Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Những năm qua sự nghiệp giáo dục của quận Hoàn Kiếm đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và coi trọng, chất lượng giáo dục ngày càng được củng cố và nâng cao. Quy mô trường, lớp ổn định, chất lượng giáo dục ngày một cao hơn. Các cấp học được đầu tư ngày càng đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ bản đã đáp ứng được với yêu cầu, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hoá. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh.

Về phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp

  • Bảng 2.1. Quy mô học sinh các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm năm 2025 – 2026

Toàn quận Hoàn Kiếm có 13 trường Tiểu học công lập. Mạng lưới các trường tiểu học được phân bố hợp lí trên địa bàn thành phố đảm bảo cho học sinh không phải đi học quá xa và đáp ứng được với nhu cầu học tập của học sinh.

  • Về chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục là yếu tố quan trọng bậc nhất, là yếu tố làm nên thành công hay thất bại của một nhà trường. Từ năm học 2002 – 2003, Bộ GD&ĐT đã triển khai đồng loạt đổi mới chương trình và thay sách giáo khoa trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, Bộ GD&ĐT cũng ban hành Thông tư số 32/TT-BGD&ĐT về đánh giá xếp loại học sinh tiểu học, do đó công tác đánh giá xếp loại học sinh được thực hiện nghiêm túc và thực chất hơn.

Bảng 2.2. Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh cấp tiểu học quận Hoàn Kiếm

  • Về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

Hiện nay, số cán bộ quản lý có trình độ đại học và trình độ Trung cấp lí luận chính trị đạt tỷ lệ 100%. Công tác đánh giá cán bộ quản lý được Phòng GD&ĐT tiến hành nghiêm túc hàng năm, đặc biệt công tác bổ nhiệm và bổ nhiệm lại, kiên quyết miễn nhiệm những cán bộ quản lý năng lực yếu, uy tín thấp. Việc làm trên đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường tiểu học nói riêng. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn hiện nay đặc biệt là năng lực quản lý, qua bảng số liệu sau ta sẽ thấy rõ điều đó.

Hiện nay, hầu hết các trường tiểu học đều có một đội ngũ giáo viên trẻ, năng động nhiệt tình, dễ thích nghi với cái mới, yêu nghề, đoàn kết, ham học hỏi, có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như trong công tác khác, có phẩm chất tốt, lập trường tư tưởng vững vàng. Nhiều giáo viên có kiến thức vững chắc, phương pháp giảng dạy tốt, tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.

  • Về cơ sở vật chất

Trong những năm qua, thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Quận ủy, UBND quận nên công tác đầu tư cơ sở vật chất trường học được đẩy mạnh. Bằng nhiều chương trình như chương trình kiên cố hóa trường lớp của Chính phủ, chương trình tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ như Cơ quan viện trợ Ailen, Actionaid Quốc tế tài trợ cho địa bàn quận Hoàn Kiếm, bằng nguồn vốn của nhân dân đóng góp. Đến nay toàn thành phố có 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ I và 50% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ II. Hiện nay tính riêng tiểu học có 16/16 trường học có phòng học cao tầng, hơn 280 phòng học cao tầng và mái bằng kiên cố. 100% số trường có công trình vệ sinh nước sạch cho giáo viên và học sinh.

2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

2.2.1. Mục đích

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực làm căn cứ thực tiễn để đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp hơn.

2.2.2. Nội dung

  • Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực;
  • Thực trạng nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực;
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực;

2.2.3. Khách thể và địa bàn

Khách thể khảo sát thực tiễn: 2 chuyên viên phụ trách tiểu học của Phòng giáo dục và đào tạo quận Hoàn Kiếm; 33 cán bộ quản lí của các trường tiểu học (13 hiệu trưởng và 20 phó hiệu trưởng); 100 giáo viên tiểu học dạy môn Tiếng Việt, trong địa bàn quận Hoàn Kiếm, tổng số 35 Cán bộ quản lý và 100 giáo viên tiểu học. Tổng số phiếu phát ra là 135 phiếu, số phiếu thu về là 126 phiếu (chiếm 93,33%). Đia bàn khảo sát: Đề tài tiến hành khảo sát tất cả 13 trường tiểu học trong quận Hoàn Kiếm

2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp thống kê toán học. Ở đây chúng tôi xin trình bày cụ thể hơn phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

  • Chúng tôi đã thiết kế 2 bảng hỏi. Bảng hỏi số 1 dành cho cán bộ quản lý và giáo viên. Bảng hỏi số 2 – khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả
  • Bảng hỏi số 1 gồm 13 câu hỏi đóng và câu hỏi mở tìm hiều vể thực trạng dạy học và thực trạng quản lý dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực học sinh.
  • Thang đo và mức tính điểm: Thang đo các câu hỏi gồm 5 bậc: Tốt; Khá; Trung bình; Kém và Rất kém. Mức điểm được tính như sau: Mức tốt; ĐTB từ 4,5 -5,0; Mức khá: ĐTB từ 3,7 – 4,5; Mức trung bình; ĐTB từ 2,8 – 3,6; Mức kém: ĐTB từ 1,9 – 2,7; Mức rất kém: ĐTB từ 1,0 – 1,8.

2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực

2.3.1. Thực trạng hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên

  • Bảng 2.3.Thực trạng hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên

Với ĐTB chung của toàn thang đo = 3,26 cho thấy thực trạng hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên được đánh giá ở mức trung bình. Chỉ có từ 7, 94% –20,63% số người được hỏi đánh giá ở mức tốt, từ 25,4% – 43,65% đánh giá ở mức trung bình. Điều này cho thấy hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên ở các trường tiểu học được khảo sát đã đáp ứng được yêu cầu của dạy học môn tiếng việt, song vẫn còn tồn tại, hạn chế.

Trong 4 nội dung dạy học hình thành năng lực cho học sinh thì nội dung dạy học nhằm hình thành năng lực nói cho học sinh được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,37, ở mức khá. Điều này cho thấy các giáo viên đã chú ý nhiều đến hình thành năng lực nói cho học sinh khi dạy môn tiếng Việt.

Nội dung dạy học hình thành năng lực viết cho học sinh được xếp ở vị trí thứ 2 với ĐTB = 3,27. Tuy vậy vẫn ở mức trung bình. Nội dung dạy học nhằm hình thành năng lực đọc cho học sinh được đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3,14.

2.3.2. Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh theo tiếp cận năng lực

Kết quả khảo sát nội dung học của học sinh được tổng hợp trong bảng dưới đây:

  • Bảng 2.4. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh

Với ĐTB chung toàn thang đo = 3,32 cho thấy thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh theo tiếp cận năng lực ở mức trung bình. Điều này cho thấy về cao bản các học sinh đã học môn tiếng Việt đáp ứng các yêu cầu cơ bản, song vẫn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Trong 3 nội dung học của học sinh thì nội dung học môn tiếng Việt trên lớp được thực hiện tốt nhất với ĐTB = 3,34, ở mức trung bình, tiệm cận mức khá. Nội dung được thực hiện kém nhất là thực hiện bài tập về nhà và kiểm tra trên lớp.

Qua khảo sát thực tế và qua quá trình theo dõi hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm trong những năm gần đây, cho thấy: Hầu như các nhà trường đã có đủ phòng học cho tất cả các lớp học 2 buổi/ ngày. Đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học nhiệt tình, đoàn kết, tâm huyết với nghề nghiệp. Ban giám hiệu chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động dạy và học trong nhà trường, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và cùng với giáo viên tìm tòi, giải quyết những vướng mắc trong giảng dạy .Mặc dù vậy chất lượng dạy học môn Tiếng Việt có kết quả chưa như mong đợi, tỉ lệ học sinh yếu trong 4 năm gần đây vẫn còn, có hiện tượng năm sau cao hơn năm trước.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực

2.4.1. Nhận thức về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của hiệu trưởng các trường tiểu học

Hiện nay, để nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của hiệu trưởng các trường tiểu học thường được Phòng Quản lý giáo dục quận Hoàn Kiếm, Hiệu trưởng các trường tiểu học tổ chức tuyên truyền, tập huấn về vấn đề này.

Kết quả điều tra về nhận thức như sau:

  • Bảng 2.5.Nhận thức về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học

Kết quả khảo sát về nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên được khảo sát của các trường tiểu học về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm theo tiếp cận năng lực có ĐTB chung = 3,33. Điều này cho thấy các cán bộ quản lý và giáo viên đạt ở mức trung bình. Đó là mức không kém, nhưng cũng chưa tốt. Nội dung “Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,56, đạt mức trung bình, tiệm cận mức khá và có 48,22% người được hỏi đánh giá ở mức tốt và khá. Tiếp đến là nội dung “Quản lý mục tiêu, kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực” được đánh giá với ĐTB =3,49, mức trung bình, tiệm cận mức khá . Nội dung được đánh là có nhận thức thấp nhất là “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở các trường tiểu học của giáo viên” và “Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở các trường tiểu học” với ĐTB = 3,24, mức trung bình.

2.4.2. Lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Đi sâu đánh giá công tác quản lý mục tiêu và kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực trên địa bàn quận Hoàn Kiếm cho thấy các nhà quản lý mà trực tiếp là các hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm đã thực hiện rất tốt vai trò quản lý của mình trong việc xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực tại các trường tiểu học trên địa bàn quận.

  • Bảng 2.6.Thực trạng lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực học sinh

Với ĐTB chung bằng 3,47 cho thấy việc xây dựng kế hoạch dạy học môn tiếng việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm ở mức trung bình, tiệm cận mức khá. Điều này cho thấy việc xây dụng kế hoạch dạy học môn tiếng việt ở các trường tiểu học quận còn hạn chế. Trong 5 nội dung của xây xây dựng kế hoạch dạy học môn tiếng việt ở các trường tiểu học quận thì nội dung “Kế hoạch được xây dựng căn cứ vào chương trình dạy học theo quy định của Luật Giáo dục” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,65 ở mức tiệm cận mức khá. Tiếp đến là nội dung “Quản lý việc giáo viên xác định mục tiêu bài học, môn học được thể hiện trong giáo án bài soạn” có ĐTB = 3,55, mức trung bình tiệm cận mức khá. Nội dung được đánh giá thấp nhất là “Kế hoạch bảo đảm tính kịp thời, linh hoạt và minh bạch” có ĐTB = 3,17.

2.4.3. Quản lý thực hiện chương trình dạy học

  • Bảng 2.7.Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt

Thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt được đánh giá ở mức trung bình với ĐTB chung = 3,38. Như vậy, thực trạng quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt đã đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động dạy học môn tiếng Việt, song vẫn còn hạn chế.

Trong quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt thì nội dung “Môn Tiếng Việt được dạy đúng theo chương trình dạy học” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,56 và nội dung “Đảm bảo thực hiện đúng, đủ phân phối chương trình về mặt số tiết, về thời gian, về trình tự; nghiêm cấm việc cắt xén chương trình” được đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3,22.

2.4.4. Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên ở trường tiểu học được thực hiện chủ yếu thông qua giờ lên lớp. Giờ lên lớp là một khâu quan trọng trong quá trình giảng dạy, qua giờ lên lớp giáo viên sẽ thể hiện năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn, kiến thức cuộc sống và xã hội rõ nhất. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học môn học trong nhà trường. Soạn bài và chuẩn bị bài tốt là yếu tố cơ bản góp phần cho sự thành công của giờ lên lớp. Soạn bài thực chất là thiết kế cụ thể cho giờ lên lớp, thể hiện rõ nội dung kiến thức cần truyền thụ, cách thức tổ chức lớp học, đồng thời dự đoán trước các tình huống xảy ra và phương thức giải quyết các tình huống.

Kết quả khảo sát nội dung quản lý dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên, được tổng hợp trong bảng sau:

  • Bảng 2.8.Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên

Số liệu tại bảng 2.8 cho thấy: Hoạt động dạy học của giáo viên Tiếng Việt tại các trưởng tiểu học quận Hoàn Kiếm được đánh giá ở mức trung bình với ĐTB chung = 3,48 (mức trung bình, tiệm cận mức khá). Như vậy, hoạt động dạy học của giáo viên Tiếng Việt tại các trưởng tiểu học được khảo sát đã thực hiện theo các qui định đề ra, song vẫn còn hạn chế.

Trong 4 nội dung khảo sát của hoạt động dạy học thì có 3 nội dung đạt ở mức gần tương đương nhau – mức trung bình, tiệm cận mức khá. Các ĐTB từ 3,51 – 3,56. Đó là “Quản lý thiết kế giáo án và chuẩn bị cho giờ lên lớp của giáo viên”; “Quản lý giờ lên lớp của giáo viên và học sinh”; “Quản lý thực hiện dạy học theo chương trình môn Tiếng Việt đã được qui định”. Nội dung “Quản lý việc tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập của giáo viên” được đánh giá thấp nhất.

2.4.5. Quản lý hoạt động học của học sinh

Một điều đáng quan tâm trong hoạt động học tập của học sinh là hiệu trưởng phải quan tâm chỉ đạo thầy cô giáo bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn các em cách tự học ở trên lớp cũng như ở nhà, yêu cầu các em xây dựng thời gian biểu học tập ở nhà, kiểm tra việc học ở nhà của các em trên cơ sở phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Để quản lý việc học tập của học sinh, các nhà trường đã quan tâm tới việc giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập, tính trung thực trong học tập, ý chí vươn lên; xây dựng và kiên trì thực hiện nền nếp học tập, nhiều trường nền nếp học tập có tiến bộ rõ rệt trên cơ sở phối kết hợp tốt các lực lượng giáo dục như: tổng phụ trách, chủ nhiệm lớp, hội cha mẹ học sinh… các nhà trường đã áp dụng khá tốt các hình thức động viên khen thưởng, phê bình, kỷ luật học sinh.

  • Bảng 2.9.Thực trạng quản lý hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh

Với ĐTB chung toàn thang đo bằng 3,23 cho thấy quản lý học tập môn tiếng Việt trên lớp của học sinh ở mức trung bình. Điều này cho thấy quản lý học tập môn tiếng Việt trên lớp của học sinh đã cơ bản đáp ứng được các yêu cầu của quản lý dạy học môn tiếng Việt, song vẫn còn hạn chế vì hoạt động này thực hiện chưa tốt.

Trong 3 nội dung quản lý thì nội dung quản lý việc thực hiện bài tập về nhà và làm kiểm tra, bài thi môn tiếng Việt của học sinh trên lớp được thực hiện tốt nhát (ĐTB = 3,25); nội dung “Quản lý học tập môn tiếng Việt trên lớp của học sinh” ở vị trí thứ 2 và nội dung “Quản lý đánh giá biểu hiện năng lực học môn tiếng Việt của học sinh” được đánh giá thấp nhất. Tuy vậy, sự khác biệt về mức độ thực hiện các nội dung là không đáng kể. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

2.4.6. Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học

Kết quả thuyết phục nhất trong việc giảng dạy của giáo viên là chất lượng học tập của học sinh. Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh còn có ý nghĩa là biết được hiệu quả của quá trình giảng dạy, phát hiện những thiếu sót hoặc những điểm chưa hoàn chỉnh trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch, từ đó mà có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Đây là một yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý của người hiệu trưởng đối với việc giảng dạy của giáo viên

  • Bảng 2.10.Thực trạng quản lý kiếm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực

Kết quả thu được ở bảng 2.9 cho thấy, thực trạng quản lý kiếm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực đạt ở mức trung bình với ĐTB chung = 3,35. Như vậy, quản lý kiếm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vẫn còn hạn chế nhất định.

Trong các nội dung quản lý kiếm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực thì nội dung “Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh được thực hiện nghiêm túc” được đánh giá cao nhất với ĐTB = 3,58, mức trung bình tiệm cận mức khá. Ba nội dung còn lai đều ở mức trung bình, trong đó nội dung “Kiểm tra, đánh giá được tiến hành trong cả quá trình quản lý hoạt động dạy của nhà trường” được đánh giá thấp nhất.

2.4.7. Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy là một trong những đặc trưng chủ yếu và là yêu cầu bắt buộc của hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt, nhất là ở bậc tiểu học. Phương tiện, điều kiện hỗ trợ giảng dạy giúp cho học sinh lĩnh hội tốt nhất hệ thống kiến thức mà chương trình dạy học đòi hỏi. Phương tiện, điều kiện phục vụ giảng dạy đầy đủ, đồng bộ, được quản lý và khai thác sử dụng tốt sẽ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn học của đội ngũ giáo viên

  • Bảng 2.11. Thực trạng quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Thực trạng quản lý phương tiện, các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy các trường tiểu học của quận Hoàn Kiếm, qua khảo sát thực tế ở 13 trường tiểu học đạt ở mức trung bình với ĐTB chung = 3,19. Hai nội dung được đánh giá cao hơn là “Quản lý việc bảo quản và sử dụng thiết bị một cách hiệu quả” và “Quản lý việc đầu tư thiết bị phù hợp với nội dung chương trình, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương” có ĐTB lần lượt là 3,46 và 3,43 ở mức trung bình, tiệm cận mức khá.

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy đa số giáo viên đều cho rằng vấn đề khó khăn nhất hiện nay trong việc tự làm đồ dùng dạy học còn nhiều hạn chế vì giá trị sử dụng không cao. Tuy nhiên hiệu trưởng chưa có biện pháp quản lý nhằm giải quyết vấn đề này cũng như khuyến khích động viên giáo viên tham gia tháo gỡ khó khăn nhằm mang lại hiệu quả thật sự.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Với ĐTB chung của thang đo là 3,72 cho thấy các yếu tố được khảo sát ảnh hưởng tương đối nhiều đến quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm.

Trong 3 nhóm yếu tố được khảo sát nhóm yếu tố “Phẩm chất, năng lực của hiệu trưởng” ảnh hưởng nhiều nhất với ĐTB = 3,82 và nhóm yếu tố “sự phối hợp giữa Nhà trường – gia đình” ảnh hưởng ít hơn hai yếu tố còn lại với ĐTB = 3,70.

Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm là: “Hiệu trưởng chỉ đạo thường xuyên sâu sát đối với dạy học môn tiếng việt” với ĐTB =3,91. Yếu tố “Đội ngũ giáo viên có tình yêu nghề nghiệp tốt “ ở vị trí thứ 2 với ĐTB = 3,87 và “Nhà trường -gia đình có sự phối hợp chặt chẽ “ có ĐTB = 3,86.

  • Bảng 2.12.Thực thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn quan sát quá trình tổ chức quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm khi các Hiệu trưởng thường xuyên chỉ đạo công tác dạy học theo tiếp cận năng lực và hiệu quả của nội dung này được nâng lên rõ rệt. Bên cạnh đó, sự quan tâm của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy môn tiếng Việt nói chung và dạy môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực nói riêng cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động quản lý dạy học môn Tiếng Việt.

Có thể nói, các yếu tố được phân tích ở trên đã có sự ảnh hưởng với các mức độ khác nhau đối với công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, đây chính là những nguyên nhân dẫn đến thành công, hạn chế của công tác quản lý dạy học môn Tiếng Việt.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

2.6.1. Những kết quả đạt được

  • Về mặt tác động tới nhận thức của giáo viên

Giáo viên nhận thức được vai trò quan trọng của người thầy trong quá trình dạy học, trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt, đồng thời nêu cao tinh thần, trách nhiệm của người giáo viên trong công tác giảng dạy, nghiêm túc thực hiện mọi nội quy, quy chế của nhà trường và của ngành đề ra.

Một số trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tương đối phù hợp với điều kiện cụ thể ở trường mình. Các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội dựa trên điều kiện thực tế của nhà trường, những kinh nghiệm, năng lực và trình độ quản lý để cụ thể hoá các văn bản, nghị quyết, hướng dẫn của cấp trên về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt thành hiện thực; mặt khác cũng đã xây dựng một số biện pháp tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đánh giá công tác quản lý động dạy học môn Tiếng Việt nhằm đạt các yêu cầu do mục tiêu đề ra.

Công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội được đánh giá tương đối tốt, nhất là theo tuyến dọc từ Bộ GD – ĐT đến Sở GD – ĐT và các trường trong quận. Tổ chức và quản lý tốt việc dự giờ, thao giảng, thực hiện chuyên đề, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết dự. Tuy không nhiều, nhưng Cán bộ quản lý ở các trường cũng có tổ chức kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nhằm để đánh giá năng lực của mỗi giáo viên giảng dạy. Thông qua đó kịp thời nhắc nhở, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên tham gia học tập, bồi dưỡng đổi mới PPDH để nâng cao trình độ đào tạo nghiệp vụ.

  • Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên

Cán bộ quản lý nhà trường là những người có lập trường tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn. Là những người nhiệt tình, thiết tha với công việc, có tinh thần trách nhiệm cao, năng động. Hiệu trưởng đã đề ra kế hoạch chung, kế hoạch quản lý phù hợp với thực tế nhà trường, có những quyết định đúng đắn kịp thời, tổ chức công việc tương đối hợp lí, khoa học.Việc quản lý chương trình dạy học ở nhà trường được thực hiện nghiêm túc, có các biện pháp kiểm tra thường xuyên, không có hiện tượng dạy dồn, hay cắt xén chương trình. Nhà trường đều thực hiện đúng tiến độ, bám sát phân phối chương trình và thực hiện lịch báo giảng đều đặn.Hàng năm, nhà trường đều tổ chức cho cán bộ giáo viên học tập quy chế, nhiệm vụ năm học mới, tiêu chuẩn đánh giá xếp loại…và đã thực hiện tốt.Việc dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm bài giảng, đánh giá kết quả giáo viên qua các đợt thao giảng được tổ chức thường xuyên, có tác dụng tốt trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên. Nhà trường đã xây dựng được nền nếp dạy học, đây cũng trở thành phong trào thi đua dạy tốt.Hiệu trưởng đã phát huy được vai trò của tổ chuyên môn trong việc hoạt động giảng dạy của giáo viên; dự giờ, thống nhất nội dung bài giảng, góp ý xây dựng giờ dạy. Duy trì chế độ kiểm tra chuyên môn định kì, đột xuất, phối hợp chặt chẽ với tổ chức trong nhà trường để kiểm tra đánh giá việc thực hiện nền nếp dạy và học. Xây dựng được chế độ khen thưởng, tổ chức tuyên dương khen chê kịp thời, đúng mức có tác dụng đẩy mạnh phong trào thi đua.

  • Về quản lý hoạt động học của học sinh

Thực hiện tốt việc phân công đội ngũ cán sự lớp là những em có phẩm chất đạo đức tốt, có thành tích học tập cao, nhiệt tình, có năng lực điều hành quản lý các hoạt động của lớp.quản lý tốt việc thực hiện nền nếp của học sinh. Phần lớn học sinh ngoan ngoãn, kính trọng thầy cô giáo, đoàn kết với bạn bè, chấp hành nghiêm túc các nội quy của lớp cũng như của trường đề ra.

Đồng thời để hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội cũng có quan tâm đến việc trang bị các đầu sách giáo khoa các loại, tài liệu tham khảo, các phương tiện hỗ trợ dạy học cũng như tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng môi trường dạy học môn Tiếng Việt tốt nhất.

2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

  • Hạn chế

Về mặt nhận thức: Bản thân một số Hiệu trưởng chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học. Một số cán bộ quản lý còn làm việc theo cảm tính, không khoa học.Việc tác động đến ý thức, nhận thức của giáo viên tuy đã được thực hiện song còn chưa thường xuyên nên một số giáo viên chưa có ý thức, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.

Việc xây dựng kế hoạch chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm chưa đồng bộ và không thường xuyên, dẫn đến chất lượng của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm chưa Chưa có sự chủ động trong việc lập kế hoạch, quy hoạch đào tạo và bồi dưỡng hướng dẫn và tổ chức tập huấn cho giáo viên thực hành, sử dụng các trang thiết bị dạy học truyền thống cũng như tiếp cận các PPDH hiện đại, mà chủ yếu vẫn dựa vào các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên hàng năm do Sở GD & ĐT tổ chức.

Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên: Việc quản lý khâu soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp, đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý việc kiểm tra đánh giá học sinh ở một số trường còn lỏng lẻo, nặng về hình thức, chưa thực sự tích cực đổi mới, chưa đi vào chiều sâu. Cụ thể:Về xây dựng kế hoạch phần lớn chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn, nhà trường chủ yếu quan tâm tới kế hoạch năm học của trường, còn kế hoạch của các bộ phận, các tổ nhóm chuyên môn và của cá nhân thì sơ sài, chiếu lệ, đối phó cho nên tính khả thi của kế hoạch rất yếu. Bên cạnh đó, duyệt kế hoạch thực chất chỉ là kí xác nhận kế hoạch của giáo viên.Về tổ chức, thực hiện kế hoạch, còn thiếu tính thường xuyên. Việc quản lý chuẩn bị bài và soạn bài trên lớp mới chỉ quan tâm đến số lượng và hình thức giáo án chứ chưa quan tâm đến chất lượng của giáo án. Vẫn còn hiện tượng dạy Dự giờ rút kinh nghiệm sư phạm bài dạy, còn mang tính chiếu lệ, ít chú ý tới phương pháp, nội dung và cách thức tổ chức lớp học mà chủ yếu chỉ kiểm tra, đánh giá các bước lên lớp.Việc chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực còn lúng túng. Phương pháp dạy học còn nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.

Công tác bồi dưỡng giáo viên ở một số trường chưa được quan tâm đúng mức.Công tác chỉ đạo tổ chuyên môn, phát động phong trào làm thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học chưa thường xuyên. Do thiếu kinh phí nên thiết bị, tài liệu dạy học môn học chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên trong tình hình mới. Nhà trường chưa chú ý bổ sung sách tham khảo cho giáo viên, trong thư viện nhà trường chủ yếu là sách được cấp phát. Việc chỉ đạo chế độ dự giờ thăm lớp, đúc kết kinh nghiệm của tổ chuyên môn và việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chuyên đề chưa được duy trì thường xuyên; việc bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho một bộ phận giáo viên đã giảng dạy nhiều năm nhưng trình độ chuyên môn còn hạn chế chưa được chú trọng đúng mức. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Về quản lý hoạt động học của học sinh: Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh chưa được quan tâm đúng mức.Việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của HS chưa khách quan, chưa thực sự phản ánh đúng chất lượng học tập của học sinh, chưa kích thích được học sinh trong học tập.

Cơ sở vật chất, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác triển khai quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội chưa được đầu tư đúng mức và đầy đủ so với yêu cầu. Nguồn tài chính dành cho việc trang bị các thiết bị dạy học phục vụ cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội còn hạn chế.

  • Nguyên nhân
  • Nguyên nhân khách quan

Nguồn ngân sách chi cho giáo dục còn hạn chế, việc huy động đóng góp từ phụ huynh học sinh, từ các cơ quan đoàn thể còn gặp nhiều khó khăn nên cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, còn bất cập so với yêu cầu đổi mới.

  • Nguyên nhân chủ quan

Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, trình độ đạt chuẩn, song về thực chất, năng lực chuyên môn còn hạn chế vì chưa chịu cải tiến phương pháp dạy học, ngại tiếp cận với trang thiết bị hiện đại. Đội ngũ cán bộ quản lý đều trưởng thành đi lên từ giáo viên trực tiếp đứng lớp, một số mới qua bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý nên gặp nhiều khó khăn trong công việc nắm bắt hệ thống lí luận quản lý để thực hiện vận dụng vào thực tiễn, do đó làm việc thường dựa vào kinh nghiệm, dựa vào suy diễn chủ quan của cá nhân.

Một số cán bộ còn hạn chế về năng lực và nghiệp vụ quản lý, chưa tích cực tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý để đáp ứng ngày càng cao sự nghiệp giáo dục. Thậm chí, một số còn chưa coi trọng đúng mức công tác dạy học, thiếu các biện pháp quản lý phù hợp, do đó hiệu quả công tác quản lý chưa cao. Chưa coi trọng xây dựng nền nếp dạy học và kiểm tra hoạt động dạy của giáo viên, ít tham gia dự giờ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý giáo dục còn chậm.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

Qua khảo sát thực trạng ở các trường tiểu học của quận Hoàn Kiếm, tác giả nhận thấy: Hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường đã có nhiều cố gắng, góp sức không nhỏ trong việc quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nói riêng, duy trì hoạt động dạy học đúng theo yêu cầu nhiệm vụ của nhà trường và của ngành đề ra.

Tuy nhiên kết quả khảo sát cho thấy thực trạng dạy học của giáo viên và thực trạng học môn tiếng Việt của học sinh chỉ đạt ở mức trung bình. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học theo tiếp cận năng lực học sinh cũng chỉ đạt ở mức trung bình. Điều này cho thấy quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học tiếp cận theo năng lực còn hạn chế.

Một số ít Hiệu trưởng chưa nhận thức đúng mức về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường. Vì vậy, việc quản lý, chỉ đạo hoạt động này chưa đầy đủ và thiếu tính toàn diện, việc quản lý thực hiện chương trình, xây dựng kế hoạch, sinh hoạt tổ chuyên môn, dự giờ và rút kinh nghiệm sư phạm ở một số trường còn mang tính chất hành chính, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Một số Hiệu trưởng chưa chủ động trong công việc quản lý của mình, thường phụ thuộc vào kế hoạch của cấp trên. Từ cơ sở lí luận và thực trạng trên, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt nhằm giúp hiệu trưởng quản lý tốt hoạt động dạy học của nhà trường, qua đó nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

One thought on “Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *