Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Bến Cát là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, trung tâm thị xã cách Thành phố Thủ Dầu Một 20 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km.
Thị xã (TX) Bến Cát có đường Quốc lộ 13 cách Thành phố Thủ Dầu Một khoảng 20 km về hướng bắc, tỉnh lộ 744 theo hướng Tây Bắc đi huyện Dầu Tiếng và tỉnh Tây Ninh. Thị xã Bến Cát hiện đang là đô thị loại III. Thị xã nằm ở trung tâm tỉnh Bình Dương, có sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua.
Phía Đông giáp thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên. Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh); Tây Bắc giáp huyện Dầu Tiếng.
Phía Nam giáp thành phố Thủ Dầu Một. Phía Bắc giáp huyện Bàu Bàng. Trước năm 2021, thị xã Bến Cát ngày nay là một phần huyện Bến Cát cũ. Ngày 29 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-
CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng.
Thị xã Bến Cát có 23.442,24 ha diện tích tự nhiên và 203.420 nhân khẩu với 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường và 3 xã.
Ngày 24 tháng 10 năm 2025, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2026, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III.
Thị xã được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 5 phường: Chánh Phú Hòa, Hòa Lợi, Mỹ Phước, Tân Định, Thới Hòa và 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An (Nghị quyết 136/NQ-CP, 2020)
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội thị xã Bến Cát
Trên địa bàn TX.Bến Cát hiện có 10 khu, cụm công nghiệp với tổng diện tích 4.030 ha. Ðến nay, các khu công nghiệp này cơ bản đã lấp đầy diện tích và tạo việc làm cho trên 141.000 lao động. Trong năm 2023, tổng giá trị sản xuất của thị xã đạt 82.327,5 tỷ đồng; trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt 67.763,7 tỷ đồng, dịch vụ đạt 14.095 tỷ đồng, sản xuất nông nghiệp là 469,3 tỷ đồng.
Thời gian qua, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn TX.Bến Cát diễn ra nhanh đã góp phần thu hút nhiều doanh nghiệp đến đầu tư sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, ngành công nghiệp của thị xã luôn duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định. Chỉ tính trong quý I-2024, thị xã đã thu hút được 90 dự án đầu tư trong và ngoài nước, nâng tổng số dự án đầu tư trên địa bàn hiện nay lên 2.462 dự án; tổng số vốn đầu tư nước ngoài đến nay đạt 5 tỷ 562 triệu USD, vốn đầu tư trong nước là trên 24.647 tỷ đồng. Việc thu hút nhiều dự án đầu tư, nhất là các đầu tư nước ngoài đã góp phần to lớn thúc đẩy kinh tế – xã hội của TX.Bến Cát phát triển.
Với sự phát triển khá đồng bộ các khu công nghiệp, dịch vụ và đô thị, các trục đường giao thông huyết mạch như quốc lộ 13, ĐT741, đường Vành Đai… cũng được nâng cấp, xây dựng mới đã và đang góp phần cho công nghiệp, dịch vụ của TX.Bến Cát phát triển mạnh. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành của TX.Bến Cát luôn chú trọng thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, trật tự đô thị nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Với nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, Bến Cát đã cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới vào cuối năm 2023.
Trong định hướng phát triển đô thị, Bến Cát đã xác định: Xây dựng quy hoạch và quản lý, đầu tư phát triển theo quy hoạch là khâu then chốt, tập trung đẩy mạnh công tác chỉnh trang đô thị, đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, ưu tiên các công trình công cộng, công trình tạo lực cho sự phát triển trước mắt và lâu dài của địa phương. Thị xã đã hoàn thiện Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -xã hội TX.Bến Cát đến năm 2030, định hướng đến năm 2035, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; đang xây dựng quy hoạch chi tiết khu trung tâm hành chính – văn hóa – dịch vụ thương mại thị xã, quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn và rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch phân khu. Thị xã cũng đã tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với Dự thảo quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị và hoàn thiện các tiêu chí để đáp ứng tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2025. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Hiện nay, trên địa bàn thị xã Bến Cát đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như Khu Đô thị EcoLakes Mỹ Phước, khu đô thị Bến Cát Golden Land, khu đô thị Đông Bình Dương, khu đô thị Golden Center City 1, khu đô thị Golden Center City 2, khu đô thị Happy Home, khu đô thị Mỹ Phước 1, khu đô thị Mỹ Phước 2, khu đô thị Mỹ Phước 3, khu đô thị Mỹ Phước 4, khu đô thị Rich Home 1, khu đô thị Rich Home 2, khu đô thị Spring City…(Thoại Phương, 2026)
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TX.Bến Cát khóa XI (2022- 2027) đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển: Tiếp tục nâng cao chất lượng tăng trưởng, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi, tạo môi trường thông thoáng, điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển các dự án thuộc danh mục khuyến khích đầu tư, hạn chế tối đa các ngành nghề sử dụng nhiều lao động, có nguy cơ ô nhiễm môi trường và các dự án đầu tư ngoài các khu công nghiệp. Giải quyết nhanh các trường hợp xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; khuyến khích đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ, chợ, trung tâm thương mại và đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư xây dựng trường học, cơ sở khám chữa bệnh, trên địa bàn…
2.1.2. Giới thiệu về các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Thị xã Bến Cát là địa chỉ người lao động ở khắp nơi tìm về sinh cơ lập nghiệp. Từ đó nhu cầu học tập của con em người lao động cũng tăng lên. Hàng năm, thị xã Bến Cát là một trong số những địa phương có số học sinh tăng cao. Đáp ứng nhu cầu học tập của các em, những năm qua ngành GD-ĐT tích cực tham mưu Ủy ban nhân dân thị xã cho phép cải tạo, sửa chữa nâng cấp mở rộng cơ sở vật chất trường lớp hiện có. Ngoài ra, ngành còn xây dựng thêm nhiều công trình trường mới ở những địa phương có số học sinh tăng cao. Quan tâm đến sự nghiệp trồng người, lãnh đạo địa phương, các ngành có liên quan đã tập trung đầu tư xây dựng trường lớp ngày càng khang trang, hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
Hiện nay, thị xã Bến Cát có 12/15 trường tiểu học được đầu tư xây dựng kiên cố, lầu hóa và tổ chức học bán trú 12/15 trường. Thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thị xã, Phòng GD-ĐT đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành và Ủy ban nhân dân thị xã trong việc khảo sát, góp ý thiết kế và thống nhất danh mục đầu tư theo từng kỳ kế hoạch theo thứ tự ưu tiên đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2023-2027. Đến nay, các trường đã được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho việc tổ chức hoạt động dạy học trong trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do dân số tăng cơ học nhanh, nên áp lực về cơ sở vật chất ở thị xã Bến Cát luôn ở mức cao, nhiều trường có sĩ số học sinh trên lớp cao hơn quy định (từ 45 học sinh đến 55 học sinh/ lớp), có trường giảm số lớp học 2 buổi/ngày để đáp ứng đủ chỗ học cho học sinh.
Dù gặp những khó khăn nhất định, nhưng với sự tâm huyết, luôn đổi mới và sáng tạo trong giảng dạy của người thầy, chất lượng giáo dục ở các trường tiểu học trong thị xã Bến Cát đã dần được nâng lên. Có được thành quả này, các trường tiểu học đã xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Các trường cũng tập trung phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về năng lực chuyên môn, kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục…
Chất lượng giáo dục của nhà trường là thước đo, là sự khẳng định thương hiệu của cán bộ giáo viên cũng như tập thể nhà trường. Xác định điều đó, ngoài các biện pháp nâng cao chất lượng mà các trường đã áp dụng, các giáo viên còn thể hiện sự nhiệt tình, sáng tạo trong giảng dạy và ôn tập cho học sinh. Thầy cô luôn gần gũi, động viên, khích lệ để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các em; dành thời gian hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tự tìm tòi và rèn luyện thêm tại nhà; hệ thống hóa cho học sinh những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao… Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục ở Bến Cát luôn đạt từ 97,5% trở lên học sinh hoàn thành chương trình lớp học; 99,99% HS hoàn thành chương trình tiểu học. Toàn thị xã có 9/15 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ 60%. Đến nay, mạng lưới trường lớp của thị xã được phân bố hợp lý. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trường lớp được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ số lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp học đạt chuẩn và trên chuẩn chiếm tỷ lệ khá cao. Chất lượng và hiệu quả GD-ĐT ngày càng được củng cố và từng bước nâng cao. Ngoài ra, các trường cũng phối hợp với Phòng Giáo dục –Đào tạo thị xã Bến Cát, Phòng Tư pháp và Công an thị xã tổ chức thực hiện tuyên truyền pháp luật cho học sinh trên địa bàn thị xã Bến Cát. Các học sinh được hướng dẫn về phòng, chống xâm hại tình dục, đặc biệt được hướng dẫn cách nhận biết các hành vi, lời nói quấy tối, xâm hại tình dục, kỹ năng phòng vệ cần thiết khi bị xâm hại tình dục, khả năng phân biệt được hành vi lợi dụng và yêu thương, đưa ra những tình huống và giải pháp khắc phục giúp các em nâng cao kiến thức về giá trị các mối quan hệ trong gia đình, bạn bè, người thân, hình thành khả năng tự bảo vệ bản thân tốt hơn, chủ động ứng xử tích cực và giải quyết sáng tạo trong những tình huống thực tiễn (Phòng Giáo dục và Đào tạo Bến Cát, 2026).
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
2.2.1. Nội dung khảo sát
Nhận thức về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục: Chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh trường tiểu học thị xã Bến Cát (ý nghĩa, mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục).
Thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục: Chúng tôi đã khảo sát ý kiến Cán bộ quản lý, GV và cha mẹ học sinh về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại cho học sinh (mức độ thực hiện, kết quả thực hiện).
Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học (thông qua bảng hỏi Cán bộ quản lý, GV)
- Chúng tôi tập trung khảo sát ý kiến cuả Cán bộ quản lý và GV về:
Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Công cụ điều tra khảo sát thực trạng chủ yếu là phiếu hỏi dành cho Cán bộ quản lý, cho đội ngũ giáo viên và cha mẹ học sinh. Thông qua phiếu hỏi, chúng tôi thu thập thông tin từ các đối tượng là Hiệu Trưởng, Phó Hiệu Trưởng. Tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, cha mẹ học sinh các trường tiểu học trên địa bàn thị Xã Bến Cát với các nội dung đã xác định trong phần nội dung khảo sát.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn 6 Cán bộ quản lý, 6 GV và 6 PH của 6 trường nhằm thu thập thêm các thông tin định tính hỗ trợ cho các kết quả nghiên cứu khảo sát. Chúng tôi mã hóa người được phỏng vấn cụ thể ở bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1. Số lượng và mã hóa tên người tham gia phỏng vấn trong các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, Bình Dương
Sau khi thu thập số liệu từ bảng khảo sát, đề tài sử dụng phần mềm SPSS statitis 22.0 để xử lý thông tin phiếu điều tra.
Đối với các dữ liệu định tính, chúng tôi trích lọc các ý kiến để đưa vào phân tích thực trạng.
2.2.3. Tổ chức điều tra, khảo sát
Chúng tôi sử dụng 2 mẫu khảo sát:
- Mẫu 1: Dành cho Cán bộ quản lý và GV các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1)
- Mẫu 2: Dành cho cha mẹ học sinh các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 2)
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 6 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương bao gồm các đối tượng là Cán bộ quản lý (Hiệu Trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên phụ trách lớp và các Cha Mẹ học sinh. Cụ thể trình bày ở các bảng như sau:
- Bảng 2.2. Thống kê số liệu các trường khảo sát
Đối với Cán bộ quản lý và GV: Trường TH Trần Quốc Tuấn, Trường TH Tân Định, Trường TH An Điền, Trường TH Duy Tân có số lượng GV và Cán bộ quản lý tham gia là 50 người chiếm 19.5% tổng số lượng tham gia. Trường TH Võ Thị Sáu là 11.7%, và Trường An Tây B chiếm 10.5% trong tổng số 257 GV và Cán bộ quản lý tham gia khảo sát;
Đối với cha mẹ học sinh: Tổng số lượng tham gia khảo sát là 300 người, được phân bổ đều trong mỗi trường là 50 người (chiếm 16.7%). Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Thông tin về các đối tượng tham gia khảo sát là các GV và Cán bộ quản lý được thống kê, đặc điểm Cán bộ quản lý, GV được thể hiện trong bảng 2.3 dưới đây:
- Bảng 2.3. Đặc điểm Cán bộ quản lý và GV được khảo sát
Theo kết quả thống kê bảng 2.3 cho thấy, các thông tin về đặc điểm mẫu khảo sát là GV và Cán bộ quản lý bao gồm:
Giới tính: Số lượng tham gia khảo sát là Nữ chiếm 69.7%, trong khi Nam có tỷ lệ thấp hơn, chiếm 30.3% trong tổng số 257 người tham gia khảo sát.
Độ tuổi: Số lượng từ 30 đến dưới 40 chiếm 48.6%, trên 50 tuổi là 19.1%, từ 40 đến dưới 50 tuổi chiếm 18.7% và dưới 30 tuổi chiếm 13.6%;
Vị trí công tác: Hiệu trưởng trong 6 trường được tham gia đầy đủ với 2.4%, Hiệu phó là 3.9%, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 16.3%, số lượng giáo viên tham gia chiếm 70.4% (181/257), còn lại nhân viên chiếm 7%;
Thâm niên GD: Từ 5 đến dưới 10 năm có tỷ lệ cao nhất chiếm 48.6%, theo đó là số lượng trên 20 năm thâm niên chiếm trở lên là 19.1%, từ 10 đến dưới 20 năm là 18.7%, trong khi số lượng có thâm niên dưới 5 năm chiếm 13.6%;
Thâm niên quản lý: số lượng Cán bộ quản lý có thâm niên từ 10 đến dưới 20 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 53.4%, theo đó là từ 5 đến dưới 10 năm (chiếm 24.2%), từ 20 trở lên là 13.8%, còn lại là dưới 5 năm chiếm 8.6%
Thông tin về các đối tượng tham gia khảo sát là cha mẹ học sinh cũng được thống kê, kết quả thống kê được thể hiện trong bảng 2.4 như:
- Bảng 2.4. Đặc điểm cha mẹ học sinh được khảo sát
Theo kết quả thống kê bảng 2.4 cho thấy, các thông tin về đặc điểm mẫu khảo sát là cha mẹ học sinh, bao gồm:
- Giới tính: Số lượng tham gia khảo sát là Nữ chiếm 58.7%, trong khi đó Nam chiếm 41.3% thấp hơn.
- Độ tuổi: Phần lớn là từ 30 đến dưới 40 tuổi chiếm 89.3%, từ 40 đến dưới 50 tuổi chiếm 9.4%, dưới 30 tuổi là 1.3%
- Trình độ học vấn: Cử nhân chiếm 31.3%, còn lại là số lượng có trình độ khác là 68.7%
- Nghề nghiệp là công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất (59.7%), cán bộ nhà nước chiếm 31.3%, và ngành nghề khác chiếm 3%
Nhìn chung ta thấy, đối tượng khảo sát có đặc điểm đa dạng, phong phú cho phép đề tài thu thập thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.2.4. Qui ước thang đo Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.
Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng 2.5 sau:
- Bảng 2.5. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát
Quy ước trong bảng 2.5 được sử dụng để phân tích đánh giá trong các nội dung khảo sát thực trạng chương 2.
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục
Nhận thức về ý nghĩa và mục tiêu của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh là rất quan trọng, đặc biệt với những người làm công tác quản lý giáo dục ở nhà trường nói chung, trường tiểu học nói riêng. Nếu Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, phụ huynh có nhận thức đúng đắn về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục thì đó chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, tiến hành các hoạt động giáo dục ở nhà trường và gia đình, xã hội có liên quan đến giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học hiện nay.
Khảo sát nhận thức của Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên về ý nghĩa và mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học, chúng tôi thu được kết quả như sau:
2.3.1.1 Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh về ý nghĩa hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Để đánh giá nhận thức của Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh về ý nghĩa của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, chúng tôi tiến hành khảo sát các đối tượng và thu được kết quả dưới đây:
Bảng 2.6. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh về ý nghĩa hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
Qua kết quả thống kê từ bảng 2.6 cho thấy, phần lớn cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh tham gia khảo sát chỉ đồng ý một phần với các nội dung về ý nghĩa của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học. Cụ thể là:
Nội dung “Mở rộng kiến thức và nâng cao hiểu biết kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học” có ĐTB chung trong đánh giá của GV,CBQL và Cha mẹ học sinh là 3.37 điểm; “Giáo dục tư tưởng ý thức, kỹ năng tự vệ khi gặp những hành động có nguy cơ xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học” có ĐTB chung là 3.40 điểm; “Làm cho học sinh thấy tầm quan trọng về giá trị thân thể của bản thân” có ĐTB chung là 3.38 điểm; “Nâng cao ý thức và cảnh tỉnh cho các bậc phụ huynh chăm lo cho các em” có ĐTB chung là 3.34 điểm. Điểm trung bình trong các trường hợp đều ở mức độ đồng ý một phần, tức là còn một số đối tượng chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ ý nghĩa của hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục cho HS. Qua phỏng vấn một số GV, HT và PHT cho thấy, một số Cán bộ quản lý và GV coi giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục là công việc của gia đình. GV1, GV2, HT1, HT2, HP1, HP2 cho rằng “Vai trò của gia đình là một trong những nguyên nhân làm cho nạn xâm hại tình dục đối với trẻ em phát triển. Nhiều gia đình, bố mẹ lo tập trung làm ăn kinh tế, ít có sự quan tâm đến những biểu hiện không bình thường của con cái; nhiều vụ việc diễn ra trong một thời gian dài gia đình cũng không hay biết, chỉ đến khi con gái mang thai, cha mẹ mới hoảng hốt đưa con đến cơ sở y tế thì đã quá muộn”. Bên cạnh đó, GV3, GV4, HT3, HT4, HP3, HP4 cho rằng “học sinh tiểu học còn quá nhỏ, các em khó có khả năng phát hiện trước những nguy cơ bị Xâm hại tình dục, cũng như kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục vì đối tượng xâm hại tình dục là người lớn hơn, khỏe hơn. Chính vì vậy, cha mẹ, người thân trong gia đình cần phải có trách nhiệm, quan tâm, chăm sóc, quan sát các em khi đi ra đường”. Đây là hạn chế cần được quan tâm tại các trường tiểu học, các trường cần có biện pháp giúp GV, Cán bộ quản lý và Cha mẹ học sinh hiểu biết đầy đủ về ý nghĩa trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS tiểu học. Đặc biệt giúp họ nhận thức được hoạt động giáo dục KN phòng chống Xâm hại tình dục có ý nghĩa quan trọng giúp HS biết được những giá trị của bản thân, nâng cao ý thức tự vệ và kiến thức, kỹ năng trong phòng chống Xâm hại tình dục khi gặp những nguy cơ bị xâm hại tình dục. Hoạt động giáo dục này được diễn ra tại nhà trường, trong gia đình và ngoài xã hội.
Bảng 2.6 cho thấy, chỉ có nội dung: “Bảo vệ các em khỏi các tệ nạn xấu của XH” có điểm trung bình chung trong ý kiến của GV,CBQL và Cha mẹ học sinh cao nhất là 3.5 điểm, đạt ở mức độ đồng ý. Theo đó, cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bên Cát, tỉnh Bình Dương đã nhận thức được rằng, hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục có ý nghĩa giúp bảo vệ các em khỏi các tệ nạn xấu của XH, giúp các em yên tâm tham gia vào các hoạt động giáo dục nhà trường, đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh.
2.3.1.2. Thực trạng nhận thức về mục đích hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục giúp các em có thể bảo vệ mình, sống an toàn và khỏe mạnh trong một xã hội với nhiều biến đổi. Kết quả xử lý thông tin ý kiến của Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh về mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học được thể hiện ở bảng 2.7 như sau:
Bảng 2.7. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh về mục đích hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
Từ bảng 2.7 ta thấy rằng, nội dung “HS học được cách ứng xử phù hợp với người lạ” được Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh đánh giá với điểm trung bình cao nhất trong các nội dung ứng với mức độ đồng ý về mục đích của hoạt động giáo dục phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học. Điều đó cho thấy, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương đã thể hiện được sự nhận thức đúng về mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho Học sinh tiểu học, như đồng ý việc HS học được cách ứng xử phù hợp với người lạ là mục đích quan trọng trong hoạt động giáo dục này.
Bên cạnh đó, các nội dung khác về mục đích của hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục cũng được Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh nhận thức, tuy nhiên chưa có sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng tham gia khảo sát. Điểm trung bình trong các trường hợp ở mức độ đồng ý một phần, bao gồm “HS có kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục” có ĐTB chung trong đánh giá của các đối tượng là 3.34 điểm; “HS nhận thức được mối nguy hiểm khi có nguy cơ bị xâm hại” có ĐTB chung là 3.40 điểm; “HS biết cách bảo vệ cơ thể trước sự động chạm của người khác nếu các em không thích” có ĐTB chung là 3.36 điểm; “Học sinh bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục” có ĐTB chung của các đối tượng khảo sát là 3.34 điểm. Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức về mục đích hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học là chưa thực sự rõ ràng trong một số đối tượng được khảo sát.
Qua phỏng vấn Cán bộ quản lý, GV tại các trường tiểu học được khảo sát, chúng tôi có thêm một số thông tin xoay quanh nhận thức của Cán bộ quản lý, GV, cha mẹ trẻ về hoạt động giáo dục phòng, chống Xâm hại tình dục. HT5, HT6, GV5, GV6, HP5, HP6 cho rằng “Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng xâm phạm tình dục đối với trẻ em rất đa dạng, ngày càng tiềm ẩn nhiều tình huống nguy hiểm, bởi khả năng tiếp cận những ấn phẩm đồi trụy, internet, phim ảnh ngoài luồng có tính chất khiêu dâm ngày càng đơn giản cùng các hiện tượng tiêu cực khác ngoài xã hội đã tác động mạnh đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận lớp trẻ. Ngoài ra, hệ thống bảo vệ trẻ em ở nước ta vẫn chưa được như các nước khác trên thế giới, do đó hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho Học sinh tiểu học tuy rất quan trọng, nhưng để đạt được yêu cầu mục đích đề ra còn nhiều khó khăn, và cần có sự phối hợp giữa nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường thực hiện nội dung, phương thức tổ chức phù hợp với từng lứa tuổi, cũng như những phương án ngăn ngừa huy cơ xâm hại để bảo vệ học sinh là rất quan trọng”. Như vậy, để hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS tại các trường tiểu học trên đại bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, các trường tiểu học cần có kế hoạch bồi dưỡng, tuyên tuyền sâu rộng đến các lực lượng giáo dục nắm vững những mục đích quan trọng trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học để có sự phối hợp thực hiện hiệu quả. Bởi lẻ, khi xác định đúng mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học sẽ giúp nhà quản lý và giáo viên hiểu được học sinh, nắm bắt được những biểu hiện tâm lý học sinh, để có kế hoạch cụ thể trong tổ chức thực hiện giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, vận dung linh hoạt những phương pháp, hình thức, điều kiện để giúp HS có thể hình thành kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục, có thể nhận thức được mối nguy hiểm, đặc biệt giúp HS biết cách bảo vệ cơ thể trước sự động chạm của người khác hay tự bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.
2.3.2. Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một quá trình, trong đó người giáo viên cần giáo dục để học sinh tiểu học có khả năng nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục. Qua xử lý thông tin trong phiếu điều tra, chúng tôi thu được ý kiến của Cán bộ quản lý, GV về thực trạng mức độ thực hiện và kết quả thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Kết quả trình bày ở bảng 2.8 như sau:
Bảng 2.8. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV, PHHS về thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh
- Qua kết quả thống kê từ bảng 2.8 trên, chúng tôi có một số nhận định như sau:
Về mức độ thực hiện: Chỉ 1 nội dung “Giáo dục học sinh có kỹ năng mô tả cảm xúc của bản thân” được Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh cho rằng thường xuyên thực hiện. Các nội dung được Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh cho rằng thỉnh thoảng thực hiện bao gồm: HS có kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục; Giáo dục học sinh kỹ năng biết cự tuyệt- tránh xa- kể ra, khi học sinh gặp phải tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục; Giáo dục học sinh quy tắc năm ngón tay; Giáo dục học sinh không giữ bí mật một mình, học sinh có thể chia sẻ với người lớn mà học sinh tin tưởng. Các nội dung còn lại, bao gồm: Giáo dục học sinh kỹ năng nhận biết cảm giác an toàn và không an toàn; Giáo dục học sinh kỹ năng xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục được các đối tượng khảo sát cho rằng hiếm khi thực hiện.
Về kết quả thực hiện: Tất cả nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục đều được Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh cho rằng chỉ đạt ở mức trung bình.
Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý trong các trường, HT3, HT4, HT5 cho rằng “GV còn lúng túng và chưa vận dụng linh hoạt những phương pháp phù hợp trong khi thực hiện những nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh”. Qua đó, các trường cần có kế hoạch cụ thể trong việc tổ chức hướng dẫn cho GV thực hiện tốt nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh, giúp rèn luyện học sinh có kỹ năng mô tả cảm xúc bản thân, hiểu được những thay đổi của bản thân và có những biện pháp tự chăm sóc và tự bảo vệ mình trước những tình huống nguy hiểm về xâm hại tình dục.
Chúng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân của việc chưa thực hiện thường xuyên và kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh còn hạn chế. Qua phỏng vấn một số GV tại các trường tiểu học, GV1, GV3, GV5, GV6 cho rằng “vì áp lực về thời gian dạy các môn học chính, nên việc thực hiện các nội dung giáo dục liên quan đến kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh còn hạn chế, ít được quan tâm”. Vì vậy, các trường cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong nhà trường thực hiện thường xuyên hơn các nội dung giáo dục HS có kỹ năng ứng phó, biết cự tuyệt – trách xa những huy cơ bị xâu hại, giáo dục học sinh quy tắc nắm ngón tay, và biết chia sẽ cảm xúc, bí mật với người khác để đáp ứng yêu cầu mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS ở các trường tiểu học trên đại bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Mặt khác, GV1, GV3, GV5, GV6 cho biết “GV chưa được tập huấn trong việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục, các quy định về nội dung, chương trình, giáo án giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh chưa được thống nhất”. Qua đó, các nội dung trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương chỉ được đánh giá ở mức thấp, bởi lẻ phần lớn đội ngũ giáo viên chưa được bồi dưỡng, trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng tổ chức thực hiện các nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Đồng thời, các nội dung chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học cũng như sự phân công, phối hợp giữa các bộ phận chưa đồng bộ, phù hợp làm tạo nên áp lực cho các cá nhân khi thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng này. Như vậy, các trường cần tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên hiểu biết về các nội dung giáo dục này, giúp các thầy cô có thể xây dựng các hoạt động tích hợp vào nội dung môn học, tiết học hoặc các chủ đề của từng tháng thường xuyên và phù hợp hơn.
2.3.3. Thực trạng phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
Để thực hiện tốt các nội dung giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học cần có các phương pháp để các nội dung đi vào thực tiễn hơn. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát Cán bộ quản lý, GV về việc thực hiện các phương pháp giáo dục phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Kết quả thu được thể hiện ở bảng 2.9 sau:
- Bảng 2.9. Ý kiến của Cán bộ quản lý và GV về thực trạng phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại cho học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.9 chúng tôi nhận thấy phương pháp “Phương pháp tình huống” có ĐTBC là 3.43 điểm, ứng với mức độ thường xuyên thực hiện. Qua đó, cho thấy các thầy cô trong các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bên Cát, tỉnh Bình Dương đã sử dụng thường xuyên phương pháp tình huống để thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh. Việc sử dụng phương pháp tình huống sẽ tạo sự hứng thú cho học sinh khi tham gia giải quyết những tình huống đã được chuẩn bị, các tình huống cần phải gắn liền với thực tiễn và phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học để giúp các em rèn luyện kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục hiệu quả.
Tuy nhiên, các phương pháp như “Phương pháp thảo luận nhóm” có ĐTBC là 3.12 điểm; “Phương pháp đóng kịch” có ĐTBC là 3.22 điểm; “Phương pháp thuyết trình” có ĐTBC là 3.23 điểm; “Phương pháp trò chơi” có ĐTBC là 3.19 điểm. Điểm trung bình trong các trường hợp trên cho thấy, các phương pháp trên chỉ được sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng. Qua trò chuyện – phỏng vấn với một số GV tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bên Cát, phần lớn số lượng tham gia phỏng vấn còn lúng túng trong việc thực hiện các phương pháp hoặc việc sử dụng các phương pháp còn chưa được linh hoạt. Ý kiến trả lời gây sự chú ý nhất là GV5, GV6 cho rằng: tuy nhà trường đưa nội dung về giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS vào giảng dạy, rèn luyện cho học sinh, tuy nhiên để thực hiện các nội dung và đáp ứng yêu cầu, họ cần phải được tham gia bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ trong tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, cũng như tổ chức hội thảo, chuyên đề để họ có điều kiện trao đổi kinh nghiệm sử dụng phương pháp trong giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS phù hợp và linh hoạt về phương pháp”. Bên cạnh đó, Cán bộ quản lý còn cho rằng “Để đội ngũ GV nắm bắt được nội dung cũng như phương pháp thực hiện, nhà trường đã tổ chức các buổi nói chuyện, cung cấp tài liệu giúp GV tự bồi dưỡng (HT1,3,6)”.
Như vậy, để đáp ứng mục tiêu trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương ngoài tổ chức hướng dẫn cho GV tự bồi dưỡng, nhà trường cần phải có kế hoạch cụ thể trong việc tổ chức bồi dưỡng tập trung nhằm nâng cao trình độ, kiến thức về phòng chống Xâm hại tình dục học sinh cho đội ngũ giáo viên, khả năng vận dụng đa dạng, linh hoạt những phương pháp trong hoạt động giáo dục này, giúp HS hứng thú tham gia vào các hoạt động, hình thành kỹ năng cần thiết để phòng chống hiệu quả trước những nguy cơ bị xâm hại tình dục.
2.3.4. Thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học nhằm giúp cho các em nhận thức rõ hơn về các vấn đề của phòng chống xâm hại tình dục. Để tìm hiểu thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của Cán bộ quản lý, GV. Kết quả thu được ở bảng 2.10 sau:
- Bảng 2.10. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV, Cha mẹ học sinh về thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại cho học sinh
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.10 cho thấy, không có hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS được cho là thường xuyên thực hiện. Các đối tượng tham gia khảo sát cho rằng các hình thức sau được thực hiện ở mức thỉnh thoảng: “Thông qua trò chuyện, chia sẻ với HS” có ĐTBC là 3.24 điểm; “Thông qua tổ chức các chủ đề, chủ điểm hoạt động” có ĐTBC là 3.29 điểm. Các hình thức trò chuyện, chia sẻ với HS, tổ chức các chủ đề, chủ điểm hoạt động thường xuyên sẽ giúp học sinh có điều kiện tham gia, chia sẽ những bí mật, những điều khó nói. Trò chuyện để giúp GV có điều kiện tìm hiểu hoàn cảnh, tâm lý học sinh.
Các hình thức khác được đánh giá thấp, với điểm trung bình ở mức độ hiếm khi thực hiện, bao gồm “Thông qua lồng ghép vào các môn học chính khóa trên lớp” có ĐTBC là 2.55 điểm; “Thông qua hoạt động tư vấn” có ĐTBC là 2.60 điểm; “Thông qua các Câu lạc bộ tuổi thơ” có ĐTBC là 2.55 điểm.
Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học về nguyên nhân của thực trạng sử dụng các hình thức giáo dục còn hạn chế, HT4, HT5, HT6 cho rằng: “trường chúng tôi vẫn chưa có giáo viên chuyên trách về tham vấn tâm lý học đường, nên khi có trường hợp nào không may các em học sinh bị xâm hại tình dục thì các thầy cô cũng chỉ biết tư vấn, trò chuyện, chia sẻ thôi. Các trung tâm tư vấn ở xung quanh địa bàn cũng không có và chưa phổ biến nên rất ít khi chúng tôi sử dụng hoạt động hỗ trợ học sinh thông qua kết nối với các trung tâm tư vấn. Các thầy cô trong trường cũng chưa được tập huấn hay có kinh nghiệm trong tham vấn tâm lý. Vì thế chúng tôi tư vấn, trò chuyện với học sinh chủ yếu theo kiểu động viên, an ủi, khích lệ dựa trên kinh nghiệm sống cá nhân thôi”.
Như vậy, các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mới thực hiện thông qua trò chuyên, chia sẽ với học sinh hay qua các chủ đề là chủ yếu trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh, các hình thức như lồng ghép vào các môn học khác, các hoạt động tư vấn và Câu lạc bộ còn hạn chế, các trường cần có biện pháp để thực hiện đa dạng, phù hợp hơn trong các hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bên Cát. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ờ trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.4.1. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc quản lý giáo dục phòng chống xâm hại tình dục sẽ đảm bảo được các kế hoạch và nội dung thực hiện đạt hiệu quả cao. Qua khảo sát ý kiến của Cán bộ quản lý và GV, chúng tôi thu được thông tin trình bày ở biểu đồ 2.1 như sau.
Biểu đồ 2.1. Nhận thức cảu Cán bộ quản lý, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
Qua kết quả khảo sát chúng ta thấy rằng: 100% Cán bộ quản lý và giáo viên cho rằng, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học có tầm quan trọng (trong đó, 69,6% Cán bộ quản lý, giáo viên cho rằng rất quan trọng; 30,4% các thầy cô cho rằng ở mức quan trọng). Đây là dấu hiệu tích cực cần được phát huy đồng bộ trong các trường tiểu học trên địa bàn, vì khi họ xác định được những lợi ích từ công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS trong nhà trường, họ sẽ chủ động hơn và có những kế hoạch tổ chức thực hiện hiệu quả về hoạt động giáo dục kỹ năng này.
2.4.2. Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Xác định và thực hiện được mục tiêu quản lý hoạt động phòng, chống xâm hại tình dục giúp cho Cán bộ quản lý đề ra các kế hoạch và phương pháp đầy đủ hơn. Qua khảo sát ý kiến của Cán bộ quản lý và GV cho kết quả ở bảng 2.11 sau đây:
Bảng 2.11. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV về việc thực hiện mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Theo kết quả thống kê trong bảng 2.11 cho thấy, các nội dung thực hiện được các GV và Cán bộ quản lý trong các trường tham gia khảo sát đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ khá, bao gồm “Tổ chức, chỉ đạo giáo viên giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục đảm bảo học sinh có kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục” có ĐTBC là 3.51 điểm và “giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục đảm bảo học sinh biết cách ứng xử phù hợp với người lạ” cũng có ĐTB là 3.42 điểm. Như vậy, các trường trên địa bàn thị xã Bến Cát đã thực hiện ở mức khá trong việc chỉ đạo GV giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục đảm bảo học sinh có kỹ năng ứng phó, và đảm bảo học sinh biết cách ứng xử phù hợp với người là, đây là ưu điểm cần được phát huy tại các trường đáp ứng mục tiêu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh trong nhà trường.
Bên cạnh đó, các nội dung khác trong thực hiện mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục lỹ năng phòng chồng Xâm hại tình dục cho HS được các đội trượng tham gia khảo sát đánh giá kết quả thực hiện ở mức trung bình, bao gồm: “Nhà trường tổ chức cho cán bộ giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (ĐTBC=3.38); Nhà trường xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh (ĐTBC=3.40); Tổ chức, chỉ đạo giáo viên giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục đảm bảo học sinh nhận thức được mối nguy hiểm khi có nguy cơ bị xâm hại (ĐTBC=3.36); Tổ chức, chỉ đạo giáo viên giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục đảm bảo học sinh biết cách bảo vệ cơ thể trước sự động chạm của người khác nếu học sinh không thích (ĐTBC=3.37)”. Riêng các nội dung “Nhà trường phối kết hợp với các cơ quan ban ngành, gia đình để đảm bảo quyền lợi cho học sinh, đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh” có ĐTBC trong đánh giá giữa GV và Cán bộ quản lý là 2.57 điểm ứng với mức độ yếu về kết quả thực hiện. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Qua phỏng vấn với một số Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học tham gia khảo sát thực trạng, HT2, HT4, HT5 cho rằng “Nhà trường còn lúng túng trong việc huy động các nguồn lực, tài lực, chưa có sự thống nhất về nội dung thực hiện, khả năng phối hợp trong các lực lượng còn hạn chế”. Qua đó, nhà trường cần phải quyết liệt hơn và có những biện pháp hiệu quả để tạo sự đồng bộ trong phối hợp thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS giữa các lực lượng trong và ngoài nành trường.
2.4.3. Thực trạng quản lý nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Quản lý nội dung hoạt động phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học là nhiệm vụ chính của Cán bộ quản lý mà GV là người thực hiện các nội dung trên. Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả đánh giá thực trạng về quản lý nội dung phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học thị xã Bến Cát như sau:
Bảng 2.12. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV về thực trạng quản lý nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học
- Theo kết quả thống kê từ bảng 2.12 trên cho thấy:
Các nội dung trong quản lý nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS được các đối tượng tham gia khảo sát đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ khá, bao gồm: “Xây dựng kế hoạch phối kết hợp các lực lượng trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các tổ chức trong trường trong việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh” (ĐTBC=3.53 điểm); “Tổ chức các buổi dạy kỹ năng chung cho tất cả các học sinh trong nhà trường để các em hiểu và thực hiện được các kỹ năng” (ĐTBC=3.47 điểm) và “Khuyến khích giáo viên giáo dục học sinh tập dượt xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục” (ĐTBC=3.41 điểm). Như vậy, trong công tác quản lý hoạt động giáo dục KN phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, các trường đã thực hiện khá hiệu quả việc xây dựng kế hoạch phối hợp trong các lực lượng, cũng như tổ chức hiệu quả các buổi giáo dục kỹ năng cho HS, đặc biệt là tổ chức chỉ đạo GV tập dượt trong các tình huống mà HS có nguy cơ bị xâm hại, đầy là ưu điểm mà các trường cần được phát huy, duy trì trong công tác quản lý, giúp cho HS nâng cao kỹ năng phòng chống và né tránh trước những nguy cơ bị xâm hại tình dục.
Các nội dung khác trong công tác quản lý nội dung được đánh giá ở mức độ trung bình về kết quả thực hiện như “Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu nội dung giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giới tính, đặc biệt là kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học” (ĐTBC=3.38 điểm); “Chỉ đạo giáo viên sử dụng đĩa hình tiết dạy mẫu về phòng, chống xâm hại tình dục” (ĐTBC=3.25 điểm); “Xây dựng môi trường trường học thân thiện, tích cực để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh trong nhà trường” (ĐTBC=3.37 điểm). Việc sử dụng đĩa ghi hình trong các tiết dạy là cần thiết, để tạo cho HS yêu thích môn học, với những hình ảnh, video trực quan sinh đống sẽ tạo cho các em hứng thú hơn, có cái nhìn tổng quan hơn về nội dung giáo dục, tuy nhiên cần có sự nhất quán trong chỉ đạo thực hiện việc này đến các bộ phận. Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học, HT1, HT2, HT3 cho rằng “nhà trường đang khó khăn về kinh phí trong việc trang bị thiết bị dạy học, nhất là máy chiếu, máy vi tính phục vụ cho các tiết học có sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học”. Như vậy, tuy các trường đã thực hiện tổ chức cho giáo viên nghiên cứu về nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục HS, đã chỉ đạo GV sử dụng đĩa, video, hình ảnh trực quan trong tổ chức hoạt động giáo dục này, cũng như tích cực trong việc tạo điều kiện giúp HS được rèn luyện nâng cao kỹ năng phát hiện, tránh được những tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục xảy ra nhưng kết quả mang lại chưa cao.
Các nội dung sau có ĐTB thấp: “Huy động các lực lượng ngoài nhà trường như cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh” có ĐTBC là 2.58 điểm; “Tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy, tranh ảnh phù hợp để tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh hiệu quả” có ĐTBC là 2.60 điểm; “Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục” có ĐTBC là 2.58 điểm. Các nội dung kể trên có điểm trung bình đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát ở mức độ yếu về kết quả thực hiện. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Chúng tôi đã tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục còn hạn chế. Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý, GV tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bên Cát, phần lớn GV trả lời rằng “nhà trường chưa thống nhất về nội dung giáo duc kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, để thực hiện bài dạy rất khó khăn, phòng học không có thiết bị công nghệ thông tin để trình chiếu cũng như hỗ trợ tìm kiếm tài liệu trong chuẩn bị bài đáp ứng yêu cầu”. Đồng thời, Cán bộ quản lý cho rằng “hiện chưa có công cụ hay tiêu chí để tổ chức đánh giá khách quan về kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS trong nhà trường”. Đây là những hạn chế, thiếu sót mà các trường cần có phương án phù hợp nhằm khắc phục để nâng cao chất lượng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, giúp học sinh được khỏe mạnh về trí tuệ và tinh thần, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện.
2.4.4. Thực trạng quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Ngoài việc quản lý nội dung thì việc quản lý phương pháp thực hiện để có được hiệu quả trong việc phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học cũng cần được chú trong. Qua khảo sát Cán bộ quản lý, GV các trường tiểu học thị xã Bến Cát chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.13 sau:
Bảng 2.13. Ý kiến của Cán bộ quản lý, GV về thực trạng quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học.
Theo kết quả thống kê từ bảng 2.13 cho thấy, quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh các trường tiểu học thị xã Bến Cát còn nhiều hạn chế. Xử lý kết quả hỏi ý kiến các đối tượng khảo sát cho thấy, quản lý phương pháp và hình thức giáo dục chỉ đạt ở mức trung bình, thậm chí yếu. Các nội dung được đánh giá ở mức trung bình bao gồm: “Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ và biết cách sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học (ĐTBC=3.37); Động viên giáo viên dành thời gian quan tâm, trò chuyện, chia sẻ với học sinh vào lúc ra chơi, ngoài giờ học để học sinh có kiến thức, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (ĐTBC=3.40); Cán bộ quản lý tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh theo các chủ đề, chủ điểm vào các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo” (ĐTBC=3.38). Như vậy, các trường tiểu học trên đại bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tuy đã tổ chức hướng dẫn cho GV những phương pháp giáo dục, cũng như động viên GV dành nhiều thời gian quan tâm đến học sinh, trò chuyện, chia sẽ những kinh nghiệm, kiến thức liên quan đến phòng chống Xâm hại tình dục, và tổ chức các hoạt động quan buổi sinh hoạt chào cờ đầu tuần. Tuy nhiên, kết quả thực hiện chưa cao, chỉ ở mức độ trung bình. Bởi lẽ, công tác tổ chức hướng dẫn cho GV còn “đơn giản, làm qua loa, thiếu tài liệu hướng dẫn và trang thiết bị tra cứu thông tin” (kết quả phỏng vấn GV3, GV5) Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Các nội dung còn lại, theo Cán bộ quản lý, GV, kết quả thực hiện chỉ ở mức độ yếu, cụ thể: “Tạo điều kiện để giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trong các môn học như: Đạo đức, Thể dục (có ĐTBC=2.60); Thông qua phòng tư vấn tâm lý học đường của nhà trường, chỉ đạo giáo viên phụ trách tư vấn sẽ chia sẻ, tư vấn, giải đáp những thắc mắc cho học sinh những vấn đề liên quan tới giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (có ĐTBC=2.56); Xây dựng và quản lý các câu lạc bộ tuổi thơ trong nhà trường tiểu học (có ĐTBC=2.60)”. Việc lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục trong các môn học chính khác sẽ làm phong phú môn học và tăng thơi gian cho HS tương tác và tiếp xúc với những tình huống gắn liền với thực tế về nguy cơ bị xâm hại tình dục, đây là điều kiện giúp học sinh cũng cố và hình thành kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục hiệu quả. Tuy nhiên qua phỏng vấn một số GV tại các trường cho thấy, GV1, GV5, GV6 cho rằng “nhà trường rất quan tâm đến việc thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS, đặc biệt là thực hiện thông qua tích hợp trong các môn học khác, điều này làm khó khăn cho GV, GV áp lực về thời gian dạy nội dung môn học chính, thời gian dành để thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục không nhiều, với lại GV còn lúng túng khi thực hiện giáo dục vì chưa được bồi dưỡng/tập huấn về tổ chức theo hình thức tích hợp giáo dục kỹ năng này trong các môn”. Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học, trong đó HT5 cho rằng “hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS trong nhà trường còn mới mẻ, cần phải có sự phối hợp từ nhiều lực lượng khác nhau trong và ngoài nhà trường để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi giúp học sinh rèn luyện nâng cao kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh, tuy nhiên việc phối hợp thực hiện trong các lực lượng còn hạn chế”. Bên cạnh đó, qua phỏng vấn một số GV tại các trường cho thấy hiện này chưa có sự thống nhất trong các phương pháp và hình thức thực hiện. Khi tiến hành phỏng vấn GV về nội dung và hình thức giảng dạy kỹ năng phòng chống khi bị xâm hại, GV3, GV4 đều cho rằng cần giáo dục kỹ năng thoát thân khi có nguy cơ bị xâm hại: Cần dạy cho trẻ hiểu rằng khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục thì cùng với việc suy nghĩ ra cách thoát thân cần phải hướng đến việc cầu cứu từ bất cứ ai xung quanh như công an, bảo vệ… Hãy tìm cách gọi điện cho lực lượng phản ứng nhanh (113) hoặc hotline bảo vệ trẻ em quốc gia 18001567. Nếu khi bị kẻ xấu dọa dẫm đòi xâm hại thì dạy trẻ là hãy “giả vờ” phục tùng, tìm cơ hội lúc kẻ xấu sơ hở để chạy thật nhanh hoặc la hét thật lớn để cầu cứu những người xung quanh”. Trong khi đó, các GV cho rằng nên giáo dục trẻ em “Kỹ năng tránh xa” tức là cần dạy cho trẻ hiểu rằng không bắt chuyện hoặc làm quen với bất kỳ ai mà bé gặp trên đường nếu chưa có sự đồng ý của cha mẹ. Cha mẹ cũng cảnh báo cho con những nguy hiểm có thể gặp phải khi trẻ đi chơi một mình với người lạ hoặc đi đến nơi tối tăm, vắng vẻ, kín đáo là quan trọng.
Như vậy từ kết quả trên cho thấy, các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tình Bình Dương còn hạn chế trong công tác quản lý thực hiện phương pháp và hình thức phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, đặc biệt kết quả chỉ đạo GV lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục trong môn Đạo đức, Thể dục, cũng như thực hiện chỉ đạo GV tư vấn, chia sẻ, và trong xây dựng quản lý các câu lạc bộ chưa mang lại hiệu quả.
2.4.5. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học đòi hỏi các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, tài liệu… Để quản lý hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục, cần quản lý tốt các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục. Qua khảo sát Cán bộ quản lý, GV, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.14 như sau:
Bảng 2.14. Ý kiến Cán bộ quản lý, GV về thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học
Qua phân tích kết quả khảo sát ở bảng 2.14 cho thấy chỉ có nội dung “CBQL rà soát, kiểm ra, yêu cầu thư viện bổ sung tài liệu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học” trong công tác quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được GV và Cán bộ quản lý tham gia khảo sát đánh giá ở mức độ khá về kết quả thực hiện, ĐTBC là 3.45 điểm. Đây là điều đáng khích lệ vì trên thực tế Cán bộ quản lý trong các trường đã thường xuyên kiểm tra đánh giá và yêu cầu thư viên bổ sung tài liệu giúp các bộ phận tham khảo, thực hiện nhiệm vụ và đáp ứng yêu cầu đề ra trong hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục cho HS tiểu học.
Tuy nhiên, các nội dung được GV và Cán bộ quản lý tham gia khảo sát đánh giá ở mức độ trung bình về kết quả thực hiện công tác quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho HS tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương bao gồm: “Nhà trường chủ động bổ sung các loại sách giáo khoa, văn bản pháp luật, các tài liệu, kỷ yếu hội thảo về phòng chống xâm hại tình dục ở học sinh em” có ĐTBC là 3.37 điểm;
“Kiểm tra cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục” có ĐTBC là 3.38 điểm. Qua phỏng vấn một số GV tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, GV4, GV6 cho rằng “Nhà trường đã trang bị tài liệu về pháp luật, hình ảnh các đĩa ghi hình giúp GV tìm hiểu và soạn bài về những nội dung phòng chống Xâm hại tình dục cho HS nhưng tài liệu chưa được đa dạng, phong phú”. Việc trang bị đầy đủ về tài liệu, sách giáo khoa đa dạng sẽ cung cấp cho GV nguôn thông tin hữu ích trong việc chuẩn bị bài với những nội dung sinh động, lôi cuốn học sinh tham gia vào hoạt động học tập. Như vậy, các trường cần chủ động hơn và phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để có biện pháp phù hợp nhằm trang bị đầy đủ trang thiết bị dạy học, tổ chức kiểm tra, đảm bảo các trang thiết bị, cơ sở vật chất đủ điều kiện phụ vụ cho hoạt động giáo dục phòng chống Xâm hại tình dục cho HS thông qua tích hợp trong các môn học trong giờ lên lớp và ngoài giờ lên lớp. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Riêng các nội dung “Chuẩn bị nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục nói riêng” có điểm trung bình chung 2.52 điểm; “CBQL phối hợp với địa phương công an, các tổ chức đoàn hội tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng cho học sinh tiểu học về lĩnh vực phòng chống xâm hại tình dục” có điểm trung bình chung 2.44 điểm. Điểm trung bình trong các trường hợp trên ở mức độ yếu trong đánh giá kết quả thực hiện.
Qua phỏng vấn một số Cán bộ quản lý và GV tại các trường tiểu học tham gia khảo sát, trong đó HT2, HT3, HT5 cho rằng “nhà trường đang khó khăn về kinh phí cho các hoạt động ngoại khóa, cũng như trong trang bị thiết bị dạy học, công tác huy động nguồn lực từ các lực lượng còn hạn chế, đặc biệt kinh tế gia đình học sinh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn”. Bên cạnh đó, GV2, GV5 cho rằng “nhà trường đã chỉ đạo các bộ phận phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường, nhưng việc thực hiện chưa quyết liệt, chưa có kế hoạch cụ thể”. Như vậy, Cán bộ quản lý tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát chưa đáp ứng tốt các điều kiện về chuẩn bị kinh phí, cơ sở vật chất, khả năng phối hợp với các nguồn lực địa phương, các tổ chức đoàn của hỗ trợ cho hoạt động phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Để việc quản lý hoạt động phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học cần hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan. Qua đó, phân tích nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Qua khảo sát, chúng tôi thu được thông tin ở bảng 2.15 sau đây: Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Bảng 2.15. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, Bình dương
Từ kết quả thống kê bảng 2.15 cho thấy, phần lớn các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát được đánh giá ở mức độ rất ảnh hưởng như: “Môi trường kinh tế – xã hội của địa phương (ĐTB=4.53 điểm); Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trong gia đình (ĐTB=4.51 điểm); Cơ sở vật chất thiết bị tài chính phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (ĐTB=4.22 điểm)”. Trong đó, yếu tố “Môi trường kinh tế – xã hội của địa phương” được đánh giá với điểm trung bình cao nhất về mức độ ảnh hưởng, bởi lẻ sự phát triển kinh tế- xã hội sẽ kéo theo nhiều nhu cầu, khả năng tiếp cận khoa học, công nghệ đa dạng, hiện đại, những thông tin tiêu cực lẫn tích cực làm ảnh hưởng đến chất lượng trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS. Chính vì vậy, nhà trường và các lực lượng xã hội, cha mẹ học sinh cần có những biện pháp khai thác, sử dụng phù hợp những thông tin hữu ích, huy động nguồn lực, phối hợp đảm bảo các điều kiện cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho HS đáp ứng yêu cầu theo xu thế phát triển xã hội.
Các yếu tố chủ quan cũng được đánh giá cao, với điểm trung bình ở mức độ ảnh hưởng, cụ thể: yếu tố “Nhận thức và trình độ, năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục (ĐTB=4.09 điểm); Nhận thức của học sinh về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục” (ĐTB=3.81 điểm). Bởi lẻ, khả năng nhận thức đúng đắn của Cán bộ quản lý và GV sẽ giúp họ định hướng cũng như có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để thực hiện hiệu quả trong hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục và công tác quản lý hoạt động giáo dục này đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra, giúp học sinh tiểu học nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng phát hiện, ngăn ngừa trước những tình huống, nguy cơ bị xâm hại tình dục, tự bảo vệ bản thân.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Qua khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát cho thấy: Cán bộ quản lý đã triển khai hoạt động này ở các trường tiểu học, được thể hiện ở việc xác định mục tiêu của hoạt động; chỉ đạo lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động. Việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục trong tình trạng vấn nạn xâm hại tình dục ở trẻ em nói chung, học sinh tiểu học nói riêng đang trở nên nhức nhối, gây hoang mang, lo lắng cho cộng đồng xã hội là việc làm đáng được ghi nhận ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát. Địa bàn này vốn đang gặp rất nhiều rất khó khăn về an sinh xã hội, y tế, giáo dục do áp lực gia tăng dân số cơ học trong một vài năm gần đây.
2.6.2. Hạn chế
Kết quả khảo sát thực trạng về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục và công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát cho thấy, mặc dù hoạt động này đã được triển khai nhưng vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế cần khắc phục, như:
Hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho HS: Một bộ phận Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh chưa có sự hiểu biết đầy đủ và thấu đáo về ý nghĩa, mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh; Chưa thực hiện hiệu quả nội dung giáo dục học sinh kỹ năng nhận biết cảm giác an toàn và không an toàn, giáo dục học sinh kỹ năng xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục; Hình thức thực hiện thông qua lồng ghép vào các môn học chính khóa trên lớp, hoạt động tư vấn, và câu lạc bộ tuổi thơ hiếm khi được thực hiện;
Hoạt động quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát chưa được thực hiện tốt ở trong một số nội dung như:
Thực hiện mục tiêu quản lý: các trường chưa phối kết hợp hiệu quả với các cơ quan ban ngành, gia đình để đảm bảo quyền lợi cho học sinh, đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh;
Quản lý nội dung hoạt động: các trường chưa huy động hiệu quả các lực lượng ngoài nhà trường như cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh; Các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy, tranh ảnh trong tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh chưa phục vụ hiệu quả; Khả năng tổ chức kiểm tra việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục chưa thường xuyên và chưa mang lại kết quả cao; Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục: Các trường chưa thực hiện hiệu quả trong việc chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trong các môn học như: Đạo đức, Thể dục… Công tác tư vấn tâm lý học đường của nhà trường, chỉ đạo giáo viên phụ trách tư vấn chia sẻ, tư vấn, giải đáp những thắc mắc cho học sinh những vấn đề liên quan tới giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục chưa mang lại hiệu quả. Các trường chưa thực hiện tốt việc xây dựng và quản lý các câu lạc bộ tuổi thơ trong nhà trường tiểu học;
Quản lý các điều kiện phục vụ giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh: các trường chưa thực hiện việc chuẩn bị nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục nói riêng hiệu quả; Cán bộ quản lý phối hợp với địa phương công an, các tổ chức đoàn hội tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng cho học sinh tiểu học về lĩnh vực phòng chống xâm hại tình dục còn hạn chế.
2.6.3. Nguyên nhân
Một số Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên ở trường tiểu học chưa thật sự nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Kế hoạch dạy học, giáo dục của một số trường tiểu học chưa thể hiện rõ, đầy đủ từng nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở từng giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học. Một số giáo viên thiếu sự năng động, tìm tòi sáng tạo trong các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho trẻ. Quá trình giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho trẻ của giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, chưa thấy được vai trò tích hợp của việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giáo dục, rèn luyện kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh.
Công tác quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vẫn còn mang tính hình thức, thiếu kế hoạch chiến lược. Công tác kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo tính thường xuyên nên những tồn tại, thiếu sót không được kịp thời khắc phục.
Trình độ, năng lực của giáo viên trong giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh nói riêng còn hạn chế. Thực hiện giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh còn mang tính kinh nghiệm, vốn sống, tự phát nên hiệu quả giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho trẻ chưa cao.
- Việc tiếp cận với những vấn đề về giới tính của học sinh vẫn còn khá e dè.
- Không có tài liệu hướng dẫn chính thức nào cho học sinh em về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
- Các hình thức, phương pháp dạy kỹ năng chưa được chú trọng đầu tư, ít triển khai rộng về các vấn đề xã hội.
- Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu thực hành.
- Đối tượng giáo dục là học sinh tiểu học nên gặp khó khăn trong việc lựa chọn kiến thức, ngôn ngữ diễn đạt.
- Thời gian nhà trường dành cho việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học còn ít.
- Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự kết hợp chặt chẽ.
- Phụ huynh còn có tâm lý lảng tránh, không muốn đề cập đến vấn đề giáo dục giới tính cho con em mình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
Kết quả khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát cho thấy:
Ở các trường tiểu học, hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học đã được triển khai thực hiện, thể hiện ở việc xác định mục tiêu của hoạt động; lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động. Tuy nhiên, hoạt động này còn nhiều hạn chế ở cả nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, điều kiện hỗ trợ chưa phát huy hết vai trò của các lực lượng giáo dục trong nhà trường để giáo dục, rèn luyện kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Hoạt động này có biểu hiện chạy theo phong trào, thiếu đầu tư và chưa xác định đúng mục tiêu nên chưa đạt hiệu quả.
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học ở trường tiểu học thị xã Bến Cát còn nhiều hạn chế. Cán bộ quản lý và giáo viên các trường tiểu học chưa nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học. Đội ngũ Cán bộ quản lý, GV còn thiếu các kiến thức cơ bản về các nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Việc xác định mục tiêu, chỉ đạo lựa chọn nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học còn nhiều hạn chế, được đa số ý kiến đánh giá ở mức trung bình và khá, đòi hỏi cần được khắc phục trong thời gian tới. Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức nên không có tác dụng để đối chiếu với mục tiêu đề ra cũng như điều chỉnh hoạt động này cho phù hợp trong thời gian tiếp theo.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Yếu tố được đánh giá ảnh hưởng lớn nhất là năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên. Tiếp theo là nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học.
Ngoài ra, môi trường sống ở đô thị công nghiệp mà các bậc phụ huynh đa số là lao động phổ thông nhập cư với sự hạn chế về nhận thức cũng là những yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh nói riêng ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Kết quả khảo sát thực trạng ở chương 2 sẽ là căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

