Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp tại các Trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, để phát triển nhanh và bền vững đòi hỏi mỗi quốc gia phải ưu tiên hàng đầu đến phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước. Nước ta từ một nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, chuyển dịch sang cơ chế thị trường, với sự quản lý của nhà nước; trong giai đoạn hiện nay với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra nhanh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền kinh tế tri thức đang phát triển mạnh, có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn trên toàn quốc, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển khoa học công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có vị trí rất quan trọng trong chiến lược phát triển con người – nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khoá VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy và học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục & Đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước” [13]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [12]. Đồng thời Nghị quyết chỉ rõ “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy học ” [12].

Như vậy, Giáo dục và đào tạo là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai “ để đào tạo nên con người mới xã hội chủ nghĩa vừa hồng vừa chuyên” đáp ứng yêu cầu phát triển kịnh tế – xã hội thì phải nâng cao chất lượng giáo dục.

Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ chính trị cực kỳ quan trọng của ngành giáo dục nói chung của mỗi nhà trường nói riêng, chất lượng giáo dục phụ thuộc nhiều yếu tố.

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục là phải đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học trong mỗi nhà trường.

Trong mỗi nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo, quan trọng nhất và được đặt lên hàng đầu. Do đó, việc nâng cao chất lượng dạy học luôn được coi là nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của các nhà trường, đây chính là điều kiện để các nhà trường tồn tại và phát triển. Công tác quản lý hoat động dạy học là công việc được tiến hành liên tục, thường xuyên qua từng giờ dạy, qua mỗi học kỳ và từng năm học, đây là điều kiện quyết định để đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục, nên chất lượng giáo dục phổ thông nói chung và chất lượng giáo dục trung học cơ sở nói riêng đã có sự khởi sắc, ngành giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định. Trình độ chuyên môn, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh và giáo viên được nâng cao, chất lượng giáo dục từng bước được phát triển.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu trên, nhưng hệ thống giáo dục và đào tạo nước ta vẫn còn một số yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2020 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng  định:  Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém [14].

Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo vẫn chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo tương đối thấp so với yêu cầu, đặc biệt là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiêp, phương pháp giáo dục, việc tổ chức thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Quản lý giáo dục và đào tạo còn có mặt yếu kém. Để giải quyết triệt để yếu kém trên đòi hỏi chúng ta cần phải thay đổi quan niệm và nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo dục thực chất, điều đó đồng nghĩa với việc phải đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó chú trọng nâng cao trách nhiệm công tác quản lý và tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động dạy học” [13].

Trong hệ thống giáo dục nước ta, cấp trung học cơ sở là cấp học cơ bản, là giai đoạn trung gian giữa cấp tiểu học và trung học phổ thông. Ở giai đoạn này, học sinh được cung cấp kiến thức cơ bản nhất, được giáo dục và hình thành nhân cách, gắn với tâm sinh lý của lứa tuổi này cũng có nhiều biến động. Như vậy, các hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở là vô cùng quan trọng, là cơ sở cho các cấp học, bậc học cao hơn.

Mỹ Đức là huyện thuần nông của thành phố Hà Nội, kinh tế còn chậm phát triển, trình độ dân trí chưa cao và không đồng đều. Trong những năm qua, chất lượng dạy học của các trường THCS huyện Mỹ Đức tuy từng bước được nâng lên, song chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường đang đặt ra nhiều vấn đề cần sớm được quan tâm nghiên cứu, giải quyết kịp thời. Trong giai đoạn thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay, dạy học tích hợp đang là xu thế tất yếu trong việc xác định nội dung dạy học ở các trường phổ thông. Trong những năm gần đây, Phòng GD&ĐT Mỹ Đức cũng đã chỉ đạo quyết liệt các trường THCS trong huyện đưa tích hợp gắn liền với hoạt động dạy học trong các nhà trường; Xây dựng nhiều chuyên đề về tích hợp cho các nhà trường trong huyện, có những định hướng phù hợp cho trường mình trong dạy học, trong đó có bộ môn Toán. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, các trường THCS trong huyện vẫn còn gặp không ít khó khăn trong việc định hướng, chỉ đạo lồng ghép, tích hợp trong hoạt động dạy học nói.

Trước thực tế đó, đòi hỏi người cán bộ quản lý các trường THCS huyện Mỹ Đức phải nghiên cứu tìm biện pháp đồng chung và bộ môn Toán nói riêng.bộ và khả thi để quản lý hoạt động dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Từ những lý do trên tác giả chọn vấn đề “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp tại các Trường trung học cơ sở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội’’ làm đề tài nghiên cứu, hy vọng sẽ góp phần tích cực trong công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý dạy học môn Toán ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

3. Khách thể và đối tượng  nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở trường trung học cơ sở.

3.2 Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

4. Giả thuyết  khoa học

Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS là định hướng trong chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2025. Trong quá trình tổ chức dạy học môn Toán ở các trường THCS, bên cạnh những ưu điểm thì còn nhiều yếu điểm, khó khăn như việc thực hiện các chức năng quản lý hoạt động dạy học chưa quan tâm đúng mức; chưa có các biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của giáo viên và học sinh.  Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp và có tính khả thi thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội sẽ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở trường THCS.

5.2. Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1. Giới hạn nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của một số trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

6.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức.

Về khách thể điều tra: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, học sinh các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Về địa bàn và thời gian nghiên cứu: Đề tài khảo sát 5 trường THCS trên địa bàn huyện Mỹ Đức là:

  1. Trường THCS Tế Tiêu
  2. Trường THCS Phù Lưu Tế
  3. Trường THCS Xuy Xá
  4. Trường THCS Đại Hưng
  5. Trường THCS Phùng Xá

Trong thời gian 3 năm học gần đây 2023-2024 đến 2025-2026

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

  • Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận các văn bản có liên quan đến đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Phương pháp này thực hiện bằng cách tham gia dự giờ một số giáo viên để từ đó tìm hiểu thêm về thực trạng dạy học và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của hiệu trưởng các trường THCS huyện Mỹ Đức. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi, các phiếu trưng cầu ý kiến đối với cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường THCS trên địa bàn huyện Mỹ Đức.

Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến một số chuyên gia giáo dục nhằm thu thập ý kiến đánh giá, ý kiến, giải pháp và những thông tin khoa học thông qua phiếu điều tra mạn đàm.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Đây là một phương pháp quan trọng để đánh giá chất lượng, hiệu quả đào tạo.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đây là một trong những phương pháp chủ yếu của đề tài, chọn điển hình để khái quát hóa, hệ thống hóa, kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy học.

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, giáo viên của các trường THCS và tham khảo ý kiến các chuyên gia với mục đích tìm các kết luận thoả đáng trong việc đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

 7.3. Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học. Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý số liệu, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn,  thứ bậc, tính một số mối tương quan và kiểm định độ tin cậy của các số liệu thu được.

8. Những đóng góp của đề tài

8.1. Về lý luận: Phát triển lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích hợp ở các trường THCS, chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để điều tra khảo sát theo tiếp cận tích hợp từ đó xây dựng một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp đạt chất lượng và hiệu quả cao.

8.2. Về thực tiễn: Làm rõ thực trạng dạy học môn Toán và thực trạng quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS do tác giả đề xuất có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giáo viên Toán các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS.
  • Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hoạt động dạy học THCS và quản lý hoạt động dạy học THCS ở nước ngoài và ở trong nước.

  • Vấn đề hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở ngoài nước.

Như chúng ta đã biết toán học có nguồn gốc xuất phát từ thực tiễn. Số học ra đời trước hết do nhu cầu đếm. Hình học phát sinh do việc cần thiết phải đo lại ruộng đất bên bờ sông Nin (Ai cập) sau những trận lụt hàng năm. Khi nói đến nguồn gốc thực tiễn của Toán học cũng cần nhấn mạnh cả về nguồn gốc thực tiễn của chính các quy luật của logic hình thức được sử dụng trong toán học. Lênin viết: “Những hình thức và quy luật logic không phải là cái vỏ trống rỗng mà là sự phản ánh thế giới khách quan, thực tiễn của con người, được lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần, sẽ được củng cố vào ý thức người ta dưới những hình thức của logic học”.

Theo Ăng ghen, “Đối tượng của Toán học thuần túy là những hình dạng không gian và những quan hệ số lượng của thế giới khách quan” [7]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Trong hoạt động dạy học môn Toán cần có những mô hình học tập sẽ giúp các học sinh tiếp thu bài học nhanh hơn, theo V.A.Stoff (Stoff 1966) thì mô hình học Toán nhất thiết phải có ba đặc trưng cơ bản; tính đơn giản (đơn giản về mặt tri giác), tính đẳng cấu (mô hình phản ánh đúng một cách đẳng cấu những thuộc tính nhất định nào đó của đối tượng nghiên cứu mà những thuộc tính ấy là đối tượng nhận thức của học sinh), tính khác với nguyên bản (để trong dạy học dễ dàng đạt được mục đích đề ra).

Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga đã khẳng định rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên” [6]. P.V.Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu việc lãnh đạo trong công tác giảng dạy, giáo dục ở nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người Hiệu trưởng. V.A.Xukhomlinxki, Jaxapob nêu ra một số vấn đề quản lý của Hiệu trưởng trường phổ thông như sự phân công nhiệm vụ giữa Phó Hiệu trưởng và Hiệu trưởng. Các tác giả thống nhất khẳng định người Hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý nhà trường. Về việc tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm bài giảng, tác giả V.A.Xukhomlinxki nhấn mạnh hoạt động dự giờ thăm lớp và đưa ra nhiều cách phân tích sư phạm bài dạy cho giáo viên. Ông cho rằng đó là đòn bẩy nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên.

Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) với quan điểm dạy học gắn liền với PPDH môn Toán hiện nay là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ. Đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi” [8]. Theo ông muốn mang lại hiệu quả trong dạy học thì phải đề cao đến các quy định về nề nếp dạy học, bên cạnh đó cần nâng cao trình độ của người dạy, lựa chọn được những phương pháp dạy học theo hướng đề cao năng lực tự học, tự phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học.

1.1.2. Vấn đề hoạt động dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trong nước Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Ngoài hoạt động dạy học môn Toán được tổ chức trên lớp học còn có thể tổ chức những hoạt động thực hành Toán ngoài nhà trường như ở đồng ruộng, nhà máy, công xưởng, kể cả những hoạt động có tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm cả các khâu thu thập và xử lí dữ liệu, xử lí mô hình để tìm lời giải, xây dựng mô hình, đối chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh.

Đề cập đến phương tiện trực quan trong hoạt động dạy học môn Toán: “Phương tiện trực quan tượng trưng là một hệ thống kí hiệu quy ước nhằm biểu diễn tính chất muốn nghiên cứu tách rời khỏi tất cả các tính chất khác của đối tượng và hiện tượng”.

Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Toán, tác giả Phạm Văn Hoàn cho rằng cần tạo lập cho học sinh tác phong, phương pháp nghiên cứu và thói quen tự đọc sách.

Theo tác giả Phạm Văn Hoàn, trong công tác dạy học, phụ đạo học sinh yếu kém môn Toán, thầy giáo nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng. Không nên chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức.

Tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từ những mô hình.

Tài liệu “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” của GS.TS. Nguyễn Cảnh Toàn có đề cập đến việc dạy học tính sáng tạo cho HS thông qua môn Toán. Nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng có các tác giả như: Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt…

Các công trình khoa học nói trên với tầm vóc và qui mô về giá trị lý luận, thực tiễn đã và đang được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả nhất định trong phát triển sự nghiệp giáo dục. Song, phần lớn các công trình trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về lý luận có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục, quản lý trường học, vấn đề quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường THCS chưa được đề cập nhiều.

Trước yêu cầu bức xúc của thực tiễn ở các trường THCS là đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học, trong đó có quản lý hoạt động dạy học môn Toán, nhiều học viên cao học quản lý giáo dục đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS, THPT, đồng thời đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý hoạt động dạy học chẳng hạn như các Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả: Triệu Thứ Hiệp với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS trên địa bàn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” (2020),Vũ Văn Dương với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường THCS Thái Thịnh, Hà Nội theo chuẩn kiến thức, kỹ năng” (2019), Đỗ Thị Mai Hương với đề tài “Quản lý hoạt động dạy – học ở trường THCS Quài Cang – Huyện Tuần Giáo – Tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay” (2022), Nguyễn Văn Nguyên với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” (2020), Phạm Trung Kiên với đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Sinh học theo hướng tích hợp ở Trường trung học phổ thông chuyên Thái Bình” (2022), … .

Từ các công trình nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.2.1. Hoạt động dạy học

1.2.1.1. Hoạt động

Theo từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê (1996), hoạt động là việc làm (làm một việc) cụ thể nhằm một mục đích nhất định. Hành động là kết quả của hoạt động tư duy.

Hành động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội; Hành động là thực hiện một chức năng nhất định trong một chỉnh thể; là vận động, cử động nhằm một mục đích nhất định. Hoạt động là toàn bộ hành vi của một sinh thể.

Theo Triết học, “ hoạt động là quá trình diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.

Con người sống luôn luôn hoạt động. Hoạt động là phương thức tồn tại, đồng thời cũng là con đường hình thành và phát triển nhân cách. Theo Tâm lý học, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động cùng các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật và thành thực tế. Quá trình ngược lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể.

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu: Hoạt động của con người là quá trình tác động qua lại giữa con người và thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người.

  •  Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai quá trình diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau:

Quá trình thứ nhất là chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động và tâm lí của con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Quá trình này được gọi là quá trình đối tượng hóa (quá trình xuất tâm).

Quá trình thứ hai là chủ thể chuyển nội dung khách thể (quy luật bản chất của sự vật) vào bản thân của mình tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của bản thân và con người chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới. Quá trình này là quá trình hình thành tâm lý ở chủ thể còn gọi là quá trình chủ thể hóa (quá trình nhập tâm). Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Tóm lại, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của chính mình. Như vậy, tâm lý của con người chỉ có thể được bộc lộ, hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động.

Hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp mang ý nghĩa xã hội – chủ thể của quá trình dạy là giáo viên và chủ thể của hoạt động học là học sinh, tiến hành các hoạt động khác nhau nhưng không phải là những hoạt động đối lập nhau mà song song tồn tại, phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, cùng hướng tới một mục đích.

Hoạt động dạy của thày là truyền thụ tri thức, tổ chức chỉ đạo, điều khiển, hướng dẫn hoạt động chiếm lĩnh tri thức của học sinh.

Hoạt động học của học sinh là hoạt động nhận thức dưới tác động của người dạy, hoạt động học thực sự có ý nghĩa khi nó là hoạt động tự giác, tích cực với sự nỗ lực của học sinh.

Dạy và học là hai hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết quả học tập của học sinh không chỉ là kết quả của việc học mà còn là kết quả của hoạt động dạy. Không thể tách rời kết quả học tập của trò trong việc đánh giá kết quả dạy của thầy.

1.2.1.2. Hoạt động dạy  học

Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chương trình đã được thiết kế sẵn, tác động đến người học với mục đích hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Giáo viên (GV) xây dựng và thiết kế hoạt động dạy học càng chi tiết, càng đầy đủ và cụ thể bao nhiêu thì công việc dạy học càng hiệu quả bấy nhiêu. Bởi mọi GV đều mong muốn đạt được thành công và hiệu quả trong các giờ dạy nên họ thường bỏ qua việc xây dựng chiến lược hoạt động một cách lôgic và khoa học, có định hướng. Khi nói về hoạt động dạy học của GV, thông thường người ta dễ nghĩ đến sự hoàn chỉnh có tính đơn phương của nó. Từ đó, xây dựng những “quy tắc vàng” bắt buộc mỗi giáo viên phải tuân thủ một cách đầy đủ, nghiêm ngặt. Thực tế này dẫn đến tình trạng, trong khá nhiều giờ học trở nên nhàm chán, sa vào việc truyền thụ tri thức một chiều, chưa hoặc không đáp ứng được nhu cầu cá nhân người học. Thực chất, những “quy tắc vàng” trong dạy học phải đảm bảo tính tương tác giữa thầy và trò. Ý kiến của Davydov: “Các hoạt động dạy- học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò” đã chỉ ra sự tương tác trong hoạt động dạy học mang tính đặc thù.

Nói là đặc thù vì: một là, hoạt động dạy học nằm trong chuỗi các hoạt động của con người nhưng đó là hoạt động nghề nghiệp, không phải là hoạt động của mọi người. Người hoạt động dạy học phải có tiêu chuẩn và năng lực nghề nghiệp mới có thể tham gia được hoạt động này.

Thứ hai, hoạt động dạy học là hoạt động tương tác. Giáo viên tác động vào học sinh, dẫn đến học sinh phát triển. Giáo viên căn cứ vào sự thay đổi ở học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy học của mình. Từ đó cho thấy, sự tương tác trong hoạt động dạy học không phải là sự tương tác giữa các cá nhân hay nhóm xã hội với nhau như trong hoạt động chính trị, kinh tế, hay các hoạt động xã hội khác. Trong khi đó, hoạt động dạy học là “hoạt động cùng nhau của thầy giáo và học sinh”. Thầy và trò cùng hướng đến một mục tiêu. Năng lực của hoạt động dạy của người thầy và năng lực học của học sinh được thể hiện ở các mức độ đạt được của mục tiêu chương trình giáo dục đề ra. Chính vì vậy, hoạt động dạy có kết quả khi nó tác động cùng hướng với hoạt động học. Hoạt động dạy học có tính tương tác ở chỗ, nó phải bắt nhịp cùng người học, là người tham gia hoạt động học cả về trí tuệ và tình cảm. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Thứ ba, hoạt động dạy học nhìn từ góc độ hoạt động của người thầy trong tương tác với họat động học của học sinh là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động học của HS. Trong cuốn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các tác giả đã định nghĩa: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng” [23]

Tóm lại, trong hoạt động dạy học, hoạt động của giáo viên là một khâu quan trọng. Nói rõ hơn về hoạt động của giáo viên trong hoạt động dạy học, 2 tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Hoàng Hòa Bình trong công trình Phương pháp dạy học tiếng Việt nhìn từ tiểu học, khi đề cập phương pháp tổ chức hoạt động trong dạy học đã xác định rõ hoạt động của GV là “hệ thống các hành động” nhằm tổ chức hoạt động cho HS.

Hoạt động dạy học được xem xét trong tương quan giữa hoạt động của người thầy – người lớn, và “hoạt động của học sinh” – người học. Trong tương quan giữa hoạt động của người dạy và hoạt động của người học, hoạt động dạy học của người thầy hướng về mục tiêu của hoạt động dạy học: “… hoạt động dạy và học là nhằm hình thành và phát triển nhân cách ở người học” . Định nghĩa của nhóm các tác giả Lê Văn Hồng, Nguyễn Văn Thành, Lê Ngọc Lan, đã chú trọng đến khâu tổ chức và điều khiển của giáo viên trong hoạt động dạy học: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ”.

Lí luận giáo dục hiện đại đã chỉ ra tính đặc thù của hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học chính là hoạt động tương tác. Thầy và trò là những chủ thể cùng nhau hoạt động, duy trì, tiếp nối hoạt động. Đối tượng của hoạt động học tập là lĩnh hội các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Xem xét hoạt động của thầy đều có liên quan đến hoạt động của trò và ngược lại. Nhìn từ góc độ tính chủ thể của hoạt động sư phạm, để hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS được tiến hành thì không thể thiếu vai trò của chủ thể. Mục tiêu của hoạt động dạy học là hình thành và phát triển nhân cách, năng lực của người học. Trong hoạt động dạy học, chủ thể hoạt động là người dạy (giáo viên) và người học (học sinh). Người học là chủ thể của hoạt động học, người dạy là chủ thể của hoạt động dạy. Chính vì hoạt động dạy và học có chung mục tiêu cho nên hoạt động dạy và học luôn tương tác trong mối quan hệ “cung – cầu”, “nhân – quả”… Không thể nói đơn giản thầy hay trò đóng vai trò “chủ động” hay “thụ động”. Hoạt động dạy học của GV mang ý nghĩa là phương tiện, là công cụ hỗ trợ thúc đẩy hoạt động học của HS đúng hướng và hiệu quả. Đã là hoạt động thì tính chủ động là thuộc tính của cả hai bên. Thầy tích cực, chủ động trong hoạt động dạy và trò tích cực, chủ động tham gia hoạt động học. “Năng lực người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học với chất lượng cao” [24].

1.2.1.3. Hoạt động học tập: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Khi nói đến hoạt động học cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học. Trong cuộc sống đời thường con người luôn luôn có quá trình tích tiếp thu, tích luỹ những kinh nghiệm sống và trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, đồng thời làm cơ sở tiếp thu những khái niệm khoa học ở trong nhà trường. Đó chính là việc học. Việc học là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày, giống như con người khi sinh ra đến khi chết học ăn học nói học gói học mở, đi một ngày đàng học một sàng khôn…Trên thực tế, chỉ có phương thức đặc thù (các nhà trường) mới có khả năng tổ chức để cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, từ đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn; hoạt động học là khái niệm chính được dùng để chỉ hoạt động học diễn theo phương thức đặc thù, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong tâm lý học sư phạm.

Bản chất của hoạt động học: Hoạt động học tập là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức ở người học. Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại. Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại. Và để tái tạo lại, người học không có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của chính bản thân (động cơ, ý chí, sự quyết tâm…), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu. Vì vậy, hoạt động học làm thay đổi chính người học. Người nào học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân trong quá trình học.

Hoạt động học là hoạt động tiếp thu những tri thức lý luận, khoa học. Tức là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm bắt những khái niệm đời thường mà học tập phải tiến đến những lĩnh hội những tri thức khoa học, những tri thức có tính chọn lựa cao, đã được khái quát hoá, hệ thống hoá.

Hoạt động học tập ngoài việc hướng vào tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động học. Muốn hoạt động học đạt kết quả cao, người học phải biết cách học, phương pháp học, nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học.

Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh. Vì vậy nó giữ vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển tâm lý của người học trong lứa tuổi này. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Đối tượng của hoạt động học: Nếu xem chủ thể của hoạt động học là người học thì đối tượng của hoạt động học muốn hướng tới đó là tri thức. Song, tri thức mà học sinh phải học được lựa chọn từ những khoa học khác nhau, theo những nguyên tắc nhất định nào đó, làm thành những môn học tương ứng, và được cụ thể ở những đơn vị cấu thành như: khái niệm, kĩ năng, thái độ… Đối tượng của hoạt động học có liên quan chặt chẽ với đối tượng của khoa học. Nhưng có sự khác nhau về nguyên tắc giữa hoạt động học và hoạt động nghiên cứu khoa học. Có thể nói: đối tưởng của hoạt động học là cái mới với cá nhân nhưng không mới đối với nhân loại. Hoạt động học là hoạt động tái tạo lại những tri thức đã có từ trước ở người học, còn hoạt động nghiên cứu khoa học đó là phát hiện những chân lý khoa học mà loài người chưa biết đến.

1.2.1.4. Hoạt động giảng dạy

 Hoạt động giảng dạy là quá trình tự tổ chức và điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khoa học; bằng cách đó phát triển nhân cách, hình thành cấu trúc tâm lý. Vai trò chủ thể của HS trong hoạt  động học tập thể hiện sự chủ động:  tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo.

1.2.1.5. Mối quan hệ giữa dạy và học

Hoạt động dạy và học luôn tồn tại song song, phát triển trong cùng một quá trình thống nhất, quan hệ biện chứng, đồng thời thúc đẩy lẫn nhau nhằm kích thích động lực bên trong của mỗi thành tố để cùng phát triển.

Quản lý hoạt động giảng dạy cần quan tâm đúng mức mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, mà trong đó hoạt động giảng dạy có vai trò chủ đạo và hoạt động học tập có vai trò chủ động.

1.2.2. Quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.2.2.1. Quản lý

  • a) Quản lý:

Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi Quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học quản lý gắn liền với tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy người ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau. Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Quản lý có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [18].

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm:

Theo F.W.Taylo (1856 – 1915) “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không” [19].

Henri Fayol (1841 – 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [19].

Các nhà nghiên cứu người Mỹ Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý” thì cho rằng “Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức – Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [19] . Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Theo Mary Parker Follett (Mỹ): “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “…Trong quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm …” .

Theo M.I.Kondakop “Quản lý xã hội một cách khoa học không phải cái gì khác mà chính là việc tác động một cách hợp lý đến hệ thống xã hội, việc làm cho hệ thống đó phù hợp với quy luật vốn có của nó” .

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau:

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8].

Thuật ngữ “quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) đã lột tả được bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa tổ chức vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu trong một tổ chức chỉ lấy việc “quản” làm chính thì tổ chức dễ bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến “lý” thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Vì vậy, người quản lý phải luôn xác định và phối hợp tốt, sao cho trong trạng thái của hệ thống mình quản lý luôn luôn ở trạng thái cân bằng động.

Như vậy, từ cách tiếp cận trên ta thấy khái niệm quản lý bao hàm một số ý nghĩa chung: Quản lý là quá trình hoạt động lao động có mục đích để điều khiển lao động. Có sự tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Liên quan tới môi trường xác định.

Từ các dấu hiệu chung đó, có thể khái quát như sau: Quản lý là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức nhằm đạt đến mục tiêu của tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi.

1.2.2.2. Quản lý hoạt động dạy học

Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động giảng dạy của GV thông qua ba hướng:

  • Một là chỉ đạo trực tiếp; hai là thông qua việc chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn; ba là phối hợp với các tổ chức chức năng trong nhà trường. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.
  • Hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp hoạt động dạy của GV
  • Biện pháp quản lý chung
  • Thống nhất với phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn triển khai thực hiện kế hoạch chuyên môn.
  • Họp Hội đồng giáo dục đầu năm học: giao nhiệm vụ cho GV, phổ biến những nội quy, quy định về chuyên môn trong đó nêu rõ yêu cầu của dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS.

Những quy định chuyên môn phải được GV nắm vững, Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn theo dõi nhắc nhở việc thực hiện của GV:

  • Có kế hoạch kiểm tra thường xuyên việc GV thực hiện các quy định
  • Xây dựng những biểu mẫu báo cáo, thống kê về tình hình giảng dạy.
  • Hiệu trưởng xây dựng một số hồ sơ để quản lý chuyên môn.
  • Các văn bản pháp quy về dạy học và thực hiện chương trình.

Quản lý GV thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau:

  • Quản lý GV thực hiện chương trình dạy học. Hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng chuyên môn tiếp thu sự chỉ đạo về chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo vào đầu năm học.
  • Họp Hội đồng nhà trường triển khai những nội dung chỉ đạo về việc thực hiện chương trình trong năm học.
  • Giao nhiệm vụ cho Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn về quản lý chương trình, thực hiện chương trình, điều chỉnh theo dõi việc giảng dạy, dạy thay của GV…
  • Hiệu trưởng quản lý công tác chuẩn bị giờ lên lớp của GV.

Việc chuẩn bị giờ dạy trên lớp quyết định đến chất lượng giờ dạy trên lớp và chất lượng quá trình dạy học. Việc GV tự chuẩn bị cho các giờ lên lớp là việc quan trọng nhất trong quy trình lao động sư phạm và là một khâu lao động trí óc độc lập. Quản lý việc chuẩn bị giờ lên lớp là một hoạt động quản lý cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. Để giúp GV chuẩn bị giờ dạy tốt, hiệu trưởng phải kịp thời đáp ứng những yêu cầu của GV về: sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, trang thiết bị đồ dùng thiết bị dạy học… Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Biện pháp quản lý:

  • Hướng dẫn GV lập kế hoạch soạn bài.
  • Phổ biến những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng.
  • Quy định chất lượng của một bài soạn đối với từng loại bài.
  • Tổ chức bồi dưỡng cho GV về đổi mới PPDH và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
  • Có kế hoạch mua sắm đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật, thiết bị dạy học phục vụ giảng dạy theo hướng phát triển năng lực HS cho GV.
  • Thường xuyên kiểm tra công tác chuẩn bị bài dạy của GV.
  • Hiệu trưởng quản lý giờ dạy trên lớp của GV

Giờ học là yếu tố quan trọng cơ bản có tính chất quyết định kết quả đào tạo giáo dục của nhà trường. Do vậy trong mỗi giờ học thể hiện được yêu cầu về phát triển năng lực HS. Trước hết, giờ học mang tính bắt buộc đối với mọi HS, trên cơ sở chương trình do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành, giờ học chiếm phần lớn thời gian của quá trình đào tạo. Hoạt động dạy học được thể hiện chủ yếu bằng hình thức dạy học trên lớp với những giờ lên lớp và hệ thống bài học.

  • Biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp của GV.

Hiệu trưởng cần có những biện pháp để GV lên lớp có hiệu quả, mặt khác hiệu trưởng cùng với bộ phận giúp việc tìm các biện pháp tác động trực tiếp đến giờ lên lớp của GV. Đó là tư tưởng chỉ đạo hành động quản lý giờ lên lớp của người hiệu trưởng. Để nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của giáo viên, người hiệu trưởng cần thực hiện một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp. Chuẩn này trước hết là cơ sở để GV tự đánh giá kết quả công việc của mình mà phần lớn không có người chứng kiến ngoài HS tham gia lớp học, nhưng ý nghĩa và tác dụng đối với sự tiến bộ nghề nghiệp, đối với chất lượng dạy học là rất lớn. Chuẩn này cũng có thể dùng để hiệu trưởng đánh giá việc giảng dạy của GV. Chuẩn giờ lên lớp cũng là một quyết định quản lý của hiệu trưởng, nó gắn liền với thực tế trình độ của GV trong từng giai đoạn, chính vì vậy cần thấy rõ sự vận động của các tiêu chuẩn và làm cho nó càng chính xác hơn nữa. Đối với dạy học phát triển năng lực khi xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp cần xác định rõ và đúng mục tiêu phát triển năng lực và khảo sát cũng cần khảo sát năng lực đạt được sau tiết học.

Hai là, Tổ chức việc dự giờ và phân tích đánh giá giờ dạy của GV. Quản lý hoạt động dạy học thông qua việc dự giờ GV và phân tích sư phạm giờ dạy để trên cơ sở đó đề ra những quyết định quản lý hợp lý nhằm thúc đẩy mọi hoạt động chuyên môn của nhà trường đó là chức năng trung tâm của hiệu trưởng, đây cũng là nét đặc thù của quản lý trường học. Quan điểm chỉ đạo đối với việc quản lý giờ dạy trên lớp tác động trực tiếp được vào giờ dạy trên lớp càng tốt, do đó dự giờ dạy của GV là biện pháp trực tiếp nhất và quan trọng nhất trong các biện pháp quản lý giờ lên lớp. Xukhômlinxky đã viết: “ Kinh nghiệm khẳng định rằng việc dự giờ và phân tích các bài học là công việc quan trọng nhất của người hiệu trưởng, rất nhiều điều phụ thuộc vào trình độ khoa học, năng lực của hiệu trưởng, sự phong phú trí tuệ trong đời sống của tập thể sư phạm, nghệ thuật nghiệp vụ của nhà giáo dục, tính nhiều mặt trong nhu cầu và hứng thú của học sinh” [19].

Hiệu trưởng quản lý việc GV tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Trong quá trình dạy học, việc tổ chức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng với mục tiêu xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, năng lực, thái độ học tập của HS, nó vừa đóng vai trò bánh lái vừa giữ vai trò động lực của dạy học. Tức là nó có tác dụng định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực HS. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

  • Biện pháp quản lý của hiệu trưởng

Nâng cao nhận thức của GV về ý nghĩa tầm quan trọng, chức năng và các yêu cầu sư phạm của việc tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng phát triển năng lực.

Tổ chức cho GV học tập nắm vững quy định về kiểm tra, đánh giá, xếp loại học lực của HS theo đúng các văn bản hướng dẫn.

  • Tổ chức thi, kiểm tra đúng quy chế.

Quy định giáo viên chấm bài, trả bài đúng thời hạn, có nhận xét chung cho cả lớp và nhận xét riêng cho từng bài kiểm tra, khi trả bài cần yêu cầu HS tự sửa lỗi trong bài kiểm tra.

Quy định GV thực hiện đúng việc ghi, sửa chữa điểm trong sổ điểm, chế độ bảo quản, lưu trữ sổ điểm lớp, việc ghi điểm, ghi nhận xét vào học bạ của HS.

  • Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn

TCM là hình thức tổ chức nghề nghiệp đã có từ lâu trong nhà trường. Đây là đơn vị cơ sở trực tiếp nhất với các hoạt động của GV. TCM là một tổ chức trong nhà trường, tập hợp các GV có cùng hoặc gần chuyên môn giúp họ hành động theo định hướng chung. Hoạt động của TCM là tạo điều kiện cho GV hoàn thành nhiệm vụ của mình trong quá trình dạy học – giáo dục. Thông qua TCM, hiệu trưởng sẽ nắm được sâu sát hoạt động của GV, đồng thời phát huy cao độ sự thống nhất giữa hiệu trưởng với các thành viên trong tập thể nhà trường. Qua chỉ đạo TCM hướng dẫn và chỉ đạo GV thực hiện và đạt được mục tiêu hoạt động dạy tiêu theo hướng phát triển năng lực.

  • Một số biện pháp chỉ đạo hoạt động TCM

Quy định chế độ sinh hoạt chuyên môn hàng tháng. Căn cứ vào yêu cầu trọng tâm trọng điểm của chương trình trong từng thời gian, căn vào nội dung các hoạt động của TCM, hiệu trưởng chỉ đạo các tổ đi sâu vào nội dung cụ thể cho phù hợp.

Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn tổ chức các hoạt động chuyên môn. Hàng tháng, thậm chí hàng tuần hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng họp các tổ trưởng chuyên môn, chỉ đạo các TCM thực hiện kế hoạch chuyên môn của trường và kế hoạch của các TCM. Đồng thời yêu cầu các tổ trưởng chuyên môn báo cáo tình hình giảng dạy của GV và tình hình học tập của HS trong phạm vi tổ quản lý. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra hoạt động của TCM nhằm đảm bảo các TCM hoạt động đúng kế hoạch dạy học đạt mục tiêu dạy học đề ra, đặc biệt chú ý tới các năng lực của học sinh.

Hiệu trưởng phối hợp với các tổ chức xã hội trong nhà trường để quản lý hoạt động dạy của GV:

Phối hợp với Chi đoàn GV là lực lượng nòng cốt trong tập thể sư phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Phối hợp với tổ chức Công đoàn nhà trường động viên cán bộ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, tham gia quản lý chuyên môn trong nhà trường.

1.2.2.3. Quản lý hoạt động học tập của học sinh:

Học tập là một hoạt động nhận thức của học sinh, chỉ khi có nhu cầu HS mới tích cực học tập. HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy và học, vì vậy quản lý hoạt động học của HS sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, điều khiển hoạt động học tập phù hợp với tính chất và quy luật hoạt động dạy và học. Không gian hoạt động học tập của HS là từ trong lớp, ngoài lớp đến ở nhà. Thời gian hoạt động học của HS bao gồm giờ học trên lớp, giờ học tại nhà và thời gian thực hiện các hoạt động khác. Việc quản lý hoạt động học tập của HS theo hướng phát triển năng lực đặt ra với hiệu trưởng không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của các nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, cũng như yêu cầu về mục tiêu hình thành, phát triển năng lực học sinh.

Hiệu trưởng chỉ đạo công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường để quản lý hoạt động học của HS. Giáo dục HS ở trường và giáo dục HS ở nhà là một quá trình thống nhất, khi quá trình học tập ở nhà của HS được tổ chức tốt, tiếp nối củng cố quá trình học tập trên lớp sẽ nâng cao kết quả học tập của HS. Tự học là nội dung cực kỳ quan trọng trong dạy học phát triển năng lực.

  • Chỉ đạo phối hợp giữa GVCN và các lực lượng giáo dục khác:

Quy định những yêu cầu và biện pháp thống nhất trong việc giáo dục mục đích, động cơ thái độ học tập trong toàn thể GV từ các giờ dạy lên lớp đến các việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ.

Quy định cụ thể về sự phối hợp giữa GVCN với các giáo viên bộ môn và đoàn thanh niên, với cha mẹ HS… để thống nhất việc giáo dục HS. Phối hợp các GV cùng dạy một lớp để xây dựng cho HS thói quen tự học, dạy cho HS cách học.

1.2.3. Dạy học tích hợp Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Dạy học tích hợp là xu thế chung của giáo dục phổ thông tại các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, các môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý trong chương trình giáo dục phổ thông mới tích hợp ở mức độ thấp. Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ chú trọng cải thiện nội dung này.

1.2.3.1. Khái niệm về tích hợp; dạy học môn toán theo hướng tích hợp; Quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp.

Tích hợp:  là một khái niệm rộng, được dùng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có trong lĩnh vực lí luận dạy học. Tích hợp (Tiếng Đức, Tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Integration với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ…..

  • Dạy học môn toán theo hướng  tích hợp.

Dạy học tích hợp được hiểu là những hoạt động của học sinh, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết.

Dạy học môn toán theo hướng tích hợp thực chất là việc đưa một hoặc nhiều đơn vị kiến thức của một hay nhiều môn lồng ghép một cách phù hợp vào một hay tiết dạy hay một đơn vị kiến thức thuộc bộ môn toán, trên cơ sở không làm thay đổi tổng thể khung chương trình quy định trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Thông qua việc dạy học theo hướng tích hợp, đặc biết là đối với bộ môn toán, học sinh có thể vận dụng kiến thức để giải quyết bài tập hàng ngày, đặt cơ sở nền móng cho quá trình học tập tiếp theo; cao hơn là có thể vận dụng để giải quyết những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì vậy nếu chúng ta tổ chức tốt quá trình dạy học tích hợp (từ khâu biên soạn chương trình, sách giáo khoa,  đến tổ chức dạy học) đặc biệt là áp dụng quan điểm dạy học này vào chu kỳ thay sách mới ở phổ thông Việt Nam sau 2022 thì sẽ hình thành và phát triển được năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực tổng hợp để chuẩn bị tâm thế cho người học bước vào cuộc sống lao động – năng lực vận dụng kiến thức nhất là vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống.

Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972 có đưa ra khái niệm: “Dạy học tích hợp các khoa học là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [19].

Trong báo cáo kết quả của Hội thảo: “DHTH – DHPH trong chương trình giáo dục phổ thông”do Bộ GD-ĐT tổ chức tháng 12/2019 đã khẳng định: “DHTH được hiểu là những hoạt động của HS, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên (GV), huy động đồng thời kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết” [19].

Drake and Burns đã đề xuất các định nghĩa của mình về các định hướng tích hợp và đưa ra các cách tiếp cận tích hợp khác nhau: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Tích hợp đa môn. Cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung vào các môn học có liên quan với nhau, có chung một định hướng về nội dung, phương pháp dạy học, nhưng mỗi môn lại khác nhau về chương trình. Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các môn học xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án, qua đó tạo điều kiện cho người học vận dụng kiến thức của các môn học khác có liên quan để giải quyết nội dung đề ra.

  • Sơ đồ 1.1. Ví dụ về tích hợp đa môn

Tích hợp liên môn. Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: chủ đề, khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn. GV kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các môn học để nhấn mạnh khái niệm và kĩ năng liên môn. Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án, trong đó nhiều môn học có mối liên hệ với nhau được kết lại thành một môn học mới, với hệ thống những chủ đề nhất định, xuyên suốt qua nhiều cấp học. Ví dụ: Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Công dân giáo dục, Hóa, Lí được tích hợp thành môn “Nghiên cứu xã hội và môi trường” ở chương trình giáo dục cấp tiểu học tại Anh, Úc, Singapore, Thái Lan (xem sơ đồ 2)

  • Sơ đồ 1.2. Ví dụ về tích hợp liên môn

Theo Từ điển Giáo dục học: “Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” .

Tích hợp xuyên môn. Trong cách tiếp cận tích hợp này, GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề người học quan tâm. HS phát triển kĩ năng sống khi áp dụng các kĩ năng môn học và liên môn vào thực tế của cuộc sống.

  • Quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp.

Quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp được hiểu là sự tác động của nhà quản lý giáo dục ( Hiệu trưởng ) tới giáo viên trong quá trình định hướng lựa chọn xây dựng nội dung tích hợp những đơn vị kiến thức thuộc các bộ môn khác phù hợp với nội dung giảng dạy của bộ môn Toán trong nhà trường đáp ứng yêu cầu nào đó của thực tế khách quan, qua đó học sinh có thể nhận thức rõ hơn vấn đề và có được định hướng vận dụng kiến thức đã được tích hợp để giải quyết những vấn đề thực tế đó.

1.3. Một số vấn đề lý luận về dạy học tích hợp Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.3.1. Mục tiêu của dạy học tích hợp

  • Với quan niệm trên, dạy học tích hợp nhằm các mục tiêu:

(1) Làm cho quá trình học tập của học sinh có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống;

(2) Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Trong đó, cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lý những tình huống thực tế trong cuộc sống, hoặc là đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo;

(3) Dạy cho người học cách sử dụng kiến thức trong tình huống thực tế, cụ thể hóa, có ích cho cuộc sống sau này;

(4) Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học với nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, làm được như vậy học sinh mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi gặp một tình huống bất ngờ, chưa từng gặp.

1.3.2. Các quan điểm tích hợp trong dạy học.

Muốn dạy học tích hợp cần phải xây dựng các cách để tích hợp môn học. Theo Xavier (1996) có hai cách chính để tích hợp các môn học là:

(1) Xây dựng những ứng dụng chung cho nhiều môn học – các kiến thức riêng biệt của các bộ môn được đưa vào tổng hợp trong một “ứng dụng” thực tế nào đó. Có nghĩa là một số ứng dụng là tích hợp các kiến thức của các môn riêng lẻ;

(2) Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau – hợp nhất hai hay nhiều môn học cùng với nhau  tạo thành một môn học duy nhất, với hai cách: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Một là, dạy học theo vấn đề hay chủ đề, đề tài. Thực chất của cách dạy học này là khai thác sự liên quan, gần gũi của nội dung và khả năng bổ sung cho nhau giữa các môn học theo mục tiêu giáo dục chung. Có nghĩa là vẫn thừa nhận sự tồn tại của các môn học riêng rẽ, và các chủ đề liên kết nội dung các môn học lại với nhau;

Hai là, tích hợp các môn học xung quanh những mục tiêu chung cho nhiều môn học (những mục tiêu này gọi là những mục tiêu tích hợp). Với mục tiêu này gắn chặt với những năng lực, kỹ năng mà chúng ta tìm cách hình thành ở học sinh. Nói khác đi, kiểu tích hợp này nhằm hình thành các mục tiêu tích hợp, tức là nhằm phát triển cùng một loại kỹ năng để xác định các lĩnh vực tri thức, nội dung và phương pháp để đạt mục tiêu đó từ các môn học khác nhau. Điều đó cho thấy vấn đề xác định các mục tiêu tích hợp (các kỹ năng) là căn cứ cho việc xác định các nội dung từ các lĩnh vực khác nhau để tích hợp.

Có thể nói, cách tích hợp thứ nhất nhằm đưa kiến thức của các môn riêng biệt vào trong “ứng dụng” chung, liên quan đến nhiều môn học. Cách tích hợp này mang tính “tổng hợp” hơn là tích hợp bởi vì từng môn vẫn tồn tại độc lập theo logic của khoa học đó và “những ứng dụng” chung với các môn khác chỉ được xem xét nhất thời và trong một số hiện tượng đơn lẻ. Cách tích hợp thứ hai nhấn mạnh đến sự hợp nhất của các môn học trong một chủ đề hay vấn đề (kiểu 1) và trong mục tiêu chung (kiểu 2).

Dấu hiệu hợp nhất các nội dung môn học trong chủ đề hay vào “mục tiêu tích hợp” chi phối lựa sự chọn nội dung các môn học đã phản ánh cách nhìn tích hợp ở các mức độ nhất định. Nói khác đi, chủ đề tích hợp các lĩnh vực hay mục tiêu tích hợp các mục tiêu cụ thể là cơ sở xuất phát cho việc lựa chọn nội dung, môn học để tích hợp.

1.3.3. Vai trò của tích hợp trong dạy học Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Vai trò của dạy học tích hợp là giúp HS hình thành và phát triển năng lực, giúp các em vận dụng để giải quyết những vấn đề liên quan trong thực tiễn của cuộc sống. Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, nhằm đáp ứng những yêu cầu tích hợp của hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định; phương pháp tạo ra năng lực đó chính là việc dạy học tích hợp. Dạy học tích hợp có những đặc điểm cơ bản sau:

  • Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định nào đó những kiến thức, kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp.
  • Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho HS thực hiện được các hoạt động thực tế trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho HS dể dàng hòa nhập vào thế giới cuộc sống.
  • Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt hơn.
  • Giáo viên không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở HS năng lực quan sát, tìm kiếm, tổ chức sử dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa.
  • Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc, thụ động làm cho con người trở nên “mù chữ chức năng”, nghĩa là có thể được nhồi nhét nhiều thông tin, nhưng không sử dụng được trong thực tế cuộc sống.

Như vậy, dạy học tích hợp là giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng, để có điều kiện tăng tải kiến thức có ích, lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho học sinh có thể sử dụng vào các tình huống có ý nghĩa. Biểu hiện của năng lực là biết cách sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thụ lượng tri thức rời rạc.

1.4. Đổi mới giáo dục THCS và những yêu cầu đặt ra đối với quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường THCS

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [9]. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng đắn về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.

1.4.1. Đổi mới giáo dục THCS Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Quan điểm của Ban chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau 2022 cho rằng: “Dạy học tích hợp được hiểu là giáo viên tổ chức để học sinh huy động đồng thời kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, từ đó phát triển những năng lực cần thiết” [26].

Như vậy, dạy học tích hợp có thể hiểu là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở HS những năng lực, phẩm chất cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết  hiệu quả các tình huống phát sinh trong thực tiễn. Có nghĩa là để đảm bảo cho mỗi HS biết vận dụng kiến thức được trang bị trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ; qua đó dần trở thành một người công dân có trách nhiệm, có năng lực lao động hiệu quả. Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở các nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống học sinh có thể phải đối mặt sau này. Chính vì vậy, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển nhân cách mỗi HS, giúp các em trong tương lai thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, trong lao động, sản xuất.

 Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học: Chương trình hướng tới phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên biệt liên quan đến từng lĩnh vực giáo dục, môn học, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo thiết trong cuộc sống, đồng thời tạo điều kiện phát triển tốt nhất tiềm năng riêng của mỗi HS.

Về sách giáo khoa (SGK): Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục phổ thông thống nhất trong toàn quốc. Tất cả sách giáo khoa phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và phê duyệt trước khi đưa vào sử dụng trong các cơ sở giáo dục; có thể có nhiều bộ SGK được phát hành sau khi thẩm định. Các nhà trường tổ chức lựa chọn bộ SGK phù hợp với điều kiện địa phương mình trong số sách giáo khoa đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, phê duyệt. Đồng thời đa dạng hoá các tài liệu dạy học; giáo viên và HS có thể vận dụng tư liệu từ các nguồn khác nhau, nhiều cách tiếp cận, học tập khác nhau để đạt được mục tiêu theo chuẩn của chương trình.

Đổi mới phương pháp dạy học: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập của người học. Tạo điều kiện để học sinh được phát triển hài hoà cả thể chất và tinh thần. Thực hiện giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản; rèn luyện, năng lực cần thiết và định hướng nghề nghiệp, phát triển các phẩm chất. Đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết, kỹ năng thực hành, Hợp tác, ý thức trách nhiệm xã hội” [26]. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Đổi mới hình thức tổ chức thi, kiểm tra: Tổ chức thi, kiểm tra, đánh vừa có vai trò tạo động lực vừa điều chỉnh hoạt động dạy học, hoạt động học, hoạt động quản lý giáo dục; ghi nhận sự tiến bộ và thành tích học tập theo chuẩn đầu ra được quy định trong chương trình giáo dục. Như vậy, đánh giá chất lương giáo dục phải phản ánh mức độ đạt chuẩn chương trình (của cấp học, môn học); phải cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh. Thực hiện đa dạng phương pháp đánh giá như quan sát, vấn đáp, kiểm tra viết, trình bày báo cáo, dự án học tập… Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá từng học kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của HS; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình, của xã hội.

Chương trình phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với năng lực đội ngũ GV, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện có của trường phổ thông.

Cải tiến nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục công dân theo hướng coi trọng các giá trị cốt lõi và nhân văn của đạo lý dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại; giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thể chất nhằm phát triển hài hoà thể chất và tinh thần, phát huy năng khiếu và hứng thú riêng của từng HS.

Nội dung giáo dục được thiết kế theo hướng tăng cường tích hợp ở các giai đoạn giáo dục cơ bản, phân hoá từ cấp tiểu học đến cấp trung học cơ sở và sâu hơn ở cấp trung học phổ thông.

Giảm số lượng môn học bắt buộc trong mỗi cấp học, tăng số lượng các môn học, các chuyên đề tự chọn đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, kỹ năng, năng khiếu, định hướng nghề nghiệp của HS.

HS được tự chọn môn học và chuyên đề học tập theo quy định của chương trình, đáp ứng nguyện vọng cá nhân phù hợp với khả năng đáp ứng của nhà trường. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.4.2. Những yêu cầu đặt ra đối với quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường THCS

Quản lý hoạt động dạy học môn Toán không chỉ đơn thuần là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên dạy môn toán trong nhà trường mà còn bao hàm những công việc cụ thể như sau:

Xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán đồng thời tổ chức, chỉ đạo thực hiện sau khi kế hoạch đã được tổ toán thảo luận, đóng góp ý kiến và điều chỉnh cho phù hợp..

Tổ chức hướng dẫn, triển khai cho giáo viên dạy toán về mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức dạy và học, tổ chức đánh giá kết quả dạy và học môn Toán ở trường THCS.

Chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán.

Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Toán như: Thực hiện quy chế chuyên môn; đánh giá, xếp loại kết quả học tập của HS đúng theo quy chế; việc đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán; công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém.

1.5. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS

1.5.1. Quản lý mục tiêu dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS

Đảm bảo thực hiện hiệu quả nội dung chương trình môn Toán theo yêu cầu của Bộ GD-ĐT, đồng thời GV dạy toán biết xây dựng các kế hoạch dạy học phù hợp với các chủ đề, hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, cụ thể: trong một năm học, môn Toán cấp THCS xây dựng chương trình 37 tuần, trong đó ít nhất có 4 chủ đề (mỗi khối một chủ đề) dạy học theo định hướng PTNL người học.

Quán triệt đội ngũ GV nói chung và GV dạy toán nói riêng về tầm quan trọng của việc thực hiện nhiệm vụ năm học, từ đó tạo điều kiện hỗ trợ GV dạy toán thực hiện đúng và đầy đủ theo nội dung của mình đặt ra một cách hiệu quả. Từ đó, góp phần hình thành và PTNL, phẩm chất toán học cần thiết cho HS THCS.

Giúp cho GV dạy toán nhận thức đúng vai trò của việc thực hiện nội dung chương trình môn toán và xem là một trong những yêu cầu bắt buộc trong sinh hoạt chuyên môn của tổ Toán, tránh được việc sinh hoạt chuyên môn mang tính hình thức.

Giúp cho cán bộ quản lí dễ dàng kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng GV dạy toán và làm cơ sở cho công tác thi đua trong nhà trường.

1.5.2. Quản lý việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch giảng dạy môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Kế hoạch dạy học môn Toán của mỗi giáo viên phải dựa trên việc xác định mục tiêu dạy học môn Toán trong năm học, cụ thể như: chỉ tiêu của từng lớp mà họ được giao phụ trách dạy. Điều này phải dựa trên trình độ năng lực dạy học của giáo viên và kết quả khảo sát chất lượng môn Toán ở các lớp học mà họ được giao từ đầu năm.

Cán bộ quản lý giúp giáo viên dạy môn Toán xác định đúng chất lượng học sinh đối với môn Toán đầu năm, cùng với họ xây dựng chỉ tiêu phấn đấu năm học cho từng khối lớp. Quan trọng hơn, cán bộ quản lý cùng với giáo viên dạy môn Toán tìm ra các biện pháp để giúp đạt được chỉ tiêu đã xây dựng cho từng lớp, khối lớp trong năm học.

Chương trình dạy học môn Toán phải đáp ứng rõ mục tiêu, quan điểm, chuẩn kiến thức, kỹ năng, gợi ý cần thiết về phương pháp, PTDH môn Toán và kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh. Quản lý chương trình dạy học môn Toán là nhiệm vụ của Cán bộ quản lý. Hoạt động dạy học môn Toán phải thực hiện theo đúng yêu cầu tiến độ thực hiện chương trình. Cán bộ quản lý phải điều khiển HĐDH môn Toán theo yêu cầu, nội dung và hướng dẫn của chương trình môn Toán.

Trong quá trình quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán, Cán bộ quản lý cần huy động các thành viên trong bộ máy quản lý nhà trường, phân công, bám sát tình hình thực hiện kế hoạch, chương trình hàng tháng, hàng tuần, thông qua kiểm tra sự thống nhất giữa lịch báo giảng, thời khóa biểu, sổ đầu bài, …Điều quan trọng là phải tiến hành phân tích, đánh giá  các thông tin thu được, để có được định hướng chỉ đạo tiếp theo với những biện pháp quản lý phù hợp, giúp giáo viên thực hiện đúng và đủ chương trình và kế hoạch dạy học môn Toán theo quy định.

Việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán chủ yếu là qua giờ lên lớp của giáo viên. “Giờ lên lớp là một khâu trong quá trình dạy học, được kết thúc trọn vẹn trong khuôn khổ nhất định về thời gian theo quy định của kế hoạch dạy học. Do đó, trong mỗi giờ lên lớp hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy – học, đó là mục đích, nội dung, phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học” [19].

Giờ lên lớp của giáo viên giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học. Tuy nhiên, công tác quản lý cũng góp phần tác động gián tiếp đến hiệu quả giờ lên lớp. Chính vì vậy, cán bộ quản lý phải tạo điều kiện phát huy khả năng và nhiệt tình của giáo viên, đồng thời phải có những biện pháp tác động đến giờ lên lớp của GV. Để quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán, cán bộ quản lý phải chú ý đến một số công việc sau: Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

  • Quản lý việc chuẩn bị của giáo viên như: Kế hoạch, giáo án, đồ dùng trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa, …
  • Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch dạy học, thông qua: lịch báo giảng, sổ đầu bài, dự giờ giáo viên, lịch thao giảng, …
  • Kiểm tra việc sử dụng phương tiện dạy học thông qua: sổ theo dõi mượn sách giáo khoa, thiết bị dạy học, dự giờ giáo viên…
  • Kiểm tra việc đổi mới phương pháp dạy học thông qua: thao giảng, dự giờ giáo viên…
  • Chuẩn bị các điều kiện hỗ trợ cho việc dạy học môn Toán: cơ sở vật chất, môi trường dạy học…

1.5.3. Quản lý học sinh và hoạt động học môn Toán theo hướng tích hợp của học sinh các trường THCS

Học tập là một hoạt động nhận thức của người học, khi có nhu cầu học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu đó chính là động cơ nhận thức mà hoạt động học tập phải tạo ra cho học sinh. Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy – học, chính vì vậy quản lý hoạt động học của học sinh là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường phổ thông, điều khiển chúng hoạt động phù hợp với tính chất và quy luật hoạt động dạy và học. Không gian hoạt động học tập của HS là từ trong lớp, ngoài lớp và đến về nhà. Thời gian hoạt động học của HS bao gồm giờ học trên lớp, giờ học tại nhà và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác. Việc quản lý hoạt động học tập của HS theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực đặt ra với hiệu trưởng không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, cũng như yêu cầu về mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực HS.

Hiệu trưởng chỉ đạo công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường, xã hội để quản lý hoạt động học của HS. Giáo dục HS ở trường và giáo dục HS tại nhà là một quá trình thống nhất, khi quá trình học tập ở nhà của HS được tổ chức tốt, tiếp nối củng cố quá trình học tập trên lớp sẽ nâng cao kết quả học tập của HS. Tự học là nội dung khá quan trọng trong dạy học phát triển năng lực.

  • Chỉ đạo phối hợp giữa GVCN và các lực lượng giáo dục khác:

Quy định những yêu cầu và biện pháp thống nhất trong việc giáo dục mục đích, động cơ thái độ học tập trong toàn thể GV từ các giờ lên lớp đến các hoạt động ngoài giờ.

Quy định cụ thể về sự phối hợp giữa GVCN với các giáo viên bộ môn và đoàn thanh niên, với cha mẹ HS… để thống nhất việc giáo dục HS. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Phối hợp các GV cùng dạy một lớp để xây dựng cho HS thói quen tự học (chú ý 3 khâu: hình thức tự học; phương pháp tự học; bố trí thời gian tự học hợp lý) nói cách khác là dạy cho HS cách học.

1.5.4. Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học môn Toán theo hướng theo hướng tích hợp đối với học sinh THCS

Phương tiện dạy học môn Toán mặc dù không trực tiếp làm thay đổi quá trình dạy học môn Toán, song phương tiện dạy học góp phần quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán. Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy dạy học, phương tiện dạy học là yếu tố không thể thiếu được để đảm bảo việc đổi mới dạy học thành công. Chính vì vậy quản lý tốt các yếu tố này sẽ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán ở trường phổ thông. Để quản lý phương pháp dạy học, phương tiện dạy học môn Toán, cán bộ quản lý phải chú ý đến một số nọi dung sau:

  • Việc vận dụng các phương pháp dạy học thông qua: thao giảng, dự giờ giáo viên…
  • Giáo viên sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học như: phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp lấy HS làm trung tâm…
  • Sử dụng các phần mềm toán học, dạy giáo án điện tử thông qua: dự giờ giáo viên thao giảng, đăng kí các tiết dạy sử dụng giáo án điện tử.
  • Sử dụng các mô hình học tập, làm đồ dùng dạy học thông qua: sổ theo dõi mượn trả thiết bị, đồ dùng dạy học, thao giảng, dự giờ giáo viên…

1.5.5. Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Toán ở trường THCS.

  • Lập kế hoạch quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Toán

Xây dựng kế hoạch về cơ sở vật chất là thời điểm khởi đầu của một chu trình quản lý mà bất kỳ hiệu trưởng cũng phải thực hiện. Quản lý nhà trường cũng phải được bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch, kế hoạch quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Toán phải được đưa vào kế hoạch chung của nhà trường. Mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học Toán là đáp ứng các yêu cầu chung và riêng theo những văn bản của Nhà nước quy định, đồng thời thiết thực góp phần trong việc thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông hiện nay là phát triển năng lực người học, nâng cao chất lượng dạy học môn toán tại trường THCS. Lập kế hoạch mua sắm, trang thiết bị, tiếp nhận, phân phối thiết bị dạy học theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước, phù hợp với chương trình dạy học theo hướng tích hợp.

  • Tổ chức việc quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

Tổ chức cơ chế phối hợp trong quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất thiết bị dạy học, cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp thật chặt chẽ giữa các bộ phận, giữa các đối tượng tham gia quản lý. Bản chất của cơ sự hợp này là sự phân cấp về trách nhiệm trong quản lý với mục tiêu là nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có của nhà trường góp phần nâng cao chất lượng dạy và học.

Tổ chức công tác đào tạo bồi dưỡng GV, cán bộ phụ trách các phòng chức năng nhằm nâng cao quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ dạy học tích hợp trong nhà trường. Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một hoạt động cần thiết hữu ích của mọi chủ thể mà trực tiếp là các GV trong nhà trường, thiết bị là công cụ rất cần thiết để thực hiện đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá qua đó thực hiện thành công dạy học theo hướng phát triển năng lực.

Tổ chức phong trào tự làm đồ dùng dạy học xét về nguyên tắc xem đây là công việc mang tính chất nghiệp vụ của mỗi GV, chú ý thiết bị giáo dục tự làm phải đảm bảo tính: khoa học, sư phạm, thẩm mỹ và kinh tế.

Kiểm tra, giám sát, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo tổ chuyên môn. Nhằm mục đích tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước nói chung, quản lý nhà trường nói riêng đối với công tác cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cần phải có các hoạt động kiểm tra giám sát. “Quản lý mà không có kiểm tra thì xem như không có quản lý”, vì thế hiệu trưởng phải xem kiểm tra giám sát là một khâu quan trọng trong quá trình quản lý, là nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, kiểm tra giám sát là yếu tố kích thích, tư vấn, thúc đẩy việc quản lý, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt hiệu quả cao.

1.5.6. Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học Toán theo hướng tích hợp ở trường THCS

Tiêu chuẩn đánh giá cơ bản hoạt động dạy học môn Toán của giáo viên là kết quả của lao động sư phạm, chất lượng kiến thức của học sinh, mức độ phát triển trí tuệ, khả năng áp dụng kiến thức của học sinh. Cán bộ quản lý phải quản lý công tác kiểm tra đánh giá học sinh chặt chẽ mới có cơ sở chính xác đánh giá chất lượng dạy học của giáo viên.

Thông qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh, nếu được đánh giá khách quan, trung thực sẽ phản ánh một phần chất lượng giảng dạy môn Toán của giáo viên. Hiện nay có một số quan điểm thường đồng nhất đánh giá với việc cho điểm, đo lường kết quả học tập của HS chỉ bằng điểm số. Quan niệm trên đã làm cho cán bộ quản lý quan tâm quản lý chất lượng học tập môn Toán của HS chỉ dựa vào điểm số. Kiểu quản lý như vậy sẽ chỉ đánh giá được một phần của chất lượng và làm nảy sinh bệnh thành tích trong giáo viên và học sinh.

Cán bộ quản lý cần phải quản lý công tác kiểm tra đánh giá của giáo viên đối với học sinh, để đánh giá thực chất kết quả học tập môn Toán của học sinh và kết quả giảng dạy của giáo viên. Khuyến khích Giáo viên đưa hình thức trắc nghiệm khách quan vào kiểm tra kết quả học tập môn Toán của HS để nhằm hạn chế tác động của yếu tố chủ quan trong quá trình đánh giá.

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.6.1. Yếu tố khách quan

Xu hướng phát triển của lí luận dạy học trên thế giới và trong nước. Hiện nay với sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa nên có những ảnh hưởng và tác động mạnh tới giáo dục, trong đó có hoạt động dạy học. Triết lí giáo dục có những thay đổi lớn và do đó lí luận dạy học nói chung hay dạy học Toán nói riêng cũng có sự thay đổi theo. Triết lí giáo dục của các nước trên thế giới nhìn chung là khác nhau, căn cứ vào điều kiện về kinh tế, văn hóa, đặc điểm của đất nước đó mà đất nước ấy xây dựng cho mình triết lí giáo dục riêng phù hợp. Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của liên hiệp quốc – UNESCO – đã dùng “Học tập – một kho báu tiềm ẩn” làm nhan đề Báo cáo của Hội đồng Giáo dục để nói về “Giáo dục thế kỷ XXI” đề ra từ năm 1997.  Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ XXI. Trong báo cáo cũng nêu ra bốn loại hình cơ bản coi là bốn trụ cột của Giáo dục thế kỷ XXI đó là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình. Như vậy có thể thấy ngay được vai trò về năng lực của con người trong xã hội và sự phát triển chung của thế giới, do đó việc phát triển năng lực cho học sinh là tất yếu khách quan nói khác đi lí luận dạy học thay đổi theo và do đó quản lý hoạt động dạy học có thay đổi cho phù hợp.

Hiện nay giáo dục nói chung và dạy học nói riêng của thế giới và Việt Nam phát triển theo một số xu hướng sau: Giáo dục mở; người học là trung tâm của hoạt động dạy học; dạy học phát triển năng lực người học; học tập suốt đời; học mọi lúc mọi nơi; tự chủ trong giáo dục;

Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa. Trình độ phát triển khoa học công nghệ: Trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ của một quốc gia ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển giáo dục của nước đó, trong đó có quản lý hoạt động dạy học. Thật vậy sản phẩm giáo dục chính là “đơn đặt hàng” của XH do đó mục tiêu giáo dục được quyết định bởi yêu cầu của XH, của nền KT. Khoa học công nghệ phát triển kéo theo sự phát triển KT, trình độ lao động được nâng lên, hiệu quả lao động tăng cao, lực lượng sản xuất phát triển dẫn tới yêu cầu cần có nguồn nhân lực đáp ứng được những đòi hỏi của sự phát triển KT. Khoa học công nghệ phát triển mạnh dẫn tới tri thức của nhân loại tăng lên hết sức nhanh chóng, hiện nay có thể thấy tri khối lượng tri thức là khổng lồ, tri thức bị lạc hậu nhanh chóng do vậy giáo dục được đặt trước thách thức là làm thế nào để có thể cung cấp nhiều nhất và cập nhật nhất những tri thức của nhân loại cho người học. Khoa học công nghệ phát triển cũng là động lực giúp cho giáo dục phát triển, khoa học công nghệ cung cấp cho giáo dục nói chung và dạy học nói riêng có được những đồ dùng, thiết bị dạy học hiện đại, trực quan sinh động. Khoa học công nghệ phát triển cũng tạo điều kiện cho các nhà khoa học có nhiều điều kiện thuận lợi trong nghiên cứu về con người, tâm sinh lí, trí tuệ và nhất là tư duy từ đó tìm ra được phương pháp dạy, phương pháp học tập tối ưu nhất hiệu quả nhất và phù hợp với các đối tượng, lứa tuổi khác nhau. Tất cả các đặc điểm này của khoa học công nghệ ảnh hưởng tới hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học.

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu trong lịch sử nhân loại, điều này làm cho các quốc gia, các dân tộc trên thế giới đan xen, cài chặt và phụ thuộc vào nhau, sự ảnh hưởng, tác động qua lại, chi phối lẫn nhau ngày càng lớn. Vấn đề toàn cầu hóa là vấn đề có ảnh hưởng lớn, chi phối tác động tới tất cả các nước như: Vấn đề an ninh hòa bình, vấn đề dân số, vấn đề ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu, vấn đề lương thực và đói nghèo. Để giải quyết được vấn đề này cần có sự hợp tác, phối hợp và nỗ lực của tất cả các nước. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đó giáo dục không tránh khỏi xu thế chung, sự hợp tác giao lưu giáo dục ngày càng sâu rộng do vậy nó có nhiều ảnh hưởng tới vấn đề quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng.

Cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo. Quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có cơ chế quản lý giáo dục và đào tạo. Cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” như vậy có thể hiểu cơ chế quản lý giáo dục là cách thức thực hiện quá trình quản lý giáo dục. Mỗi giai đoạn, mỗi nền giáo dục lại có cơ chế quản lý giáo dục dục riêng, phù hợp với giai đoạn đó. Hiện nay chúng ta đang đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, dạy học dần chuyển sang dạy học theo hướng phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm do đó cơ chế quản lý hoạt động này cũng phải thay đổi theo cho thích hợp. Vì vậy có thể nói cơ chế quản lý giáo dục ảnh hưởng nhiều tới quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực HS. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

1.6.2. Yếu tố chủ quan

Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, GV và HS. Trong quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học toán nói riêng, đội ngũ cán bộ quản lý trường THCS gồm Hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn đây chính là chủ thể của quá trình quản lý ở các cấp độ khác nhau từ cấp cao là Hiệu trưởng tới cấp thấp là tổ trưởng chuyên môn. Hiệu quả, kết quả của hoạt động quản lý phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý nhất là của người đứng đầu – Hiệu trưởng và do đó hiệu quả, kết quả quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường. Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, có năng lực thì kết quả cao và ngược lại.

Việc chuyển từ dạy học chú trọng nội dung sang dạy học phát triển năng lực HS đang đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho đội ngũ GV, vì nhiều yếu tố khác nhau từ đào tạo cho tới trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm…làm ảnh hưởng tới hoạt động dạy của GV. Dạy học theo hướng tích hợp với mục tiêu là đạt chuẩn “đầu ra” và sản phẩm là tri thức, những năng lực và phẩm chất người học đạt được, việc thay đổi này yêu cầu đội ngũ GV phải thay đổi hầu như toàn bộ những gì đang có. GV là chủ thể của hoạt động dạy là người điều khiển hoạt động dạy học và chính là người quyết định chất lượng hoạt động dạy học vì vậy có thể nói trình độ năng lực của đội ngũ GV có ảnh hưởng quyết định tới quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực HS.

Trong dạy học tích hợp thì HS vừa là chủ thể vừa là đối tượng của hoạt động dạy học vì vậy có thể khẳng định HS là yếu tố có ảnh hưởng lớn tới chất lượng hoạt động dạy học cũng như kết quả của hoạt động quản lý dạy học theo hướng phát triển năng lực HS. Tất cả các yếu tố từ mục tiêu, nộ dung PPDH, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá… đều phải được nghiên cứu, xem xét, chọn lựa sao cho phù hợp với đối tượng HS. Những yếu tố này nhằm phát triển những năng lực của người học, đối tượng HS hết sức đa dạng cho nên các thành tố của quá trình dạy học cũng như các khâu của quá trình quản lý hoạt động dạy học cần mềm dẻo và linh hoạt sao cho phù hợp với đối tượng HS từ đó dẫn tới hiệu quả và kết quả của quá trình dạy học.

Các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường phục vụ cho hoạt động dạy học tích hợp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động dạy học, đặc biệt là phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá. Ngày nay với sự đầu tư cho cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại được đưa vào sử dụng trong dạy học dẫn tới sự thay đổi lớn về quan điểm dạy học, PPDH; các PPDH, kỹ thuật dạy học được sử dụng nhiều làm đa dạng hóa các hình thức dạy học, đào tạo, các kênh dạy học đa dạng phong phú. Tất cả đều ảnh hưởng tới hoạt động dạy học và do đó ảnh hưởng trực tiếp tới quản lý hoạt động dạy học.

Kết luận chương 1

Quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS là việc thực hiện các chức năng của quản lý vào các khâu của quá trình dạy học nhằm đảm bảo phát triển những kỹ năng chung, những kỹ năng chuyên biệt bộ môn cho HS. Việc thực hiện các chức năng thống nhất theo đúng trình tự và có sự tác động qua lại giữa các chức năng, bên cạnh đó chúng ta phải xem xét tới sự tác động qua lại với môi trường xung quanh. Quản lý hoạt động dạy học Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS là thực hiện những tác động vào quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu quản lý mà ở đây là những tri thức khoa học phổ thông và những kỹ năng, năng lực người học qua đó nâng cao được chất lượng dạy và học tại các trường THCS. Muốn làm được điều đó nhà quản lý phải nắm được những khái niệm cơ bản nhất về dạy học theo tích hợp, về quản lý, quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích hợp và những yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động này. Có như vậy nhà quản lý mới có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc về việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, chức năng của quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực. Tùy vào đặc điểm về đội ngũ, cơ sở vật chất, đối tượng HS mà nhà quản lý – Hiệu trưởng có cách vận dụng mềm dẻo linh hoạt vào trường mình một cách hợp lý. Đồng thời nhà quản lý tạo ra được động lực làm việc đội ngũ nhà giáo, cán bộ, nhân viên cũng như động lực học tập cho HS. Có được động lực làm việc và học tập thì chắc chắn chất lượng hoạt động dạy và học được nâng lên, đạt được hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà trường. Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán

One thought on “Luận văn: Quản lý dạy học môn Toán theo hướng tích hợp

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *