Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục đào tạo giữ vị trí vô cùng quan trọng, là chìa khóa, là động lực để phát triển nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính vì lý do này mà Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển nền giáo dục ngày càng hoàn thiện và thật sự vững mạnh. Trong suốt những năm qua toàn Đảng và toàn xã hội đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều để hoàn thiện hệ thống giáo dục nước nhà. Vì thế xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao và khắt khe với hệ thống giáo dục, đòi hỏi giáo dục đào tạo ra những con người đáp ứng được nhu cầu thật sự của xã hội: “Phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Một trong những phương diện mà giáo dục Việt Nam cần quan tâm đó là giáo dục giới tính (GDGT) cho vị thành niên (VTN). Giáo dục giới tính là trách nhiệm của toàn xã hội, tuy nhiên nhà trường giữ vai trò chủ đạo, vì nhiệm vụ của trường học không chỉ truyền đạt kiến thức văn hóa xã hội mà còn giáo dục đạo đức, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp cho học sinh.

Trước tác động của cuộc sống hiện đại, những thay đổi về tâm sinh lý của trẻ Vị thành niên cũng trở nên phức tạp hơn. Thời gian vừa qua cũng đã xảy ra những câu chuyện đau lòng liên quan đến việc giáo dục giới tính và đó cũng là hồi chuông cảnh báo cho sự thiếu hụt về kiến thức giới tính cho học sinh, thậm chí là lỗ hổng kiến thức ở cả các bậc phụ huynh và thầy cô giáo. Không thể phủ nhận là, những năm gần đây vấn đề giáo dục giới tính – một trong những vấn đề được xem là “nhạy cảm” đã dần được tháo gỡ và ngày càng được đề cập cởi mở hơn, bước đầu hé mở những tín hiệu mới giúp cho việc hình thành nhân cách của trẻ. Trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam hiện nay, ông Nguyễn Minh Thuyết – Tổng chủ biên Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cho biết, nội dung giáo dục giới tính, bảo vệ trẻ em sẽ được làm rõ hơn. Ông Thuyết dẫn chứng: “Chương trình có thể được giảng dạy trực tiếp như trong giáo dục lối sống, trong môn sinh học các cấp học, kiến thức pháp luật, hay được tích hợp trong môn ngữ văn”. Tuy nhiên, trong khi chờ chương trình mới ra đời, đã có những buổi tọa đàm, trao đổi về giáo dục giới tính và sức khỏe Vị thành niên nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về giới tính. Ở trường học cũng đã bắt đầu lồng ghép kiến thức giáo dục giới tính, đưa nội dung về tình yêu và tình dục vào các hoạt động chính khóa hay ngoại khóa nhằm tư vấn, giải đáp những thắc mắc liên quan đến tuổi Vị thành niên; lắng nghe mọi tâm tư, khó khăn trở ngại của các em, giúp các em có kiến thức về việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và giới tính… Thế nhưng, trên thực tế thì đúng là việc giáo dục giới tính cho trẻ em trong độ tuổi học sinh, nhất là độ tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) ở nước ta vẫn đang còn những khoảng trống lớn, hay nói cách khác, dường như chúng ta chưa đi đúng quỹ đạo mà cứ mãi “kín cổng cao tường”, cho rằng đó là vấn đề tế nhị, nhạy cảm. Vì thế cho đến hôm nay khi nói đến việc giáo dục giới tính cho học sinh thì phần đông mọi người vẫn hay ngại ngùng, e thẹn và không thoải mái khi đề cập đến vấn đề này. Nhiều bậc phụ huynh học sinh còn e dè, chưa tin tưởng vào giáo dục giới tính và còn bảo thủ cho rằng đó là “vẽ đường cho hươu chạy”.

Bước vào tuổi Vị thành niên cả con trai và con gái đều có những thay đổi về cơ thể, về cảm giác, thậm chí đã có những rung động đầu đời. Ở độ tuổi này, các em chưa hẳn là người lớn nhưng cũng không còn là trẻ con. Nhu cầu khám phá, giải quyết sự tò mò và ham muốn của các em tăng lên. Theo thống kê của Vụ Sức khỏe Bà mẹ trẻ em (Bộ Y tế), trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 300 đến 400 ngàn ca phá thai ở độ tuổi 15-19 được báo cáo chính thức, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Còn theo Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có dấu hiệu giảm đáng kể, tuy nhiên điều đáng nói là tỉ lệ nạo phá thai ở lứa tuổi Vị thành niên lại có dấu hiệu gia tăng – chiếm hơn 20% các trường hợp phá thai. Tuy nhiên điều đáng báo động là kiến thức của Vị thành niên về phòng tránh thai, về căn bệnh thế kỷ HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác vẫn còn thấp – chỉ có khoảng 20,7% Vị thành niên biết cách sử dụng các biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên của mình. Theo các chuyên gia y tế -dân số, với con số mang thai và phá thai nêu trên đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức lớn cho công tác dân số và phát triển nước ta, mà đáng lưu tâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Vì thế giáo dục giới tính cho trẻ Vị thành niên, đặc biệt là học sinh trong độ tuổi Trung học cơ sở là vô cùng quan trọng và cần thiết để mỗi học sinh có thể biết tự bảo vệ mình, tránh những hậu quả đáng tiếc và để có những hành trang đầu tiên thật vững chắc bước vào đời.

Tân Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, được thành lập theo Nghị định 61/2013/NĐ-CP ngày 09/04/2013 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập 2 huyện: huyện Thanh Sơn mới và huyện Tân Sơn. Huyện Tân Sơn có 17 xã, trong đó có 6 xã thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong chương trình 135 giai đoạn 2023-2026 [19]. Mặc dù đã nhận được nhiều sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo và địa phương cũng đã có nhiều thành tích đáng kể trong giáo dục. Tuy nhiên, việc giáo dục giới tính cho học sinh, đặc biệt là giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở còn nhiều thiếu sót và bất cập. Thêm vào đó, trong phương pháp giáo dục còn để lại nhiều lỗ hổng, sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa nhịp nhàng, chưa đồng bộ, chưa phát huy hết tác dụng của hoạt động giáo dục giới tính. Thời gian qua cũng đã có những đề tài nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tính và quản lý hoạt động giáo dục giới tính, tuy nhiên chưa đề cập cụ thể vào lứa tuổi học sinh. Chính vì thế nên tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay” nhằm góp phần khắc phục những khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Việc giáo dục đúng hướng sẽ giúp các em vững vàng, tự tin bước vào đời và trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay; đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh Trung học cơ sở.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường Trung học cơ sở.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Cơ sở khoa học nào để các trường Trung học cơ sở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ quản lý hoạt động Giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở ?

Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay diễn ra như thế nào? Những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó trong công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở là gì?

Cần những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay?

5. Giả thuyết khoa học

Các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả nhất định trong hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề bất cập. Nếu đề xuất được những biện pháp phù hợp với điều kiện của địa phương nhằm khắc phục những hạn chế trong vấn đề quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện thì chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh sẽ cao hơn.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
  • Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn,tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
  • Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Giới hạn về không gian: Nghiên cứu tiến hành khảo sát ở 3 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, bao gồm: trường Trung học cơ sở Tân Phú, Trung học cơ sở Mỹ Thuận, Trung học cơ sở Minh Đài.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Xây dựng khung lý luận của vấn đề nghiên cứu. Phân tích và tổng hợp những vấn đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và sắp xếp thành một hệ thống lý luận.

8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến đối với một số cán bộ phòng giáo dục, ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và một bộ phận phụ huynh, học sinh tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ về vấn đề giáo dục giới tính trong giai đoạn hiện nay.

Phương pháp quan sát: tham gia dự giờ một số tiết sinh hoạt, dự giờ các bộ môn sinh học, giáo dục công dân và các buổi ngoại khóa của học sinh Trung học cơ sở có liên quan đến chủ đề giáo dục giới tính nhằm quan sát thái độ của học sinh khi tham gia các hoạt động này và năng lực tổ chức của người giáo viên.

Phương pháp phỏng vấn: tiến hành gặp gỡ và trao đổi với ban giám hiệu, giáo viên môn sinh học và một bộ phận phụ huynh học sinh, học sinh tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ về vấn đề giáo dục giới tính và các vấn đề liên quan. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục và quản lý giáo dục: thông qua các bản báo cáo của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; báo cáo của Phòng giáo dục về vấn đề giáo dục giới tính để phân tích, tổng hợp. Từ đó rút ra những kết luận cần thiết.

8.3. Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phương pháp này để xử lý các số liệu thu thập được từ các phương pháp khác đem lại, phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

9. Những đóng góp của đề tài

Về lý luận: Xác định những cơ sở có tính khoa học về việc phải quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh Trung học cơ sở.

Về thực tiễn: Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát hiện ra những hạn chế. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

10. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay.

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Vấn đề giới tính và giáo dục giới tính được con người quan tâm nghiên cứu đã từ rất lâu. Từ thời Cổ đại, giới tính là đề tài bị coi là ghê tởm và không được phép đề cập trực tiếp. Dấu tích về giới tính và những hoạt động liên quan đến giáo dục giới tính không hề được lưu lại trên hài cốt được khai quật vì vậy nó đặt ra nhiều thách thức đối với giới khảo cổ. Những mô tả về giới tính dường như vắng bóng trong các hiện vật văn hóa và chỉ được khắc họa bằng hình vẽ, tuy nhiên ý nghĩa của nó lại chủ yếu được diễn giải theo suy luận của con người hiện đại. Muốn xác định rõ thông điệp mà cộng đồng cổ đại nhắn nhủ qua các hình ảnh này, giới khoa học chỉ còn cách dựa vào nguồn văn chương cổ.Tuy nhiên, vấn đề càng thêm phức tạp khi các ghi chép văn chương dường như không mang tính đại diện cho toàn xã hội mà chỉ xuất phát từ góc nhìn riêng của tác giả. Tất cả sự thiếu thốn thông tin khiến hiểu biết về giới tính cổ đại vẫn còn là một đề tài nhiều tranh cãi [13].

Cho đến khi có sự xuất hiện của bộ môn Giải phẫu và Sinh học thì công tác nghiên cứu các vấn đề về giới tính và giáo dục giới tính mới thật sự được tiến hành.Vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các đề tài về giới tính được các nhà hoa học như là J. Bachocen (Thụy Sĩ), J.Mac Lenan (Anh), E. Wetermach (Phần Lan), Lewis Henry Morgan (Mỹ), X.M. Kovalevxki (Nga) mở rộng và nghiên cứu đến nhiều phương diện của cuộc sống như đạo đức, giáo dục, tình dục, hôn nhân và gia đình [16].

Đầu thế kỉ XX, xuất hiện một số quan điểm sinh học về vấn đề giới tính, những nghiên cứu về giới tính và tình dục phát triển mạnh nhằm giáo dục giới tính trên cơ sở khoa học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Vào năm 1926, tại Hà Lan nhà khoa học T.Van de Velde đã cho ra đời cuốn “Hôn nhân hiện đại”. Đây là cuốn sách khoa học hiện đại đầu tiên về sinh lí học trong hôn nhân, nó đã góp phần nâng cao vị trí của người phụ nữ trong gia đình và đòi hỏi quyền bình đẳng của họ [16].

Tại Mỹ, các vấn đề về tình dục và giới tính được quan tâm nghiên cứu vào những năm 1921. Đã có nhiều nhà khoa học tham gia nghiên cứu về lĩnh vực này, tiêu biểu là H.Kingsey cùng các đồng nghiệp của mình. Sau đó, W.Masters và V.Johnson tiếp tục nghiên cứu công trình này và công bố kết quả vào năm 1966 [11].

Cho đến nay, chương trình giáo dục giới tính tại Mỹ được phân theo các cấp học. Tuy nhiên không có một chương trình giáo dục quốc gia cụ thể mà quyết định giáo dục giới tính được trao cho các bang và quận. Bên cạnh đó, giáo dục giới tính tại gia đình cũng được phụ huynh đặc biệt quan tâm.

Thuỵ Điển là một trong những quốc gia tiên phong trong việc giáo dục giới tính cho trẻ em. Những chương trình giáo dục giới tính cho học sinh đã được Thuỵ Điển triển khai từ năm 1942. Một trong số đó là “Giáo dục phòng tránh thai”- chương trình giáo dục giới tính đầu tiên được công nhận tại một trường học. “Giáo dục phòng tránh thai” được đưa vào giảng dạy cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên nhằm trang bị cho các em những kiến thức cơ bản về mang thai và sinh con. Khi lên bậc trung học, các học sinh sẽ được học về đặc tính sinh lý của nam và nữ. Năm 1966, Thụy Điển đã chính thức đưa “Giáo dục phòng tránh thai” và nhiều hoạt động khác về giáo dục giới tính lên truyền hình, phá vỡ sự ngại ngùng cho phụ huynh khi trò chuyện với con em về vấn đề này [11].

Tại Hà Lan, giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy từ rất sớm. Thậm chí, trẻ em bậc tiểu học ở nước này còn được học những bài học về tôn trọng những người chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính. Bên cạnh đó, chủ đề giáo dục giới tính được các gia đình đề cập đến rất thường xuyên trong những lúc quây quần bên nhau. Có lẽ nhờ phương pháp giáo này mà Hà Lan luôn được ca ngợi là một trong những quốc gia đi đầu về giáo dục giới tính. Hà Lan còn được đánh giá là đất nước có tỉ lệ trẻ mang thai ở độ tuổi Vị thành niên thấp nhất trên thế giới (khoảng 0,5%) [11].

Ở châu Á, chương trình Giáo dục giới tính ở các nước cũng đang có các mức độ rất khác nhau. Các quốc gia như Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc cũng có những chính sách về giảng dạy giới tính tại trường học. Malaysia, Philippines và Thái Lan thiên về giáo dục sức khoẻ sinh sản trong khi Ấn Độ lại có chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 tới 16 tuổi. Tại Singapore, tất cả các cấp học đều có chương trình Giáo dục giới tính của Bộ giáo dục. Tại cấp tiểu học, trẻ em được dạy về việc phát triển cơ thể và cách xây dựng các mối quan hệ lành mạnh. Tại trung học và sau đó, học sinh được dạy về sức khỏe và hành vi tình dục cũng như cách phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục [11].

Vào những năm cuối của thế kỉ XX, giáo dục Việt Nam còn chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, đặc biệt là truyền thống phương Đông đã ăn sâu và làm ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều bậc phụ huynh, họ coi giới tính là vấn đề nhạy cảm, là vùng“cấm địa” không được chia sẻ với con. Trong khi đó, giáo dục giới tính trong nhà trường cũng chưa thật sự phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý sớm của học sinh, nội dung vẫn còn chung chung, không thiết thực. Các thầy cô giáo và các tổ chức xã hội thì không được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính để có thể giáo dục và chia sẻ với các em. Chính những lỗ hổng đó đã làm cho học sinh Việt Nam thiếu hụt một cách trầm trọng kiến thức về giới tính và để lại những hậu quả vô cùng đáng tiếc [11].

Tuy nhiên, sau khi chỉ thị 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nêu rõ: “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái” thì công tác Giáo dục giới tính cho học sinh, sinh viên được nhà trường, các cơ quan và các tổ chức chính trị – xã hội quan tâm rộng rãi. Từ năm 1985, nhiều nội dung, khía cạnh của hoạt động giáo dục giới tính được các nhà khoa học như là Trần Trọng Thuỷ, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức, Đặng Xuân Hoài… đầu tư nghiên cứu. Sau khi các công trình được công bố đã góp phần làm cơ sở cho hoạt động giáo dục giới tính tại Việt Nam[7].

Ngày 4 tháng 8 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị Số 23/2014/CT-TTg “Về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình”. Chỉ thị đã chỉ rõ nhiệm vụ của bộ GD&ĐT là triển khai có hiệu quả hoạt động GD dân số, sức khỏe sinh sản, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường. Chính vì vậy cần tập trung xây dựng, quy hoạch và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các trường và những người trực tiếp tham gia giáo dục giới tính có đủ phẩm chất và trình độ chuyên môn vững vàng nhằm nâng cao cao chất lượng giáo dục giới tính nói riêng và chất lượng giáo dục Việt Nam nói chung.

Ngày 22 tháng 11 năm 2025 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định Phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2035, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành liên quan đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, giới, bình đẳng giới và giới tính theo định hướng của Chiến lược[28].

Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến giới tính như là: đề tài luận văn tốt nghiệp: “Tìm hiểu sự nhận thức và quan tâm của học sinh THPT về các vấn đề giới tính” của Nguyễn Văn Phương(1994); đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng việc quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở tại huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương và một số giải pháp” của Đỗ Hà Thế Bình (2013); luận văn thạc sĩ luật học: “ Bình đẳng giới trong pháp luật hôn nhân- gia đình Việt Nam” của Nguyễn Thị Hoàng Giang (2020);luận án tiến sĩ: “Quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trương Hồng Quang (2025)…

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

1.2.1. Giới tính

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật Bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 10 số 73/2012/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2012 đã giải thích một số khái niệm như sau:

  • Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội;
  • Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ;

Giới tính là khái niệm đề cập tới những đặc tính về mặt sinh học của nam giới và nữ giới mà cho phép xác định một cá nhân thuộc về giống đực hay giống cái. Sự khác nhau này có ngay từ lúc một con người được sinh ra (trừ trường hợp dị thường). Sự khác biệt giới tính rõ ràng nhất đó là việc có kinh nguyệt, mang thai, cho con bú của phụ nữ và việc tạo ra tinh trùng của nam giới. Ngoài những khác biệt rõ ràng kể trên, về cơ bản, những khác biệt giới tính khác được xem xét ở góc độ tổng thể chứ không phải ở cá biệt. Ví dụ, xét chung về mặt thể chất, nam giới cao lớn và khỏe hơn phụ nữ, nhưng cá biệt cũng có phụ nữ cao lớn và khỏe hơn một số nam giới. Do các đặc điểm về giới tính là những yếu tố xác định về mặt sinh học nên chúng có tính cố định, không thay đổi qua các thế hệ. Cụ thể, từ thời thượng cổ cho đến nay, việc có kinh nguyệt, mang thai, cho con bú vẫn gắn liền với phụ nữ và chỉ với phụ nữ; trong khi khả năng tạo ra tinh trùng vẫn chỉ là đặc quyền của nam giới.

Khác với giới tính, giới theo nghĩa khái quát là khái niệm đề cập đến mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ và các đặc tính được xã hội gắn cho từng nhóm.. Các đặc tính giới thường được truyền thụ tiếp nhận ngay từ thuở thơ ấu của một con người. Chẳng hạn, các bé gái thường được bố mẹ cho nuôi tóc dài, còn các bé trai thì cắt tóc ngắn. Khi nói đến sự tức giận, trong khi phụ nữ thể hiện nó bằng lời nói thì đàn ông không kiểm soát được tính khí của họ và thậm chí có thể dùng đến bạo lực. Các vùng của bộ não xử lý sự hung hăng có liên quan đến các vùng của não chịu trách nhiệm gây ra hành động ở nam giới. Ở phụ nữ, những vùng này liên quan đến những vùng có trách nhiệm “nói” ra cảm xúc. Đó là lý do tại sao những phụ nữ giận dữ bắt đầu la hét trong khi nam giới tức giận lại thường giải quyết theo xu hướng bạo lực.

Đặc trưng cơ bản nhất của giới là thông qua quá trình học tập và thời gian mà có, do vậy giới có thể thay đổi được. Ví dụ: phụ nữ cũng có thể mạnh mẽ và quyết đoán, trở thành lãnh đạo, phi công, thợ máy… Ngược lại nam giới có thể dịu dàng và kiên nhẫn, có thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư ký,.. Những đặc điểm này mang tính chất xã hội vì thế chúng có thể thay đổi từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của mỗi đất nước, mỗi quốc gia dưới tác động của các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo và điều kiện kinh tế. Cũng vì lí do đó mà có thể thấy địa vị xã hội của phụ nữ ở mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ là khác nhau; phụ nữ phương Tây khác với phụ nữ phương Đông, phụ nữ Châu Á khác với phụ nữ hồi giáo, phụ nữ vùng nông thôn khác phụ nữ vùng thành thị.

  • Sự khác nhau giữa giới và giới tính có thể được tóm tắt trong bảng sau:

Tóm lại, khái niệm về giới tính phải được nhìn nhận một cách đầy đủ và toàn diện, bao gồm nhiều vấn đề như là: sinh lí – tâm lí, cá nhân – xã hội, hôn nhân – gia đình, tình yêu – tình bạn, mối quan hệ nam – nữ,…

1.2.2. Hoạt động giáo dục giới tính Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp và vô cùng nhạy cảm. Thời gian gần đây nội dung này đã được xã hội đặc biệt quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên ở Việt Nam những nội dung này vẫn còn bị xem là một chủ đề nhạy cảm và ít được đề cập rộng rãi. Việc thiếu kiến thức và kỹ năng về giới tính cũng như tự bảo vệ bản thân khỏi xâm hại tình dục trong giới trẻ hiện nay đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Giáo sư Trần Trọng Thuỷ, Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáo dục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức con người, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềm chế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của các em” [24].

Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, giáo dục giới tính phải được xem xét như một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội. Nó có mối liên hệ mật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân – gia đình và với các mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông. Do vậy cần phải tiến hành công tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác. Ngoài ra còn rất nhiều quan niệm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về tâm lí học giới tính .

Có nhiều ý kiến trái chiều khi đưa nội dung giáo dục giới tính vào trường học. Có ý kiến cho rằng chỉ nên đưa giáo dục giới tính vào nhà trường khi các em đã “ đủ lớn”. Có ý kiến lại cho rằng không nên đưa giáo dục giới tính vào trường học bởi vì như vậy sẽ là “vẽ đường cho hươu chạy”, sẽ làm ảnh hưởng đến tâm hồn non nớt của trẻ. Một phần nguyên nhân của những ý kiến này là vì họ còn nhầm lẫn giữa “giáo dục giới tính” với “giáo dục tình dục”. Thật ra, tình dục chỉ là một phần của nội dung giáo dục giới tính.

Dân số và giáo dục là hai vấn đề nổi bật trong việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế xã hội và có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau. Dân số là tiền đề quan trọng của sự phát triển GD, dân số vừa là yếu tố đầu vào vừa là sản phẩm của GD và có tác động rất lớn đến quá trình xây dựng và phát triển GD cả về số lượng lẫn chất lượng. Vì vậy, phát triển dân số hợp lí sẽ trở thành điều kiện thuận lợi cho phát triển GD hoặc ngược lại, kìm hãm sự phát triển GD trên mọi phương diện.

Không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng không một nơi nào trên thế giới mà phụ nữ có trình độ học vấn cao lại có mức sinh cao hơn phụ nữ có trình độ học vấn thấp, mặc dù có thể phụ nữ có trình độ học vấn cao ở vùng này (quốc gia này) có mức sinh cao hơn phụ nữ trình độ thấp ở vùng khác (quốc gia khác). Mối quan hệ giữa mức sinh và trình độ GD đã giải thích lí do phụ nữ có trình độ học vấn cao sinh ít như sau:

  • Trình độ học vấn cao làm cho phụ nữ có xu hướng kết hôn muộn so với những người có trình độ học vấn thấp, đồng thời làm giảm thời gian sinh sản thực tế, dẫn đến khả năng sinh con thấp hơn;
  • Phụ nữ có trình độ học vấn cao có nhiều cơ hội việc làm hơn, vì thế có xu hướng sinh ít hơn để ưu tiên cho công việc mà không vướng bận việc gia đình; Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.
  • Khả năng sống của con cái ở phụ nữ có trình độ học vấn cao tốt hơn là do họ có nhiều kiến thức chăm sóc con hơn, làm giảm nhu cầu sinh bù của người mẹ và họ cũng có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tỉ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tỉ lệ thuận với trình độ học vấn, giúp kiểm soát tốt số con mong muốn và giảm thiểu những lần sinh con ngoài ý muốn.

Dân số và GD có mối liên hệ tương quan khá chặt chẽ, những thay đổi trong phát triển dân số tác động rất lớn đến hệ thống GD và GD tác động hiệu quả đến hành vi con người, nhất là giúp nhận thức cao trong vấn đề dân số. Vì vậy cần nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục, chú trọng hơn nữa đến nâng cao dân trí, phát triển quy mô và cơ cấu hệ thống giáo dục một cách hợp lý nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Theo tác giả Bùi Ngọc Oánh có thể chia đối tượng giáo dục giới tính ở nước ta hiện nay thành 4 nhóm như sau:

  • Nhóm thứ nhất: lứa tuổi mới lớn, bao gồm học sinh từ Trung học cơ sở trở lên (từ 10 đến 18 tuổi)
  • Nhóm thứ hai: lứa tuổi trưởng thành Nhóm thứ ba: thanh niên đã kết hôn

Nhóm thứ 4: giáo viên và những người trực tiếp làm công tác Giáo dục giới tính [7]. Học sinh Trung học cơ sở thuộc nhóm đối tượng thứ nhất, đây là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang người lớn, là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người. Đặc điểm của giai đoạn này là sự xảy ra đồng loạt những thanh đổi về các mặt tâm sinh lý: sự phát triển về thể chất, sự biến đổi về tâm lý và bước đầu hình thành cá tính riêng biệt của mỗi cá nhân. Đây cũng là giai đoạn nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác vì vậy Giáo dục giới tính đáp ứng những quy luật phát triển về tâm lý, sinh lý cơ thể, đặc biệt là sự phát triển về đời sống tình dục và sự trưởng thành nhân cách của thanh thiếu niên trong xã hội. Với đặc điểm của lứa tuổi như vậy thì phải có nội dung và những hình thức giáo dục phù hợp để đảm bảo Giáo dục giới tính đạt hiệu quả cao.

Tóm lại, từ những quan niệm trên tôi cho rằng: Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở là quá trình nhằm giúp cho học sinh có nhận thức đúng đắn, có thái độ phù hợp về giới tính và quan hệ giới tính, biết ứng xử đúng chuẩn mực để phát triển toàn diện về cả tri thức và nhân cách dưới sự định hướng giáo dục của nhà trường và giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo trong công tác GDGT.

1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Khái niệm hoạt động quản lý: Hoạt động quản lý là hoạt động tổ chức, hoạch định, chỉ đạo, hướng dẫn, sử dụng điều khiển, đánh giá con người để làm cho toàn thể các thành viên hoạt động theo kế hoạch chung nhằm đạt tới mục tiêu nhất định.

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở bao gồm rất nhiều nội dung, nhưng chủ yếu vẫn là:

  • Lập kế hoạch hoạt động Giáo dục giới tính;
  • Tổ chức hoạt động Giáo dục giới tính;
  • Chỉ đạo hoạt động Giáo dục giới tính;
  • Kiểm tra đánh giá kết quả kế hoạch hoạt động Giáo dục giới tính;

Để quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở được tốt thì vai trò của hiệu trưởng là rất lớn. Vì vậy trong hoạt động giáo dục giới tính, hiệu trưởng phải là người nắm rõ mục tiêu, nội dung và bản chất của giáo dục giới tính để từ đó đề xuất những biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho giáo viên, phụ huynh và học sinh. Cụ thể như sau:

  • Tuyên truyền và nâng cao nhận thức cho giáo viên, phụ huynh và học sinh về Giáo dục giới tính

Nhà quản lý muốn hoạt động quản lý có hiệu quả thì việc đầu tiên cần làm là tuyên truyền nâng cao nhận thức cho giáo viên trong nhà trường, nâng cao nhận thức cho phụ huynh và học sinh về vai trò của Giáo dục giới tính. Vì hiểu được điều này thì mỗi giáo viên sẽ tự nâng cao được ý thức trách nhiệm trong công tác Giáo dục giới tính, mỗi phụ huynh và học sinh cũng tự nâng cao được tinh thần trách nhiệm của bản than.

  • Quản lý thực hiện chương trình giáo dục theo kế hoạch và quy định của bộ GD &ĐT

Nội dung Giáo dục giới tính cấp Trung học cơ sở cần được thực hiện theo kế hoạch và quy định của Bộ. Điều này không chỉ nhằm thực hiện tốt mục tiêu Giáo dục giới tính đã đề ra mà còn góp phần giúp học sinh phát triển toàn diện về cả tri thức và đạo đức. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

  • Quản lý chất lượng giảng dạy

Khi tham gia công tác Giáo dục giới tính thì lực lượng giáo viên bao gồm giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên phụ trách các đoàn thể cần được trang bị một cách cơ bản các kiến thức và phương pháp về Giáo dục giới tính.

Ban giám hiệu chỉ đạo cho GV chuẩn bị nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học đầy đủ theo qui định của phân phối chương trình đặc biệt là các bài lồng ghép Giáo dục giới tính. Mỗi giáo viên khi tham gia công tác giảng dạy nội dung Giáo dục giới tính cần thiết kế các phương tiện và phương pháp phù hợp để vừa cung cấp được lượng kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng ứng xử, giao tiếp.

Ngoài ra, Ban Giám hiệu thường xuyên dự giờ các tiết học và các hoạt động có nội dung Giáo dục giới tính. Cần chỉ rõ những điểm còn hạn chế sau mỗi tiết học để giáo viên rút kinh nghiệm và khắc phục kịp thời.

  • Quản lý công tác tổ chức giáo dục giới tính

Hiệu trưởng quản lý công các giáo dục giới tính thông qua các hoạt động chính khóa, các hoạt động ngoại khóa nhằm thực hiện tốt nội dung giáo dục giới tính. Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên và các lực lượng trực tiếp tham gia Giáo dục giới tính cần cập nhật và liên tục đổi mới phương pháp và các hình thức giáo dục giới tính sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và sự phát triển của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.

  • Quản lý trang thiết bị, điều kiện cơ sở vật chất

Nhà trường phối hợp với địa phương và các cơ quan tổ chức để đầu tư trang thiết bị, sách, tài liệu, cơ sở vật chất thiết yếu cho dạy học giáo dục giới tính để đảm bảo cho công tác Giáo dục giới tính diễn ra trong điều kiện thuận lợi nhất.

  • Quản lý việc phối hợp với phụ huynh học sinh (PHHS) trong công tác giáo dục giới tính

Nhà trường phải phối hợp với PHHS để hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tìm hiểu các kiến thức về giới tính, từ đó giúp các em phát triển đúng hướng. Gia đình là lực lượng đầu tiên và là môi trường quan trọng nhất để hình thành và giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Các bậc cha mẹ cần chủ động nâng cao nhận thức về đặc trưng tâm sinh lý và sự phát triển đặc thù của con em mình, từ đó phối hợp chặt chẽ với nhà trường để có phương pháp giáo dục tốt nhất cho trẻ.

1.3. Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

1.3.1. Đặc điểm hoạt động giáo dục giới tính trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay

Giáo dục và đào tạo nước ta những năm qua đã đạt được những thành tựu không nhỏ, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo nước ta vẫn phải thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) vì những lí do sau đây:

Thứ nhất: Chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) hiện hành theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 đã được triển khai trong toàn quốc từ 2002 đến nay. Mặc dù CT và Sách giáo khoa hiện hành đã mang lại hiệu quả giáo dục nhất định, nhưng đứng trước những yêu cầu ngày càng cao và khắt khe về nguồn nhân lực; trước sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ và khoa học giáo dục; trước những thời cơ và thách thức hội nhập với các cường quốc trên thế giới thì CT và Sách giáo khoa hiện nay chưa thật sự phù hợp và đáp ứng được.

Thứ hai: Trên thế giới nền khoa học công nghệ không ngừng phát triển và phát triển rất nhanh; liên tục có các công trình nghiên cứu và những thành tựu khoa học ra đời cần được bổ sung và chương trình giáo dục. Vì vậy cần phải đổi mới chương trình giáo dục để bổ sung và đi kịp với xu thế phát triển toàn cầu.

Cơ sở pháp lý của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này là dựa vào các Văn kiện chính trị của Đảng, Quốc hội và Chính phủ; cụ thể là: Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2020/QH13, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ ban hành CT hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông [1].

  • Chương trình giáo dục phổ thông mới có một số điểm kế thừa và nhiều điểm khác so với chương trình giáo dục hiện hành, cụ thể: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.

Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”, “đầu ra” của quá trình giáo dục. Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế.

Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân.

Thứ hai, Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh, ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng.

Chương trình giáo dục phổ thông mới phân biệt rõ hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).

Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 29, Nghị quyết 88 và Quyết định 404, chương trình thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp, thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lí số môn học; Đồng thời thiết kế một số môn học (Tin học và Công nghệ, Tin học, Công nghệ, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp) theo các chủ đề, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn những chủ đề phù hợp với sở thích và năng lực của bản thân.

Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình.

Thứ ba, trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông.

Chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Việc xây dựng Chương trình tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, đặt cơ sở cho sự kết nối này.

Thứ tư, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả sách giáo khoa và giáo viên.

Nội dung bình đẳng giới và giáo dục giới tính sẽ được chú trọng trong chương trình Giáo dục phổ thông mới. Đặc biệt, ở chương trình phổ thông mới, kiến thức về giáo dục sinh sản, tình dục/sinh dục sẽ được đưa vào Sách giáo khoa từ lớp 4 (sớm hơn chương trình hiện hành một năm). Đây vốn là những nội dung kiến thức được coi là nhạy cảm, tế nhị.

Kiến thức về bình đẳng giới được lồng ghép vào chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể trong nhiều môn học. Cụ thể như sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

  • Cấp Tiểu học: Đạo đức, Tiếng Việt, Khoa học (lớp 4,5), Tự nhiên xã hội (lớp 1, 2, 3), Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
  • Cấp Trung học cơ sở: Giáo dục công dân, Khoa học tự nhiên, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm.
  • Cấp THPT: Lồng ghép nhiều môn, chủ chốt là Ngữ văn, Sinh học, Hoạt động trải nghiệm, Giáo dục thể chất, Giáo dục kinh tế và Pháp luật…

SGK phổ thông còn chứa nội dung, hình ảnh mang tính rập khuôn, chưa cập nhật kịp thời những thay đổi theo xu hướng tích cực về vai trò, vị thế, sự tham gia và đóng góp của nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhân vật nữ chỉ thường được gán vào các nghề như giáo viên tiểu học, nội trợ; nhân vật nam luôn làm các nghề kỹ sư, bác sĩ, phi công, nhà khoa học… Một vấn đề giáo dục giới tính mới nổi là đồng tính chưa được quan tâm đề cập trong Sách giáo khoa.

1.3.2. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay

Nhân dân ta xưa có câu “Nữ thập tam, nam thập lục” (gái 13, trai 16 tuổi), tức là các em gái dậy thì ở tuổi 13 và các em trai dậy thì ở tuổi 16. Tuy nhiên trong những năm gần đây do chịu sự tác động của nhiều yếu tố xã hội từ thực phẩm cho đến các hoạt động vui chơi giải trí nên nhìn chung tuổi dậy thì của Vị thành niên hiện nay đến sớm hơn thế hệ trước, trẻ em sống ở thành phố thường dậy thì sớm hơn các em ở nông thôn và miền núi. Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn ấu thơ sang giai đoạn trưởng thành, là giai đoạn có sự thay đổi lớn cả về thể xác lẫn tinh thần. Và mỗi cá nhân các em lại có những thay đổi riêng biệt từ tính cách cho đến sự phát triển về mặt thể chất. Điều này đặt ra nhiều thách thức đối với phụ huynh và những người làm giáo dục.

  • Những nét chung của học sinh Trung học cơ sở

Học sinh Trung học cơ sở có độ tuổi từ 11-15 và đang theo học từ lớp 6 đến lớp. Lứa tuổi này có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Bước vào giai đoạn này cơ thể các em có sự phát triển mạnh mẽ: sự phát triển của hệ xương, sự phát triển của hệ cơ, sự tăng lên của chiều cao và trọng lượng cơ thể,… Đồng thời xuất hiện yếu tố mới mà ở lứa tuổi trước chưa có (sự phát dục). Về mặt sinh học thì các em có thể sinh sản nhưng chưa thể hoàn thiện về mặt cơ thể, chưa thể trở thành những ông bố, bà mẹ đúng nghĩa. Chính vì thế có thể nói lứa tuổi Trung học cơ sở không có sự cân đối giữa sự phát dục, giữa những tình cảm và ham muốn tình dục với mức độ trưởng thành về xã hội.

  • Đặc điểm học tập của học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Khác với môi trường ở trường Tiểu học, khi bước vào môi trường Trung học cơ sở học sinh thường bị bỡ ngỡ vì thay đổi điều kiện học tập: các em được tiếp xúc và tương tác với nhiều giáo viên hơn, các em phải tham gia học tập ở nhiều môn học, hình thức học tập phức tạp hơn. Mối quan hệ tình cảm giữa giáo viên và học sinh dường như không còn gần gũi như ở bậc Tiểu học. Chính những điều này đã tạo ra trở ngại và thách thức nhất định, nhưng nó cũng là cơ hội để các em tích lũy kinh nghiệm cho bản thân và dần trưởng thành hơn so với ở các lớp dưới.

  • Hoạt động giao tiếp và sự hình thành kiểu quan hệ mới của học sinh Trung học cơ sở

Giao tiếp là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở. Nét đặc trưng trong giao tiếp của học sinh Trung học cơ sở với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quan hệ giữa người lớn với trẻ em có ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưng của tuổi thiếu niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớn trong các giai đoạn tiếp theo. Trong giao tiếp với người lớn có thể nảy sinh những khó khăn, xung đột do thiếu niên chưa xác định đầy đủ giữa mong muốn về vị trí và khả năng của mình.

Học sinh Trung học cơ sở có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn người lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng, không muốn người lớn coi nó như trẻ con mà phải tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tin tưởng và mở rộng tính độc lập của các em.

  • Sự hình thành tình cảm của học sinh Trung học cơ sở

Cảm xúc, tình cảm của các em học sinh Trung học cơ sở vô cùng nhạy cảm và phức tạp. Do ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi nội tiết tố nên các em thường không kiểm soát được cảm xúc của mình: dễ kích động, dễ xúc động và rất nhạy cảm. Ở lứa tuổi này các em đề cao tình cảm bạn bè và tính tập thể. Mối quan hệ bạn bè của các em được hình thành thông qua quá trình học tập, đặc biệt tình cảm bạn bè của những bạn cùng sở thích, cùng ý chí thường khăng khít và thân thiết hơn. Người bạn được các em đề cao là người biết chia ngọt sẻ bùi, khi đã tin tưởng trẻ có thể thổ lộ hết nội tâm, bày tỏ tất cả những suy nghĩ thầm kín nhất. Học sinh ở giai đoạn này có thể đã nảy sinh những xúc cảm tình cảm yêu đương đầu đời, các em dễ bị rung động bởi người khác giới, tuy nhiên có thể các em còn bị ngộ nhận giữa tình yêu và sự ngưỡng mộ. Do đó, cần phải phối hợp tất cả các lực lượng tư nhà trường, gia đình đến xã hội để định hướng cho các em con đường đúng đắn về tình cảm thông qua các hoạt động Giáo dục giới tính. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

1.3.3. Mục tiêu của hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở

Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Giáo dục giới tính nhằm bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những hiểu biết cần thiết về giới và giới tính, những hiểu biết về tâm sinh lý của chính mình.

Giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông phải giúp cho học sinh có những hiểu biết cần thiết, ứng xử đúng đắn phù hợp với lứa tuổi đối với một số vấn đề cơ bản sau:

  • Giới tính và sự khác biệt nam nữ, bình đẳng giới;
  • Sức khỏe vị thành niên;
  • Quyền của trẻ em và quyền của vị thành niên;
  • Tình bạn – Tình yêu;
  • Gia đình – Các mối quan hệ trong gia đình;

1.3.4. Nội dung hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Những căn cứ để xây dựng được nội dung hoạt động giáo dục giới tính phù hợp với lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở:

Căn cứ vào trình độ của đối tượng giáo dục, khả năng của họ đối với việc nhận thức thông tin, phân tích thông tin ở những mức độ cao thấp khác nhau.

Sự quan tâm có chủ định hay quan tâm do tình cờ ngẫu nhiên trong việc tiếp nhận những thông tin biểu hiện bằng lời hoặc những hình thức biểu hiện của thông tin.

Những đặc điểm hoạt động của đối tượng giáo dục cùng những đặc điểm hành vi của chúng và những mối quan hệ qua lại giữa chúng, giữa những người cùng giới và khác giới.

  • Mức độ trưởng thành về mặt thể chất và tinh thần của đối tượng, những đặc điểm biến đổi sinh lý cơ thể của trẻ.
  • Quy luật chung của việc hình thành tập thể lớp và những đặc điểm cụ thể của lớp học.
  • Từ những căn cứ trên có thể xác định được nội dung hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở bao gồm:
  • Thứ nhất là giáo dục cho các em những kiến thức cơ bản về giới và giới tính.
  • Giúp các em có những tri thức về giới, giới tính và phân biệt các đặc điểm về giới và giới tính.
  • Nhận thức rõ về vai trò của giới và giới tính trong xã hội.

Nhận diện về những giai đoạn phát triển của cơ thể con người. Những biến đổi về tâm lý, sinh lý ở tuổi dậy thì, các hiện tượng kinh nguyệt, vệ sinh kinh nguyệt ở nữ hay các vấn đề về xuất tinh lần đầu ở nam và vệ sinh bộ phận sinh dục của nữ giới và nam giới để có những biện pháp giữ gìn sức khỏe sinh sản.

  • Các kiến thức về thụ thai, mang thai, nạo phá thai và phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục.
  • Giáo dục cho các em những vấn đề về sức khỏe sinh sản và bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên, các vấn đề về đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính.
  • Giáo dục ý thức trách nhiệm của thiếu niên trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Giáo dục về ý thức trách nhiệm đối với hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt sao cho phù hợp với những đặc điểm của giới cho học sinh.

Thứ hai là giáo dục thái độ tích cực liên quan đến giới tính

  • Giáo dục học sinh có thái độ tích cực trong việc thực hiện bình đẳng giới, phân biệt giới, định kiến về giới.
  • Giáo dục cho học sinh có thái độ tích cực trong quan hệ với người khác giới và biết bảo vệ giới tính của mình.
  • Giáo dục tính tự chủ trong làm chủ hành vi của bản thân, tự trọng biết bảo vệ mình trong mọi tình huống.

Thứ ba là giáo dục kỹ năng ứng xử với các vấn đề về giới tính

  • Giáo dục cho học sinh các kỹ năng hành vi phù hợp với chuẩn mực của giới và giới tính.
  • Giáo dục cho thiếu niên các kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp trong quan hệ với người khác giới.
  • Giáo dục cho học sinh kỹ năng biết bảo vệ bản thân chống xâm phạm tình dục.
  • Giáo dục kỹ năng giữ khoảng cách trong tình bạn khác giới, tình yêu. Giáo dục kỹ năng phòng chống bệnh lây lan qua đường tình dục. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

1.3.5. Phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở

  • Hoạt động giáo dục giới tính thông qua các môn học trên lớp

Giáo dục giới tính ở trường phổ thông có thể tích hợp, lồng ghép vào các môn học đã có trong chương trình giáo dục như là: giáo dục công dân, sinh học, ngữ văn, lịch sử…

Dạy học tích hợp đã và đang được thực hiện ở nhiều quốc gia có nền giáo dục phát triển hàng đầu của thế giới; mức độ tích hợp khá đa dạng.Số nước có môn Khoa học tự nhiên (Science) thay cho 3 môn học riêng rẽ là Vật lí, Hóa học và Sinh học ở cấp Trung học cơ sở chiếm tỉ lệ cao trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có nền giáo dục phát triển, như: Anh, Australia, Hàn Quốc, Hoa Kì, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Thụy Sỹ, Xứ Wales… Bản thân tính chất phổ biến của môn học tích hợp này và việc môn học tích hợp tiếp tục xuất hiện trong những chương trình giáo dục phổ thông mới nhất của nhiều nước (Anh, Australia, Hàn Quốc, Singapore,…) cho thấy việc thiết kế môn học tích hợp Khoa học tự nhiên ở cấp Trung học cơ sở trong Chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam là một lựa chọn phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế. Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã lưu ý: “Ở các lớp học, cấp học dưới, thực hiện lồng ghép, kết hợp những nội dung liên quan với nhau ở mức độ hợp lí để tạo thành các môn học tích hợp”.

Thông qua nội dung bài học đã được tích hợp giáo viên có thể nâng cao chất lượng giờ dạy, giúp học sinh tích cực chủ động trong giờ học. Học sinh có hứng thú học tập, tìm tòi, khám phá nhiều kiến thức và được suy nghĩ, sáng tạo nhiều hơn. Từ đó học sinh vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn, có những kiến thức và thái độ sống đúng đắn, có sự chuẩn bị để bước vào tuổi trưởng thành một cách nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Học sinh phát hiện, sử dụng kiến thức vào tình huống cụ thể, biết vận dụng kiến thức đã học của các bộ môn để áp dụng vào quá trình tìm hiểu nội dung bài học và liên hệ với thực tiễn trong cuộc sống. Qua đó nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giúp học sinh có phương pháp học tập tốt phù hợp với yêu cầu hiện nay.

  • Hoạt động giáo dục giới tính thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có nội dung giáo dục giới tính. Có thể liên hệ các cơ quan tổ chức như: Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, Phòng Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, trung tâm y tế, đoàn thanh niên… cử những tư vấn viên trao đổi trực tiếp với học sinh và cung cấp những kiến thức cần thiết thông qua dẫn chứng cụ thể trong cuộc sống hằng ngày tại gia đình và xã hội. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Thông qua hoạt động này học sinh được tiếp thu những kiến thức, kỹ năng sống về giới tính, đặc điểm sinh lý, tâm lý của độ tuổi vị thành niên; kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bản thân; biện pháp phòng tránh các bệnh lây nhiễm do liên quan đến vệ sinh sinh sản; các biện pháp phòng tránh thai an toàn; kỹ năng tự bảo vệ của trẻ vị thành niên trước nguy cơ bị xâm hại tình dục; tác hại, hậu quả của quan hệ tình dục sớm trong độ tuổi vị thành niên…

  • Giáo dục giới tính cho học sinh thông qua hoạt động truyền thông và hoạt động xã hội

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên lên kế hoạch tổ chức các dự án truyền thông nhằm giúp đỡ cho các em ứng phó với những vấn đề liên quan đến giới tính. Qua đó, các học sinh được truyền thông, chia sẻ, trao đổi các nội dung về giới tính, hôn nhân, chăm sóc sức khỏe tuổi vị thành niên, các biện pháp tránh thai và cách sử dụng các biện pháp tránh thai, tác hại của quan hệ tình dục không an toàn, hậu quả của việc sinh con ngoài ý muốn…

Cần thiết kế nội dung hấp dẫn, tạo không khí gần gũi nhằm giúp các em tích cực, mạnh dạn trao đổi, chia sẻ những thắc mắc về vấn đề sức khỏe sinh sản,về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, về những vấn đề trong cuộc sống mà các em còn băn khoăn…

Thông qua những buổi truyền thông giúp cho các em học sinh có thêm kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm để tự tin chăm sóc bản thân một cách tốt nhất, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, góp phần nâng cao chất lượng dân số.

1.3.6. Đánh giá kết quả hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở

Đánh giá nhận thức, hành vi và thái độ của học sinh Trung học cơ sở về giáo dục giới tính thông qua bài viết, bài làm và khả năng giải quyết tình huống của học sinh. Từ đó, có những đánh giá về hiệu quả của các công tác đã thực hiện, cần tiếp tục phát huy những mặt tích cực của công tác, đồng thời khắc phục, bổ sung những thiếu sót để học sinh thực sự làm chủ được nội dung giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở.

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

1.4.1. Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở

Mục tiêu của giáo dục giới tính là hình thành cho con người các phẩm chất giới tính: Có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với giới và giới tính.

  • Giúp học sinh có những hiểu biết cần thiết về giới tính.
  • Giúp học sinh có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới; khả năng làm chủ bản thân, làm chủ quá trình sinh sản; kỹ năng lao động phù hợp với nghề nghiệp mang đặc thù giới.
  • Giáo dục cho học sinh có thái độ tích cực, lịch sự trong quan hệ với người khác giới và tự hoàn thiện những phẩm chất thuộc giới mình.

Từ mục tiêu trên thì giáo dục giới tính gồm các nhiệm vụ sau:

  • Giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức về giới tính. Như có thái độ, hành vi phù hợp với các vấn đề sinh lý học và giải phẫu cơ quan sinh dục; các giai đoạn phát triển sinh lý giới tính của con người; tâm lý đời sống tình dục; sự thụ tinh, sự phát triển của bào thai; các biện pháp phòng tránh thai; hiện tượng vô sinh… giáo dục nhu cầu tình dục, nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính cho học sinh; giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản.
  • Trang bị cho học sinh những tri thức cần thiết về giới và giới tính.
  • Giáo dục cho họ sinh ý thức trách nhiệm, ý thức tôn trọng con người, biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình hoạt động chung.
  • Giáo dục cho học sinh có khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác; biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong quan hệ khác giới.
  • Giáo dục cho học sinh có thái độ đúng và trách nhiệm cao đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác; ý thức về tác hại, nguy hiểm do quan hệ tình dục gây nên. Giáo dục các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh sản vị thành niên.
  • Giáo dục cho học sinh các vấn đề về đạo đức giới tính và nhu cầu giới tính.
  • Giáo dục cho học sinh vấn đề kế hoạch hóa gia đình và hạnh phúc gia đình.
  • Giáo dục các vấn đề bình đẳng giới.

1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở bao gồm rất nhiều nội dung từ việc nâng cao trình độ và năng lực của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ quản lý, phụ huynh học sinh và học sinh cho đến việc xây dựng chương trình giáo dục phù hợp với từng trường; phương pháp và phương tiện phù hợp với từng nội dung giáo dục giới tính. Để hoạt động giáo dục giới tính trong trường Trung học cơ sở có hiệu quả thì người quản lý- tức hiệu trưởng trường Trung học cơ sở có vai trò hết sức quan trọng. Dựa trên điều kiện thực tế của trường học, hiệu trưởng sẽ là người giám sát việc lên kế hoạch chương trình giảng dạy, giúp triển khai các hoạt động dạy học,đưa ra giải pháp quản lý, đánh giá chất lượng giáo dục và các các công tác khác.

  • Lập kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở

Lập kế hoạch hoạt động giáo dục giới tính là nội dung quan trọng hàng đầu trong chuỗi hoạt động giáo dục giới tính. Việc lập kế hoạch càng cụ thể và chi tiết bao nhiêu thì việc tổ chức và chỉ đạo hoạt động càng hiệu quả và tốt bấy nhiêu.

Lập kế hoạch thực hiện nội dung cơ bản trong giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở thông qua dạy học tích hợp trong chương trình học, thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua hoạt động truyền thông.

Lập kế hoạch triển khai về nội dung, hình thức, con đường, phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh và đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở.

Lập kế hoạch huy động nguồn lực để thực hiện giáo dục giới tính cho học sinh: huy động lực lượng tham gia giáo dục giới tính, huy động tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động giáo dục giới tính, huy động các tổ chức truyền thông phục vụ cho hoạt động truyền thông. Có thể huy động nguồn lực này từ phụ huynh và các tổ chức có liên quan nhằm tạo ra môi trường tốt nhất, thuận lợi nhất cho học sinh khi tham gia vào các hoạt động giới tính.

  • Tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở

Hiệu trưởng dựa vào điều kiện thực tế ở trường học và địa phương để tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho phù hợp.

Hiệu trưởng cụ thể hóa nhiệm vụ và chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh.

Xác định nội dung, chương trình giáo dục giới tính cho học sinh nói chung và nội dung chương trình giáo dục giới tính cho học sinh qua các môn học chiếm ưu thế, qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, qua sinh hoạt tập thể và hoạt động truyền thông phù hợp theo từng khối lớp học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Xác định nguồn lực cần huy động để thực hiện giáo dục giới tính cho học sinh: huy động lực lượng tham gia giáo dục giới tính, huy động tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động giáo dục giới tính, huy động các tổ chức truyền thông phục vụ cho hoạt động truyền thông từ phụ huynh và các cơ quan, tổ chức khác như: Đoàn Thanh niên, trung tâm y tế, bệnh viện, liên hiệp hội phụ nữ…

  • Chỉ đạo hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở

Dựa trên những kế hoạch và mục tiêu đã xây dựng, hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các tổ chức liên quan thực hiện nội dung chương trình giáo dục giới tính thông qua dạy học tích hợp, thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và thông qua các hoạt động truyền thông khác. Cần liên tục cập nhật để bổ sung và hoàn thiện chương trình giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở hàng năm.

Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ chuyên môn không ngừng đào tạo, rèn luyện để nâng cao năng lực chuyên môn và khả năng tương tác giữa giáo viên với học sinh về nội dung giáo dục giới tính. Bởi vì nếu giáo viên không là người chủ động cởi mở và chia sẻ thì mỗi tiết học có nội dung về giáo dục giới tính sẽ trôi qua vô ích, lãng phí.

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên kết hợp với phụ huynh và các tổ chức xã hội để tổ chức có hiệu quả hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Tăng cường nâng cao điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục giới tính, liên tục bổ sung tài liệu, giáo trình, máy móc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục giới tính. Cần xác định rõ đâu là tài liệu của giáo viên, đâu là tài liệu bổ sung kiến thức cho học sinh. Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên cần chủ động, sáng tạo trong công tác thiết kế phương tiện, phương pháp dạy học để nội dung giáo dục giới tính thêm sinh động và hấp dẫn.

  • Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên xây dựng một số tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở dựa trên những nội dung:

Xác định được mục đích của chủ yếu của đánh giá hiệu quả giáo dục giới tính là so sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng ở từng chủ đề, từng lớp học để từ đó kịp thời cải thiện hoạt động dạy và học nội dung Giáo dục giới tính. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Ban giám hiệu chỉ đạo thực hiện đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, phối hợp giữa đánh giá thông qua kiểm tra của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, kết hợp đánh giá của gia đình và đánh giá của nhà trường. Tiêu chí đánh giá phải gắn với nội dung môn học và nội dung bài học. Các tiêu chí phải thể hiện mức độ khác nhau có thể đo đếm được thông qua các sản phẩm bài làm kiểm tra, bài thi hoặc kết quả trình diễn của học sinh. Cần chú ý đánh giá cả quá trình học tập chứ không chỉ chú trọng vào kết quả học tập.

Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh quá trình dạy học tích hợp giáo dục giới tính nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính.

Hiệu trưởng chỉ đạo Đoàn Thanh niên, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với các tổ chức xã hội khác như: trung tâm y tế, hội phụ nữ để tổ chức các hoạt động giáo dục giới tính thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và thông qua hoạt động truyền thông. Từ đó xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả của các hoạt động này trên 3 phương diện: đánh giá nhận thức của học sinh về giới, giới tính, đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính; đánh giá thái độ của học sinh trước các vấn đề về giới và giới tính; đánh giá hành vi của học sinh trước các vấn đề giới và giới tính…

1.4.3. Lực lượng tham gia quản lý trong hoạt động quản lý giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

Gia đình là lực lượng đầu tiên và là môi trường quan trọng nhất để hình thành và giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Các bậc cha mẹ cần chủ động nâng cao nhận thức về đặc trưng tâm sinh lý và sự phát triển đặc thù của trẻ em Vị thành niên, đặc biệt là các kiến thức về tuổi dậy thì và sức khỏe sinh sản gắn với độ tuổi Vị thành niên. Điều này không chỉ giúp các cha mẹ khắc phục được sự bối rối, e ngại khi trao đổi với con cái Vị thành niên về chủ đề giới tính, mà còn bảo vệ con cái khỏi các hành vi nguy cơ, các rủi ro liên quan đến sức khỏe sinh sản (SKSS) và nguy cơ bị quấy rối, xâm hại tình dục. Cởi mở, không phán xét, không dò xét trẻ khi trẻ chia sẻ, thảo luận các vấn đề trẻ quan tâm, nhất là các vấn đề nhạy cảm của lứa tuổi vị thành niên là điều mà các cha mẹ nên thực hiện. Ngoài ra, cha mẹ cũng cần tôn trọng, lắng nghe khi trẻ chia sẻ những quan điểm cá nhân và tạo điều kiện, hoặc khích lệ trẻ em nêu các ý kiến, bày tỏ nguyện vọng và chia sẻ các khó khăn trong cuộc sống hàng ngày của các em, bao gồm những khó khăn liên quan đến mối quan hệ tuổi học trò.

Nhà trường là lực lượng nòng cốt trong việc giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở. Nhà trường là cơ quan chuyên trách công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, nhà trường chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước cha mẹ học sinh về công tác giáo dục thế hệ trẻ. Mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục của nhà trường đã được luật pháp phê chuẩn và thông qua. Vai trò của phòng giáo dục, của hiệu trưởng các trường và các tổ trưởng chuyên môn trong công tác quản lý hoạt động Giáo dục giới tính là rất lớn. Đặc biệt là vai trò của nhà quản lý mỗi trường Trung học cơ sở. Tuy nhiên trách nhiệm giáo dục giới tính trong nhà trường do giáo viên chủ nhiệm lớp là người giữ vai trò quan trọng, là người kết nối giữa học sinh, phụ huynh, giáo viên bộ môn và các cán bộ quản lý với nhau, là người truyền đạt và là người thực hiện giáo dục giới tính chủ đạo. Ngoài ra,cần có sự kết hợp hài hòa giữa các lực lượng khác như: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Đoàn Thanh niên: Đoàn thanh niên với tư cách là tổ chức chính trị – xã hội của HS có trách nhiệm lớn trong việc định hướng giới và bình đẳng giới cho học sinh, góp phần vào công tác giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam: có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục pháp luật bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình; giáo dục truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam…

Cơ quan y tế học đường, trung tâm y tế… là những cơ quan chuyên môn tham gia giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh, giúp học sinh nhận thức đúng về giới nam và giới nữ, những đặc điểm sinh học của giới.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

1.5.1. Yếu tố chủ quan

  • Nhà trường và đội ngũ giáo viên

Giáo dục giới tính giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Và trường học là một kênh quan trọng và hiệu quả nhất nhằm trang bị cho học sinh các kiến thức và kỹ năng sống toàn diện để các em có được sự phát triển toàn diện cân đối cả tri thức, thể chất lẫn tinh thần. Ở trường, các kiến thức về giới tính thường được cung cấp thông qua hệ thống các bài học. Tuy nhiên, nhận thức của các nhà quản lý, giáo viên chưa đồng đều, thiếu ăn khớp với nhau, một bộ phận chưa thực sự xem trọng nội dung này dẫn đến cách thức tiếp cận, tổ chức các nội dung giáo dục giới tính chưa đồng bộ, thống nhất. Vì vậy bản thân mỗi người làm giáo dục cần là những lá cờ đầu trong việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, kỹ năng, tâm lý giới tính cho học sinh trong khả năng có thể, ở mọi lúc, mọi nơi. Đồng thời lấy Đoàn thanh niên làm nòng cốt tổ chức các câu lạc bộ, các hoạt động ngoại khóa đa dạng tạo ra hứng thú, thoải mái cho học sinh.

  • Gia đình

Ở gia đình, cha mẹ là người có mối quan hệ tốt nhất với con nên việc Giáo dục giới tính có thể bắt đầu từ khi các em còn nhỏ. Đương nhiên, cha mẹ phải duy trì mối quan hệ mở với trẻ em ở mọi lúc, mọi nơi, đặc biệt phải cung cấp cho trẻ cơ hội để đặt câu hỏi khi trẻ cần. Phụ huynh và những người chăm sóc nên chủ động tham gia vào các cuộc thảo luận về giới tính, tình dục với con. Tuy nhiên, rất nhiều bậc cha mẹ và con cái cảm thấy xấu hổ khi nói ra một số khía cạnh của giới tính, tình dục. Do đó, Giáo dục giới tính cần được xem như một cuộc đối thoại qua lại về giá trị, thái độ và các vấn đề nảy sinh cũng như cung cấp các dữ kiện để có thể giúp đỡ trẻ. Điều tốt nhất để tiếp tục công việc này là hợp tác và duy trì một mối quan hệ xây dựng, trong đó người trẻ tuổi có thể đặt câu hỏi, hoặc nêu ra vấn đề nếu họ cảm thấy cần.

1.5.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

  • Chương trình đào tạo

GDGT hiện nay chưa được coi là môn học chính thức trong các nhà trường mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn giáo dục kỹ năng sống, giáo dục công dân, sinh học… Hình thức giáo dục thì khô cứng, giáo điều, mang tính hàn lâm thiếu hấp hấp dẫn, thực trạng giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục giới tính không có kiến thức đầy đủ về giới tính, thậm chí còn đỏ mặt khi nói về những bộ phận sinh sản là khá phổ biến.

  • Cơ sở vật chất

Nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục giới tính là điều kiện cần thiết cho tổ chức hoạt động giáo dục giới tính nếu các hoạt động giáo dục giới tính chưa được đầu tư một cách thỏa đáng thì hiệu quả giáo dục giới tính sẽ không cao, nếu nguồn tài chính dồi dào sẽ là cơ sở, động lực tổ chức có hiệu quả giáo dục giới tính trong các nhà trường.

  • Sự phát triển của khoa học công nghệ

Sự phát triển của công nghệ thông tin đã mở ra một cuộc “cách mạng” làm thay đổi cả về lượng và chất của nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Các em được tiếp xúc và có những hiểu biết phong phú về thế giới, điều này có làm cho trẻ lầm tưởng rằng chúng đã trưởng thành và có thể quyết định được mọi vấn đề của bản thân, vô hình chung dẫn tới việc trẻ xem nhẹ lời khuyên của người lớn và có thể có những hành vi lệch lạc về đạo đức, có nguy cơ có thể làm biến chất, làm biến dạng nhiều giá trị văn hóa vốn vẫn tồn tại trong cuộc sống… Chính vì vậy, nhà trường, gia đình và toàn xã hội phải chủ động trong việc giáo dục các em đi đúng hướng theo những chuẩn mực của xã hội.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

Giáo dục đào tạo giữ vị trí vô cùng quan trọng, là chìa khóa, là động lực để phát triển nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở cần được hiểu một cách đầy đủ, được nhìn nhận một cách toàn diện nhiều khía cạnh về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, mối quan hệ nam và nữ… Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung Giáo dục giới tính cho học sinh các trường Trung học cơ sở, tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay thì Giáo dục giới tính là vấn đề cáp bách và cần nghiên cứu chi tiết hơn để phù hợp với đặc điểm địa bàn và đối tượng học sinh Trung học cơ sở miền núi

Nội dung Giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở phải được tiến hành phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với mục tiêu giáo dục của nhà trường, bao gồm các vấn đề giáo dục đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính, hành vi văn hóa giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản, vấn đề bình đẳng giới, định kiến về giới, phân biệt giới. Giáo dục giới tính được thực hiện dựa trên các nguyên tắc và phải tuân thủ theo các nguyên tắc đó đồng thời vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục mới có hiệu quả.

Quản lý giáo dục giới tính được tiến hành đồng bộ qua bốn chức năng lập kế hoạch quản lý, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá.Lập kế hoạch thực hiện 3 nội dung cơ bản trong giáo dục giới tính ở trường Trung học cơ sở thông qua dạy học tích hợp trong chương trình học, thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, thông qua hoạt động truyền thông. Hiệu trưởng dựa vào điều kiện thực tế ở trường học và địa phương để tổ chức hoạt động giáo dục giới tính cho phù hợp, cụ thể hóa nhiệm vụ và chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ, nội dung. Ngoài ra, xác định yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Tân Sơn.

Các nghiên cứu cơ sở lý luận trên đây là cơ sở để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý giáo dục giới tính cho học sinh ở trường Trung học cơ sở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ và từ đó đưa ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho học sinh của các nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh THCS

One thought on “Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh THCS

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục giới tính cho học sinh THCS

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *