Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm đặc biệt của các nhà trường nói chung và của trường tiểu học nói riêng. Dạy học là một hoạt động đặc thù của công tác giáo dục, nó giữ vị trí trung tâm và chi phối mọi hoạt động khác trong nhà trường bởi nó chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm học. Dạy học là nền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường. Đồng thời, nó quyết định kết quả đào tạo của nhà trường. Chính vì thế, nhiệm vụ trọng tâm của hiệu trưởng trường tiểu học là phải dành nhiều thời gian và công sức cho công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.

Để hội nhập thế giới và thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dạy và học Tiếng Việt trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Tiếng Việt được xếp vào một trong những lĩnh vực ưu tiên, một mũi nhọn đột phá trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ trong thời đại ngày nay. Đặc biệt là hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Dạy học ở bậc Tiểu học giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản. Đồng thời, hình thành và phát triển những cơ sở nền tảng nhân cách con người. Sản phẩm của giáo dục Tiểu học có giá trị cơ bản, lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời mỗi con người. Bất kì ai cũng phải sử dụng các kĩ năng nghe, nói, đọc viết và tính toán được học ở bậc Tiểu học để sống để làm việc.

Thông tư số 32/2024/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông có những điểm mới trong lĩnh vực giáo dục tiểu học, trong đó Toán và Tiếng Việt là hai bộ môn công cụ cơ bản. Nếu như Toán học là một môn học đòi hỏi sự chính xác, rõ ràng, cụ thể với từng công thức, phép tính, thì Tiếng Việt lại còn đòi hỏi thêm về sự tìm tòi, chau chuốt ngôn ngữ, vốn liếng từ vựng và khả năng cảm thụ ngôn ngữ văn học của cả giáo viên và học sinh. Đây là môn học vừa có vai trò trang bị cho học sinh công cụ ngôn ngữ, vừa là môn học thuộc Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học về tiếng Việt, những kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học sinh tự hoàn thiện nhân cách của mình ở phương diện ngôn ngữ và văn hóa. Tiếng Việt ta giàu và đẹp, đa dạng, rất phong phú nhưng cũng rất phức tạp. Vì vậy, không chỉ học sinh, mà cả trong một bộ phận giáo viên vẫn còn tồn tại tâm lí ngại học tập, tìm tòi, đào sâu tiếng Việt. Khá nhiều học sinh không yêu thích môn học. Kiến thức tiếng Việt và khả năng tư duy nghệ thuật của nhiều giáo viên còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ quản lý cấp cơ sở chưa thực sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh học tập, nghiên cứu để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Tiếng Việt.Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người…Dạy học Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thông qua môn học, học sinh có khả năng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một số yêu cầu phức hợp của hoạt động trong một số hoàn cảnh nhất định. Các năng lực đặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ. Ngoài ra, học sinh cũng cần được phát huy các năng lực khác như: năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, tự quản bản thân… Tuy nhiên, hiện nay hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực tại các trường tiểu học nói chung và các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội còn nhiều hạn chế về mặt nhận thức, tổ chức dạy học hay đổi mới hình thức dạy và học môn Tiếng Việt. Thực tiễn đó đòi hỏi hiệu trưởng các trường tiểu học phải đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là một yếu tố quyết định chất lượng dạy học môn này. Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt sẽ giúp các trường tiểu học, các giáo viên tổ chức hoạt động dạy học môn tiếng Việt thực hiện đúng mục tiêu, yêu cầu, triển khai có chất lượng nội dung môn học. Quản lý hoạt động này cũng giúp cho học sinh phát huy được tốt nhất năng lực của bản thân. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học sẽ giúp cho việc dạy học môn này đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay.

Có thể nói, tăng cường quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực đang là một vấn đề hết sức cần thiết hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển từng cá nhân học sinh, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực” với mong muốn đóng góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1. Nước ngoài

Giáo dục học phát triển dựa trên cơ sở thực sự khoa học kể từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác vào những năm 40 thế kỷ XIX và được V.I. Lênin làm phong phú bằng những luận điểm mới trong hoàn cảnh lịch sử mới. Từ đây, Giáo dục học không ngừng phát triển mạnh mẽ, sâu sắc và do đó có tác động quan trọng tới sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay [23, tr.15].

Như chúng ta biết, “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin), “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng”(Mác). Ngôn ngữ là phương tiện biểu hiện của tâm trạng, tình cảm. Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trường. Ở bậc Tiểu học, hầu như các nước trên thế giới đều coi trọng việc dạy học tiếng mẹ đẻ và dành cho nó vị trí ưu tiên, xứng đáng. Có thể nhận thấy điều này qua tỉ lệ số giờ học dành cho tiếng mẹ đẻ (tổng số tiết học tiếng mẹ đẻ trong một tuần của cả cấp học và tổng số tiết học của cả tuần, của cả cấp học)[23, tr.18]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Nhà sư phạm J.A Cômenxki (1592 – 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường cũng đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học của người giáo viên. Ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ điều gì. Ông cũng đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị lớn như: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; Dạy học phải thiết thực; Dạy học theo nguyên tắc cá biệt…[23,tr.19-20].

Garry Hess & Steven Friedland, Lê Nết (2011), “Phương pháp dạy và học đại học”, Nxb Thanh niên. Tác giả đã nghiên cứu rất chi tiết và giới thiệu các phương pháp dạy và học đại học. Tuy nhiên việc nghiên cứu quản lý đào tạo trong đó có quản lý phương pháp dạy và học đại học chưa được tác giả đi sâu nghiên cứu [12].

Bernd Meier /Nguyễn Văn Cường (2011), “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới”, Nxb Giáo dục. Việc áp dụng các phương pháp, phương tiện dạy học mới vào giảng dạy nói chung và giảng dạy bậc đại học nói riêng đã trở thành một vấn đề tất yếu cần được quan tâm hơn nữa. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu và phân tích những ưu, nhược điểm của các phương pháp và phương tiện mới khi thực hiện áp dụng trong giảng dạy. Từ đó, người đọc có cách nhìn và vận dụng khoa học trong thực tiễn [3].

2.2. Trong nước

Nghiên cứu về hoạt động quản lý dạy học nói chung và quản lý dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực nói riêng, nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu:

Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục và Đào tạo TƯ1, Hà Nội. Tác giả đã nghiên cứu sâu và chi tiết về các khái niệm được sử dụng trong quản lý giáo dục, phân tích các chức năng quản lý giáo dục dưới góc độ “Kế – Tổ – Đạo – Kiểm”. Tuy nhiên, công tác quản lý đào tạo trình độ đại học chưa được tác giả phân tích sâu mà chỉ dừng lại ở các định nghĩa, khái niệm chung nhất trong quản lý giáo dục[2].

Nói đến đặc thù của môn học Tiếng Việt, trước đây người ta thường nói đến vấn đề thứ nhất là học để nắm kiến thức Tiếng Việt (cấu tạo Tiếng Việt, hệ thống Tiếng Việt gồm các kiểu đơn vị và quan hệ giữa chúng), thứ hai là học để giao tiếp-giao tiếp bằng bản ngữ. Chương trình cải cách giáo dục xác định mục tiêu là cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản, hiện đại về Tiếng Việt, trên cơ sở đó hình thành cho học sinh kĩ năng hoạt động lời nói bằng Tiếng Việt.

Nhưng đối với chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học sau năm 2000 lại quan niệm môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học trang bị cho học sinh những kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, các thao tác tư duy mà xã hội đòi hỏi ở trẻ từ 6 đến 11 tuổi. Môn học Tiếng Việt đảm bảo cho trẻ những mẫu đúng đắn của ngôn ngữ văn hoá giao tiếp, dạy cho các em biết truyền đạt tư tưởng, hiểu biết, tình cảm của mình một cách đúng đắn, chính xác và biểu cảm. Nhà trường Tiểu học đem lại cho học sinh những lí thuyết nhất định về tiếng mẹ đẻ, bảo đảm hình thành thế giới quan duy vật, phát triển tư duy trừu tượng của học sinh và trang bị cho các em một cơ sở lí thuyết đủ để nắm những kĩ năng và kĩ xảo chính âm, chính tả, ngữ pháp.

Tác giả Hoàng Tuyết Minh (2023), Quản lí dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường tiểu học trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Tác giả đã làm rõ được sự khác biệt trong tiếp cận năng lực so với các cách thức tiếp cận khác trong giảng dạy môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học, phân tích thực tiễn triển khai tại các trường tiểu học quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

Tác giả Phạm Bích Ngọc (2020), Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học. Khảo sát và đánh giá thực trạng về quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Phạm Kiên Giang (2019)[13]; Vũ Thị Dung (2016)[9]., Hoàng Thị Lan Anh (2016) [1]… đều đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh nói riêng. Như vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều tác giả và những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề dạy học nói chung. Tuy nhiên, vấn đề dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học còn ít chưa được quan tâm nghiên cứu.

Các đề tài nghiên cứu trên đã tiến hành nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Phòng GD&ĐT hoặc của hiệu trưởng đối với giáo viên các trường tiểu học bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số biện pháp quản lý nói chung của cấp học, chưa có đề tài nào đề cập tới các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học. Việc chỉ ra được những biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động dạy học môn tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, chính là vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực góp phần nâng cao chất lượng dạy học cấp tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

  • Xây dựng cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực;
  • Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực;
  • Đề xuất biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực.

4.2. Khách thể nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu là cán bộ quản lý và giáo viên dạy học môn tiếng Việt tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

4.3. Phạm vi nghiên cứu

  • Nội dung:Đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực.
  • Địa bàn: Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
  • Thời gian: Đề tài sử dụng các dữ liệu từ năm 2022 đến năm 2025

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

  • Nghiên cứu vấn đề theo tiếp cận năng lực học sinh

Nghiên cứu sử dụng tiếp cận mục tiêu để phân tích làm rõ mục tiêu của quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực; trên cơ sở phân tích mục tiêu giáo dục học sinh tiểu học nói chung; phân tích thực trạng thực hiện các nội dung quản lý trên cơ sở đó xây dựng nội dung và biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực phù hợp, khả thi đối với học sinh tiểu học.

Tiếp cận quá trình theo các thành tố để phân tích các quá trình dạy học môn Tiếng Việt; quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực, từ đó xác định được nội dung của quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực, phân tích thực trạng thực hiện các nội dung quản lý, đồng thời đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực phù hợp.

  • Nghiên cứu vấn đề theo tiếp cận hệ thống

Giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục nói riêng là một hệ thống bao gồm nhiều các hoạt động trong một thể thống nhất tác động đến người học. Các thành tố trong quá trình hoạt động gắn kết với nhau và bổ sung cho nhau. Vì vậy trong giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực nói riêng cần phải tác động đồng bộ và các thành tố trong cấu trúc hệ thống của nó.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu:

  • Nghiên cứu các văn bản qui định của Bộ GD & ĐT, của Sở và Phòng GD & ĐT về dạy học môn tiếng Việt ở trường tiểu học
  • Nghiên cứu các đề tài, luận văn thạc sỹ và các tài liệu có liên quan đến dạy học môn tiếng Việt ở trường phổ thông nói chung và trường tiểu học nói riêng. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.
  • Các văn bản tài liệu trên được phân tích, tổng hợp để rút ra những vấn đề đã nghiên cứu và những vấn đề có chưa nghiên cứu để luận văn tiếp tục nghiên cứu.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp này được sử dụng để thu thập ý kiến của các đối tượng bằng bảng hỏi.
  • Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ quan sát hoạt động học của học sinh và hoạt động dạy của giáo viên để thu thập thông tin thực tiễn cho đề tài.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn trong việc dạy học môn Tiếng Việt để nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu trên các giáo án, sổ đầu bài, bài kiểm tra, vở bài tập của học sinh để bổ sung thêm thông tin thực tiễn cho đề tài.
  • Phương pháp toán thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng để xử lí các số liệu thu được, từ đó rút ra các kết luận làm căn cứ đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã làm rõ được các vấn đề lý luận về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực và hoạt động quản lý liên quan đến công tác này. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận về quản lý dạy học môn tiếng Việt theo tiếp cận năng lực.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Phản ánh được thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực trong thời gian sắp tới.

Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý và giáo viên dạy môn tiếng Việt tại các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn này.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính được chia thành 3 chương:

  • Chương 1.Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực;
  • Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực;
  • Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC

1.1. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

1.1.1. Khái quát về môn Tiếng Việt trong các trường tiểu học

  • Mục tiêu môn học Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Chương trình Tiếng Việt mới đưa mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt – hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên. Những kiến thức về tiếng Việt cùng với các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản. Trong chương trình mới, hoạt động giao tiếp vừa là mục đích số một vừa là phương tiện của dạy học Tiếng Việt. Chú trọng hơn đến kĩ năng sử dụng tiếng Việt, Chương trình tiểu học mới (ban hành theo Thông tư số 32/2024/TT-BGDĐT) xác định mục tiêu như sau: “Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm [7]:

  1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư
  2. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
  3. Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.”

Cấu trúc chương trình môn học

Nội dung chương trình Tiếng Việt tiểu học gồm các bộ phận: kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nghe, nói, viết), tri thức tiếng Việt (một số hiểu biết tối thiểu về ngữ âm, chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp…), tri thức về văn học, xã hội và tự nhiên (một số hiểu biết tối thiểu về sáng tác văn học và cách tiếp cận chúng, về con người với đời sống tinh thần và vật chất của họ, về đất nước và dân tộc Việt Nam) [7].

  • Nội dung này được sắp xếp theo hai giai đoạn phát triển:

Ở giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3), nội dung dạy học có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết, định hướng việc học nghe, học nói trên cơ sở vốn tiếng Việt mà các em đã có. Học đọc, học viết có vị trí đặc biệt quan trọng ở giai đoạn này.

Yêu cầu cơ bản với học sinh ở giai đoạn này là đọc thông thạo và hiểu đúng một văn bản ngắn, viết rõ ràng, đúng chính tả, nghe chủ động, nói chủ động, rành mạch. Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là những bài thực hành đọc, viết, nghe, nói. Tri thức tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút ra từ những bài thực hành, được học sinh tiếp thu một cách tự nhiên qua hoạt động thực hành. Những tri thức về âm, chữ cái, tiếng (âm tiết) – chữ, thanh điệu – dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ. Tri thức về câu trong hội thoại (câu hỏi – đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lí thuyết mà chúng được hình thành ở học sinh qua việc hình dung cụ thể thế nào là câu hỏi, câu đáp và dấu biểu thị chúng trong một văn bản có thực. Ở giai đoạn này việc nắm tri thức của học sinh chỉ yêu cầu dừng ở mức nhận diện và sử dụng được các đơn vị tiếng Việt, các quy tắc sử dụng tiếng Việt khi tiến hành hoạt động nghe, nói, đọc, viết [7].

Ở giai đoạn 2 (lớp 4, 5), nội dung chương trình nhằm phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói ở một mức cao hơn, hoàn thiện hơn. Trong đó yêu cầu đọc hiểu và viết một văn bản hoàn chỉnh được đặc biệt coi trọng.

Ở giai đoạn này, học sinh đã bước đầu được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng tiếng Việt làm nền móng vững chắc cho các kĩ năng tiếng Việt. Bên cạnh những bài học thực hành (như ở  giai đoạn trước), các em còn học những bài về tri thức tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách…). Những bài học này không được trình bày dưới dạng lí thuyết đơn thuần, không phải được tiếp nhận hoàn toàn bằng tư duy trừu tượng mà chủ yếu vẫn bằng cách nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã được đọc, viết, nghe, nói, từ đó khái quát lên thành những khái niệm sơ giản, ban đầu [7].

  • Nội dung môn học

Chương trình môn Tiếng Việt tiểu học mới mỗi năm học 35 tuần lễ, gồm 7 phân môn: Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc, nghe và nói. Thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi tìm hiểu bài, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, xã hội và con người. Ngoài ra, nó còn cung cấp vốn từ, tăng cường khả năng diễn đạt, trang bị một số hiểu biết ban đầu về tác phẩm văn học và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh [7].

Phân môn Chính tả rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc. Nhiệm vụ của học sinh là làm các bài tập chính tả đoạn, bài; chính tả âm, vần và chính tả viết hoa. Bên cạnh tác dụng rèn kĩ năng viết, nghe và đọc, các bài tập chính tả còn cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống.

Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng đọc cho học sinh.

Phân môn Kể chuyện rèn các kĩ năng nói, nghe và đọc. Nhiệm vụ của học sinh là kể lại những câu chuyện vừa được học trong bài tập đọc; những câu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp hoặc được nghe, được đọc, được chứng kiến, tham gia trong đời sống hằng ngày. Qua đó khuyến khích học sinh đọc sách, phát triển óc quan sát và khả năng vận dụng [7].

Phân môn Tập làm văn rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc. Học sinh được dạy các nghi thức lời nói thông thường; các kĩ năng viết thư, điền vào giấy tờ in sẵn; các kĩ năng kể chuyện, miêu tả; được rèn kĩ năng thuyết trình, trao đổi.

Phân môn Học vần được học trong 24 tuần đầu của lớp 1. Học sinh được làm quen với chữ cái và dấu thanh, được học các âm vần mới.

Phân môn Tập viết giúp cho việc rèn luyện năng lực viết thạo. Nội dung dạy học Tập viết được học ở các lớp 1, 2, 3. Học sinh sẽ được học toàn bộ bảng chữ cái viết hoa, sau đó là các câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ. Nội dung bài viết luôn đảm bảo tính kế thừa: khi viết, học sinh có thể ôn lại kĩ năng viết các chữ đã luyện [7].

1.1.2. Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

  • Thứ nhất, sự phát triển của quá trình nhận thức

Nhận thức cảm tính cũng như lý tính của học sinh đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện. Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định. Cuối bậc học, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó…). Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học [23].

  • Thứ hai, sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn.. .Sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền vững ở trẻ. Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình [22].

1.1.3. Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

  • Hoạt động học môn tiếng Việt của học sinh tiểu học

Hoạt động học tập ở học sinh là hoạt động với đối tượng, trong đó học sinh là chủ thể, nội dung dạy học là đối tượng. Học là quá trình học sinh tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành, phát triển nhân cách dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên [17]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Hoạt động học của học sinh bao gồm những hoạt động cụ thể để chuẩn bị cho giờ học, hoạt động trong giờ học, tự học ở nhà, hoạt động ngoại khóa… Dạy học tiếng Việt là phải nghiên cứu, xem xét học sinh học tập như thế nào, các em làm việc ra sao, hoạt động trí tuệ diễn ra như thế nào, các em gặp khó khăn gì, mắc những lỗi gì và tại sao, các em hứng thú với cái gì và cái gì không hứng thú, số lượng, chất lượng và đặc điểm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tiếng Việt của các em như thế nào. Hoạt động của trò được tiến hành dưới sự điều khiển của thầy. Hiệu quả hoạt động của trò là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những phẩm chất đạo đức mà các em đạt được. Trong môn Tiếng Việt, hoạt động cụ thể của học sinh là: Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn Tiếng Việt); Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (như ở các môn học khác).

Cả hai hoạt động trên được học sinh thực hiện trong giờ học theo nhiều hình thức khác nhau: làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, làm việc theo lớp. Trong trường hợp bài tập đề ra là những câu hỏi rất cụ thể, học sinh sẽ thực hiện làm việc độc lập. Trong trường hợp câu hỏi, bài tập tương đối trừu tượng hoặc đòi hỏi sự khái quát nhất định thì làm việc theo nhóm là giải pháp tốt nhất. Hình thức làm việc chung theo lớp được thực hiện ở các khâu giới thiệu bài, củng cố bài, nêu những câu hỏi không yêu cầu phải suy nghĩ lâu hoặc để học sinh trình bày kết quả.

  • Học tập môn tiếng Việt trên lớp của học sinh

Hoạt động này gồm các nội dung: Ý thức, động cơ đúng đắn trong học tập cho học sinh; Ghi chép bài học của học sinh; Học sinh tham gia vào bài giảng của giáo viên: Phát biểu ý kiến xây dựng bài; Học sinh tham gia giải quyết các tình huống trong học tập trên lớp.

  • Biểu hiện năng lực học môn tiếng Việt của học sinh

Biểu hiện này gồm các năng lực: Năng lực nói tiếng Việt; Năng lực nghe tiếng Việt; Năng lực đọc tiếng Việt của học sinh; – Năng lực viết tiếng Việt của học sinh.

  • Việc thực hiện bài tập về nhà và làm kiểm tra, bài thi môn tiếng Việt của học sinh trên lớp

Hoạt động này gồm: Học sinh thực hiện các bài tập môn tiếng việt ở nhà; Thái độ của học sinh khi thực hiện bài kiểm tra, bài thi môn tiếng Việt; Phối hợp với các lực lượng giáo dục để quản lý hoạt động học của học sinh.

  • Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

Môn Tiếng Việt ở tiểu học (trừ phần học vần lớp 1) được phân chia thành các phân môn: Tập đọc, Tập viết- Chính tả, Luyện từ và câu và Tập làm văn. Mỗi phân môn bên cạnh chức năng chung của môn học thường đảm nhận một mục đích chính. Phân môn Tập đọc nhằm phát triển kỹ năng đọc – hiểu; phân môn Tập viết – Chính tả hình thành kỹ năng viết chính tả (viết đúng chính tả, đúng tốc độ); phân môn Luyện từ và câu trên cơ sở cung cấp kiến thức sơ giản về từ và câu nhằm giúp học sinh dùng từ, viết câu, đoạn văn đúng quy tắc ngữ pháp tiếng Việt; phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp nhằm rèn luyện kỹ năng tạo văn bản nói và viết cho học sinh [7][23].

Đối với các phân môn, mục tiêu kỹ năng trên suy đến cùng là hướng tới phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học – năng lực tiếp nhận lời nói và năng lực sản sinh lời nói. Dạy tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực chính là quá trình dạy học hướng tới hình thành và phát triển các năng lực sử dụng tiếng Việt cho người học trong môi trường học tập và đời sống theo lứa tuổi. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

“Lời nói” trong ngôn ngữ bao gồm 2 dạng thức cơ bản, lời nói trực tiếp (nghe người khác nói trực tiếp) và lời nói gián tiếp (lời nói thông qua văn bản viết). Ngoài ra, còn có các yếu tố bổ sung như ngôn ngữ cơ thể, phục trang, hóa trang, tranh minh họa,… cũng có thể ảnh hưởng tới chất lượng thông tin của lời nói [17].

Từ nhận thức trên, chúng ta cần có định hướng về tổ chức dạy học các phân môn Tiếng Việt sao cho môn học này hướng tới phát triển tốt nhất các năng lực sử dụng tiếng Việt đối với học sinh tiểu học.

Theo chương trình tiếng Việt bậc tiểu học học sinh cần biết nghe , nói, đọc và viết về tiếng Việt. Để giải quyết các nhiệm vụ này học sinh tiểu học cần có các năng lực nghe, năng lực nói, năng lực đọc và năng lực viết về tiếng Việt.

Trước hết, bàn về dạy học sinh phát triển năng lực tiếp nhận lời nói, bao gồm năng lực nghe – hiểu và năng lực đọc – hiểu.

Dạy học sinh nghe – hiểu thông qua quá trình dạy học: nghe – nhắc lại lời giảng của giáo viên hoặc nghe – nhắc lại hoặc nhận xét về lời nói của bạn hoặc nghe người khác kể một câu chuyên rồi kể lại hoặc giới thiệu cho người khác,… Dạy kỹ năng nghe hiểu được thực hiện thông qua các phân môn đặc trưng như Kể chuyện và có thể thực hiện qua tất cả các hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác [17].

Các yêu cầu cơ bản về kỹ năng nghe hiểu bao gồm từ rèn luyện học sinh thói quen tập trung lắng nghe khi người khác nói và có phản hồi chính xác. Tập cho học sinh có thói quen tập trung nghe, lĩnh hội thông tin từ lời nói của người khác và có phản hồi tích cực là yêu cầu quan trọng trong dạy kỹ năng nghe ở trường tiểu học. Điều này giúp cho học sinh có thói quen lĩnh hội tích cực từ lời nói để bồi đắp thêm kiến thức cho bản thân mình [17].

  • Khái niệm dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực được xác định như sau:

Dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là quá trình giáo viên tiến hành các thao tác có tổ chức, có định hướng nhằm giúp học sinh tiểu học chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, phát triển các năng lực nghe, năng lực nói, năng lực đọc đọc và năng lực viết về tiếng Việt trong chương trình môn học này ở bậc tiểu học.

Trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học thầy giáo là chủ thể của hoạt động này. Dạy là sự tổ chức, điều khiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của học sinh, điều khiển học sinh chiếm lĩnh nội dung dạy học, bằng cách đó mà học sinh được phát triển và hình thành nhân cách. Mục tiêu dạy học sẽ chi phối việc lựa chọn dạy những gì thiết thực đối với trẻ em. Môn học Tiếng Việt cần đảm bảo cho học sinh những mẫu đúng đắn của ngôn ngữ văn hoá, giáo dục cho học sinh văn hoá giao tiếp, dạy cho các em biết truyền đạt tư tưởng, hiểu biết, tình cảm của mình một cách, chính xác và biểu cảm.

Hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên trong trường tiểu học được thực hiện thông qua việc dạy học các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn với nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp. Cụ thể trong giờ học, các hoạt động chủ yếu của giáo viên là: Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

  • Giao việc cho học sinh: cho học sinh trình bày yêu cầu của câu hỏi, bài tập; cho học sinh làm mẫu một phần câu hỏi, bài tập; tóm tắt nhiệm vụ, dặn dò học
  • Kiểm tra học sinh: xem học sinh có làm việc không, có hiểu việc phải làm không, trả lời thắc mắc của học
  • Tổ chức báo cáo kết quả làm việc: báo cáo trực tiếp với giáo viên, báo cáo trong nhóm, báo cáo trước lớp với các biện pháp báo cáo bằng miệng, bằng phiếu học tập hoặc thi đua giữa các nhóm, trình bày cá nhân.
  • Tổ chức đánh giá: tự đánh giá, đánh giá trong nhóm, đánh giá trước lớp với biện pháp đánh giá là khen, chê (định tính) hay cho điểm (định lượng).

Theo tác giả Đỗ Ngọc Hùng, luận văn xác định hoạt động dạy học môn tiếng Việt bậc tiểu học cần hình thành cho học sinh các năng lực sau [17]:

  • Năng lực nói Tiếng Việt cho học sinh

Năng lực nói tiếng Việt gồm: Năng lực phát âm: phát âm đúng các phụ âm, nguyên âm, âm tiết tiếng Việt; Năng lực đặt câu để nói được ý trọn vẹn, đúng ngữ điệu, thể hiện đúng suy nghĩa cá nhân, bộc lộ tình cảm thích hợp; Năng lực thực hiện các hành động ngôn ngữ một cách hiệu quả: kể, trình bày, hỏi, yêu cầu, đề nghị; Năng lực độc thoại, đối thoại trong gia đình, lớp học, nhà trường và trong cuộc sống v.v.- Năng lực nói về một nội dung cho trước; Năng lực đối thoại, trao đổi [17].

  • Năng lực nghe tiếng Việt cho học sinh:

Năng lực nghe của học sinh gồm: Năng lực nghe – hiểu nghĩa tường minh: nghe người khác nói, nghe người khác đọc, nghe đài, ti vi… Năng lực nghe – hiểu nghĩa hàm ẩn trong hội thoại: Năng lực đánh giá, nhận xét về lời nói của người khác; Năng lực nghe – phản hồi ý kiến của người khác; Năng lực nghe – ghi, nghe tóm tắt ý chính bài học

  • Năng lực đọc

Năng lực đọc của học sinh gồm: Năng lực đọc đúng, đọc diễn cảm, đúng ngữ điệu bài học; Năng lực đánh giá về các câu, đoạn, văn bản đã đọc; Năng lực đọc thầm; Năng lực đọc – hiểu bài học, văn bản thuộc các lĩnh vực giao tiếp khác nhau trong đời sống; Năng lực đọc – hiểu, cảm nhận, phân tích hình tượng trong bài học; Năng lực đọc để tóm tắt bài học; Năng lực đọc để thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề cho trước,

  • Năng lực viết tiếng Việt cho học sinh

Năng lực viết của học sinh gồm: Năng lực viết đúng: chuyển từ âm nghe được đến chữ. Năng lực viết đúng chính tả, sử dụng dấu câu thích hợp. Năng lực viết câu phản ánh đúng tư tưởng, suy nghĩ của cá nhân, bộc lộ cảm xúc phù hợp. Năng lực viết bài văn, đoạn văn, lời nhắn cá nhân. Năng lực viết đoạn văn, bài văn: miêu tả, kể chuyện, phân tích

1.2. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

1.2.1. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng. Quản lý hoạt động dạy học là một trong những công việc quan trọng nhất trong công tác quản lý nhà trường [14]. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là nội dung, là cách thức mà chủ thể quản lý cần cụ thể hoá để thực hiện các chức năng quản lý giáo dục và mục tiêu quản lý giáo dục. Trong quá trình dạy học, các yếu tố mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện dạy học, luôn vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò [19]. Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm của quá trình dạy học, là hai hoạt động có tính chất khác nhau nhưng thống nhất biện chứng với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy với trò, giữa dạy với học, chúng cùng lúc diễn ra trong những điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật nhất định. Nếu coi quá trình dạy học như một hệ thống thì trong đó quan hệ dạy của thầy với học của trò thực chất là mối quan hệ điều khiển. Với tác động sư phạm của nhà giáo, thầy tổ chức điều khiển hoạt động của trò [19] [20].

  • Khái niệm quản lý hoạt động dạy học được xác định như sau:

Quản lý hoạt động dạy học là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (giáo viên, cán bộ phục vụ và học sinh) nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng cho học sinh để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường.

1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

  • Khái niệm

Từ phân tích các khái niệm trên có thể xác định khái niệm quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực như sau: Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (giáo viên, cán bộ phục vụ và học sinh) nhằm hình thành các năng lực đọc, năng lực nghe, năng lực nói và năng lực viết môn tiếng Việt cho học sinh tiểu học.

Để quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực cần phải chú ý đến một số điểm sau:

Huy động sự tham gia và hợp tác của nhà giáo: Tiếp cận năng lực đòi hỏi quản lý dạy học phải tạo ra cơ chế và môi trường tham gia, hợp tác rộng rãi cho tất cả mọi thành viên. Vì vậy việc giải quyết những vấn đề chuyên môn từ góc độ quản lý cần dựa vào việc huy động nhiều ý tưởng, nhiều sáng kiến khác nhau từ mọi người để có nhiều cơ hội hơn khi lựa chọn giải pháp. Thông thường các nhà quản lý cho rằng những vấn đề chuyên môn ở tiểu học đơn giản quá, chả có gì đáng phải thảo luận, tham gia ý kiến gì cả. Đó là ý tưởng sai lầm. Không ở cấp, ngành học nào lại phức tạp về chuyên môn như ở tiểu học và giáo dục mầm non. Bởi vì ngộ nhận là dễ dàng nên tưởng ai nói cũng được, ai viết sách cũng được. Nội dung học tập ở tiểu học vừa tích hợp nhiều lĩnh vực học vấn lại vừa đòi hỏi cao và tinh tế về phương pháp, kĩ năng dạy học và nghệ thuật sư phạm.

Khuyến khích nhu cầu và sự phát triển năng lực của nhà giáo: Nguyên tắc này liên quan trực tiếp đến văn hóa học tập và tính chuyên nghiệp của nhà giáo cũng như của hành vi dạy học. Ai cũng biết không ai học hộ ai được, không như những việc nào khác có thể làm hộ nhau. Vậy nên phải bằng mọi cách, đặc biệt là kiên trì, khơi dậy và phát triển nhu cầu học tập của mọi nhà giáo để phát triển nghề nghiệp. Dưới ảnh hưởng của quản lý mà nhà giáo thỏa mãn với sự phát triển nghề nghiệp của mình và thành tựu giảng dạy của mình thì tín nhiệm của nhà trường càng tăng lên. Điều đó giúp tạo nên niềm tin của nhà giáo vào cán bộ quản lý.

Đảm bảo sự thích ứng với năng lực nhà giáo: Nguyên tắc này nhắc đến vai trò chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa của tiếp cận năng lực. Khi việc quá tầm, người ta không làm được. Thất bại làm người ta nhụt chí. Khi nhụt chí rồi lại càng sợ thất bại. Sợ thất bại thì sẽ làm theo thói quen, nếu bị buộc phải làm hoặc sẽ không dám làm nữa nếu như không bị bắt buộc. Vòng luẩn quẩn ấy làm cho nhà giáo cùn mòn tay nghề rất nhanh. Cho nên giao việc, nhất là nhiệm vụ mới, nhiều thách thức cần phải cân nhắc. Người đủ tầm khi vượt qua thách thức sẽ phát triển lên cao hơn. Họ cũng tích lũy được kinh nghiệm quí để chia sẻ với người khác.

  • Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của hiệu trưởng các trường tiểu học

Theo cách tiếp cận chức năng quản lý, tiếp cận theo nội dung của hoạt động dạy học, nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học là: 1) Lập kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt; 2) Tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt; 3) Quản lý hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên; 4) Quản lý hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh; 5) quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên và quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; 6) Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.

  • Lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh

Mục tiêu giáo dục của cấp tiểu học được quy định tại Luật Giáo dục và các quy định của Bộ GD & ĐT, Sở và Phòng GD & ĐT. Hiệu trưởng trường tiểu học căn cứ vào các qui định trên, căn cứ đặc điểm tình hình của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch dạy học môn tiếng Việt cho trường mình. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Việc lập kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực ở trường tiểu học cần chú ý một số nội dung sau:

Hiệu trưởng cho đạo các tổ bộ môn và giáo viên xác định mục tiêu bài học, môn học được thể hiện trong giáo án bài soạn.

Việc xác định mục tiêu từng bài học cần căn cứ trên mục tiêu của môn Tiếng Việt ở 3 nội dung: kĩ năng, kiến thức, thái độ và hướng tới hình thành năng lực đọc, năng lực nghe, năng lực nói và năng lực viết môn tiếng Việt cho học sinh tiểu học.

  • Kế hoạch được xây dựng căn cứ vào chương trình dạy học theo quy định của Luật Giáo dục và các quy định của Bộ GD & ĐT, Sở và Phòng GD & ĐT.
  • Kế hoạch được xây dựng phù hợp với tình hình thực tiễn của ngành giáo dục tiểu học của địa phương.
  • Kế hoạch bảo đảm tính kịp thời, linh hoạt và minh bạch và có tính khả thi

Quản lý mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt chính là quản lý việc giáo viên xác định mục tiêu bài học, môn học được thể hiện trong giáo án bài soạn. Việc xác định mục tiêu từng bài học cần căn cứ trên mục tiêu của môn Tiếng Việt ở 3 nội dung: kĩ năng, kiến thức, thái độ, đó là:

Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy,cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

  • Tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh

Muốn quản lý tốt việc thực hiện kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học, Hiệu trưởng phải nắm vững chương trình các phân môn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quán triệt cho giáo viên phải tuân thủ một cách nghiêm túc, không được tùy tiện thay đổi, làm sai lệch chương trình. quản lý việc thực hiện chương trình môn học là quản lý việc dạy đúng, dạy đủ các phân môn theo yêu cầu quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nếu ví chương trình dạy học là “bản thiết kế” của một công trình, thì hoạt động giảng dạy của giáo viên là sự “thi công”, còn người hiệu trưởng là “tổng công trình sư” điều khiển sự thi công sao cho đúng bản thiết kế. Để tổ chức tốt việc thực hiện kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực của học sinh, Hiệu trưởng nhà trường phải chú ý đến các nội dung sau:

  • Tổ chức cho giáo viên dạy môn Tiếng Việt đúng theo chương trình dạy học đã được qui đinh.
  • Tổ chức cho giáo viên dạy đủ các phân môn theo yêu cầu quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở và Phòng GD & ĐT.
  • Tổ chức thực hiện mục tiêu từng bài học cần căn cứ trên mục tiêu của môn Tiếng Việt ở 3 nội dung: kĩ năng, kiến thức, thái độ và hướng tới hình thành năng lực đọc, năng lực nghe, năng lực nói và năng lực viết môn tiếng Việt cho học sinh tiểu học.
  • Tổ chức việc triển khai các phương pháp dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực phù hợp với chương trình dạy học của bậc tiểu học
  • Tổ chức các hình thức dạy học môn Tiếng Việt theo tiếp cận năng lực phù hợp với chương trình dạy học ở bậc tiểu học.

Đảm bảo thực hiện đúng, đủ phân phối chương trình về mặt số tiết, về thời gian, về trình tự; nghiêm cấm việc cắt xén chương trình dạy học môn tiếng Việt trong chương trình đào tạo tổng thể của bậc tiểu học.

  • Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy của giáo viên hiệu quả đòi hỏi Hiệu trưởng cần phải thực hiện các nội dung sau:

  • Quản lý thực hiện chương trình dạy môn tiếng Việt bậc tiểu học theo tiếp cận năng lực học sinh

Hiệu trưởng trưởng tiểu học cần chỉ đạo cho giáo viên nghiên cứu kỹ chương trình, kế hoạch dạy học môn tiếng Việt, sự điều chỉnh hàng năm của Bộ giáo dục và Đào tạo về chương trình này. Trong đó nghiên cứu kỹ các vấn đề như mục tiêu giáo dục, mục tiêu môn học, nội dung chương trình, thời lượng học tập, thời gian thực hiện, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá đối với môn tiếng Việt, nội dung dạy học về các vấn đề của địa phương cũng cần được nghiên cứu kỹ…

Đồng thời tổ chức cho giáo viên nghiên cứu kỹ sách giáo khoa môn Tiếng Việt ở khối lớp mình phụ trách, hiểu được ý đồ của người viết trong từng bài, các vấn đề tích hợp, xác định kiến thức trọng tâm, các kỹ năng, xác định phương pháp dạy trong từng phân môn.

  • Quản lý giờ lên lớp của giáo viên và học sinh

Quản lý giờ lên lớp đối với môn tiếng Việt là biện pháp quản lý trực tiếp của hiệu trưởng. Hiệu trưởng cần xây dựng thời khoá biểu một cách khoa học hợp lí để quản lý giờ lên lớp – thời khoá biểu có vai trò duy trì nền nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học trong ngày, trong tuần, điều tiết giờ lên lớp của giáo viên môn tiếng Việt.

Ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn các tổ cần dự giờ đủ và vượt quy định nhằm nắm bắt tình hình lên lớp của giáo viên, trên cơ sở tiêu chuẩn đánh giá một giờ dạy mà góp ý rút kinh nghiệm cho giáo viên dạy môn tiếng Việt.

  • Quản lý thiết kế giáo án và chuẩn bị cho giờ lên lớp của môn tiếng Việt

Trên cơ sở hướng dẫn của Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường tiểu học cần chỉ đạo giáo viên soạn bài đúng mẫu, đúng những yêu cầu của đổi mới cách dạy, cách học, đúng đặc trưng phân môn.

Tất cả các dạng bài, kiểu bài cần được soạn mẫu, được giảng thử và rút kinh nghiệm.

Soạn bài là khâu chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên cho giờ lên lớp. Tuy không thể dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của giáo viên. Nó thể hiện sự đầu tư suy nghĩ, lựa chọn của giáo viên về nội dung, phương pháp, hình thức, quy trình lên lớp phù hợp với đối tượng học sinh và phù hợp với chương trình. Việc soạn bài còn là sự chuẩn bị các thiết bị dạy học trước giờ lên lớp.

Để việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của giáo viên môn tiếng Việt được thực hiện theo một kế hoạch đồng bộ và có hiệu quả, hiệu trưởng cần hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch bài dạy, chỉ đạo tổ chuyên môn trao đổi phương pháp giảng dạy từng bài, đặc biệt là đối với những bài khó, xác định và bổ sung tư liệu cho bài giảng, những điều kiện vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học đảm bảo cho giờ dạy đạt kết quả cao. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Để quản lý tốt việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp môn tiếng Việt, Hiệu trưởng phải chú ý tới một số công việc cụ thể sau:

Hướng dẫn các quy định và yêu cầu về soạn bài và chuẩn bị đồ dùng dạy học.

Cung cấp tài liệu phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, phương tiện phục vụ giảng dạy. Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài. Kế hoạch này căn cứ vào phân phối chương trình, bảo đảm sự thống nhất chung trong toàn trường.

Hướng dẫn giáo viên sử dụng sách giáo khoa, sách giáo viên, tập bài soạn mẫu (nếu có) trong soạn bài. Hướng dẫn các tổ chuyên môn thống nhất nội dung và hình thức soạn bài, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức lớp học.

Đưa việc lập kế hoạch bài dạy, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên vào nề nếp, nghiêm túc và đảm bảo chất lượng;

Khuyến khích tính sáng tạo của giáo viên. Tổ chức, chỉ đạo chuyên môn kiểm tra việc soạn giáo án và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên.

Phân công trách nhiệm cụ thể cho tổ trưởng chuyên môn, cho khối trưởng trong việc kiểm tra theo dõi, nắm tình hình soạn bài của giáo viên.

Việc kiểm tra này có thể tiến hành thường xuyên theo lịch định trước, hoặc có thể đột xuất. Đặc biệt, chú ý đến việc đổi mới phương pháp, thông qua việc soạn bài. Việc kiểm tra luôn gắn liền với việc nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm, đề xuất những biện pháp điều chỉnh, cải tiến phù hợp với xu thế dạy học hiện đại.

  • Quản lý việc tổ chức và hướng dẫn học sinh học tập

Hoạt động dạy học ở trường phổ thông là hoạt động cơ bản được thực hiện chủ yếu bằng giờ dạy trên lớp với những giờ lên lớp và hệ thống bài học. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học môn tiếng Việt.Vì vậy ,cả Hiệu trưởng và giáo viên phải tập trung mọi cố gắng để nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp.

Nhiệm vụ cơ bản của giáo viên khi lên lớp là thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo bản thiết kế giờ lên lớp. Sau khi lên lớp, giáo viên căn cứ vào giáo án, tự đánh giá và tự rút kinh nghiệm về kết quả của tiết học.

Để quản lý tốt giờ lên lớp của giáo viên, Hiệu trưởng cần quán triệt quan điểm chỉ đạo là: Tạo khả năng điều kiện để giáo viên lên lớp có hiệu quả và cùng với người giúp việc tìm mọi biện pháp tác động càng trực tiếp càng tốt đến giờ lên lớp của giáo viên. Quan tâm đến giáo viên mới vào nghề bằng cách phân công giáo viên giỏi, có kinh nghiệm giúp đỡ để uốn nắn kịp thời những sai lệch trong dạy học, hướng dẫn về nghiệp vụ sư phạm, phương pháp dạy học. Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp để hướng đích đối với các loại giờ lên lớp, từng bước nâng cao chất lượng toàn diện.

  • Quản lý hoạt động học của học sinh tiểu học khi học môn tiếng Việt

Hoạt động học tập của học sinh là hoạt động đồng thời với hoạt động giảng dạy của giáo viên. Quản lý hoạt động học của học sinh rất quan trọng để tạo ý thức, động cơ đúng đắn trong học tập.

Hiệu trưởng căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường thống nhất yêu cầu và biện pháp giáo dục tư tưởng, thái độ và động cơ học tập của học sinh trong tất cả giáo viên và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Giáo dục tinh thần và thái độ học tập phải được cụ thể hoá trong nội quy nhà trường để học sinh rèn luyện thường xuyên, thành những thói quen tự giác. Thực tiễn, nội dung quản lý hoạt động học của học sinh, hiệu trưởng tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

Xây dựng và chỉ đạo nền nếp học tập: Đó là những quy định về tinh thần, thái độ học tập: chăm chỉ, chuyên cần, học bài làm bài đầy đủ, tham gia các hoạt động ngoài giờ của môn học; tổ chức học tập ở trường, ở nhà; sử dụng, bảo vệ và chuẩn bị đồ dùng học tập, khen thưởng và kỷ luật trong việc chấp hành nền nếp.

Hàng tháng Hiệu trưởng thu thập tình hình, phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh theo các mặt: tình hình thực hiện nền nếp học tập, tinh thần thái độ đối với học tập, sự chuyên cần, kỷ luật trong học tập; kết quả học tập các môn học về điểm số, tình hình kiểm tra, nhận xét, đánh giá của giáo viên về học tập của học sinh, chú ý đến kết quả học tập của hai đối tượng học sinh kém và giỏi. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng giáo dục để quản lý hoạt động học của học sinh, đồng thời phát huy vai trò làm chủ của học sinh trong hoạt động học tập, bao gồm: tổ chức sự phối hợp gắn với giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm lớp với tổ chức đoàn thành niên, gia đình học sinh để quản lý được chặt chẽ hoạt động học tập của học sinh từ trường, lớp đến gia đình; đề cao vai trò của tổ chức đoàn thành niên, thông qua đoàn thanh niên phát huy vai trò làm chủ tập thể của học sinh, để học sinh tự giác, tích cực tự quản các hoạt động học tập.

  • Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học

Kiểm tra, đánh giá được tiến hành trong cả quá trình quản lý hoạt động dạy của nhà trường. Kiểm tra, đánh giá có thể diễn ra trong một thời điểm nhất định nào đó hay trong cả hệ thống. Kiểm tra thường đi liền với đánh giá. Chỉ có thông qua kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ mới có thể thu nhận được thông tin đầy đủ, chính xác từ đó hiệu trưởng mới có những quyết định chính xác, kịp thời, mới đảm bảo thực hiện kế hoạch và mục tiêu của nhà trường.

Những yêu cầu và nội dung cụ thể của kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy đó là các quy định, các tiêu chuẩn mang tính pháp quy, chế độ kiểm tra nằm trong kế hoạch chung của năm học, thông qua hoạt động giảng dạy của nhà trường, của tổ chuyên môn.

Trong kiểm tra, đánh giá tránh nhầm giữa kiểm tra, đánh giá một công việc cụ thể với đánh giá về một con người cụ thể. Cần tôn trọng những cá tính nhưng phải đảm bảo nguyên tắc, tiến hành đầy đủ thủ tục về hành chính, có các quyết định kiểm tra ghi chép đầy đủ hồ sơ biên bản. Qua đó so sánh kết quả của từng thời gian nhất định để đánh giá, cũng có thể từ kết luận đó có kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng… khắc phục tồn tại của chính cá nhân được kiểm tra cũng như kế hoạch quản lý, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quá trình quản lý.

Hiệu trưởng cần phải quản lý công tác kiểm tra của giáo viên đối với học sinh để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh và kết quả giảng dạy của giáo viên. Một số biện pháp quản lý việc kiểm tra, đánh giá học sinh: Quản lý kế hoạch kiểm tra của giáo viên; Quản lý bài kiểm tra học kì bằng đề chung; Quán triệt cho giáo viên về nội dung kiểm tra là kiến thức chuẩn, cơ bản đồng thời có sự phân hóa đối tượng học sinh; hình thức kiểm tra phải đa dạng; Thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá xếp loại học kì và năm học cho học sinh và phụ huynh; Xây dựng mối quan hệ thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình thông qua việc tổ chức các cuộc họp giữa nhà trường với phụ huynh có con em học sinh yếu, kém.

  • Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học

Hiệu quả giảng dạy phụ thuộc một phần vào phương tiện và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Các yếu tố về phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy tuy không trực tiếp làm thay đổi quá trình dạy học của thầy và nhận thức học tập của học sinh, song nó rất quan trọng vì chúng tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy đạt hiệu quả. quản lý tốt các phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy sẽ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên.

Đối với dạy học Tiếng Việt, trong nhà trường, ngoài sách giáo khoa cần làm phong phú hoá các loại sách đọc thêm cho các em. Hiệu trưởng, tổ bộ môn cần chỉ đạo sử dụng sách đọc thêm là những tác phẩm với các chủ đề phản ánh cuộc sống, văn hoá, tinh thần của người dân Việt Nam. Bởi vì những tác phẩm đó không chỉ mang lại cho các em những hiểu biết về cuộc sống mà còn là nguồn động viên thúc giục các em học tốt môn Tiếng Việt.

Thiết bị dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất mà giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh. Nhờ có thiết bị dạy học mà học sinh có thể được nghe, được nói tiếng Việt chính xác. Thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu rõ, hiểu sâu từ ngữ và những khái niệm trừu tượng. Đó là hệ thống tranh ảnh, mô hình, mẫu vật…

Quản lý thiết bị dạy học là quản lý việc đầu tư thiết bị phù hợp với nội dung chương trình, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; quản lý việc bảo quản và sử dụng thiết bị một cách hiệu quả; quản lý việc tự tạo và sử dụng đồ dùng dạy học trong đội ngũ giáo viên. Như vậy, để quản lý tốt phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy hiệu trưởng cần đảm bảo cho giáo viên có đủ phương tiện giảng dạy bằng việc khai thác triệt để các nguồn cung cấp và hàng năm cần có kế hoạch mua sắm, bổ sung trang thiết bị dạy học; đồng thời tăng cường tổ chức khai thác, sử dụng các phương tiện phục vụ cho công tác giảng dạy. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Để khai thác một cách triệt để các phương tiện và điều kiện hỗ trợ giảng dạy, hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn nghiên cứu chương trình giảng dạy, nắm được số tiết của từng phân môn môn Tiếng Việt, từng khối lớp cần có thiết bị, đồ dùng dạy học và đối chiếu với các thiết bị mà nhà trường hiện có; tổ chức giới thiệu và hướng dẫn cho giáo viên kĩ thuật sử dụng những trang thiết bị hiện có của nhà trường. Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức các chuyên đề về sử dụng các phương tiện dạy học, thi sử dụng đồ dùng dạy học. Việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên phải được kiểm tra, đánh giá và có hình thức khen thưởng kịp thời.

1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực

1.3.1. Phẩm chất, năng lực của hiệu trưởng Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Điều 16 Luật Giáo dục khẳng định vai trò của cán bộ quản lý: “Cán bộ quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục. Cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phấm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân”. Muốn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình đòi hỏi người hiệu trưởng cần phải có những phẩm chất và năng lực sau đây: Năng lực sư phạm, năng lực quản lý và năng lực giao tiếp như: Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt; Nắm vững chương trình và phương pháp giảng dạy, có khả năng tự học, tự bồi dưỡng vươn lên; Đã kinh qua công tác chủ nhiệm và công tác đoàn thể; Có năng lực phân tích các hoạt động giáo dục; Có năng lực tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học giáo dục; Có khả năng kiểm tra công tác chuyên môn, quản lý công tác hành chánh, giao tiếp và phát triển các kĩ năng giao tiếp; Có khả năng hoạch định kế hoạch tương lai cho tập thể, cho cá nhân; Có sự nhạy cảm về công tác tổ chức quản lý. Để đáp ứng với xu thế đổi mới trong giáo dục hiện nay, người hiệu trưởng phải có khả năng xử lí thông tin; phải xây dựng mạng lưới các quan hệ, có giao tiếp tốt, phản hồi nhanh; người hiệu trưởng phải biết thuyết phục hơn ra lệnh, biết quyết đoán, trung thực và liêm khiết, biết tư duy sáng tạo và hành động hiệu quả.

1.3.2. Đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Đầu tiên phải kể đến nhận thức và tình cảm, thái độ của người giáo viên về trách nhiệm giảng dạy. Khi người quản lý quán triệt tốt vấn đề tư tưởng cho đội ngũ giáo viên thì họ sẽ chấp hành sự phân công lao động của tổ chức, đồng thời giáo viên sẽ có thái độ tích cực nỗ lực phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp. Tiếp đến là phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn của giáo viên. Người giáo viên tâm huyết với nghề, yêu thương học sinh sẽ giúp họ vượt qua khó khăn, nỗ lực tìm tòi phương pháp tốt nhất để giáo dục học sinh có hiệu quả. Người giáo viên có kiến thức chuyên môn vững vàng và nắm vững các kĩ năng dạy học thành thạo sẽ tạo được uy tín trước học sinh, đồng nghiệp và phụ huynh. Đức và tài của người giáo viên là 2 nội dung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên phẩm chất, nhân cách của người giáo viên.

Ngoài ra hoàn cảnh cá nhân, gia đình, thói quen sinh hoạt cũng có nhiều ảnh hưởng đến hoạt động giảng dạy của giáo viên. Đó là điều mà hiệu trưởng cần lưu ý quan tâm trong quản lý. Như vậy, đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định đến chất lượng giáo dục của nhà trường, nên cần phải đảm bảo giáo viên đủ về số lượng và đồng đều về chất lượng. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên hiện nay còn có những hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học, về ý thức và khả năng đổi mới phương pháp dạy học, sự say mê nâng cao hiểu biết và tay nghề, trình độ sử dụng thiết bị dạy học. Trước tình hình trên, để quản lý có hiệu quả hoạt động dạy học, nâng cao chất lượng toàn diện, người hiệu trưởng cần có những biện pháp trước mắt và lâu dài để xây dựng đội ngũ. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng, gắn bó với nhà trường là nhiệm vụ quan trọng của hiệu trưởng.

1.3.3. Cơ chế phối hợp giữa Nhà trường – gia đình và xã hội

Việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố không thể thiếu trong quá trình giáo dục cũng như trong việc dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh thì nó càng trở nên quan trọng. Bởi vì, chỉ có sự phối hợp tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội mới tạo được một môi trường giáo dục tốt nhất cho học sinh, tạo điều kiện tốt nhất để phát huy và nâng cao hiệu quả giáo dục. Làm tốt vấn đề này, chúng ta mới có thể khắc phục được tình trạng coi công tác giáo dục là việc riêng của ngành giáo dục như nhận định trong “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2019-2026” của Bộ GD&ĐT khi đánh giá những yếu kém của giáo dục hiện nay: “…Quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” của Đảng và Nhà nước chưa được nhận thức đầy đủ và thực sự chỉ đạo hành động trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Giáo dục vẫn được xem như là công việc riêng của ngành giáo dục; chưa tạo ra được sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội và ngành giáo dục để phát triển sự nghiệp giáo dục; việc kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội chưa được quan tâm đúng mức.”

Việc xây dựng cho được một cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và xã hội là một yêu cầu cấp thiết để phát triển sự nghiệp giáo dục tại địa phương cũng như để tạo được một môi trường học môn Tiếng Việt lành mạnh, rộng khắp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

Dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là quá trình giáo viên tiến hành các thao tác có tổ chức, có định hướng nhằm giúp học sinh tiểu học chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng, phát triển các năng lực nghe, năng lực nói, năng lực đọc đọc và năng lực viết về tiếng Việt trong chương trình môn học này ở bậc tiểu học.

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (giáo viên, cán bộ phục vụ và học sinh) nhằm hình thành các năng lực đọc, năng lực nghe, năng lực nói và năng lực viết môn tiếng Việt cho học sinh tiểu học.

Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học là: 1) Quản lý lập kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt; 2) Quản lý việc tổ chức thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt; 3) Quản lý hoạt động dạy môn Tiếng Việt của giáo viên; 4) Quản lý hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh; 5) quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên và quản lý việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; 6) Quản lý các phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tiếng Việt. Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

One thought on “Luận văn: Quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *