Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực nghiệm sư phạm Tổ chức Dạy học trải nghiệm trong môn Giáo dục công dân cấp trung học cơ sở ở Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Kế hoạch thực nghiệm sư phạm
4.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm
Luận án tiến hành thực nghiệm sư phạm với mục đích:
- “Kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đã đưa ra và tính khả thi của các biện pháp sư phạm đề xuất trong chương 3.
- Khẳng định cơ sở khoa học của luận án, cũng như khẳng định tính tích cực của việc phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học giáo dục công dân.
Kết quả thực nghiệm là cơ sở cho những kết luận khoa học, kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả việc tổ chức Dạy học trải nghiệm trong môn Giáo dục công dân ở trường Trung học cơ sở tại Hà Nội đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới giáo dục”.
4.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thực nghiệm sư phạm: xác định mục đích thực nghiệm, loại hình, nội dung, phương pháp, đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm; Thiết kế kế hoạch bài dạy thực nghiệm và công cụ kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm.
- Tổ chức thực nghiệm: Thực nghiệm các biện pháp nêu ra trong chương
- Đánh giá kết quả thực nghiệm: “Mục đích là đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đưa ra. Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận và khuyến nghị để tổ chức triển khai kết quả nghiên cứu một cách hiệu quả”.
4.1.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- Đối tượng thực nghiệm sư phạm
Về phía giáo viên: Chúng tôi cũng rất chú trọng việc lựa chọn GV tham gia giảng dạy cho các lớp thực nghiệm và đối chứng. Những GV này phải đủ các điều kiện như: “năng lực chuyên môn vững (cả về kiến thức và nghiệp vụ sư phạm); có tinh thần trách nhiệm cao trong giảng dạy, nhiệt tình ủng hộ việc vận dụng đổi mới các phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học; đã có kinh nghiệm giảng dạy ít nhất từ 3 năm trở lên trên địa bàn Hà Nội”.
Về phía học sinh: Đối tượng mà tác giả chọn là HS các lớp 6, lớp 7 ở trường Trung học cơ sở Trần Duy Hưng thuộc quận Cầu Giấy và trường Trung học cơ sở Chương Dương thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trình độ đầu vào của các HS ở lớp TN và lớp ĐC phải tương đương nhau và phải ở cùng một trường.
- Địa bàn thực nghiệm sư phạm
Luận án lựa chọn địa bàn thực nghiệm tại 2 trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể:
- Trường Trung học cơ sở Trần Duy Hưng – Cầu Giấy, Hà Nội: lựa chọn thực nghiệm lần 1 tại lớp 6A1 với 45 HS và đối chứng tại 6A2 với 43 HS và lần 2 tại lớp 7A1 gồm 45 HS và đối chứng tại lớp 7A2 gồm 45.
- Trường Trung học cơ sở Chương Dương– Hoàn Kiếm, Hà Nội: lựa chọn thực nghiệm lần 1 tại lớp 6A1 với 45 HS và đối chứng tại 6A2 với 42 HS và lần 2 tại lớp 7A1 gồm 43 HS và đối chứng tại lớp 7A2 gồm 42.
4.1.4. Nội dung thực nghiệm
Với lớp 6, thực nghiệm Dạy học trải nghiệm chủ đề: “Tự hào truyền thống gia đình, dòng họ”.
- Tiết 1: Tổ chức Dạy học trải nghiệm trên lớp thông qua các phương pháp để cho HS có cơ hội trải nghiệm như tổ chức trò chơi, thảo luận, xử lí tình huống
- Tiết 2: Tổ chức cho HS học tập trải nghiệm thăm quan làng nghề gốm Bát Tràng
- Tiết 3: Tổ chức cho HS báo cáo kết quả thăm quan học tập bằng sản phẩm.
Với lớp 7, thực nghiệm Dạy học trải nghiệm chủ đề “Bảo tồn di sản văn hóa” qua dự án “Tìm hiểu và tuyên truyền bảo vệ di sản văn hóa”
4.2. Phương pháp và quy trình thực nghiệm sư phạm Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
4.2.1. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Bám sát cơ sở lí luận mà luận án đã nêu, tác giả đã lựa chọn những bài học có “nội dung kiến thức phù hợp để tiến hành thực nghiệm sư phạm một số biện pháp dạy học theo hướng trải nghiệm cho HS trong dạy học Giáo dục công dân. Để có kết quả khách quan, chính xác, đối với các tiết dạy thực nghiệm, tác giả đã chuẩn bị KHBD cẩn thận cũng như vận dụng linh hoạt các phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau sao cho bài học có kết quả tốt nhất”.
Tác giả dựa vào 2 cơ sở để đánh giá tính khả thi của các biện pháp sư phạm được thực nghiệm. Đó là:
Thứ nhất, về định lượng: mỗi lần dạy thực nghiệm, tác giả đều cho HS làm các bài kiểm tra 15 phút dưới dạng câu hỏi tự luận kết hợp hoặc câu hỏi trắc nghiệm khách quan trước và sau khi dạy thực nghiệm. Việc kiểm tra trước thực nghiệm để khảo sát và đảm bảo trình độ và năng lực của HS ở 2 lớp lựa chọn ban đầu tương đương nhau. Bài kiểm tra được đánh giá theo các mức độ tốt, khá, đạt và chưa đạt và tính trên thang điểm 10 như sau:
- Bảng 4.1. Thang điểm đánh giá bài kiểm tra [34]
Thứ hai, về định tính: Cùng với đánh giá định lượng, trong quá trình thực nghiệm tác giả chú ý đến đánh giá định tính thông qua quan sát ý thức, thái độ của HS khi tham gia hoạt động, biểu hiện cảm xúc, mức độ hào hứng và tích cực của các em vào các công việc, các nhiệm vụ học tập trải nghiệm.
4.2.2. Quy trình thực nghiệm sư phạm
4.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị thực nghiệm Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
Công tác chuẩn bị cho thực nghiệm bao gồm các công việc cụ thể như sau: liên hệ với Ban Giám hiệu và GV của 2 trường Trung học cơ sở lựa chọn để thực nghiệm; lựa chọn bài dạy phù hợp; chuẩn bị thiết bị, phương tiện dạy học. Các công việc này đã trao đổi với GV, tổ trưởng chuyên môn và lãnh đạo Nhà trường để đưa vào trong kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn từ đầu năm học.
Tiến hành trao đổi, thảo luận kĩ với các GV dạy thực nghiệm để GV hiểu đúng ý tưởng để đạt được kết quả thực nghiệm chính xác, đáng tin cậy nhất. Với các lớp đối chứng, GV tiến hành giảng dạy bình thường chưa có sự tác động của các biện pháp sư phạm.
4.2.1.2. Giai đoạn triển khai thực nghiệm
- Đánh giá năng lực đầu vào của HS các lớp ĐC và TN qua kiểm tra
Trước khi tiến hành TN, tác giả tổ chức so sánh đầu vào của lớp TN và lớp ĐC thông qua bài kiểm tra. Việc làm này giúp đảm bảo chính xác rằng các lớp được lựa chọn để TN và ĐC có trình độ ban đầu tương đương nhau, nếu có chênh lệch phải là không đáng kể. Nếu kết quả ở hai lớp được lựa chọn mà có sự chênh lệch cao về kết quả kiểm tra đầu vào thì cần lựa chọn lại lớp TN và lớp ĐC.
- Tiến hành thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm 2 vòng và tiến hành ở 2 trường như đã nêu trên.
Vòng 1: Thực nghiệm dạy học chủ đề “Tự hào về truyền thống gia đình dòng họ” trong chương trình môn Giáo dục công dân lớp 6. cùng với GV dạy thực nghiệm xây dựng 2 kiểu KHBD cho Bài 1: “Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ (GDCD 6)”
- KHBD1: KHBD được thực hiện bình thường, chưa áp dụng các biện pháp mà luận án đề xuất.
- KHBD 2: KHBD thực nghiệm thiết kế theo hướng vận dụng các biện pháp Dạy học trải nghiệm được đề xuất trong luận án.
Có thể thấy những điểm khác nhau trong KHBD ở lớp TN và KHBD ở lớp đối chứng qua bảng so sánh sau:
Vòng 2: Thực nghiệm dạy học chủ đề “Bảo tồn di sản văn hóa” trong chương trình môn Giáo dục công dân lớp 7. Chúng tôi cũng xây dựng 2 KHBD cho chủ đề này theo 2 cách khác nhau. Với KHBD thực nghiệm, chúng tôi tổ chức dạy học dưới hình thức dự án học tập, với KHBD đối chứng chúng tôi xây dựng theo các hoạt động dạy học như trong sách giáo khoa.
- Đánh giá: Thông qua bài kiểm tra để đánh giá kết quả học tập đầu ra của HS sau khi hoàn thành TN.
- Tổng kết: Dựa vào kết quả TN vòng 1 và vòng 2, rút ra kết luận.
4.3. Phân tích kết quả thực nghiệm Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- So sánh kết quả kiểm tra trước và sau
- So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC.
Luận án sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2018 để phân tích số liệu, đưa ra các so sánh, đối chiếu giữa lớp TN và lớp ĐC.
Sử dụng phép thống kê mô tả để phân tích kết quả thông qua các tham số đặc trưng như: giá trị trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, phép kiểm chứng T-test độc lập.
4.3.1. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 1
Phân tích kết quả kiểm tra của lớp TN và ĐC trước TN sư phạm vòng 1
- Bảng 4.2. Kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 trước TN vòng 1
- Bảng 4.3. Xếp loại kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 trước TN
Kết quả từ bảng số liệu trên cho thấy mức điểm của HS ở lớp TN1 và lớp ĐC1 là tương đương nhau, có sự chênh lệch nhưng không đáng kể:
- Loại tốt: Lớp TN1 đạt 5,6% và ĐC1 đạt 5,9%, độ chênh lệch 0,3%
- Loại khá: Lớp TN1 đạt 45,6%, lớp ĐC1 đạt 47,1%, độ chênh lệch là 1,5%.
- Loại đạt: Lớp TN1 là 44,4%, lớp ĐC1 là 42,4%, độ chênh lệch là 2%.
- Loại chưa đạt: Lớp TN1 là 4,4%, lớp ĐC1 là 4,7%, độ chênh lệch 0,2%
Tỉ lệ điểm của hai lớp TN1 và ĐC1 trước TN sư phạm vòng 1 được thể hiện qua biểu đồ sau: (Hình 4.1)
- Hình 4.1. Biểu đồ kết quả điểm kiểm tra trước TN vòng 1 của lớp TN1 và ĐC1
Để có căn cứ chính xác về độ tương đồng giữa 2 lớp TN1 và ĐC1, tác giả tiếp tục tiến hành phân tích phương sai và giá trị trung bình kết quả điểm kiểm tra ở 2 lớp này như sau: Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- Bảng 4.4. Phân tích phương sai kết quả của lớp TN1 và lớp ĐC1 trước TN vòng 1
- Bảng 4.5. Giá trị trung bình kiểm tra trước TN vòng 1 của lớp TN1 và lớp ĐC1
“Kết quả kiểm định bằng ANOVA ở bảng 4.4 và z-Test: Two Sample for Means ở Bảng 4.5 cho thấy:
Kết quả điểm trung bình của lớp TN1 và lớp ĐC1 là tương đương nhau (Ở lớp TN1 là 48, ở lớp ĐC1 là 6.52. Kết quả đó chứng tỏ trình độ của lớp TN1 và lớp ĐC1 là tương đương nhau, ít có sự khác biệt. Do vậy, việc lựa chọn hai lớp này để tiến hành thực nghiệm là phù hợp, đảm bảo yêu cầu đặt ra.
- Phân tích kết quả kiểm tra của lớp TN và ĐC trước TN sư phạm vòng 1
Sau khi lựa chọn được lớp TN và lớp ĐC có sự tương đồng nhau về trình độ ban đầu, tác giả đã tiến hành vận dụng các nguyên tắc và biện pháp tổ chức dạy học đã đề xuất vào dạy chủ đề “Tự hào về truyền thống gia đình, dòng họ” cho 90 HS lớp 2 lớp TN1, và tiến hành bài dạy bằng phương pháp truyền thống, chưa có trải nghiệm cho 85 HS lớp 2 ĐC1”. Kết quả TN như sau:
- Bảng 4.6. Kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 sau TN vòng 1
Bảng 4.6 cho thấy tần suất điểm số của HS ở lớp TN1 và lớp ĐC1. Từ đó, tác giả minh họa qua đồ thị tần suất kết quả kiểm tra của hai lớp này:
- Hình 4.2. Đồ thị kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 sau TN vòng 1
Đồ thị trên cho thấy, “đường tần suất của lớp TN1 nằm phía trên, bên phải đường tần suất của lớp ĐC1”. Cũng từ số liệu ở Bảng 4.6, tác giả xếp loại điểm tốt, khá, đạt, chưa đạt sau TN sư phạm vòng 1 như sau:
- Bảng 4.7. Xếp loại kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 sau TN sư phạm vòng 1
Kết quả trên được minh họa trực quan qua đồ thị sau:
- Hình 4.3. Xếp loại kết quả kiểm tra của lớp TN1 và lớp ĐC1 sau TN sư phạm vòng 1
“Số liệu trên biểu đồ cho thấy kết quả kiểm tra của lớp TN1 cao hơn lớp ĐC1.
Cụ thể là: Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- Loại tốt: Lớp TN1 đạt 16,67%, lớp ĐC1 đạt 5,88%, độ chênh lệch là 10,79%
- Loại khá: Lớp TN1 đạt 57,78%, lớp ĐC1 đạt 49,41%, độ chênh lệch là 8,37%.
- Loại đạt: Ở lớp TN1, do kết quả kiểm tra đạt loại khá, giỏi tăng nên kết quả kiểm tra loại trung bình giảm xuống còn 25,56%, trong khi lớp ĐC1 vẫn là 40,0%, lớp TN1 thấp hơn lớp ĐC1 là 14,44%.
- Loại chưa đạt: Lớp TN1 không có HS chưa đạt, lớp ĐC1 chiếm tỉ lệ là 4,71%.
Để đánh giá điểm số của các lớp TN1 và ĐC1 sau TN sư phạm vòng 1 theo giá trị các tham số, tác giả đã xử lý kết quả kiểm tra bằng phần mềm Microsoft Excel 2018”. Các tham số đặc trưng của mẫu được thể hiện qua bảng sau:
- Bảng 4.8. Kết quả tham số thống kê của lớp TN1 và lớp ĐC1 sau TN vòng 1
Qua Bảng 4.8 cho thấy xuất hiện sự khác nhau về giá trị trung bình của kết quả kiểm tra ở lớp TN1 và lớp ĐC1.
- Bảng 4.9. So sánh giá trị trung bình kết quả kiểm tra sau TN vòng 1
- Bảng 4.10. Phân tích phương sai kết quả kiểm tra sau TN vòng 1
So sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN1 vòng 1
Sau khi dạy học chủ đề “Tự hào truyền thống gia đình dòng họ” cho lớp TN1, tác giả thấy rằng, kết quả kiểm tra đầu ra của HS đã có sự tiến bộ rất rõ so với kết quả kiểm tra đầu vào. Cụ thể là:
- Bảng 4.11. So sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN1 vòng 1
- Hình 4.4. So sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN1 vòng 1
“Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN1 vòng 1 cho thấy:
- Loại tốt: Đầu vào đạt 5,56% nhưng đầu ra tăng lên 16,67%
- Loại khá: Đầu vào là 45,56% nhưng sau khi tác động thì đầu ra đã lên tới 57,78% tăng 12,22%.
- Loại đạt: Đầu vào là 44,44% nhưng sau tác động đầu ra chỉ còn 25,56%, giảm hơn so với đầu vào 18,88%.
- Loại chưa đạt: Đầu vào là 4,44% nhưng sau tác động, đầu ra không còn HS nào chưa đạt”.
4.3.2. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm vòng 2 Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- Phân tích kết quả trước TN sư phạm vòng 2
Để kiểm tra trình độ đầu vào của lớp TN2 và lớp ĐC2 đảm bảo hai lớp được chọn có trình độ ban đầu tương đương nhau, tác giả cũng tiến hành cho lớp làm bài kiểm tra và đánh giá như việc lựa chọn ở lớp TN1 và ĐC1. Kết quả thu được như sau:
- Bảng 4.12. Tần suất kết quả kiểm tra của lớp TN2 và lớp ĐC2 trước TN sư phạm
- Bảng 4.13. Bảng kết quả kiểm tra của lớp TN2 và lớp ĐC2 trước TN
Như vậy, kết quả qua bảng số liệu cho thấy tỉ lệ các mức độ điểm đầu vào ở 2 lớp TN2 và ĐC2 là gần như nhau, sự chênh lệch nhỏ không đáng kể, không làm ảnh hưởng đến kết quả của quá trình tác động trong thực nghiệm. Như vậy, việc lựa chọn lớp TN2 và ĐC2 đảm bảo yêu cầu đạt ra.
- Hình 4.5. Xếp loại kết quả kiểm tra của lớp TN2 và lớp ĐC2 trước TN
Qua biểu đồ cho thấy kết quả ban đầu tương đương nhau giữa lớp TN2 và ĐC2. Tác giả tiếp tục kiểm định giá trị trung bình và phân tích phương sai để đưa ra những nhận xét chính xác. Kết quả như sau:
- Bảng 4.14. Phân tích phương sai kết quả kiểm tra trước TN vòng 2 của lớp TN2 và lớp ĐC2
- Bảng 4.15. So sánh giá trị trung bình kết quả kiểm tra trước TN và vòng 2
Phân tích kết quả sau TN sư phạm vòng 2
Sau quá trình kiểm tra và phân tích kết quả để chắc chắn trình độ đầu vào tương đương của hai lớp TN2 và ĐC2, tác giả đã sử dụng nguyên tắc biện pháp tổ chức DHTN đối với chủ đề “Bảo tồn di sản văn hóa” cho 88 HS lớp TN2, đồng thời thực hiện bài dạy bình thường, chưa có vận dụng các biện pháp Dạy học trải nghiệm cho 87 HS lớp ĐC2 và thu được kết quả đầu ra như sau:
- Bảng 4.16. Phân phối tần suất kết quả kiểm tra của lớp TN2 và lớp ĐC2 sau TN sư phạm vòng 2
Kết quả từ Bảng 4.15 cho thấy tần suất điểm của lớp TN2 và lớp ĐC2. Qua đó, tác giả minh họa bằng đồ thị tần suất kết quả kiểm tra của hai lớp này như sau: Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
- Hình 4.6. Đồ thị tần suất kết quả kiểm tra TN vòng 2
Đồ thị trên cho thấy, đường tần suất điểm ở mức khá, giỏi của lớp TN2 nằm phía trên, bên phải đường tần suất của lớp ĐC2. Cũng từ số liệu ở Bảng 4.15, tác giả xếp loại điểm tốt, khá, đạt, chưa đạt sau TN sư phạm vòng 2 như sau:
- Bảng 4.17. Xếp loại kết quả kiểm tra sau TN sư phạm vòng 2
Tác giả minh chứng kết quả tỉ lệ điểm số của hai lớp TN2 và lớp ĐC2 sau TN sư phạm vòng 2 qua biểu đồ dưới đây:
- Hình 4.7. Xếp loại kết quả kiểm tra sau TN sư phạm vòng 2
“Biểu đồ cho thấy kết quả của lớp TN2 cao hơn hẳn so với lớp ĐC2. Cụ thể là:
- Loại tốt: Lớp TN2 đạt 13,64%, lớp ĐC2 đạt 5,75%, độ chênh lệch là 7,89%.
- Loại khá: Lớp TN2 đạt 48,86%, lớp ĐC2 đạt 41,38%, độ chênh lệch là 7,48%.
- Loại đạt: Ở lớp TN2, do kết quả kiểm tra đạt loại khá, tốt tăng nên kết quả kiểm tra loại đạt giảm xuống còn 37,5%, trong khi lớp ĐC2 vẫn là 49,43%, lớp TN2 thấp hơn lớp ĐC2 là 11,93%.
Loại chưa đạt: Lớp TN2 không còn HS chưa đạt, lớp ĐC2 chiếm 3,45%” Mô tả các tham số đặc trưng về kết quả TN vòng 2 thể hiện cụ thể qua bảng sau:
- Bảng 4.18. Tham số thống kê kết quả kiểm tra sau TN sư phạm vòng 2
- Bảng 4.19. So sánh giá trị trung bình kết quả kiểm tra sau TN vòng 2
- Bảng 4.20. Phân tích phương sai kết quả kiểm tra sau TN vòng 2
Các số liệu trên cho thấy: “sự khác nhau giữa các giá trị trung bình không xảy ra một cách ngẫu nhiên mà có được là do hiệu quả của việc sử dụng nguyên tắc và biện pháp tổ chức Dạy học trải nghiệm môn Giáo dục công dân đã được thực hiện đối với lớp TN2. Do đó, có thể khẳng định rằng: Sự tiến bộ trong học tập Giáo dục công dân của lớp TN2 thể hiện qua kết quả kiểm tra”.
- So sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN2 vòng 2
Tác giả so sánh, đối chiếu kết quả đầu vào và đầu ra trước và sau thực nghiệm của lớp TN2 và thu được kết quả qua bảng sau:
- Bảng 4.21. So sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN2 vòng 2
- Hình 4.8. Biểu đồ kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN2 vòng 2
“Bảng số liệu và biểu đồ so sánh kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của lớp TN2 vòng 2 cho thấy:
- Loại tốt: Đầu vào là 3,41% nhưng sau khi tác động thì đầu ra lên tới 13,64%, tăng 10,23%
- Loại khá: Đầu vào 40,9%, đầu ra là 48,86% tăng 7,96%
- Loại đạt: Đầu vào là 51,14% nhưng sau tác động đầu ra chỉ còn 37,5%, giảm hơn so với đầu vào 13,64%.
- Loại chưa đạt: Đầu vào là 4,55% nhưng sau tác động, đầu ra không còn HS chưa đạt”.
Các số liệu trên cho thấy rằng “sự khác biệt giữa các giá trị trung bình đầu vào và đầu ra của lớp TN2 là có ý nghĩa khoa học”. Điểm trung bình đầu ra cao hơn điểm trung bình đầu vào tức là tác động sư phạm trong lần TN2 là có hiệu quả tích cực. Điều đó khẳng định sự đúng đắn, hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp tổ chức Dạy học trải nghiệm hiệu quả.
Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với kết quả phân tích định tính thông qua quan sát quá trình tham gia các hoạt động của HS. Tác giả nhận thấy: Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
Ở bước chuẩn bị dự án: HS rất sôi nổi, hứng thú bàn luận về các chủ đề dự án và thống nhất lựa chọn dự án chung của lớp để thực hiện. Việc HS hào hứng tham gia thể hiện thái độ tích cực khi được tham gia học tập trải nghiệm.
Ở giai đoạn thực hiện dự án, HS tham gia rất tích cực và hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập đặt ra.
Ở giai đoạn báo cáo sản phẩm, HS báo cáo sản phẩm của nhóm mình đồng thời nhận xét, đánh giá sản phẩm của các nhóm khác rất sôi nổi. HS đã bước đầu biết tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
Ví dụ, nhóm 1 đã báo cáo sản phẩm của nhóm dưới hình thức 1 poster mang chủ đề “Việt Nam – Hành trình đến với các di sản văn hóa”. Trong báo cáo của mình, nhóm 1 đã tìm hiểu phần mềm Canvas, cách thiết kế tập san trên Canvas. Đồng thời nhóm đã tìm kiếm thông tin về các di sản văn hóa thông qua các nguồn Internet, thư viên của trường…Các em đã thiết kế tập sản với các nội dung chính khái niệm di sản văn hóa, phân loại di sản văn hóa, tầm quan trọng di sản văn hóa, giới thiệu một số di sản văn hóa tiêu biểu như: Vịnh Hạ Long, Tràng an – Ninh Bình; … với mỗi di sản văn hóa các em cung cấp cho người đọc thông tin chi tiết về di sản đó (hình ảnh, mốc sự kiện, hiện trạng…)
Nhóm 2 lại tổ chức buổi thuyết minh, báo cáo kết quả đánh giá mức độ quan tâm, nhận thức của HS về bảo tồn di sản văn hóa, quy định của pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa. Để chuẩn bị cho việc thu thập dữ liệu, các em đã tìm hiểu về việc xây dựng phiếu hỏi. Các em đã thiết kế phiếu hỏi trên google và có kiểm tra độ phù hợp của phiếu trước khi đi khảo sát đại trà. Để có phiếu hỏi ý kiến hợp lý, nhóm đã luôn chủ động trao đổi với GV để điều chỉnh phiếu cho phù hợp. Trên cơ sở tổng hợp phiếu thu thập được, nhóm đã tìm hiểu cách xử lý và phân tích số liệu khảo sát để tổng hợp và phân tích kết quả sau khảo sát, đưa ra nhận định khoa học về mức độ nhận thức của học sinh về bảo tồn di sản văn hóa cũng như những quy định pháp luật liên quan. Đây là cơ sở để nhóm đưa ra một số giải pháp hiệu quả với vai trò là người học.
Nhóm 3 sau khi báo cáo sản phẩm dự án của mình thông qua một porter tuyên truyền về các quy định của pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa. Nhóm đã tổ chức một “Góc pháp luật” để có một tổ tư vấn sẽ giải quyết các tình huống liên quan đến hành vi gây hại cho các di sản văn hóa. Đây hoàn toàn là sự sáng tạo của các thành viên trong nhóm. Cả lớp hào hứng tham gia trò chơi.
Nhóm 4 chọn trình bày sản phẩm dưới dạng diễn tiểu phẩm “Em – bảo vệ di sản văn hóa”. Các em rất sáng tạo trong ý tưởng và cách thực hiện khiến buổi báo cáo rất hấp dẫn
Tiểu kết chương 4 Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
Tác giả đã tiến hành thực nghiệm sự phạm tại 2 trường Trung học cơ sở Trần Duy Hưng, Cầu Giấy và trường Trung học cơ sở Chương Dương Hoàn Kiếm với tổng số 350 HS trong năm học 2022-2023 và 2023-2024. Qua TN đã rút ra được các kết luận sau:
“Từ kết quả thực nghiệm cùng ý kiến đánh giá của GV và HS cho thấy, việc vận dụng các nguyên tắc và biện pháp tổ chức Dạy học trải nghiệm trong môn Giáo dục công dân ở trường Trung học cơ sở mà luận án đã đề ra phù hợp với nội dung và thời lượng chương trình môn học. Đồng thời, việc tổ chức Dạy học trải nghiệm đã phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh, đem lại hiệu quả cao hơn trong dạy và học môn Giáo dục công dân.
Kết quả này thể hiện:
- Thứ nhất, HS tỏ rõ sự hứng thú, tích cực chủ động trong các giờ dạy thực nghiệm dưới sự hướng dẫn của GV
- Thứ hai, năng lực của HS được rèn luyện và đã thể hiện khá rõ nét.
- Thứ ba, tỷ lệ HS đạt tốt, khá sau bài kiểm tra của lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối chứng
- Thứ tư, GV tham gia thực nghiệm đều khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp thực nghiệm”.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
DHTN là một quan điểm dạy học định hướng cho giáo viên lựa chọn các hình thức và phương pháp dạy học gắn với bối cảnh thực tiễn, tạo cơ hội cho học sinh được trực tiếp tham gia, huy động kiến thức, kinh nghiệm, cảm xúc cá nhân để kiến tạo tri thức mới. Tổ chức Dạy học trải nghiệm là quá trình dạy học trong đó giáo viên căn cứ trên mục tiêu, nội dung môn học và điều kiện dạy học cụ thể để xây dựng kế hoạch, thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm nhằm khai thác tối đa kinh nghiệm, cảm xúc, vốn hiểu biết của học sinh trong học tập để nâng cao chất lượng dạy học.
DHTN có nhiều ưu thế hơn so với dạy học truyền thống đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Thông qua các hoạt động học tập trải nghiệm HS không chỉ học tập kiến thức mà còn có HS có cơ hội rèn luyện kĩ năng, phẩm chất. Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
Môn Giáo dục công dân cấp trung học có mục tiêu và nội dung dạy học phù hợp để tổ chức Dạy học trải nghiệm. Việc tổ chức Dạy học trải nghiệm trong môn Giáo dục công dân sẽ phát huy tính hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh hiểu và vận dụng được kiến thức môn học vào thực tiễn cuộc sống, thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh theo hướng tích cực góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, các năng lực chung và năng lực đặc thù cho học sinh.
Qua khảo sát thực trạng Dạy học trải nghiệm ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội cho thấy Hà Nội có nhiều điều kiện về kinh tế, văn hóa, trình độ của GV và HS phù hợp để tăng cường Dạy học trải nghiệm nhằm tối ưu hóa mục tiêu dạy học. Tuy nhiên, số GV thường xuyên tổ chức và tổ chức hiệu quả Dạy học trải nghiệm trong môn học không nhiều. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do còn hạn chế về hiểu biết và kĩ năng tổ chức Dạy học trải nghiệm cũng như tâm lí ngại đổi mới của GV.
DHTN trong môn giáo dục công dân có thể tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng trên lớp học và ngoài lớp học với những Hoạt động trải nghiệm phong phú như trải nghiệm cảm xúc, trải nghiệm hành động, trải nghiệm thực tiễn. Để nâng cao hiệu quả Dạy học trải nghiệm trong môn Giáo dục công dân, giáo viên cần xuất phát từ mục tiêu môn học, điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường, địa phương, trình độ và ý thức học tập của học sinh để xây dựng kế hoạch Dạy học trải nghiệm phù hợp, lựa chọn các hình thức và phương pháp Dạy học trải nghiệm gắn với đặc thù từng mạch nội dung của môn học, tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm theo chu trình: Trải nghiệm – Phân tích – Khái quát – Áp dụng.
2. KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
Đối với giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội
- Giáo viên cần tích cực, chủ động, tự học để nâng cao kiến thức về Dạy học trải nghiệm trong môn học
- Giáo viên cần phối hợp với các giáo viên trong bộ môn, trong tổ chuyên môn và nhà trường để xây dựng kế hoạch Dạy học trải nghiệm từ đầu năm học. Sau mỗi kì học, cần có đánh giá lại kiệu quả của kế hoạch và điều chỉnh cho các kì tiếp theo.
Đối với các nhà trường Trung học cơ sở ở Hà Nội
- Chú trọng xây dựng kế hoạch giáo dục cho từng kì học và cả năm. Thường xuyên họp tổ nhóm chuyên môn để tìm hiểu về Dạy học trải nghiệm trong các môn học nói chung và trong môn Giáo dục công dân nói riêng.
- Quan tâm, mời chuyên gia tổ chức các lớp tập huấn cho GV về kĩ năng xây dựng kế hoạch Dạy học trải nghiệm, thiết kế và tổ chức các Hoạt động trải nghiệm trong dạy học.
- Phối hợp với phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác để huy động sự tham gia của các lực lượng này trong tổ chức Dạy học trải nghiệm.
Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch DH trong tổ chuyên môn và kế hoạch chung của nhà trường, chú trọng tạo điều kiện khuyến khích GV tăng cường Dạy học trải nghiệm trong môn học.
- Tạo điều kiện hỗ trợ về cơ sở vật chất cho GV trong thực hiện kế hoạch Dạy học trải nghiệm trong môn học.
- Phối hợp với các cơ sở đào tạo GV lên kế hoạch bồi dưỡng cho GV trong các nhà trường Trung học cơ sở nhằm nâng cao kiến thức và kĩ năng tổ chức Dạy học trải nghiệm trong môn học. Luận văn: Thực nghiệm sư phạm Dạy học trải nghiệm môn GDCD.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Pingback: Luận văn: Biện pháp Tổ chức Dạy học trải nghiệm môn GDCD