Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở các xã thuộc Thành Phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế – văn hoá – xã hội- giáo dục của thành phố Cà Mau
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Cà Mau là tỉnh lỵ của tỉnh Cà Mau, tỉnh cực nam Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trước năm 1975, có tên là Quận Quản Long. Sau năm 1975, được gọi là thị xã Cà Mau. Năm 1999, thị xã Cà Mau được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam công nhận là thành phố loại 3. Thành phố là nơi hội tụ của cư dân người Việt, người Hoa, người Khmer, buôn bán sầm uất. Vào ngày 07 tháng 8 năm 2023 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định công nhận thành phố Cà Mau là đô thị loại 2. Dân số thành phố Cà Mau tại thời điểm giữa năm 2023 là 204.895 người, diện tích là 250,3 km2. Đa số dân cư là người Việt, có khoảng 400 hộ người Hoa, 300 hộ người Khmer. Thành phố kết nối giao thông với quốc lộ 1A (khoảng cách đường bộ vào khoảng 360 km so với Thành phố Hồ Chí Minh, 180 km so với Cần Thơ. Thành phố Cà Mau có 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 phường và 7 xã.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội
Là một trong bốn đô thị động lực vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; là đô thị hạt nhân của vùng đô thị Tây Nam Bộ; đô thị trung tâm của vùng bán đảo Cà Mau và đô thị trung tâm của tỉnh Cà Mau.
Trong giai đoạn 2018-2023, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 14,08% năm, thu nhập bình quân đầu người 23,27 triệu/năm. Cơ cấu kinh tế: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chiếm 47,02%, thương mại – dịch vụ chiếm 46,34% và nông nghiệp thuỷ sản chiếm 6,64%.
Kinh tế nhà nước nói chung phát huy được hiệu quả. Kinh tế tập thể phát triển tuy số lượng chưa nhiều, nhưng vị trí ngày càng được nhân lên trong nền kinh tế. Kinh tế tư nhân và cá thể phát triển khá mạnh góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo. Các loại hình dịch vụ vận tải, bưu chính, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm…phát triển với sự tham gia của các thành phần kinh tế.
Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; hoạt động của các cơ quan tư pháp có sự chuyển biến tích cực.
2.1.3. Đặc điểm văn hoá Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Các giá trị văn hoá, di tích lịch sử truyền thống được quan tâm bảo tồn và phát huy, phục vụ tốt yêu cầu giáo dục truyền thống ở địa phương. Trên địa bàn thành phố có các địa danh như: Chùa Monivonsabophram, một biểu tượng đặc trưng của người Khmer tại Phường 1, Chùa Tứ Sắc Quan Âm Cổ Tự là di tích cấp quốc gia toạ lạc tại Phường 4, Chùa Bà Thiên Hậu là nơi tín ngưỡng được người Hoa xây dựng từ năm 1882 tại Phường 2, di tích Hồng Anh Thư Quán và Nhà Dây Thép tại Phường 2 là nơi quy tụ những người yêu nước từng một thời nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Đảng bộ và nhân dân Cà Mau. Ngoài ra Công viên Tràm Chim là một công viên thuộc phường 9, nằm trên đường Ngô Quyền, thành phố Cà Mau. Công viên này đặc sắc bởi nhiều loài chim (cò, vạc, diệc, cúm núm, vịt trời, cu đất…) tự nhiên chọn làm nơi trú ngụ. Đây cũng là một trong những điểm tham quan ưa thích của du khách đến Cà Mau.
2.1.4 Khái quát về giáo dục và đào tạo của thành phố Cà Mau hiện nay
- Quy mô trường, lớp, học sinh
Đến cuối tháng 7 năm 2025 thành phố Cà Mau có 79 trường trực thuộc. Trong đó có 32 trường MN, MG với 175 lớp và 7012 trẻ, 33 trường TH với 715 lớp và 21.973 HS, 14 trường Trung học cơ sở với 315 lớp và 12.799 HS.
Mạng lưới trường lớp được sắp xếp tương đối hợp lý, đảm bảo yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Mỗi xã phường đều có trường MN, có 2 đến 3 trường TH. Tuy nhiên vẫn còn 4 phường không có trường Trung học cơ sở do mới chia tách địa giới hành chính là (phường 2, phường 9, phường Tân Xuyên, phường Tân Thành).
- Cán bộ quản lý, giáo viên
Trình độ đào tạo
Đến tháng 7 năm 2025, thành phố Cà Mau có 2393 GV (MN: 317, TH: 1224, Trung học cơ sở: 852)
Từ cuối năm 2018 đến nay, thành phố Cà Mau đã triển khai kế hoạch chuẩn hoá đội ngũ GV, theo đó, đã chọn cử nhiều cán bộ, GV tham dự các lớp nâng cao trình độ chuyên môn qua các hình thức: từ xa, tại chức, liên thông và chuyên tu. Đến cuối năm học 2024-2025 toàn thành phố đã có 94.5 % cán bộ, GV đạt chuẩn và trên chuẩn cao hơn 2.7% so với năm học 2023-2024. Trong đó cấp TH đạt 97,2%, cấp Trung học cơ sở đạt 95%, thấp nhất là ngành học MN với 91,2%.
Điểm hạn chế của đội ngũ này là số lượng GV được đào tạo đại học chính quy ít, phần lớn GV sau một thời gian làm công tác giảng dạy mới tham gia học các lớp đại học từ xa, tại chức và liên thông nên năng lực cũng có phần hạn chế.
Kết quả đánh giá, xếp loại viên chức ngành giáo dục thành phố năm học 2023-2024, 2024-2025
- Bảng 2.1 Kết quả đánh giá, xếp loại viên chức ngành giáo dục thành phố năm học 2023-2024, 2024-2025
Trong năm học 2024-2025, đánh giá, xếp loại viên chức (theo Quyết định số 06/2019/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ) có 2200 GV MN, TH và Trung học cơ sở (chiếm 91.9% trong tổng số GV) được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, 169 GV (chiếm 7.1% trong tổng số GV) được xếp loại khá, 24 GV (chiếm 1% trong tổng số GV) xếp loại trung bình, không có GV bị đánh giá loại kém. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
- Chất lượng giáo dục
Với vị trí là trung tâm tỉnh lỵ giáo dục và đào tạo thành phố Cà Mau có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển so với các địa phương khác trong tỉnh. Nhiều năm qua, thành phố Cà Mau luôn là lá cờ đầu của tỉnh về GD & ĐT. Cụ thể đến tháng 7/2025:
- Hoàn thành phổ cập TH và chống mù chữ vào năm 1997
- Hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở vào năm 2016
- Huy động HS trong độ tuổi đến trường luôn đạt 99,5% trở lên
- Tỉ lệ HS bỏ học hàng năm giao động từ 1,5 đến 1,8 %
- Tỉ lệ HS hoàn thành chương trình TH chiếm 99,93%
- Tỉ lệ HS tốt nghiệp Trung học cơ sở chiếm 99,81%
- Xây dựng được 26/79 trường đạt chuẩn quốc gia
2.1.5. Đặc điểm, tình hình chung của trường trung học cơ sở trên địa bàn các xã thành phố Cà Mau
8 trường Trung học cơ sở nằm trên 7 xã bao quanh thành phố Cà Mau. Gồm có: trường Trung học cơ sở Định Bình thuộc xã Định Bình, Trung học cơ sở Hoà Thành thuộc xã Hoà Thành, Trung học cơ sở Hoà Tân thuộc xã Hoà Tân, Trung học cơ sở Lý Văn Lâm thuộc xã Lý Văn Lâm, Trung học cơ sở Nguyễn Du thuộc xã Tắc Vân, Trung học cơ sở Tân Thành thuộc xã Tân Thành, xã An xuyên do có địa bàn rộng lớn nên có hai trường Trung học cơ sở An Xuyên 1 và Trung học cơ sở An Xuyên 2.
Khoảng cách trung bình từ nội ô thành phố đến các trường này từ 12 km đến 14 km, chủ yếu là đi theo các tuyến lộ giao thông nông thôn.
Cán bộ, GV ở các trường này hầu hết đều là GV được điều động từ các nơi khác trong thành phố đến công tác (số GV là người tại địa phương chỉ chiếm khoản 15%), do không có nhà công vụ nên họ phải đi và về trong ngày.
Do đặc thù của vùng nông thôn nên phụ huynh HS ở các trường này sinh sống bằng nghề nuôi trồng thuỷ hải sản, trồng rau màu, cây ăn trái và trồng lúa…chỉ có một phần nhỏ là tiểu thương, cán bộ, công chức nhà nước.
HS nơi đây phần lớn là con em nhà nông nên sau thời gian ở trường các em thường phụ giúp gia đình, hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Chính vì đặc điểm này mà hàng năm các trường gặp nhiều khó khăn trong việc vận động HS đến trường và tăng tỉ lệ bỏ học ở HS lớp 8 và lớp 9.
2.2 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Để có được nhiều ý kiến khách quan giúp tác giả xác định và đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động dạy học của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau, trước khi khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường này tác giả xin ý kiến của 40 người (10 cán bộ Phòng GD & ĐT, 16 cộng tác viên thanh tra chuyên môn, 14 hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố về điểm mạnh và điểm hạn chế của quản lý hoạt động dạy học hiện nay ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã.
Nội dung xin ý kiến được cụ thể hoá thành biểu mẫu (PL1), người cho ý kiến sẽ nhận xét về mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động dạy học của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã theo thang (tốt, khá, trung bình, yếu) và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.2 Đánh giá các nội dung quản lý của các trường Trung học cơ sở ở các xã
Tổng hợp các kết quả trên, tác giả thu được thông tin sau:
Đối với nội dung quản lý mục tiêu, chương trình dạy học – 100% số người được xin ý kiến đều thống nhất các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau đã thực hiện khá tốt nội dung này.
- Đối với nội dung quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau được đa số người được hỏi ý kiến đánh giá là chưa tốt. (30/40 người chiếm 75% đánh giá chỉ ở mức trung bình và yếu).
Trong quản lý kế hoạch dạy học của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau nội dung quản lý việc xây dựng kế hoạch được đánh giá là chưa tốt (33/40 người chiếm 82.5% đánh giá chỉ ở mức trung bình và yếu). Hai nội dung còn lại là kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đều được đánh giá là khá tốt (27/40 người chiếm 67.5% đánh giá tốt và khá)
- Đối với quản lý hoạt động học tập của học sinh
3 nội dung quản lý hoạt động học tập của HS là: xây dựng và thực hiện nội quy học tập; bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu kém; giảm tỷ lệ HS bỏ học; phối hợp với các lực lượng trong quản lý HS đều được đánh giá là chưa tốt (tỷ lệ trung bình và yếu đều trên 50%).
- Đối với quản lý Cơ sở vật chất và Thiết bị dạy học
2 nội dung quản lý Cơ sở vật chất và Thiết bị dạy học đều được đánh giá là chưa tốt (tỷ lệ trung bình và yếu đều trên 50%).
Từ những ý kiến thu thập được, kết hợp với mục đích chính của tác giả là nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học để đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học, thu hẹp khoảng cách về chất lượng dạy học với các trường nội ô, tác giả tiến hành các biện pháp khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau với 3 nội dung là: quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động học tập của HS, quản lý Cơ sở vật chất và Thiết bị dạy học.
Riêng đối với quản lý hoạt động giảng dạy tác giả chỉ tập trung khảo sát các mặt được đánh giá chưa tốt là: xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ; quản lý xây dựng kế hoạch dạy học; quản lý đổi mới phương pháp dạy học; quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá.
2.2.1 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Quản lý chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
- Trình độ đào tạo
Bảng 2.7 Thống kê trình độ đào tạo
Hiện nay 8 trường Trung học cơ sở ở các xã có 411 cán bộ, GV chiếm 48.2% GV Trung học cơ sở toàn thành phố. Những năm gần đây, nhờ vào việc thực hiện kế hoạch chuẩn hoá đội ngũ Cán bộ quản lý và GV của thành phố nên số lượng GV tham gia học các lớp đại học tại chức, đại học từ xa ngày càng nhiều góp phần chuẩn hoá đội ngũ.
Tuy nhiên, số lượng GV chưa đạt chuẩn vẫn còn rất cao. Năm học 2023-2024, 8 trường ở xã có 54 GV chưa đạt chuẩn chiếm tỷ lệ 13.4%. Năm học 2024-2025 có 34 GV chưa đạt chuẩn chiếm tỷ lệ 8.3% . Trường có tỷ lệ GV chưa đạt chuẩn cao nhất hiện nay là Trung học cơ sở Hoà Tân với 14%. Trong khi tỷ lệ GV chưa đạt chuẩn của 6 trường nội ô trong năm học 2023-2024 là 4.8% và 2024-2025 là 0.9%.
- Đánh giá, xếp loại viên chức
Bảng 2.8 So sánh kết quả xếp loại viên chức các trường Trung học cơ sở khu vực xã và phường
So sánh số liệu về đánh giá xếp loại GV Trung học cơ sở của thành phố cho thấy tỉ lệ GV được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở 6 trường nội ô luôn cao hơn 8 trường ở các xã (năm 2023-2024 chiếm 90.5%, năm học 2024-2025 chiếm 95.5% trong khi đó tỷ lệ này ở các xã là 85.6% và 92.5%, ngược lại tỉ lệ GV xếp loại trung bình ở các trường xã cao hơn các trường nội ô. (năm 2023-2024 chiếm 1.0, năm học 2024-2025 chiếm 1.4 trong khi đó tỷ lệ này ở các phường nội ô là 0.4%,
Qua trao đổi với hiệu trưởng các trường thì nguyên nhân chính dẫn tới việc GV xếp loại trung bình là do hiệu quả công tác (không hoàn thành chỉ tiêu được giao), do ngày giờ công không đảm bảo, và do vi phạm quy chế về soạn giảng, trình ký…
- Nhu cầu giáo viên hiện nay
Bảng 2.9 Thống kê nhu cầu GV của các trường khu vực xã hiện nay
Mặc dầu là các trường Trung học cơ sở thuộc vùng ven thành phố nhưng tỉ lệ GV trên lớp đều cao hơn so với thông tư 35 /2019/TTLT-BGDĐT-BNV quy định là 1.9 GV/lớp. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Điểm hạn chế của cơ cấu GV của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã hiện nay là chỉ có đội ngũ GV trường Trung học cơ sở Nguyễn Du là tương đối đồng bộ. Các trường khác như Trung học cơ sở Hoà Tân, Hoà Thành, Lý Văn Lâm, Định Bình, An Xuyên 1, An Xuyên 2, Tân Thành vẫn còn tình trạng thừa và thiếu GV cục bộ, đặc biệt là thừa GV Toán, Lý, Ngữ Văn nhưng lại thiếu GV Mỹ Thuật, Âm Nhạc, Tin học và cán bộ thiết bị thư viện chuyên trách.
Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học
- Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học của trường
Quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học ở các nhà trường là nhiệm vụ quan trọng của hiệu trưởng, nó ảnh hưởng lớn đến chất lượng giảng dạy của GV, chất lượng học tập của HS và nề nếp hoạt động của nhà trường.
Để đánh giá đúng thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học của 8 trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố, tác giả xin ý kiến của 10 người gồm cán bộ lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD & ĐT thành phố Cà Mau là những người trực tiếp quản lý các trường Trung học cơ sở trên địa bàn bằng cách cho điểm 9 nội dung chính đối việc xây dựng kế hoạch dạy học của các trường ở khu vực nội ô và ngoại ô theo 4 mức độ (tốt (3 điểm), khá (2 điểm), trung bình (1 điểm), yếu (0 điểm) để đối chiếu, so sánh (PL2) và thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.3 Kết quả đánh giá việc xây dựng hoạch dạy học của trường
Phân tích kết quả khảo sát cho thấy việc xây dựng kế hoạch dạy học của 8 trường Trung học cơ sở ở các xã chưa được cán bộ lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD & ĐT đánh giá cao. Đơn vị đạt điểm số đánh giá cao nhất của 8 trường này là Trung học cơ sở Nguyễn Du chiếm 73.7% điểm số tối đa, đơn vị đạt thấp nhất là Trung học cơ sở Định Bình với 52.6% điểm số, các đơn vị còn lại đạt từ 53.7% đến 58.1% điểm số. Trong khi đó việc xây dựng kế hoạch dạy học ở các trường nội ô được đánh giá cao hơn. Đạt điểm số thấp nhất của các trường nội ô là trường Trung học cơ sở Phường 1 với 73.3%, cao nhất là trường Trung học cơ sở Võ Thị Sáu với 85.5%.
Qua phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo, một số chuyên viên của Phòng GD & ĐT thành phố Cà Mau và tham khảo kế hoạch dạy học năm học 2023-2024, 2024-2025 của các trường cho thấy hiệu trưởng các trường thiếu đầu tư nghiên cứu các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở, Phòng GD & ĐT (gồm có: trường Trung học cơ sở Định Bình, Lý Văn Lâm), xây dựng hệ thống chỉ tiêu cần đạt chưa phù hợp với tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ, GV, chưa phù hợp điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện các chỉ tiêu đó (gồm có: Trung học cơ sở Tân Thành, Hoà Tân, Hoà Thành, An Xuyên 1, An Xuyên 2), chưa tổ chức xin ý kiến rộng rãi trong tập thể nhà trường về dự thảo kế hoạch trước khi hoàn chỉnh và công bố (gồm có: Trung học cơ sở An Xuyên 1, Tân Thành) Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
- Thực trạng xây dựng kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn
Kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn là một bước cụ thể hóa kế hoạch dạy học của nhà trường, là phương hướng phấn đấu trong hoạt động giảng dạy của cả tổ.
Hệ thống các chỉ tiêu cần đạt của tổ chuyên môn là tổng hợp chỉ tiêu cần đạt của từng môn học từ lớp 6 đến lớp 9.
“Quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn là quản lý cách thức và quy trình xây dựng chương trình hành động của một tổ chức (nhóm GV có cùng chuyên môn) trong nhà trường ”[9, tr. 31]
Để đánh giá đúng thực trạng việc xây dựng kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn các trường, tác giả xin ý kiến 23 người (4 cán bộ lãnh đạo Phòng GD & ĐT, 1 cán bộ thanh tra chuyên trách, 16 cộng tác viên thanh tra chuyên môn và 2 cán bộ phụ trách cấp Trung học cơ sở của Phòng GD & ĐT) cho điểm 9 nội dung đối với việc xây dựng kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn từng trường theo mức độ (tốt (3 điểm, khá (2 điểm), trung bình (1 điểm), yếu (0 điểm) (phụ lục 3) và tổng hợp kết quả như sau:
- Bảng 2.4 Kết quả đánh giá việc xây dựng hoạch dạy học của các tổ chuyên môn
Kết quả đánh giá cho thấy xây dựng kế hoạch dạy học của các tổ chuyên môn ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã được đánh giá thấp hơn nhiều so với các trường nội ô. Các tổ chuyên môn của trường Trung học cơ sở Nguyễn Du được đánh giá với 62.6% tổng số điểm, tổ chuyên môn của trường Trung học cơ sở Định Bình đạt tỉ lệ thấp nhất với 59.4% . Trong khi đó, các tổ chuyên môn của các trường nội ô được đánh giá thấp nhất là Trung học cơ sở Phường 7 với 63.6%, cao nhất là Trung học cơ sở Võ Thị Sáu với 67.6% số điểm.
Trao đổi trực tiếp với một số cộng tác viên thanh tra của Phòng GD & ĐT và Cán bộ quản lý của các trường cho thấy các tổ chuyên môn của trường Trung học cơ sở Nguyễn Du, Tân Thành, Lý Văn Lâm những năm gần đây đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng kế hoạch dạy học, chất lượng và tính khả thi của kế hoạch dạy học của các tổ đã được nâng lên, khắc phục được việc xây dựng kế hoạch hình thức, qua loa, thiếu thực tiễn. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Tuy nhiên tổ chuyên môn của các trường Trung học cơ sở Định Bình, Hoà Thành, Hoà Tân vẫn còn những hạn chế như: chưa đánh giá tình hình thực tế của nhà trường tại thời điểm xây dựng kế hoạch, xây dựng các chỉ tiêu cần đạt của tổ chưa phù hợp, phương hướng thực hiện thiếu khả thi, chưa dự kiến tổ chức các chuyên đề về dạy và học cho GV, chưa đề xuất được biện pháp khả thi để bồi dưỡng HS giỏi và giúp đỡ HS yếu kém.
- Thực trạng xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên
Nhằm đánh giá đúng thực trạng xây dựng kế hoạch dạy học của GV, tác giả xin ý kiến 23 người (4 cán bộ lãnh đạo Phòng GD & ĐT, 1 cán bộ thanh tra chuyên trách, 16 cộng tác viên thanh tra chuyên môn và 2 cán bộ phụ trách cấp Trung học cơ sở của Phòng GD & ĐT) cho điểm 7 nội dung chính theo mức độ (tốt (3 điểm, khá (2 điểm), trung bình (1 điểm), yếu (0 điểm) (phụ lục 4) và tổng hợp kết quả như sau:
- Bảng 2.5 Kết quả đánh giá việc xây dựng kế hoạch dạy học của GV
Kết quả đánh giá cho thấy việc xây dựng kế hoạch dạy học của GV các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau chưa được đánh giá cao. 3 đơn vị được đánh giá cao cũng chỉ từ 62% đến 62.6% tổng số điểm. Trong khi đó việc xây dựng kế hoạch dạy học của GV các trường Trung học cơ sở các trường nội ô được đánh giá từ 63.9% đến 67.7% điểm số.
Theo hiệu trưởng các trường này thì khi xây dựng kế hoạch dạy học GV thường mắc phải những hạn chế sau: chưa tham khảo kết quả đạt được ở năm học trước của lớp mình giảng dạy, các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học còn chung chung, chưa đề ra được các biện pháp cụ thể và hữu hiệu để thực hiện nhiệm vụ dạy học, điển hình là chưa trình bày được hệ thống các biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học như: biện pháp đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG, đầu tư soạn giảng giáo án điện tử, làm đồ dùng dạy học, tăng cường công tác phối hợp với gia đình quản lý học tập của HS…
- Quản lý đổi mới phương pháp giảng dạy
Quản lý phương pháp, hình thức dạy học là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của hiệu trưởng đến cách thức làm việc của GV và HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Qua khảo sát cho thấy, quản lý đổi mới PPDH ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã có những ưu điểm sau:
Lãnh đạo các trường đã xây dựng kế hoạch hoạt động đổi mới PPDH thông qua việc tuyên truyền, quán triệt đến từng cán bộ, GV về ý nghĩa và tầm quan trọng của đổi mới PPDH, cung cấp Cơ sở vật chất và Thiết bị dạy học cho GV và HS trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học.
- Xây dựng cơ chế làm việc giữa Ban Giám hiệu với tổ chuyên môn, bộ phận phục vụ để theo dõi kiểm tra, đánh giá việc đổi mới PPDH.
- Tổ chức các cuộc thảo luận, báo cáo chuyên đề về đổi mới PPDH.
- Phối hợp với các bộ phận, đoàn thể trong nhà trường khen thưởng, biểu dương GV có sáng kiến mới, PPDH hiệu quả…
Từ những ưu điểm đó, đa số GV đã nắm vững về vấn đề đổi mới PPDH, phần lớn GV chuẩn bị khá đầy đủ cho quá trình hoạt động dạy học từ khâu soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng trực quan đã phát huy tính tích cực và tư duy sáng tạo của HS trong từng tiết học. Điển hình như nhiều GV của trường Trung học cơ sở Nguyễn Du đã thiết kế được giáo án điện tử, một số GV của trường Trung học cơ sở Tân Thành đã thiết kế được mô hình điện tử để dạy An toàn giao thông cho HS khối 6,7, hay nhóm GV của Trung học cơ sở An Xuyên 2 đã viết thành công phần mềm “Đố vui, học toán”…
Bên cạnh những ưu điểm,quản lý đổi mới PPDH ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã có những hạn chế sau:
Một là, qua kết quả thanh tra, kiểm tra tiết dạy của các trường này ở 2 năm học 2023-2024 và 2024-2025 ghi nhận vẫn còn một số GV ở những trường này còn hạn chế trong nhận thức về việc đổi mới PPDH cũng như hình thức tổ chức hoạt động từ đó dẫn đến việc chậm đổi mới hoặc có đổi mới nhưng chưa phù hợp và thiếu hiệu quả (tổ chức hoạt động nhóm nhưng không quản lý được HS làm giảm chất lượng giờ dạy và gây ảnh hưởng các lớp học xung quanh; hoặc lạm dụng đồ dùng dạy học biến giờ học mang tính chất phô diễn kiến thức, thiếu đi tính thực tế…).
Hai là, việc sử dụng phối hợp các PPDH để phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS còn hạn chế. Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn cũng như để giải quyết các chủ đề phức hợp của thực tiễn chưa được chú trọng.
Ba là, các trường đã có tổ chức các hoạt động như: kiểm tra tiết dạy; tổ chức thao giảng, dạy mẫu; tổ chức chuyên đề về đổi mới PPDH; thi GV dạy giỏi nhưng chưa được thường xuyên và số lượng GV tham gia còn hạn chế. (Bảng thống kê dưới đây cho thấy các trường Trung học cơ sở ở khu vực nội ô tổ chức các hoạt động này tốt hơn).
Bảng 2.6 Thống kê các hoạt động liên quan đến đổi mới PPDH
- Quản lý đổi mới kiểm tra, đánh giá Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Qua thời gian triển khai thực hiện đổi mới KTĐG tại các trường Trung học cơ sở của thành phố đã góp phần nâng cao ý thức của đội ngũ cán bộ quản lý, GV về đổi mới KTĐG kết quả học tập của HS và bước đầu đã mang lại những kết quả khả quan, thúc đẩy GV nghiên cứu, đầu tư nhiều hơn cho đề kiểm tra, đề thi, phần nào đã khắc phục được những khuyết điểm trước kia là nặng về kỹ năng ghi nhớ máy móc, hạn chế khả năng tư duy độc lập của HS…
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đổi mới KTĐG ở các trường này vẫn còn những hạn chế sau:
- Lãnh đạo một số trường có chỉ đạo đổi mới KTĐG nhưng chưa được thường xuyên, thiếu kiểm tra. Ngay từ đầu năm, lãnh đạo các trường đều có triển khai các văn bản quy định về đổi mới KTĐG, có tổ chức chuyên đề về kỹ năng ra đề… Tuy nhiên, ở một vài trường việc triển khai thực hiện chưa đi vào chiều sâu, chưa có kế hoạch kiểm tra nên hiệu quả mang lại không cao.
- Một bộ phận GV chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của KTĐG trong dạy học.
- 8 trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã của thành phố đều chưa xây dựng được ngân hàng câu hỏi đề thi, đề kiểm tra.
- Chất lượng các bài kiểm tra chưa cao, chưa phân bổ hợp lý kết cấu giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận. Đề thi của các môn xã hội như: Lịch sử, Ngữ văn, Địa lý còn nặng về tính ghi nhớ máy móc.
- Một số GV mới nhận nhiệm vụ chưa nắm vững quy chế đánh giá, xếp loại HS, tổ chức kiểm tra định kỳ và thường xuyên không đủ số lần theo quy định, chưa chú trọng các giờ kiểm tra thực hành.
2.2.2. Thực trạng về quản lý hoạt động học tập của học sinh trung học cơ sở ở các xã thuộc thành phố Cà Mau Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Chất lượng 2 mặt giáo dục
- Học lực
Bảng 2.10 So sánh học lực của HS 8 trường xã và 6 trường nội ô năm học 2023-2024, 2024-2025
Tổng hợp kết quả học lực của HS 8 trường xã và 6 trường nội ô năm học 2024-2025 cho thấy: tỉ lệ HS giỏi, khá, trung bình của các trường nội ô đều cao hơn so với các trường khu vực xã. Trong khi tỉ lệ HS xếp loại yếu, kém của 8 trường ở các xã là khá cao (năm học 2023-2024 là 23.8% năm học 2024-2025 là 21.1% trong khi tỉ lệ này của các trường ở nội ô là 12% và 8.4%).
Qua trao đổi, phỏng vấn trực tiếp hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở và GV cốt cán của cán trường này, xác định những nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng này là:
- Chất lượng của HS đầu cấp (lớp 6) thấp
- Phụ huynh học sinh ít quan tâm đến việc học của con em
- Một bộ phận HS phải tham gia lao động sản xuất nên không có thời gian đầu tư cho việc học.
- Năng lực giảng dạy của GV có phần hạn chế
- Thiếu phòng thực hành, thí nghiệm.
- Hạnh kiểm
Bảng 2.11 So sánh hạnh kiểm của HS 8 trường xã và 6 trường nội ô năm học 2023-2024, 2024-2025
Bảng so sánh cho thấy tỉ lệ HS có hạnh kiểm tốt và khá ở khu vực các xã và phường là tương đối cân bằng. Tỉ lệ HS có hạnh kiểm trung bình và yếu của khu vực các xã cao hơn so với các trường nội ô.
Thực tế cho thấy, giáo dục đạo đức HS luôn được các trường quan tâm, tuy nhiên vẫn còn một số ít HS vi phạm nội qui nhà trường. Nhìn chung, HS còn thụ động trong các hoạt động tập thể, còn trông chờ vào sự hướng dẫn của các thầy cô, do ở vùng ven nên các em còn vụng về trong giao tiếp ứng xử. Một số HS còn nói năng thiếu văn hóa do ảnh hưởng xấu của môi trường xung quanh và gia đình, các dịch vụ giải trí như game online, bida liên tiếp mở ra trên địa bàn ven đô đã phần nào lôi kéo các em HS vi phạm nội qui nhà trường: cúp tiết, bỏ học… Mặt khác, một bộ phận phụ huynh HS thiếu quan tâm đến việc học của con em mình, chưa cộng tác với nhà trường trong việc giáo dục đạo đức các em, dẫn đến tình trạng HS chán học, lơ là trong giờ học.
Khả năng huy động học sinh đến trường Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
- Huy động học sinh trong độ tuổi đến trường
Qua khảo sát cho thấy tỉ lệ huy động HS trong độ tuổi đến trường của các trường Trung học cơ sở ở các xã luôn thấp hơn so với các trường nội ô. Năm học 2023-2024 trung bình 8 trường ở các xã huy động 93% HS trong độ tuổi đi học đến trường, trong khi đó các trường nội ô huy động 99,4% đến năm học 2024-2025, trung bình 8 trường ở các xã huy động 95% HS trong độ tuổi đi học đến trường, trong khi đó các trường nội ô huy động được 99,6%.
Trao đổi với Cán bộ quản lý của các trường thì nguyên nhân chính gây khó khăn trong việc huy động HS trong độ tuổi đến trường là do phần lớn HS trong độ tuổi 13 -14, đặc biệt là HS nam, phải tham gia lao động để phụ giúp gia đình, nhiều em vì hoàn cảnh khó khăn phải bỏ học rất sớm.
- Tỉ lệ học sinh bỏ học
Năm học 2023-2024, 8 trường Trung học cơ sở ở các xã có 145/6306 HS bỏ học, chiếm tỉ lệ 2.3%. Trong khi đó 6 trường nội ô có 103/6415 HS bỏ học chiếm tỉ lệ 1.6%.
Năm học 2023-2024, 8 trường ở các xã có 135/6409 HS bỏ học chiếm tỉ lệ 2.1%. Trong khi đó 6 trường ở nội ô có 89/6390 HS bỏ học chiếm tỉ lệ 1.4%.
Kết quả khảo sát vào cuối năm học 2024-2025 cho thấy tỉ lệ bỏ học của HS các xã cao là những nguyên nhân sau:
- 129/ 135 HS (chiếm 95.5%) số HS bỏ học là do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, phải nghỉ học sớm để tham gia lao động.
- 6/135 HS (chiếm 5%) số HS bỏ học là do mất căn bản trầm trọng, không muốn tiếp tục học.
2.2.3. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Số lượng phòng học, phòng chức năng và hiệu bộ ở các trường trung học cơ sở các xã thành phố Cà Mau hiện nay
- Bảng 2.12 Thống kê phòng học, phòng chức năng và hiệu bộ
Những năm gần đây, nhờ vào việc triển khai thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học giai đoạn 2021-2025 nên số lượng và chất lượng phòng học ở các trường này đã đảm bảo phục vụ tốt cho công tác dạy và học. Mỗi trường đều có một thư viện được trang bị khá đầy đủ về sách, báo, tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, sách GV…Hiện 4 trường đã có thư viện đã đạt chuẩn quốc gia và phòng thí nghiệm, thực hành các bộ môn Toán, Lý, Hóa, Sinh và Công Nghệ, được trang bị khá đầy đủ dụng cụ thí nghiệm, thực hành là trường Trung học cơ sở Hòa Thành, An Xuyên 2, Nguyễn Du, Tân Thành. Các trường còn lại là Lý Văn Lâm, Hòa Tân, Định Bình, An Xuyên 1 chưa được xây dựng phòng thí nghiệm, thực hành, hiện nay GV chủ yếu là hướng dẫn HS làm thí nghiệm, thực hành ngay tại lớp học. Thực trạng này ảnh hưởng đến chất lượng của giờ thực hành, thí nghiệm, mất an toàn đối với GV và HS. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
Có 4 trường được trang bị phòng tin học với số lượng 20 máy/phòng và đã tiến hành dạy học tự chọn môn Tin học. Các trường còn lại là Lý Văn Lâm, Hòa Tân, Định Bình, An Xuyên 1 chưa được trang bị phòng tin học.
Hiện nay các trường đều có phòng hiệu bộ nhưng số lượng không đồng đều và không đảm bảo nhu cầu sử dụng, trường Trung học cơ sở Định Bình chỉ có 1 phòng làm việc chung của lãnh đạo, văn phòng và các bộ phận đoàn thể, hầu hết các trường đều không có phòng làm việc đúng quy cách, hầu hết là sử dụng phòng học để làm việc, làm phòng họp.
- Thiết bị dạy học của các trường trung học cơ sở trên địa bàn các xã các xã thành phố Cà Mau hiện nay
TBDH của các trường Trung học cơ sở ở thành phố Cà Mau được phân bổ theo bộ môn (mỗi môn có 1 bộ đồ dùng và thiết bị đầy đủ theo các môn học từ lớp 6 đến lớp 9), dựa trên số lớp của các trường mà Phòng GD & ĐT phân bổ phù hợp.
Hiện nay, sử dụng Thiết bị dạy học trong giảng dạy đang được các trường Trung học cơ sở thực hiện khá tốt, có nhiều trường đã đưa vào quy định bắt buộc đối với GV khi lớp và việc làm này đã mang lại hiệu quả tích cực trong dạy học.
Bên cạnh các mặt đạt được, qua khảo sát ở 8 trường Trung học cơ sở trên địa bàn các xã, công tác quản lý Thiết bị dạy học vẫn còn có một số điểm hạn chế sau:
Một số GV chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của Thiết bị dạy học nên chưa đầu tư đúng mức cho việc chuẩn bị trước khi lên lớp, trong soạn giảng còn nặng về lý thuyết, thuyết trình, chưa tạo cho HS nhiều cơ hội để rút ra kiến thức từ thí nghiệm, thực hành.
Còn 4 trường: Hoà Tân, Định Bình, Lý Văn Lâm, An Xuyên 1 chưa có phòng thiết bị đúng quy cách và chưa có cán bộ thiết bị chuyên trách.
Việc quản lý Thiết bị dạy học còn nhiều bất cập. Một số đồ dùng dạy học chưa được GV phát huy hết tác dụng của nó, nhiều loại hoá chất do cất giữ lâu ngày nên không còn sử dụng được, nhiều loại đồ dùng hư hỏng chưa được sửa chữa.
8 trường đều chưa có kế hoạch dài hạn và chi tiết để bảo quản, sử dụng và phát huy Thiết bị dạy học, chưa có kế hoạch tu sửa, bổ sung, còn nặng tâm lý chờ cấp trên cấp phát, chưa có chế độ kiểm tra, đánh giá việc sử dụng Thiết bị dạy học định kỳ, đột xuất. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
- Thiết bị công nghệ thông tin trong dạy học của các trường trung học cơ sở trên địa bàn các xã thuộc thành phố Cà Mau hiện nay
Những năm gần đây, Phòng GD & ĐT thành phố đã tăng cường trang bị thiết bị ứng dụng Công nghệ thông tin cho các trường Trung học cơ sở. Trong năm học 2023-2024 đã trang bị phòng máy vi tính (20 máy) cho 10 trường Trung học cơ sở (có 4 trường ở các xã), 14 máy tính xách tay cho 14 trường, 10 máy chiếu cho 10 trường (có 4 trường ở các xã), 14 ti vi LCD cho 14 trường, 14 máy hát đĩa cho 14 trường, 10 bộ thiết bị dạy Tiếng Anh không dây cho 10 trường (có 4 trường ở các xã), giải quyết kinh phí để kết nối internet cho 14 trường.
Tuy nhiên so với nhu cầu thực tế thì chưa thể đáp ứng được. Mặc dầu được trang bị máy tính xách tay và máy chiếu nhưng số lượng quá ít nên hầu như chỉ được sử dụng để tổ chức hội nghị, sinh hoạt chuyên đề, thao giảng hoặc dạy mẫu. Còn 4 trường Trung học cơ sở Hoà Tân, Định Bình, An Xuyên 1, Lý Văn Lâm chưa có phòng tin học, máy chiếu và thiết bị dạy Tiếng Anh không dây. Hiện nay đã có 100% các trường Trung học cơ sở ở các xã được kết nối internet nhưng do hạn hẹp về kinh phí nên các trường thường ưu tiên chọn những gói cước nhỏ, chủ yếu phục vụ cho nhận và chuyển công văn, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu tài liệu, cập nhật thông tin phục vụ cho dạy và học của GV và HS.
Qua khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học của các trường Trung học cơ sở ở các xã thuộc thành phố Cà Mau có thể khẳng định rằng, trong điều kiện khó khăn như hiện nay, những kết quả mà các trường đạt được là rất đáng ghi nhận. Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường này còn nhiều bất cập, đặc biệt là trong quản lý hoạt động dạy (xây dựng và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, GV, quản lý kế hoạch dạy học, quản lý đổi mới PPDH, quản lý đổi mới KTĐG), quản lý hoạt động học của HS (chất lượng 2 mặt giáo dục, khả năng huy động HS trong độ tuổi đi học đến trường, tỷ lệ bỏ học..) cũng như quản lý Cơ sở vật chất và Thiết bị dạy học. Đây là những cơ sở quan trọng để tác giả đề xuất các giải pháp sẽ được đề cập ở chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS

Pingback: Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS