GD&ĐT đã tiến hành mạnh mẽ việc đổi mới Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của HS. Mặc dù vậy, đa số Học sinh dân tộc thiểu số vẫn chưa đạt được cái đích cuối cùng của việc tự học là sau khi nghe giảng, sau khi học các em có thể tự viết lại theo cách hiểu của mình. Chỉ có 2,61% HS được hỏi cho rằng: “Em viết lại bài giảng của thầy cô giáo theo ý hiểu của mình để tự làm bài tập”.
Việc tự học của HS có thể thực hiện theo nhiều cách đa dạng khác nhau, nhưng Học sinh dân tộc thiểu số khó áp dụng cho bản thân, còn nhiều HS phân vân trước các HTTH khác nhau. Đối với hình thức “học nhóm ở nhà (ở phòng) cùng các bạn” chiếm 31,04%. Đây cũng là một HTTH tốt để HS có thể trao đổi và hiểu bài tốt hơn, thông qua HTTH này các em HS khá, giỏi có thể hỗ trợ các bạn học trung bình hay học yếu. Có 11,43% HS “thường suy nghĩ về nội dung các bài học khó trong lúc lao động giúp đỡ gia đình” – điều đặc biệt qua điều tra thực tế thì những HS này đều là HS khá, giỏi và một số em là tấm gương điển hình vượt khó học tốt.
2.4.2.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
HĐTH của Học sinh dân tộc thiểu số chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm những yếu tố thuộc về bản thân HS và những yếu tố tác động bên ngoài. Tìm hiểu vấn đề này, nhóm nghiên cứu thu được kết quả sau:
Bảng 2.14. Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học của học sinh
- Yếu tố chủ quan thuộc về học sinh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Yếu tố chủ quan thuộc về HS gồm “nhận thức đúng về tự học, ý nghĩa và vai trò của tự học”, có 52,94% HS cho là ảnh hưởng nhiều và 32,02% HS cho là ảnh hưởng một phần; yếu tố chủ quan thứ hai là “có động cơ học tập đúng đắn”, có 40,19% ý kiến HS cho là ảnh hưởng nhiều và 33% ý kiến cho là ảnh hưởng ít.
Động cơ học tập thể hiện ở sự khát khao tìm kiếm và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học và có ảnh hưởng nhiều đến kết quả tự học của HS.
Trở lại phân tích ở phần trên, chúng ta thấy rằng, đã có những HS nhận thức được về tự học, vai trò và ý nghĩa của việc tự học. Tuy nhiên, để biến nhận thức đó thành những hành động học tập cụ thể đối với Học sinh dân tộc thiểu số thì cần có những điều kiện nhất định, trong đó có những yếu tố khách quan tác động đến học tập của HS.
- Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tự học của học sinh
Trên thực tế, có nhiều yếu tố tác động đến vấn đề tự học của HS, trong phạm vi của đề tài này, nhóm nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các yếu tố thuộc về trường học có ảnh hưởng đến Hoạt động tự học của các em.
Yếu tố “hoàn cảnh gia đình, điều kiện học tập” được 51,30% cho là ảnh hưởng nhiều và 31,04% HS cho là ảnh hưởng ít; bởi HS vùng cao, miền núi, điều kiện gia đình khó khăn thường là cản trở lớn cho việc học tập, nhất là những nơi còn tồn tại nhiều tập tục cổ hủ, lạc hậu. Học sinh dân tộc thiểu số thường thích được khen ngợi, động viên, nhưng để HS có thể tự học tốt và đạt hiệu quả cao thì các em cần được hướng dẫn tự học.
Một yếu tố khác có ảnh hưởng đến việc tự học của HS là Phương pháp dạy học của GV, số HS được hỏi cho rằng Phương pháp dạy học của GV ảnh hưởng nhiều đến việc tự học của các em chiếm 53,92%. Có đến 66,99% HS cho là ảnh hưởng nhiều từ việc “thầy, cô có kế hoạch tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động tự học của HS”. Kiểm tra việc tự học của Học sinh dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng nhằm nắm bắt được việc thực hiện tự học của các em ra sao, có những khó khăn gì để giúp HS kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với kế hoạch, mục tiêu đề ra.
Từ các kết quả phân tích trên có thể rút ra nhận xét về thực trạng Hoạt động tự học của HS như sau: Nhận thức về tự học và vai trò của tự học trong Học sinh dân tộc thiểu số chưa toàn diện, năng lực tự học của HS còn hạn chế, các em chưa có Kế hoạch tự học hoặc có Kế hoạch tự học nhưng việc thực hiện kế hoạch chưa triệt để, vẫn mang tính hình thức, hời hợt. Nội dung tự học của HS chưa mở rộng, vẫn bó gọn trong vở ghi, SGK, chưa biết mở rộng các vấn đề. Các em chưa được tạo điều kiện triệt để, Phương pháp tự học chưa khoa học, chưa khai thác được những lợi thế của môi trường, năng lực vận dụng thực hành của HS còn ở mức trung bình.
2.4.3 Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Quản lý xây dựng và bồi dưỡng Động cơ tự học cho HS nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Do đó, để đạt được mục tiêu đề ra thì phải thực hiện tốt các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý, đặc biệt là trong quản lý Hoạt động tự học của HS. Đương nhiên, để công tác quản lý đạt hiệu quả, phải bắt đầu từ nhận thức của người Cán bộ quản lý cũng như GV các trường học.
2.4.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động tự học đối với học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Nhóm nghiên cứu thực hiện khảo sát đối tượng là Cán bộ quản lý và GV của 9 trường học có trên 50% HS là dân tộc thiểu số (ngoài 5 trường đã khảo sát HS lớp 8, 9; còn có 4 trường Tiểu học và Trung học cơ sở Bằng Cả, Tiểu học và Trung học cơ sở Vũ Oai, Tiểu học và Trung học cơ sở Hòa Bình, Tiểu học và Trung học cơ sở Dân Chủ với tổng số 14 Cán bộ quản lý và 134 GV Trung học cơ sở). Kết quả được phản ánh cụ thể trong bảng sau đây:
- Bảng 2.15. Ý nghĩa và vai trò của công tác quản lý hoạt động tự học trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số
CBQL và GV của các nhà trường đều nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của công tác quản lý Hoạt động tự học. Trong đó, “vai trò quyết định đến kết quả học tập của HS” và “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập” được đánh giá ở mức độ rất quan trọng cao nhất; đối với các vai trò khác như “hình thành tính kỷ luật, tự giác, thói quen và nền nếp”, “giúp học sinh rèn luyện phong cách học tập, làm việc độc lập, tư duy khoa học suốt đời” hay “giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách” cũng được từ 69,59% đến 81,08% Cán bộ quản lý và giáo viên thống nhất ở mức độ rất quan trọng.
Tuy nhiên, còn 22,97% Cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá vai trò, ý nghĩa của quản lý hoạt động tự học trong việc “giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách” chỉ ở mức tương đối quan trọng. Đặc biệt còn 6,08 đến 7,43% Cán bộ quản lý và GV đánh giá vai trò không quan trọng của “giúp học sinh rèn luyện phong cách học tập, làm việc độc lập, tư duy khoa học suốt đời” và “giúp học sinh hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách”.
2.4.3.2 Thực trạng nội dung quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Quản lý hướng dẫn học sinh lập Kế hoạch tự học và thực hiện kế hoạch tự học
- Quản lý hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học
Để giúp HS sử dụng thời gian tự học hiệu quả, các trường có HS bán trú và trường DTNT huyện đã xây dựng kế hoạch và triển khai Kế hoạch tự học chung của HS ngay trong thời gian hoạt động đầu năm, chỉ đạo và phân công GV quản sinh; có kiểm tra đánh giá việc thực hiện Kế hoạch tự học của HS thông qua kiểm tra giờ tự học và nền nếp học tập của HS. Các trường học còn lại chỉ có kế hoạch cho hoạt động chung của trường, lớp và việc kiểm tra giao cho Giáo viên chủ nhiệm, Đoàn Đội; một số giáo viên có hướng dẫn và kiểm tra HS lập thời gian biểu và Kế hoạch tự học thông qua bộ môn Giáo dục công dân (gắn với bài học) nhưng chỉ dừng lại ở đó, không kiểm tra việc thực hiện.
Thực tế các trường triển khai kế hoạch tự học cũng còn tồn tại, đó là: chỉ xây dựng Kế hoạch tự học chung một học kỳ hoặc cả năm học cho HS toàn trường trong thời gian hoạt động đầu năm học với đặc thù của nhà trường; công tác kiểm tra chưa tiến hành thường xuyên nên việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch tự học của HS còn hạn chế; một số HS chưa biết hoặc còn lúng túng trong việc xây dựng Kế hoạch tự học. Việc điều chỉnh bổ sung Kế hoạch tự học của HS còn thiếu tính linh hoạt.
- Bảng 2.16. Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học
Việc quản lý hướng dẫn HS xây dựng Kế hoạch tự học chưa được thực hiện tốt, đối với Kế hoạch tự học cho tháng và Kế hoạch tự học cho tuần thì chưa được chú trọng (100% các trường chưa thực hiện). Việc điều chỉnh Kế hoạch tự học được 58,95% GV quan tâm ở mức độ chưa thường xuyên, còn lại là không thực hiện.
Đây là vấn đề cần được khắc phục, bởi khả năng lập kế hoạch của Học sinh dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, phần lớn HS chưa có Kế hoạch tự học hoặc Kế hoạch tự học của các em lập ra chỉ mang tính chất đối phó, hoặc đáp ứng yêu cầu của bài học, không khả thi nên rất khó khăn trong thực hiện, dẫn đến hiệu quả tự học không cao. Thực tế cho thấy phần lớn HS chỉ có thói quen học theo thời khoá biểu hoặc chỉ tập trung học khi có bài kiểm tra, chuẩn bị cho kỳ thi.
- Quản lý việc thực hiện kế hoạch tự học Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Hầu hết các em HS ở các trường có Kế hoạch tự học đều thực hiện theo nền nếp sinh hoạt của nhà trường quy định, không có thời gian biểu và Kế hoạch tự học của cá nhân, hoặc có nhưng không thực hiện đúng. Vì vậy, việc quản lý HS thực hiện Kế hoạch tự học chỉ diễn ra trong công tác quản sinh của các trường có HS bán trú và trường nội trú. Đề tài chỉ thu được kết quả từ việc GV tham gia vào tổ chức cho HS thực hiện thời gian biểu tự học ngoài giờ lên lớp:
- Bảng 2.17. Tổ chức thực hiện kế hoạch tự học của học sinh
Hình thức tổ chức thực hiện Kế hoạch tự học của HS mà GV tham gia nhiều là “Học sinh tự học có sự hướng dẫn của giáo viên”, ví dụ: khi giao bài tập về nhà GV nên hướng dẫn cho HS hiểu rõ yêu cầu của đề bài, đặc biệt là những bài khó; GV hướng dẫn cho HS chuẩn bị bài cho tiết sau một cách chi tiết để các em biết việc chuẩn bị bài phải làm những gì. Khi phỏng vấn sâu một số HS các em cho biết thông thường các thầy cô cuối giờ chỉ dặn HS về nhà chuẩn bị bài mà không cho HS biết chuẩn bị cái gì, như thế nào. Trong khi Học sinh dân tộc thiểu số tự học ở nhà thường không có người kèm cặp, hướng dẫn do trình độ của các bậc phụ huynh chưa đáp ứng được. Nhưng đây lại là hình thức mà GV tự đánh giá là thực hiện tốt chiếm tỷ lệ cao nhất (43,28%), 44,02% thực hiện chưa tốt và 12,68% cho biết chưa thực hiện hình thức này.
Trên thực tế, việc tổ chức thực hiện kế hoạch có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm giúp HS lựa chọn cho mình cách thức phù hợp nhất với bản thân. Tuy nhiên các hình thức này nhìn chung chưa được GV quan tâm thực hiện tốt và chưa đạt hiệu quả cao.
- Quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
Chất lượng tự học phụ thuộc nhiều vào Phương pháp tự học của HS. Nhận thức được vấn đề này, nhưng các nhà trường chưa quan tâm chỉ đạo bồi dưỡng Phương pháp tự học cho HS. Các trường đã chỉ đạo triển khai kế hoạch đổi mới Phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá nhưng chưa có kế hoạch hướng dẫn đổi mới Phương pháp tự học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, kỹ năng vận dụng vào thực tiễn của HS.
- Bảng 2.18. Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
Qua kết quả khảo sát thì mức độ cao nhất có 78,35% GV thường xuyên vận dụng Phương pháp dạy học tích cực; 75,37% GV đánh giá mức độ thường xuyên đối với biện pháp hướng dẫn HS cách soạn bài mới và học bài cũ trước khi lên lớp. Đây vẫn là những biện pháp mang tính một chiều từ GV. Các biện pháp còn lại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS chưa được thực hiện thường xuyên hoặc chưa thực hiện. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Thực tiễn dạy học, GV đã tích cực trong đổi mới Phương pháp dạy học, thông qua đó hướng dẫn và bồi dưỡng Phương pháp tự học cho HS. Tuy nhiên việc đổi mới Phương pháp dạy học trong GV chưa thường xuyên, mới chỉ được chú trọng trong các giờ thao giảng, hoặc các cuộc thi GV giỏi, còn trong các giờ học hàng ngày GV mới chỉ chú ý đến việc truyền thụ nội dung kiến thức của tiết học, đảm bảo theo hình thức chuẩn kiến thức – kĩ năng. Đây là thực trạng chung trong giáo dục phổ thông hiện nay khi chương trình còn nặng, nhiều GV đang quen với dạy học theo phương pháp truyền thống, ngại thay đổi cách dạy. Nhất là đối với Học sinh dân tộc thiểu số, do nhận thức chậm, hoạt động học tập chưa tích cực, nên GV thường coi nhẹ việc đổi mới Phương pháp dạy học đồng nghĩa với đánh giá không cần thiết hướng dẫn Phương pháp tự học cho HS. Thực trạng này cần phải sớm khắc phục triệt để mới có thể nâng cao chất lượng tự học của HS Trung học cơ sở nói chung, HS Trung học cơ sở là dân tộc thiểu số nói riêng; vì đổi mới Phương pháp dạy học ảnh hưởng quyết định tới đổi mới Phương pháp tự học của HS.
- Quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học
Quản lý Nội dung tự học của HS là một công việc đòi hỏi người quản lý mất nhiều công sức và thời gian. Những nội dung chính mà HS tự học nhiều nhất đó là làm bài tập về nhà và chuẩn bị bài mới, học lý thuyết và bài tập mà thầy cô giáo kiểm tra. Còn những nội dung yêu cầu đọc sách tham khảo, nâng cao kiến thức và những môn học mà các em yêu thích cũng chưa được các em dành nhiều thời gian tự học. Do đó, các thầy cô cần hướng dẫn HS chuẩn bị bài mới, học bài cũ và làm bài tập về nhà đạt hiệu quả cao. Các thầy cô phải giao nhiệm vụ tự học cho HS một cách cụ thể, nội dung kiến thức tự học phải phù hợp với trình độ HS, cách học phù hợp với tâm lý lứa tuổi.
Từ bảng 2.11 khảo sát HS, nhóm nghiên cứu có trao đổi trực tiếp với Cán bộ quản lý và một số GV ở trường, có trên 50% GV cho rằng HS thực hiện tốt các Nội dung tự học, nhưng việc hướng dẫn HS xây dựng Nội dung tự học đa số đều trả lời chưa thực hiện tốt mà chỉ dành thời lượng ít theo tiến trình giờ học hoặc đối với công tác mũi nhọn.
- Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh
Nhìn chung công tác quản lý xây dựng và bồi dưỡng Động cơ tự học cho HS trong những năm qua các nhà trường làm chưa tốt, chưa đúng quy trình và có một số biện pháp đã làm nhưng chưa được duy trì thường xuyên, triệt để. Khảo sát về thực trạng các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng Động cơ tự học cho HS, đánh giá của GV được thể hiện trong bảng sau:
- Bảng 2.19. Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho học sinh
Kết quả bảng trên cho thấy: 100% GV của các nhà trường đều thống nhất nhà trường đã tổ chức cho HS học tập nội quy, quy chế ngay từ khi nhập học ở mức thường xuyên hoặc chưa thường xuyên. Tuy nhiên, biện pháp tổ chức cho HS thăm phòng truyền thống thì 51,49% GV đánh giá nhà trường chưa tiến hành thường xuyên và 48,50% GV đánh giá chưa thực hiện.
- Quản lý việc kiểm tra – đánh giá kết quả tự học của học sinh
Việc kiểm tra đánh giá Hoạt động tự học của HS thường được các nhà trường quy định gắn liền với kế hoạch đổi mới Phương pháp dạy học và đổi mới Phương pháp tự học, gắn chặt giữa kiểm tra đánh giá Hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp với trong giờ lên lớp. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
- Về nội dung kiểm tra:
Bảng 2.20. Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của HS
Kết quả cho thấy, 79,72% Cán bộ quản lý và GV thống nhất đánh giá mức độ thường xuyên của biện pháp “kiểm tra chất lượng bài tập đã giao”. Đối với biện pháp “động viên, khen thưởng kịp thời” những tập thể, cá nhân có thành tích trong tự học thì giữa Cán bộ quản lý và GV chưa có sự thống nhất khi 100% Cán bộ quản lý đánh giá mức độ thường xuyên, GV đánh giá ở mức độ này là 52,98%. Đối với biện pháp “ra đề kiểm tra, đề thi liên quan tới nội dung đọc sách, đọc tài liệu” nhằm đánh giá khả năng nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo của học sinh thì 78,52% Cán bộ quản lý và 46,26% GV đánh giá ở mức độ chưa thường xuyên quan tâm, điều này ảnh hưởng nhiều tới nhu cầu tự tìm tòi, nghiên cứu của HS.
Nội dung kiểm tra mà GV cho rằng đã thực hiện thường xuyên là kiểm tra “thời gian biểu tự học ngoài giờ lên lớp của HS” và GV tự nhận chưa làm tốt kiểm tra “hướng dẫn, chỉ đạo tự học ngoài giờ lên lớp của HS”.
- Về hình thức kiểm tra:
Bảng 2.21. Hình thức kiểm tra hoạt động tự học của học sinh
Hình thức kiểm tra mà GV áp dụng và cho là thực hiện thường xuyên gồm: “GV trực tiếp kiểm tra” và “GV kiểm tra thông qua cán sự lớp, tổ trưởng” (chiếm 64,92%). Hình thức “GV để HS tự kiểm tra theo cặp, nhóm và nghe báo cáo” là 23,13% và “GV đề nghị phụ huynh, hoặc người thân của HS kiểm tra” chưa được thực hiện thường xuyên. Điều đáng nói ở đây cả bốn hình thức đều có GV chưa thực hiện. Hai hình thức “GV để HS tự kiểm tra theo cặp, nhóm và nghe báo cáo” và “GV đề nghị phụ huynh hoặc người thân của HS kiểm tra” là hai hình thức giúp cho việc kiểm tra Hoạt động tự học của HS được thường xuyên hơn. Tuy nhiên, hai hình thức này cũng chưa được thực hiện tốt, điều này phản ánh một thực tế là gia đình HS và ngay cả bản thân HS vẫn phụ thuộc nhiều vào GV, chưa tự giác trong việc tự kiểm tra – đánh giá Hoạt động tự học. Đây cũng là một đặc thù của Học sinh dân tộc thiểu số. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Kiểm tra việc tự học của HS là một khâu quan trọng nhằm giúp HS đạt kết quả tự học tốt hơn. Việc kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên và thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Kết quả khảo sát cho thấy, sự phối hợp giữa GV và gia đình HS chưa được chặt chẽ. Cụ thể, có 30,59% GV cho rằng thực hiện chưa thường xuyên và 69,40% cho biết chưa thực hiện hình thức kiểm tra này.
Thực tế ngoài giờ lên lớp, không chỉ các trường có HS bán trú và nội trú, mà các nhà trường đều phân công lực lượng kiểm tra các giờ tự học, quy định nhiệm vụ cụ thể đối với Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ QLHS, cán bộ lớp, đội cờ đỏ trong việc kiểm tra đánh giá giờ tự học. Việc kiểm tra được kết hợp giữa kiểm tra quân số, nền nếp và nội dung học tập để đánh giá chất lượng tự học. Công tác kiểm tra, đánh giá Hoạt động tự học của các nhà trường được sự phối hợp nhiều lực lượng, tiến hành thường xuyên hàng ngày nên kết quả đánh giá tương đối chính xác, khách quan.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra đánh giá chất lượng Hoạt động tự học của các nhà trường có Học sinh dân tộc thiểu số còn khó khăn và hạn chế:
Việc kiểm tra còn mang tính chất hành chính, chủ yếu là kiểm tra việc chấp hành thời gian tự học, kiểm tra quân số tham gia tự học, chưa đánh giá được nội dung học sinh tiến hành tự học và mức độ hoàn thành các Nội dung tự học. Đội ngũ cán bộ lớp chưa được quan tâm, bồi dưỡng để phát huy hết vai trò trong công tác quản lý điều hành lớp tự học. Do những hạn chế của Học sinh dân tộc thiểu số nên công tác tự học chưa được đánh giá sát sao, tích cực.
Trong giờ lên lớp, GV bộ môn đã tiến hành kiểm tra các Nội dung tự học của HS qua kiểm tra việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới, do đó khắc phục được những mặt hạn chế của kiểm tra tự học ngoài giờ. Song, do nội dung chương trình đổi mới, trong khi đó đổi mới Phương pháp dạy học chưa triệt để, GV còn phải chịu áp lực hoàn thành nội dung bài giảng nên việc kiểm tra các Nội dung tự học của HS chưa được tiến hành thường xuyên.
- Quản lý điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng cho việc tự học của học sinh
- Cơ sở vật chất phục vụ trên lớp học
Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV (bảng 2.22) 0% cho rằng số lượng rất đầy đủ Cơ sở vật chất phục vụ trên lớp học; 43,2% cho rằng tương đối đầy đủ và 56,8% cho rằng chưa đầy đủ. Về chất lượng: 0% đánh giá tốt, 0% đánh giá tương đối tốt; 38,2% đánh giá trung bình và 61,8% đánh giá chưa tốt. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Qua khảo sát cho thấy: Phòng học còn thiếu, diện tích sử dụng (tính theo đầu HS) của một số trường còn hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng đủ yêu cầu, các phòng thí nghiệm hoặc phòng chức năng còn rất thiếu.
Bảng 2.22. Tổng hợp kết quả khảo sát thực trạng về quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động học tập của học sinh
- Cơ sở vật chất phục vụ tự học và các sinh hoạt khác
Được sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp, các ngành, cơ sở vật chất của các nhà trường ngày càng được quan tâm đầu tư, trang bị, đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi, phát triển toàn diện của HS. Nhưng tình hình kinh tế xã hội của huyện phát triển chưa đồng đều, còn hạn hẹp về tài chính, diện tích đất đai ở các xã chưa được quy hoạch một cách bài bản; đa số Học sinh dân tộc thiểu số là con em nông dân, hoặc không có nghề nghiệp ổn định, nên cơ sở vật chất phục vụ cho tự học và các sinh hoạt khác của HS còn nhiều khó khăn và thiếu. Có 37,16% Cán bộ quản lý và GV cho rằng Cơ sở vật chất phục vụ tự học tương đối đủ và 62,83% cho rằng còn thiếu.
2.4.4 Đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Qua khảo sát thực trạng tự học của HS và thực trạng quản lý Hoạt động tự học của HS tại các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số, tác giả nhận thấy có những mặt mạnh sau:
2.4.4.1 Những mặt mạnh
Phần lớn cán bộ quản lý, GV và HS tham gia khảo sát này đã nhận thức được về tự học, vai trò và tầm quan trọng của tự học đối với việc tiếp thu kiến thức của HS cũng như chất lượng dạy và học.
Các đồng chí Cán bộ quản lý đã xây dựng được một hệ thống các biện pháp quản lý và tập trung chỉ đạo thành công ở một số nội dung quản lý Hoạt động dạy học trong điều kiện cơ sở vật chất của mỗi nhà trường bằng những kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy biện pháp quản lý Hoạt động tự học đã đạt yêu cầu mục tiêu đề ra ở mức độ nhất định trong điều kiện kinh tế – xã hội của các xã trên địa bàn huyện còn nhiều khó khăn. Các đồng chí Hiệu trưởng đã nhận thức đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng của 10 nội dung quản lý Hoạt động dạy học. Nhận thức Hoạt động dạy học là hoạt động chính của nhà trường, là tiền đề để tổ chức các hoạt động khác, trong đó quản lý Hoạt động tự học của HS là yếu tố chủ đạo nhằm đạt kết quả cao trong chất lượng giáo dục chung của các nhà trường. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Hiện nay các trường có cấp Trung học cơ sở của huyện Hoành Bồ – đặc biệt vùng cao, miền núi luôn được sự quan tâm, đầu tư của các cấp chính quyền về điều kiện dạy học, cơ sở hạ tầng; thay mới, bổ sung thiết bị dạy học cùng với sự cố gắng của các nhà trường đã giúp cho trường lớp khang trang, đầy đủ hơn, dần đáp ứng yêu cầu học tập của HS.
Thực hiện chỉ đạo của ngành GD&ĐT huyện, các trường đã thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đua nhằm nâng cao năng lực cũng như tình cảm nghề nghiệp, trách nhiệm của mỗi Cán bộ, giáo viên. Đội ngũ Cán bộ quản lý và GV luôn có ý thức trong đổi mới Phương pháp dạy học và đổi mới PP kiểm tra đánh giá HS, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Các trường vùng khó cũng đã tích cực trong việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động tập thể, các hình thức học tập thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo hứng thú, giúp HS biết tự tập, tự giác, biết cố gắng, biết vượt lên chính mình để tự tin, mạnh dạn; biết chia sẻ, hỗ trợ lẫn Xét về ý thức, phần lớn HS chấp hành tốt nội quy, kỷ luật của trường, lớp và có ý thức học tập. Bước đầu HS đã biết áp dụng các HTTH khác nhau. Tuy kết quả còn hạn chế nhưng đó cũng là những khởi sắc cho giáo dục vùng khó.
Các đồng chí Cán bộ quản lý đã thường xuyên quan tâm và chỉ đạo đội ngũ Cán bộ, giáo viên trong công tác phối kết hợp với phụ huynh. Khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao, tư tưởng PH HS có nhiều tiến bộ, thuận lợi cho giáo dục trên địa bàn. Kế hoạch các nhà trường có những nội dung thiết thực trong việc kết hợp nâng cao chất lượng học và động viên cán bộ GV chăm lo đến thế hệ trẻ. Chất lượng giáo dục còn chưa phát triển đồng đều trong công tác mũi nhọn, nhưng đã từng bước nâng cao và duy trì sĩ số HS trong độ tuổi đến trường.
Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, việc học tập của Học sinh dân tộc thiểu số được quan tâm hơn, đây cũng chính là điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao nhận thức và phát huy khả năng tự học của các em. Nhiều HS đã được tiếp cận và biết sử dụng các HTTH khác nhau, biết tìm kiếm kiến thức từ các kênh thông tin (sách nâng cao, tài liệu tham khảo, mạng internet…). Các em được tham gia nhiều hoạt động học tập phong phú, tích cực, biết giúp đỡ và trao đổi kinh nghiệp học tập.
2.4.4.2 Những mặt còn hạn chế
Vẫn còn một bộ phận HS và không ít GV quan niệm đơn giản rằng, tự học là Hoạt động tự học ở nhà, ngoài giờ lên lớp và không có người hướng dẫn mới là tự học. Hoặc một số HS coi tự học là chỉ hoàn thành các bài tập được giao hoặc những phần GV sẽ kiểm Động cơ học tập và ý thức tự giác của HS chưa cao, khả năng lập kế hoạch và mức độ thực hiện Kế hoạch tự học của HS chưa tốt. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Công tác hướng dẫn và quản lý việc đổi mới Phương pháp tự học và quản lý Hoạt động tự học của HS còn những hạn chế nhất định. Một bộ phận GV ngại đổi mới PP, chưa hướng dẫn HS lập thời gian biểu cho việc tự học, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của Hoặc GV hướng dẫn HS lập Kế hoạch tự học nhưng chưa quan tâm việc kiểm tra quá trình và kết quả. Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng tự học của HS còn chưa thật sự có hiệu quả trong việc nâng cao kết quả học tập của HS. Các trường còn tồn tại một bộ phận HS có học lực yếu, kém. Qua trao đổi với một số thầy, cô và HS được biết, có HS thực chất học yếu nhưng vẫn được lên lớp. Nguyên nhân do một số trường quan niệm Học sinh dân tộc thiểu số nếu không được lên lớp sẽ nghỉ học, hoặc có trường tổ chức ôn, thi lại để tạo điều kiện hợp lý cho HS – vẫn ảnh hưởng vì thành tích của nhà trường.
HS chưa có sự tìm tòi, mở rộng kiến thức hoặc hướng vào tự học các môn yêu thích nhằm phát triển năng lực bản thân. Nội dung tự học chưa phong phú. Một bộ phận lớn HS chưa có Kế hoạch tự học rõ ràng mà chỉ tự học theo cảm hứng hoặc khi các em có thời gian rảnh rỗi. Môi trường học tập ở gia đình, trường lớp chưa có ảnh hưởng tích cực đến vấn đề tự học của HS. Kỹ năng đọc sách còn hạn chế, chủ yếu tự học theo sách giáo khoa nên HS khai thác các Nội dung tự học chưa có hiệu quả. Với cơ sở như vậy thì khó có thể đạt được kết quả tốt, và cũng khó hình thành được ở các em thói quen tự học, tự tìm tòi khám phá tri thức mới.
Sự phối kết hợp của nhà trường với Phụ huynh học sinh trong công tác quản lý Hoạt động tự học của HS trong và ngoài nhà trường vẫn còn hạn chế. Việc kiểm tra vấn đề tự học chưa đạt hiệu quả. Rất ít những người thân trong gia đình HS như bố, mẹ, anh chị,… theo dõi, kiểm tra – vì trình độ chưa đáp ứng hoặc phó mặc cho thầy cô giáo, hoặc chưa tác động đến các em tinh thần ham học. Bản thân các em cũng chưa có ý thức hoặc chưa biết cách tự đánh giá, kiểm tra kết quả tự học của mình. Sự hỗ trợ của thầy cô và các bạn trong vấn đề đôn đốc và kiểm tra còn hạn chế.
HĐTH của các em chưa được nhà trường cũng như gia đình chú ý quan tâm, tạo điều kiện để các em tự học có hiệu quả cao. Cơ sở vật chất của các trường học chưa đồng bộ, còn thiếu thốn để phục vụ cho các Hoạt động tự học của HS. Các nhà trường ở miền núi, vùng cao có Học sinh dân tộc thiểu số tham gia học tập hầu hết chưa có thư viện đúng, đủ tiêu chuẩn và sách tham khảo phục vụ học tập, các thầy cô bộ môn cũng chưa phát huy hết khả năng tự học của HS.
2.4.4.3 Nguyên nhân của thực trạng
- Nguyên nhân của những mặt mạnh: Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Với các chương trình, dự án, các chính sách đặc thù được triển khai hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực, góp phần thay đổi diện mạo vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao của huyện – trong đó có tư tưởng của các bậc phụ huynh đối với việc học tập của con em. Bên cạnh đó, ngành GD&ĐT huyện luôn tạo điều kiện, các nhà trường luôn khích lệ GV tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tỷ lệ GV đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao; Đồng thời, có những chỉ đạo sát sao, đề ra những biện pháp thiết thực, động viên Cán bộ, giáo viên linh hoạt cho các vùng miền, sử dụng những phương pháp và cách thức tối ưu nhất để HS và nhân dân đón nhận nhưng vẫn đảm bảo quy định của ngành.
Các đồng chí Cán bộ quản lý có kinh nghiệm, có nghiệp vụ quản lý, biết linh hoạt trong điều kiện công tác và hỗ trợ lẫn nhau; đã quan tâm đến việc cải tiến biện pháp quản lý, xây dựng lại nội dung quản lý tương đối phong phú bám sát chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các Thông tư, Quyết định về trường bán trú, nội trú cho HS nằm trong vùng kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn.
Các nhà trường có truyền thống, nền nếp của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Đội TNTP hoạt động rất tốt, luôn là nguồn cổ vũ HS có ý thức phấn đấu trong học tập. Đội ngũ GV từng bước đổi mới Phương pháp dạy học, nhiệt tình, tâm huyết, bước đầu quan tâm đến công tác tự học nhằm phát huy tính tích cực của HS.
Tổ chức tốt các phong trào thi đua, có động viên, khen thưởng kịp thời, khích lệ được sự phấn đấu, nỗ lực của thầy và trò trong dạy – học. Công tác khuyến học khuyến tài ở các xã được đẩy mạnh. Việc tuyên truyền, phổ biến các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như vận động học tập được thực hiện có hiệu quả.
Nguyên nhân của những hạn chế
- Nguyên nhân khách quan
Do môi trường học tập là vùng có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn nên công tác xã hội hóa giáo dục chưa được đẩy mạnh, cơ sở vật chất cho Hoạt động dạy học và cho Hoạt động tự học của HS còn thiếu thốn, còn mang tính chất lắp ghép nên chưa đồng bộ và hiện đại, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
Học sinh dân tộc thiểu số chủ yếu là gia đình làm nông nghiệp hoặc thậm chí không có công việc ổn định, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, chưa được tạo điều kiện và chưa có môi trường học tập tốt. Các nhà quản lý, GV và gia đình HS chưa sâu sát trong việc quản lý Hoạt động tự học của HS nên chưa phát huy hết khả năng tự học của HS. Việc đổi mới Phương pháp dạy học nhằm phát huy sự chủ động, sáng tạo của HS đã được GV chú trọng nhưng còn mang tính chủ quan nên chưa thực sự phát huy hết tác dụng. Còn một bộ phận GV chưa thực hiện đúng yêu cầu dạy học tích cực, nhiều HS nhận thức đúng nhưng không cầu tiến, ý thức kỷ luật chưa cao dẫn đến thiếu nỗ lực tự học.
Công tác dạy và học đôi khi vẫn mang nặng tính hình thức, đề cao chỉ tiêu mà chưa chú trọng đến thực chất. Một số thầy cô giáo và HS chưa nhận thức rõ về tự học, ý nghĩa và vai trò to lớn của Hoạt động tự học trong học tập.
- Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Ban giám hiệu các trường hầu hết chỉ có kế hoạch chung chỉ đạo Hoạt động tự học, nhưng biện pháp quản lý chưa đủ mạnh, chưa tác động toàn diện đến đội ngũ GV và HS; chưa tiếp cận quản lý hoạt động này một cách khoa học nên vẫn chưa thống nhất cao, thường chú trọng khâu tổ chức và xây dựng nền nếp. Chưa đủ lực lượng để thường xuyên kiểm tra, đánh giá, giám sát nội dung soạn giảng, cách thức tổ chức dạy học tích cực và có những biện pháp đúng mức điều chỉnh hoặc phát huy năng lực dạy tự học của GV, kỹ năng học, tự học và hiệu quả giáo dục HS.
Chỉ đạo dạy đúng hướng nhưng thực tiễn quản lý ở các tổ chuyên môn còn những hạn chế về tổ chức quản lý tổ, điều hành và giám sát hoạt động nâng cao chất lượng dạy học, kiểm tra đánh giá chất lượng HS; chưa chủ động, sáng tạo và chưa có những biện pháp thúc đẩy hoạt động dạy – tự học. GV nhận thức chưa đồng đều, còn lúng túng, chưa thống nhất trong hoạt động để phát huy trí lực HS.
Tính tự quản của HS trong quá trình tự học còn yếu, còn quá chú trọng vai trò của Giáo viên chủ nhiệm nên chưa tạo cho HS ý thức tự giáo dục. HS hiểu yêu cầu tự học nhưng hành động chưa đáp ứng được mục tiêu của tập thể, của cá nhân. Giáo viên chủ nhiệm và HS dân tộc ít tôn trọng nhau theo nguyên tắc chỉ huy, cán sự thiếu năng lực điều hành, ngại va chạm. Tổng phụ trách Đội các nhà trường chưa quan tâm tập huấn, bồi dưỡng cho cán sự lớp nên tự quản chưa tốt. Năng lực tự học của HS còn yếu, trình độ chưa đều, nhận thức còn chung chung chưa được cụ thể hóa trong hành động tự học.
Hoạt động của các tổ chức trong các nhà trường còn mang tính hình thức, phát động hô hào, thiếu những chương trình hành động thiết thực và những biện pháp thuyết phục HS tự giác thể hiện năng lực tự học như: Ngoại khóa, kèm cặp HS yếu, tác động tư tưởng và có chế độ giáo dục HS cá biệt, tổ chức tự học theo chủ đề… Chưa có quy chế cụ thể cho hoạt động quản lý nội trú, bán trú cũng như quản lý các hoạt động ngoài giờ của HS.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
Trên cơ sở lý luận khoa học ở chương I và kết quả đánh giá thực trạng tự học và công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tác giả nhận thấy Học sinh dân tộc thiểu số bước đầu đã có nhận thức đúng đắn, Hoạt động tự học của HS đã có những yếu tố định hướng và phát triển. Tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, tạo ra những rào cản trong việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường.
Những hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân thuộc về bản thân HS, yếu tố gia đình, nguyên nhân do đặc thù của địa phương và có những nguyên nhân do công tác quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ dạy và học trong nhà trường nên chưa tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Hoạt động tự học của HS.
Muốn tạo ra sự chuyển biến về chất lượng học tập trong nhà trường, cần tìm ra những giải pháp khắc phục hạn chế, phát huy những mặt mạnh tạo điều kiện tốt nhất để tổ chức Hoạt động tự học, xây dựng phong trào thi đua học tập. Vì vậy, cần đánh giá đúng thực trạng làm cơ sở để xây dựng những biện pháp quản lý thống nhất, khả thi và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả Hoạt động tự học của HS Trung học cơ sở là dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số

Pingback: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số