Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Hiện nay, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em đang có xu hướng gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp. Xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang trở thành mối quan tâm lớn của mọi gia đình và toàn xã hội. Đặc biệt, đối với nạn nhân là học sinh tiểu học, các em dễ bị tấn công tình dục do bản thân còn nhỏ dại, trong sáng và không có kiến thức nên rất dễ bị xâm hại. Khi đã bị xâm hại nhiều học sinh bị rơi vào mặc cảm tội lỗi, thấy mình không có giá trị, tự ti về bản thân nên rất dễ trở thành nạn nhân của các vụ tiếp theo. Nghiêm trọng hơn khi lớn lên các em không dám quan hệ với người khác giới, đánh mất niềm tin cuộc sống, buông xuôi cuộc đời phụ thuộc vào các chất gây nghiện, tệ nạn xã hội.

Từ diễn biến phức tạp của tình trạng xâm hại trẻ em và những hậu quả của nó để lại đã và đang đặt ra cho xã hội, gia đình và ngành giáo dục, đặc biệt là trường tiểu học nhiệm vụ cấp bách trong việc dạy cho học sinh các kỹ năng để nhận biết các tình huống và phòng chống xâm hại tình dục. Nhà trường phải có những biện pháp hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học giúp các em nhận rõ được giá trị của bản thân, thể hiện được lòng tự trọng và bản lĩnh của mình.

Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý thuyết và thực tiễn hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học cũng như công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng này tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Kết quả nghiên cứu thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát đã chỉ ra được những hạn chế, thiếu sót như:

Một bộ phận Cán bộ quản lý, GV và Cha mẹ học sinh chưa có sự hiểu biết đầy đủ và thấu đáo về ý nghĩa, mục đích của hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh. Chưa thực hiện hiệu quả nội dung giáo dục học sinh kỹ năng nhận biết cảm giác an toàn và không an toàn, giáo dục học sinh kỹ năng xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục. Hình thức thực hiện thông qua lồng ghép vào các môn học chính khóa trên lớp, hoạt động tư vấn, và câu lạc bộ tuổi thơ hiếm khi được thực hiện;

Các trường tiểu học chưa phối kết hợp hiệu quả với các cơ quan ban ngành, gia đình để đảm bảo quyền lợi cho học sinh, đạt được mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh;

Các trường tiểu học chưa huy động hiệu quả các lực lượng ngoài nhà trường như cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh. Các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy, tranh ảnh trong tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh chưa phục vụ hiệu quả. Khả năng tổ chức kiểm tra việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục chưa thường xuyên và chưa mang lại kết quả cao; Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Các trường tiểu học chưa thực hiện hiệu quả trong việc chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trong các môn học như: Đạo đức, Thể dục. Công tác tư vấn tâm lý học đường của nhà trường, chỉ đạo giáo viên phụ trách tư vấn chia sẻ, tư vấn, giải đáp những thắc mắc cho học sinh những vấn đề liên quan tới giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục chưa mang lại hiệu quả. Các trường chưa thực hiện tốt việc xây dựng và quản lý các câu lạc bộ tuổi thơ trong nhà trường tiểu học;

Các trường chưa thực hiện việc chuẩn bị nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục nói riêng hiệu quả. Cán bộ quản lý phối hợp với địa phương công an, các tổ chức đoàn hội tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng cho học sinh tiểu học về lĩnh vực phòng chống xâm hại tình dục còn hạn chế.

Để khắc phục những hạn chế thiếu sót trên, người nghiên cứu đã đề xuất 5 biện pháp quản lý, bao gồm: Nâng cao nhận thức của giáo viên nhà trường, cha mẹ và người giám hộ về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh; Tổ chức tập huấn kiến thức, phương pháp giáo dục giới tính và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường; Tăng cường chỉ đạo giáo viên hình thành các kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm và lồng ghép các môn học; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh; Đẩy mạnh kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh.

Các biện pháp được xác định là khả thi và cần thiết để khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học ở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang trở thành mối quan tâm lớn của mọi gia đình và toàn xã hội. Những vụ án gần đây làm nóng dư luận xã hội chính là sự cảnh báo đến các bậc cha mẹ, đòi hỏi cha mẹ có sự quan tâm nhiều hơn đến con cái đồng thời cũng cần có đủ kiến thức, kỹ năng để bảo vệ con em mình. Hiện nay, trên các trang báo liên tục xuất hiện những tin tức về xâm phạm tình dục trẻ em xảy ra ở cả đối tượng bé trai và bé gái và đang có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp hơn. Xâm hại tình dục trẻ em là một trong những vấn đề đang gây phẫn nộ trong cộng đồng xã hội.

Theo thống kê của Cục Bảo vệ – Chăm sóc trẻ em (thuộc Bộ Lao động -Thương binh và xã hội), trong giai đoạn từ 2012 – 2014, đặc biệt là vào năm 2014, nạn xâm hại, ngược đãi, bạo hành trong gia đình tăng gấp 3 lần, ở cộng đồng tăng 7 lần, trong trường học tăng 13 lần. Theo UNICEF, trong 5 năm qua, có khoảng 5.300 vụ xâm hại tình dục trẻ em tại Việt Nam, nghĩa là cứ 8 giờ trôi qua lại có một bé bị xâm hại. Đau lòng hơn là hàng trăm trẻ dưới 6 tuổi cũng trở thành nạn nhân. Trong đó, thông tin 5 tháng đầu năm 2025, có 735 trẻ em bị xâm hại (Theo báo Tuổi Trẻ online ngày 28/7/2024). Tuy nhiên, những con số này trên thực tế còn lớn hơn rất nhiều bởi các vụ xâm hại vẫn còn bị che dấu do sự kém hiểu biết về pháp luật, đặc biệt là Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Lứa tuổi học tiểu học là lứa tuổi dễ bị tấn công tình dục do bản thân các em còn nhỏ dại, trong sáng và không có kiến thức nên rất dễ bị xâm hại, thậm chí khi đã bị xâm hại nhiều trẻ cũng không biết. Đối tượng xấu có thể là hàng xóm, là họ hàng người thân thường dụ dỗ các em bằng việc cho quà bánh, bằng hành vi âu yếm khiến nhiều phụ huynh chủ quan cho rằng con không thể bị đưa vào “chuyện người lớn”. Sự xâm hại thể hiện dưới nhiều hình thức như xâm hại về thể xác, về vật chất hoặc về tinh thần mà đôi khi không dễ nhận ra ngay nguy cơ và mức độ nguy hiểm của chúng. Trẻ em khi bị xâm hại phải chịu sang chấn tâm lý mạnh mẽ, tật nguyền về tinh thần và đau đớn về thể xác. Các em bị rơi vào mặc cảm tội lỗi, thấy mình không có giá trị, tự ti về bản thân nên rất dễ trở thành nạn nhân của các vụ tiếp theo. Nghiêm trọng hơn khi lớn lên các em không dám quan hệ với người khác giới, đánh mất niềm tin cuộc sống, buông xuôi cuộc đời phụ thuộc vào các chất gây nghiện (ma túy, sex) trở thành gái mại dâm…

Diễn biến phức tạp của tình trạng xâm hại trẻ em và những hậu quả của nó để lại đã và đang đặt ra cho xã hội, gia đình và ngành giáo dục, đặc biệt là trường tiểu học nhiệm vụ cấp bách trong việc dạy cho học sinh các kỹ năng để nhận biết các tình huống và phòng chống xâm hại tình dục. Học sinh trong độ tuổi tiểu học, do khả năng nhận thức, kinh nghiệm sống cũng như khả năng tự bảo vệ còn nhiều hạn chế, nên công tác giáo dục kỹ năng này càng cần được chú trọng hơn. Khi trẻ có kỹ năng nhận biết, phòng chống và xử trí khi bị xâm hại sẽ giúp các em nhận rõ được giá trị của bản thân, thể hiện được lòng tự trọng và bản lĩnh của mình.

Để tăng cường giải pháp phòng, chống và xử lý kịp thời các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em, giảm tối đa các tổn hại và bảo đảm quyền, lợi ích của trẻ em, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị: Số: 18/CT-TTg ngày 16 tháng 05 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ chỉ thị về việc tăng cường giải pháp phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ em.

Công văn số 995/LĐTBXH-TE ngày 17/3/2024 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội V/v tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, thực hiện các giải pháp phòng, chống xâm hại, bạo lực trẻ em; Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em số 25/2011/QH11, được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2011, trẻ dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập; Luật trẻ em số 102/2023/QH13 đã ban hành những quy định: Theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo độ tuổi. Chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ em. Phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em. Tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định pháp luật; Thông báo số 117/TB-VPCP khẳng định: Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo và có biện pháp quản lý, giám sát, công khai hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Thực hiện kế hoạch số 48 KH/HĐĐTW ngày 17/3/2024 của Hội đồng Đội Trung ương về việc tổ chức chương trình “Hãy lên tiếng” phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em năm 2024; Chương trình công tác Đội và phong trào thiếu nhi, năm học 2023 – 2024. Ngày 26/4/2024, tại Hội trường Nhà Thiếu nhi tỉnh Bình Dương, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Hội đồng Đội tỉnh tổ chức tập huấn kỹ năng tuyên truyền phòng chống xâm hại tình dục ở trẻ em với sự tham gia của 236 đại biểu là Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội Đồng đội các huyện, thị, thành phố và giáo viên làm Tổng phụ trách Đội của 231 Liên đội trên địa bàn tỉnh.

Bến Cát là một trong những huyện thị của tỉnh Bình Dương có tốc độ đô thị hóa cao với nhiều khu công nghiệp. Do đó, nhiều nhà trọ mọc lên, mở cửa đón dân nhập cư từ khắp nơi đổ về sinh sống, đã khiến Bến Cát thành một mảnh đất ẩn trú và phát sinh nhiều loại tội phạm. Trong đó, xâm hại tình dục (XHTD) trẻ em đang trở thành vấn nạn.

Trước thực trạng đó, thời gian qua, dưới sự chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương, các cấp, ngành trong tỉnh nói chung và thị xã Bến Cát nói riêng đã triển khai nhiều hoạt động; trong đó tập trung tuyên truyền, cung cấp cho các em những kiến thức về giới, hành vi xâm hại tình dục và kỹ năng ứng phó. Các đơn vị trường học cũng đã tập trung tuyên truyền và tổ chức nhiều chuyên đề về kỹ năng phòng ngừa, xử lý các hành vi, tình huống xâm hại tình dục cho các em về mối nguy hiểm và hậu quả của các yếu tố xâm hại cũng như cung cấp địa chỉ các cơ quan có thể hỗ trợ, can thiệp…

Tuy nhiên, trên thực tế, việc giáo dục trẻ em những kỹ năng nhận biết và phòng chống sự xâm hại còn là một khoảng trống lớn, do chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống nói chung, và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Quyền Trẻ em còn chưa được quan tâm đúng mức. Tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, lãnh đạo các trường thường chỉ tập trung vào các biện pháp và kế hoạch để nâng cao chất lượng về chuyên môn, mà chưa tập trung cao vào công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh chưa được chú trọng do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau.

Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương” để làm luận văn tốt nghiệp.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Trên cơ sở lý luận, đề tài phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học công lập tại địa phương nhằm giúp các em có được những kỹ năng phòng, chống xâm hại cần thiết để tự bảo vệ bản thân mình.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lí luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh trường tiểu học.
  • Tìm hiểu, phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

5. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã được quan tâm và thực hiện tương đối tốt nhưng chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Nếu nghiên cứu xây dựng được hệ thống lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục theo tiếp cận các chức năng quản lý và phân tích đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý hữu hiệu hoạt động này một cách cần thiết và khả thi, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung

Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.

6.2. Về địa bàn

  • Các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

6.3. Về thời gian

  • Đề tài khảo sát thực trạng trong thời gian từ năm học 2024 – 2025; 2025 – 2026.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Quan điểm phương pháp luận

7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục với quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong điều kiện về không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý của các trường tiểu học ở địa phương, tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh phù hợp với thực tiễn.

7.2. Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp này dùng để phân tích và tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.

7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Để đánh giá khách quan về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:

  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

Mục đích: Tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục ở trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Chúng tôi cũng dùng phương pháp này để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.

Nội dung: Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến cát, tỉnh Bình Dương (gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở ở 5 đối tượng: Ban giám hiệu; Giáo viên chủ nghiệm; Giáo viên bộ môn; Học sinh và phụ huynh học sinh). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Cách tiến hành: Xây dựng 3 phiếu khảo sát gồm:

Phiếu 1: Dành cho cán bộ lãnh đạo (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn) và giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn của 6/15 trường nghiên cứu nhằm tìm hiểu về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Phiếu 2: Dành cho cha mẹ học sinh ở 6/15 trường. Nội dung câu hỏi về nhận thức của các em và cha mẹ học sinh đối với việc giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục, sự cần thiết về giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục, về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục…

Phiếu 3: Hỏi ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục mà đề tài đề xuất.

  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Đề tài nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục như: Hồ sơ quản lý, kế hoạch, biên bản, báo cáo, sơ kết, tổng kết, giáo án, biên bản kiểm tra đánh giá…, sản phẩm học tập của học sinh (vở ghi, tranh vẽ, bài kiểm tra,…). Qua các sản phẩm đó thu thập thông tin cho đề tài.

  • Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: đây là phương pháp nghiên cứu bổ trợ của đề tài. Phỏng vấn để thu thập, đối chiếu các thông tin về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học công lập trên địa bàn thị xã Bến cát, tỉnh Bình Dương.

Nội dung và cách thức tiến hành: Trao đổi với một số cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và giáo viên về thuận lợi, khó khăn, về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục, các chức năng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Phương pháp khảo nghiệm

Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá tính cần thiết và khả thi của các biện pháp, góp phần nâng cao chất lượng trong quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp được thực hiện thông qua bảng khảo sát để lấy ý kiến của các giáo viên và cán bộ quản lý đang công tác tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, trong đó các nội dung khảo nghiệm là đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của 5 biện pháp đã được đề xuất.

7.2.3. Phương pháp thống kê toán học

Đối với dữ liệu định lượng: sử dụng phần mềm SPSS để phân tích những dữ liệu về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đối với dữ liệu định tính: các cuộc phỏng vấn sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần nghiên cứu. Các nội dung này được sử dụng phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ hơn thực trạng nghiên cứu.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho học sinh ở trường tiểu học.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho học sinh tiểu học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn.

9. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Thực trạng trên thế giới hiện nay các vụ xâm hại tình dục ở trẻ em rất đáng báo động. Chẳng hạn như tại Anh, cứ 20 trẻ lại có 1 trẻ bị bạo hành tình dục. Theo số liệu thống kê năm 2020 có đến 3000 trẻ cần được bảo vệ khỏi xâm hại tình dục. Trong đó, 1/3 trẻ bị lạm dụng tình dục mà không dám nói cho ai biết. Hơn 90% vụ lạm dụng tình dục mà người gây ra lại chính là những người thân với gia đình. Đặc biệt, trẻ khuyết tật có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao gấp 3 lần so với trẻ bình thường (Theo báo cáo của Hiệp hội Quốc gia ngăn chặn tội ác với trẻ em gọi tắt là NSPSS, 2020).

Trong khi đó, tại Mỹ, cứ 8 phút lại có 1 trẻ bị xâm hại tình dục. Có đến 1/7 trẻ bị gã gẫm tình dục trên mạng xã hội. 34% nạn nhân bị xâm hại tình dục khi dưới 12 tuổi. 60% đối tượng xâm hại là người quen, 30% là họ hàng và 10% là người lạ (Theo báo cáo của trung tâm quản lý đối tượng tội phạm của Bộ tư pháp Mỹ, 2020).

Việc trẻ bị xâm hại tình dục để lại những hậu quả khôn lường và nghiêm trọng cả về thể xác lẫn tinh thần của trẻ. Nhiều nhà nghiên cứu, tổ chức, các chính phủ, các quốc gia trên thế giới đã quan tâm, nghiên cứu, điều tra về xâm hại tình dục trẻ em.

Cuốn sách “Lạm dụng tình dục trẻ em- Nỗi phẫn uất của cộng đồng” của tác giả Ron O’ Grady- một chuyên gia của tổ chức ECPAT (Tổ chức chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục, được thành lập vào những năm 1990 ở Thái Lan) đã miêu tả một thực tế rằng hàng nghìn trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái trên khắp châu Á đang là nạn nhân của nạn lạm dụng tình dục. Những câu chuyện được Ron O’ Grady nói tới trong cuốn sách của mình là những câu chuyện về những đứa trẻ nghèo, bị lừa bán vào các ổ mại dâm, bị ép bán thân, trở thành gái mại dâm trong những “sex tour”, trở thành món đồ chơi trong những cuộc vui xác thịt của người lớn. Cuốn sách đã gửi tới thông điệp nhằm kêu gọi sự quan tâm và huy động sự nỗ lực của toàn xã hội cho cuộc đấu tranh nhằm ngăn chặn và diệt trừ một tệ nạn đang có nguy cơ biến thành thảm họa lạm dụng tình dục trẻ em (Nguyễn Minh Phương, 2023).

Nghiên cứu của tác giả Finkelhor vào năm 2016 về vấn đề này đã đưa ra nhận định rằng, xâm hại tình dục trẻ em bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới 17 tuổi là nạn nhân. Trong nghiên cứu của mình, Finkelhor đã kiểm tra, khảo sát các sáng kiến nhằm ngăn ngừa lạm dụng tình dục trẻ em, tập chung vào hai chiến lược chính, bao gồm quản lý người phạm tội và các chương trình giáo dục trong nhà trường. Ông giải thích rằng các chương trình giáo dục ở nhà trường dạy cho trẻ những kỹ năng như làm thế nào để xác định tình huống nguy hiểm, từ chối sự tiếp cận của kẻ hành hung và huy động sự trợ giúp. Finkellhor cũng chỉ ra bằng chứng rằng sự hỗ trợ các chiến lược tư vấn cho người phạm tội, đặc biệt là người chưa thành niên sẽ giảm bớt sự tái phạm và ngăn ngừa những hệ quả tiêu cực về sức khỏe tâm thần và cuộc sống sau này (Finkelhor, 2016).

1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Ỏ Việt Nam vấn đề xâm hại tình dục đang trở thành chủ đề nhức nhối, số lượng lớn trẻ bị xâm hại mỗi năm đang trở thành hồi chuông cảnh báo cho sự biến chất, suy đồi đạo đức xã hội và gây lên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Do đó, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về vấn đề này.

“Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục”- một nghiên cứu của tác giả Dương Tuyết Miên (giảng viên khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội) được đăng tải trên Đặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học. Nghiên cứu đã đi sâu phân tích những tổn hại tâm lý mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân của tội này. Đó không chỉ đơn thuần là thiệt hại về thể chất mà còn là những thiệt hại về tinh thần, bị sốc, đau đớn về thể xác, bị lây nhiễm các bệnh về tình dục trong đó có bệnh HIV hoặc có thai. Những hậu quả này không chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn mà có thể tồn tại trong một thời gian dài sau khi vụ hiếp dâm xảy ra. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục như: Đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về việc quy định biện pháp xử lý tội hiếp dâm trong bộ luật hình sự cũng như việc xét xử tội này; thành lập những trung tâm tư vấn về tâm lý để giúp cho người phụ nữ (là nạn nhân của tội hiếp dâm) có thể tâm sự để trút gánh nặng tâm lý, vơi bớt nỗi đau đè nặng trong lòng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công dân (Dương Tuyết Miên, 2012).

Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta thời kỳ 2000- 2017” của các chuyên gia thuộc Cục phòng chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội. Đề tài đã đưa ra những nhận định, đánh giá và quan điểm về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn trong nước, từ đó xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục thời kỳ 2000- 2017. Các chuyên gia của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội đã phác họa vắn tắt thực trạng tình hình trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta cũng như thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục; đề xuất một số chiến lược tổng hợp với một tiêu tổng quát: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trong mỗi gia đình và toàn xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục,…” (Nguyễn Minh Phương, 2023).

Đề tài “Nghiên cứu tình hình bị lạm dụng tình dục ở học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang” của Phạm Trung Thông và Võ Văn Thắng báo cáo trong Hội nghị khoa học bện viện quận Thủ Đức TP. Hồ Chí Minh nhằm xác định tỷ lệ học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang bị lạm dụng tình dục. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ trẻ em học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang bị lạm dụng tình dục chiếm tỷ lệ khá cao 36,19% (Phạm Xuân Thông; Võ Văn Thắng, 2017). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Luận văn “Các tội phạm xâm hại tình dục trong Luật hình sự Việt Nam” của Phan Thị Lương Hiền. Luận văn đã chỉ ra những tồn tại và hạn chế của thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cũng như nguyên nhân của những tồn tại đó, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, bao gồm các nhóm giải pháp: nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách, pháp luật; nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện; nhóm giải pháp cụ thể (Nguyễn Tuấn Thiện, 2022).

Luận văn “Phối hợp các lực lượng cộng đồng trong phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên” của Võ Nguyễn Minh Hoàng (năm 2024). Luận văn khảo sát thực trạng nhận thức của cộng đồng, thực trạng phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên, nhận thấy vấn đề cần quan tâm nhất trong việc phối hợp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em của các lực lượng cộng đồng chính là việc trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em cũng như cho cả cộng đồng và các hình thức, cơ chế phối hợp các lực lượng cộng đồng chặt chẽ hơn trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục cho trẻ em (Võ Nguyễn Minh Hoàng, 2024).

Ngày 16/3/2024, báo Tiền Phong phối hợp với trường Đại học Văn Hiến tổ chức Tòa đàm: “Chống xâm hại tình dục trẻ em”. Các chuyên gia đã đưa ra rất nhiều ý kiến bổ ích để nhận diện tội ác xâm hại tình dục trẻ em, dạy cho trẻ biết cách phòng vệ trước nguy cơ bị xâm hại v.v… Tòa đàm đã thống nhất thông điệp thiết thực là dạy cho trẻ biết cách phòng vệ trước nguy cơ bị xâm hại. Khi trẻ đã bị xâm hại thì phải dạy cho trẻ biết cách tố cáo hành vi này để người lớn phối hợp với cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ trẻ em đưa được thủ phạm ra trước pháp luật xử lý và bảo vệ được chính đứa trẻ.

Nhằm đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình xâm hại tình dục trẻ em, tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, việc chấp hành các quy định của pháp luật về đấu tranh, phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, xác định trách nhiệm của các cơ quan, hữu quan và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung và công tác phòng, chống tội phạm tình dục trẻ em nói riêng, ngày 27/3/2024, tại Hà Nội, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội phối hợp với Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội tổ chức họp với các cơ quan, tổ chức hữu quan về “Việc chấp hành các quy định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em”. Liên quan đến việc chấp hành các qui định của pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có tới 9 cơ quan liên quan. Đó là, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.

Từ việc khái quát những nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, nghiên cứu về phòng chống xâm hại tình dục trẻ em đã được nhiều tác giả, tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu. Tuy nhiên, nghiên cứu về giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em trong nhà trường tiểu học còn bỏ ngỏ. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục học sinh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

1.2. Một số khái niệm Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.2.1. Khái niệm xâm hại trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em

  • Khái niệm xâm hại trẻ em

Theo Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em, trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Xâm hại trẻ em bao gồm mọi hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lột gây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hay quyền hạn” (Tổ chức tầm nhìn thế giới, 2021).

  • Các hành vi xâm hại trẻ theo khái niệm này, đó là:

Xâm hại thể chất: là khi một người chủ đích gây thương tổn hoặc đe dọa gây thương tổn cho trẻ, bao gồm: đánh, đấm, đá, bóp cổ, quăng quật, giam hãm,…

Xâm hại tinh thần: là việc ai đó lặp đi lặp lại các hình thức ngược đãi tinh thần trẻ em trong một thời gian dài. Xâm hại tinh thần gây tổn hại đến lòng tự trọng của trẻ, bao gồm: dọa dẫm, khủng bố tinh thần, chế nhạo, cô lập trẻ. Có một điều chúng ta cần nhấn mạnh đó là tất cả các hình thức xâm hại đều gây ra những thương tổn về tinh thần đối với trẻ.

Xâm hại tình dục: Là việc ai đó dùng quyền lực hoặc lợi dụng lòng tin để lôi kéo trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Xao nhãng: là việc ai đó không đáp ứng những hình thức chăm sóc cơ bản đối với trẻ em, bao gồm: bỏ mặc trẻ trước những nguy cơ, từ chối việc chăm sóc y tế hoặc các nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ.

Theo Luật Trẻ em 2023, khái niệm về xâm hại trẻ em được hiểu như sau: “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác”.

  • Theo khái niệm này, các hành vi xâm hại bao gồm:

Bạo lực trẻ em: là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.

Bóc lột trẻ em: là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi.

Xâm hại tình dục trẻ em: là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em: là hành vi của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.

Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, xâm hại trẻ em là việc ai đó có những hành vi gây tổn hại đến thể chất và tinh thần, danh dự của trẻ dưới các hình thức xâm hại tình dục, bóc lột, bạo lực, mua bán, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.

  • Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em

Có nhiều định nghĩa về xâm hại tình dục trẻ em. Tuy nhiên, có thể điểm qua một số khái niệm về xâm hại tình dục trẻ em như sau: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), xâm hại tình dục trẻ em được định nghĩa: “Xâm hại tình dục trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục, mà trẻ không đủ khả năng (hoặc không hiểu), hoặc không đủ tâm thế để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm pháp luật hay các giá trị văn hóa của cộng đồng sở tại” (Tổ chức tầm nhìn thế giới, 2021).

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “ Xâm hại tình dục trẻ em là sự tham gia của một đứa trẻ vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó không có ý thức đầy đủ, không có khả năng đưa ra sự chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc các thuần phong mỹ tục của xã hội” (Võ Nguyễn Minh Hoàng, 2024).

Về mặt pháp lý, theo khoản 8, điều 4 Luật Trẻ em 2023: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” (Luật trẻ em, 2023).

Hành vi xâm hại tình dục có thể thay đổi từ việc sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ, thủ dâm, tiếp xúc miệng với bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay, giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn. Xâm hại tình dục ở trẻ em không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả những hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy, kể cho trẻ nghe về tình dục, cho xem phim, truyện khiêu dâm, tìm cách hướng dẫn, kích thích tình dục trẻ, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em.

Theo định nghĩa của Finkelhor (2016): “child sexual abuse to include the entire spectrum of sexual crimes and offenses in which children up to age seventeen are victims”  (tạm dịch là: xâm hại tình dục được hiểu là bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ dưới 17 tuổi là nạn nhân) (Finkelhor D, 2016).

Với định nghĩa này, xâm hại tình dục được hiểu là bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ dưới 17 tuổi là nạn nhân. Cũng theo định nghĩa này, người phạm tội hoặc có hành vi xâm hại tình dục trẻ em có thể là người lớn, người quen biết hoặc không quen biết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác. Bên cạnh những hành vi phạm tội xâm hại tình dục có giao cấu, định nghĩa này cũng bao hàm cả những hành vi phạm tội trong đó người phạm tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau về mặt thể xác như: gạ gẫm, bắt trẻ em nhìn và xem các hành vi tình dục, sử dụng trẻ để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm,…

Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “Xâm hại tình dục trẻ em là việc ai đó dụ dỗ, lô kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động có liên quan đến tình dục”.

1.2.2. Khái niệm quản lý, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Khái niệm quản lý

Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định.

Theo “Từ điển Từ và ngữ Việt Nam”, quản lý có nghĩa là:

  • Chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức nhất định.
  • Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. (Nguyễn Lân, 2023).

Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:

  • Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý.
  • Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra tác động.
  • Chủ thể phải thực hành việc tác động.
  • Chủ thể có thể là một người, nhiều người; còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).

Tác giả Nguyễn Thị Lan Thanh cho rằng: “Quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý hướng tới đối tượng quản lý nhằm tổ chức và điều hành mọi hoạt động của đối tượng quản lý để thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra” (Nguyễn Thị Lan Thanh, 2021).

Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.” (Đỗ Hoàng Toàn, 1998). Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Từ phân tích trên cho thấy, khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Những khái niệm trên về quản lý khác nhau về cách diễn đạt, nhưng vẫn cho thấy một ý nghĩa chung: Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Hoạt động quản lý phải là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch để đưa hệ thống vào một trật tự ổn định, tạo đà cho một sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Từ phân tích trên, hướng luận văn đưa ra khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý là Hiệu trưởng nhà trường lên đối tượng quản lý (Giáo viên và cán bộ quản lý) nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra.

  • Quản lý nhà trường tiểu học

Trường tiểu học được hình thành tại cộng đồng dân cư nên nó phải thỏa mãn được lợi ích của cộng đồng dân cư và phát huy các nguồn lực trong cộng đồng. Nhà trường tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông. Điều II Luật phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, …”. Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những nét cơ bản của nhân cách. Độ tuổi của học sinh tiểu học là từ 6 đến 11 tuổi.

Quản lý nhà trường tiểu học chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định là trường tiểu học. Quản lý trường tiểu học là những tác động của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh và các điều kiện cơ sở vật chất, tài chính nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường

  • Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học

Trong nhà trường tiểu học, mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh cũng chính là một trong những mục tiêu của quản lý. Nhà quản lý cùng với đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội, vv… bằng hành động của mình hiện thực hóa mục tiêu giáo dục đó trong hiện thực. Đó là giúp học sinh tiểu học có khả năng nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Như vậy quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của Hiệu trưởng nhà trường đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha me học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh của nhà trường tiểu học.

1.2.3. Khái niệm kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục; hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

  • Khái niệm kỹ năng

Trong cuộc sống, con người cần có rất nhiều kỹ năng để sống, hòa nhập với cộng đồng, đóng góp cho nền kinh tế hiện đại.

Theo Từ điển tiếng Việt (1999), kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế (Nguyễn Như Ý, 1999).

Theo Nguyễn Công Khanh (2021): “kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho” (Nguyễn Công Khanh, 2021).

Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng:

  • Cơ sở và nền tảng để hình thành kỹ năng chính là tri thức. Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động.
  • Kỹ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của mỗi cá nhân.
  • Nhằm đạt được mục đích đã đặt ra, kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định.

Từ việc phân tích trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất như sau: Kỹ năng là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Khái niệm phòng, chống; kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

Khái niệm phòng chống: là hoạt động ngăn ngừa, ngăn chặn, hạn chế, kịp thời can thiệp, loại trừ các nguy cơ gây tổn hại hay những nguyên nhân phát sinh cái xấu bằng việc thực hiện toàn bộ những biện pháp, điều kiện, phương tiện phù hợp (Chính phủ, 2024)

Khái niệm kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục: Từ khái niệm kỹ năng, phòng, chống và xâm hại tình dục đã trình bày ở trên, có thể nêu:

Kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là khả năng của bản thân có thể nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Đây là kỹ năng quan trọng trẻ cần được học và trang bị để có thể tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

  • Khái niệm giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học

Giáo dục được định nghĩa là: Tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra, đồng thới giáo dục còn là hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy – giáo dục của một nước (Nguyễn Như Ý, 2017).

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì chỉ có trong xã hội loài người giáo dục mới nảy sinh, phát triển và tồn tại vĩnh hằng “Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện hiện tượng giáo dục trong xã hội là một tất yếu lịch sử” (Đặng Vũ Hoạt & Phó Đức Hoà, 2015).

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ. Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tình cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu nhằm giúp người học biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học (Trần Thị Hương, 2016).

Từ đây, có thể hiểu giáo dục trong nhà trường tiểu học là một quá trình, trong đó dưới sự tác động sư phạm của người giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức hoạt động nhằm hình thành ý thức, thái độ, niềm tin, hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội.

Từ việc phân tích khái niệm giáo dục, khái niệm kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục, có thể nêu khái niệm giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học như sau: Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một quá trình, trong đó người giáo viên vận dụng các hình thức giáo dục để học sinh tiểu học có khả năng nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

1.3. Lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.3.1. Sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học là trẻ em ở lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi. Các em có các đặc điểm về sự phát triển của quá trình nhận thức, về đặc điểm nhân cách nổi bật như sau:

  • Đặc điểm về sự phát triển của các quá trình nhận thức

Khác với trẻ mầm non, học sinh tiểu học có điểm khác biệt về sự phát triển của tri giác, của chú ý, của tư duy, của trí nhớ, của tưởng tượng. Điều này đòi hỏi các nhà giáo dục phải chú ý trong quá trình giáo dục nói chung cũng như giáo dục phòng, chống xâm hại tình dục đối với học sinh tiểu học.

  • Sự phát triển của tri giác

Tri giác của học sinh tiểu học đã có những thay đổi đáng kể so với trẻ mẫu giáo, chuyển từ tri giác chi tiết sang tri giác tổng hợp. Một dạng tri giác mới với chất lượng cao hơn tri giác thông thường bắt đầu xuất hiện và phát triển mạnh-đó là quan sát. Các thao tác trí tuệ ở lứa tuổi này được học sinh thực hiện tốt trên các dữ liệu hình tượng cụ thể dưới dạng các vật thật hoặc mô hình.

  • Sự phát triển của chú ý Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Nếu như ở trẻ mầm non chú ý có chủ định còn nhiều hạn chế thì ở học sinh tiểu học chú ý có chủ định đã dần phát triển. Học sinh tiểu học đã có khả năng tập trung chú ý ở mức độ nhất định với những tài liệu không mấy thú vị. Tuy nhiên, chú ý có chủ định ở các em vẫn ở mức độ thấp, chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, sức tập trung chưa cao, dễ bị phân tán, lơ đãng với những ý nghĩ đâu đâu. Do đó, tài liệu học tập cho trẻ ở lứa tuổi này cần dễ hiểu, trực quan, sinh động.

  • Sự phát triển của tư duy

Trong các quá trình phát triển nhận thức của học sinh tiểu học thì sự phát triển tư duy diễn ra mạnh mẽ nhất. Giai đoạn này tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành. Ở học sinh tiểu học bắt đầu xuất hiện khả năng lý giải logic, sử dụng các thao tác trí tuệ như cộng trừ nhân chia, phân loại, bảo toàn, xếp hạng,…. Năng lực khái quát hóa và trừu tượng hóa còn hạn chế, tư duy còn mang nặng tính xúc cảm.

  • Sự phát triển của trí nhớ

Ở lứa tuổi này, trí nhớ có chủ định phát triển dần. Khả năng ghi nhớ có chủ định những tài liệu không mấy sinh động, hấp dẫn cũng dần phát triển. Học sinh đã có khả năng ghi nhớ ý nghĩa và nội dung chính của tài liệu. Tuy nhiên ghi nhớ chủ định vẫn chiếm vị trí rõ nét. Nhiều học sinh tiểu học vẫn ghi nhớ máy móc bằng cách đọc đi đọc lại tài liệu nhiều lần. Quá trình ghi nhớ vẫn chịu nhiều ảnh hưởng và bị chi phối nhiều bởi các yếu tố trực quan.

  • Sự phát triển của tưởng tượng

Khả năng tưởng tượng của học sinh tiểu học đã có sự chuyển biến cơ bản và phát triển phong phú. Càng về cuối cấp, khả năng tưởng tượng của trẻ càng gần với hiện thực hơn, sáng tạo và phát triển cao hơn. Tuy nhiên khả năng tưởng tượng của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan, cụ thể. Các hình ảnh chủ yếu mới dựa vào tưởng tượng tái tạo, chắp ghép, bắt trước và thay đổi chút ít. Vì vậy, sản phẩm của tưởng tượng còn nghèo nàn, ít có tổ chức.

  • Những đặc điểm nhân cách nổi bật của học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học có những đặc điểm nhân cách về đời sống tình cảm, ý chí, tính cách như sau:

Đời sống tình cảm: Với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt, gắn nhận thức với hoạt động của trẻ. Ở lứa tuổi này, các em dễ xúc cảm trước hiện thực và rất dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp. Những tình cảm cao cấp đang dần được hình thành. Trong đó, tình cảm gia đình giữ vai trò khá quan trọng trong đời sống của trẻ. Nhiều trường hợp, chính lòng yêu thương của cha mẹ đã trở thành động cơ học tập của trẻ tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Ý chí: Ở giai đoạn học sinh tiểu học, các phẩm chất của ý chí dần được hình thành và phát triển. Học sinh tiểu học có thể rèn luyện để có tính kế hoạch, tính kiên trì, tính độc lập, tính mục đích, quyết đoán,…Tuy nhiên những phẩm chất này chưa ổn định để trở thành những nét tính cách vững chắc. Năng lực tự chủ còn yếu, tính tự phát còn nhiều nên khó giữ trật tự, kỷ luật.

Tính cách: Tính cách của học sinh tiểu học đang hình thành và có nhiều biến đổi. Các em hồn nhiên, trong sáng, có nhiều nét tính cách tốt như lòng vị tha, yêu thương con người,… Các em hay bắt chước và thích bắt chước hành vi, cử chỉ của người lớn.

Từ các đặc điểm nhân cách nổi bật của học sinh tiểu học cho thấy, các em hồn nhiên, trong sáng, ý chí, tình cảm đang dần hình thành và phát triển. Tuy nhiên còn ngây thơ, trình độ nhận thức còn hạn chế, non nớt về trí tuệ, khả năng kháng cự hạn chế, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, xâm hại nên rất cần thiết được giáo dục để học sinh tiểu học có khả năng nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục.

1.3.2. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng chống xâm hại tình dục học sinh ở trường tiểu học

Công tác phòng chống xâm hại trẻ em nói chung, phòng chống xâm hại tình dục học sinh ở trường tiểu học nói riêng đã được qui định trong nhiều văn bản pháp lý. Sau đây trình bày một số văn bản:

  • Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em

Ngày 20/11/1989 công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em được đưa ra ký tại thành phố New York và có hiệu lực từ 2/9/1990

Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em là một công ước quốc tế quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em. Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế. Cơ quan giám sát thi hành công ước này là Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc bao gồm các thành viên từ các quốc gia trên khắp thế giới. Mỗi năm 1 lần, ủy ban này để trình bày một bản báo cáo cho Ủy ban thứ ba của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

  • Điểm chính của Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em 1989 yêu cầu:

Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em, và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em.

Trong văn bản gốc có đến 54 điều và 29 quyền được UNICEF, tổ chức về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc, tóm lược trong 10 quyền cơ bản: Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Quyền được đối xử bình đẳng và bảo vệ chống lại sự kỳ thị phân biệt tôn giáo, nguồn gốc và bình đẳng giới;
  • Quyền có tên gọi và quốc tịch;
  • Quyền về sức khỏe và y tế;
  • Quyền được giáo dục và đào tạo;
  • Quyền giải trí, vui chơi và tiêu khiển;
  • Quyền tự tìm hiểu thông tin, quyền phát biểu, quyền được lắng nghe và tụ họp;
  • Quyền riêng tư và sự giáo dục không bạo lực trong ý nghĩa của bình đẳng và hòa bình;
  • Quyền được trợ giúp ngay lập tức trong trường hợp khẩn cấp và thảm họa, và được bảo vệ khỏi sự tàn ác, bỏ bê, lạm dụng, khai thác và bách hại;
  • Quyền có 1 gia đình, được sự chăm sóc của cha mẹ và có một chỗ trú ngụ an toàn;
  • Quyền được chăm sóc cho trẻ em khuyết tật.

Trong thực tế điều này có nghĩa rằng trẻ em có quyền được sống trong một môi trường an toàn mà không bị phân biệt đối xử. Trẻ em có quyền tiếp cận nước, thức ăn, được chăm sóc y tế, giáo dục và có tiếng nói trong các quyết định có ảnh hưởng đến hạnh phúc, phúc lợi của trẻ.

  • Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2011

Theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em số 25/2011/QH11, được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2011, trẻ dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập và Chính phủ dành hẳn một khoản ngân sách hằng năm để đảm bảo việc này…Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho trẻ em là con em thương binh, liệt sĩ, người có công, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em của hộ nghèo, trẻ em cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, có chính sách hỗ trợ gia đình thực hiện trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em….Bên cạnh đó, Luật có quy định: không được sử dụng cơ sở vật chất dành cho việc học tập, sinh hoạt, vui chơi, giải trí của trẻ em vào mục đích khác làm ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ em.

  • Luật trẻ em số 102/2023/QH13, ngày 5/4/2023

Luật trẻ em 2023 quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.

Luật trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em;Được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; Được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.

Về bảo đảm chăm sóc sức khỏe trẻ em, Luật trẻ em 2023 có quy định Nhà nước bảo đảm thực hiện các biện pháp:

  • Theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo độ tuổi;
  • Chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ em;
  • Phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em;
  • Tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định pháp luật. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Ngày 02/4/2026, Văn phòng Chính phủ ra Thông báo số 117/TB-VPCP khẳng định: Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo và có sự phối hợp trong triển khai thực hiện của tất cả các Bộ, ngành, địa phương… Trong văn bản này, Văn phòng Chính phủ giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo các địa phương rà soát… nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất, yêu cầu có biện pháp quản lý, giám sát, công khai hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ em, phòng ngừa bạo lực, xâm hại trẻ em.

1.3.3. Mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học nhằm làm cho:

  • Học sinh nhận thức được mối nguy hiểm khi có nguy cơ bị xâm hại.
  • Học sinh có kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục.
  • Học sinh học cách ứng xử phù hợp với người lạ.
  • Học sinh biết cách bảo vệ cơ thể trước sự động chạm của người khác nếu trẻ không thích.

Từ đó giúp học sinh bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học có ý nghĩa rất quan trọng đối với chính bản thân các em và xã hội nói chung. Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục giúp các em có thể bảo vệ mình, sống an toàn và khỏe mạnh trong một xã hội với nhiều biến đổi (Nguyễn Hương Linh, 2026)

1.3.4. Nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Xâm hại tình dục trẻ em hiện nay đang trở thành mối quan tâm lớn của mọi gia đình và toàn xã hội. Những vụ án gần đây làm nóng dư luận xã hội chính là sự cảnh báo đến các bậc cha mẹ, giáo viên, đòi hỏi cha mẹ, giáo viên cần có sự quan tâm nhiều hơn đến con cái và học sinh của mình, đồng thời học sinh cũng phải biết cách phòng, chống bị xâm hại.

Giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học được thể hiện ở một số nội dung như sau:

  • Giáo dục học sinh kỹ năng gọi đúng tên vùng kín và vùng riêng tư

Ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ và giáo viên nên dạy học sinh cách gọi tên đúng và vai trò của các bộ phận trong cơ thể, bao gồm cả những vùng nhạy cảm.

Lưu ý, không nên tránh né bằng cách đặt những cái tên khác các bộ phận nhạy cảm. Điều này sẽ giúp học sinh dễ dàng nói chuyện và chia sẻ nếu chẳng may có điều gì đó bất thường xảy ra.

  • Giáo dục học sinh kỹ năng biết cự tuyệt- tránh xa- kể ra, khi học sinh gặp phải tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục

Cha mẹ hoặc giáo viên phải giúp học sinh nắm rõ các nguyên tắc: không để người lạ chạm vào bộ phận riêng tư của mình và không động chạm vào bộ phận riêng tư của người khác. Không tuân theo bất cứ hành động hay lời dụ dỗ nào của người lạ mặt. Phải trình bày những lời dụ dỗ hay nói tên người dụ dỗ đó cho thầy cô hay cha mẹ biết.

  • Giáo dục học sinh có kỹ năng mô tả cảm xúc của bản thân

Dạy học sinh hiểu các cảm xúc là điều quan trọng vì khi học sinh biết mình đang cảm thấy như thế nào thì học sinh có thể biết cách ứng xử phù hợp trong các tình huống nhất định.

Khi hiểu cảm xúc của người khác và biết mình đang cảm thấy như thế nào, học sinh có thể phát triển sự cảm thông và quản lý các mối quan hệ với bạn bè, giáo viên và các thành viên trong gia đình. Kỹ năng này là rất quan trọng cho tương lai của học sinh khi bắt đầu công việc và phải quản lý các mối quan hệ xã hội phức tạp hơn..

  • Giáo dục học sinh kỹ năng nhận biết cảm giác an toàn và không an toàn

Giáo dục học sinh nhận biết cảm giáo an toàn và phòng tránh các nguy cơ không an toàn là dạy học sinh nhận ra các đối tượng có thể gây ra nguy hiểm và cách hoạt động đúng với đối tượng. Hoạt động đúng là cách hoạt động đạt hiệu quả công việc mà không gây ra thiệt hại với bất cứ ai hoặc với môi trường sống.

  • Giáo dục học sinh quy tắc năm ngón tay Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Ngón cái – gần mình nhất – tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửa khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn, bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng kín.

Ngón trỏ – tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia đình. Những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Song chỉ dừng lại ở đó. Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi”, bé sẽ hét to và gọi mẹ.

Ngón giữa – người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha mẹ. Những người này, bé chỉ nên bắt tay, cười và chào hỏi.

Ngón áp út – người quen của gia đình mà bé mới gặp lần đầu. Với những người này, bé chỉ nên dừng lại ở mức vẫy tay chào.

Ngón út – ngón tay xa bé nhất – thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an. Với những người này, bé hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to để thông báo với mọi người xung quanh.

  • Giáo dục học sinh không giữ bí mật một mình, học sinh có thể chia sẻ với người lớn mà học sinh tin tưởng

Hầu hết những kẻ xâm hại trẻ em thường yêu cầu nạn nhân phải giữ kín bí mật. Đó có thể là lời đe dọa hoặc những lời dỗ dành ngon ngọt. Cha mẹ hoặc giáo viên cần giúp học sinh hiểu rằng, bất cứ ai yêu cầu giấu kín bí mật về cơ thể của con đều là bất thường và cần thông báo ngay cho cha mẹ hoặc giáo viên biết.

  • Giáo dục học sinh kỹ năng xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ

bị xâm hại tình dục

Một số trẻ em cảm thấy khó từ chối đối với người khác, đặc biệt là người lớn tuổi. Cần giúp học sinh nhận ra rằng, nói “không” trong những tình huống mình cảm thấy không thoải mái là điều rất cần thiết. Khi có bất kỳ ai đó muốn xem hoặc động chạm vào vùng riêng tư của trẻ, con cần nói không một cách dứt khoát và lập tức rời đi để tìm sự trợ giúp (Nguyễn Hương Linh, 2026)

1.3.5. Phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

  • Phương pháp giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
  • Phương pháp thảo luận nhóm Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Với phương pháp này, học sinh được chia thành nhóm để tổ chức trao đổi ý kiến và tư tưởng của mình về một chủ đề nhất định, từ đó đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn, rộng hơn về vấn đề đó.

Những nội dung có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học như: Các bộ phận trên cơ thể; Nhận biết động chạm “an toàn” và “không an toàn”; Nhận biết những bí mật không an toàn cho học sinh; Xử lý các tình huống học sinh có nguy cơ bị xâm hại,…

  • Phương pháp tình huống

Trong quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học, giáo viên có thể sử dụng phương pháp tình huống. Giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết các tình huống thực tiễn về việc học sinh trước nguy cơ bị xâm hại tình dục, qua đó giúp học sinh lĩnh hội, củng cố hoặc vận dụng kiến thức. Giáo viên có thể giới thiệu tình huống qua nhiểu hình thức khác nhau như chiếu một đoạn video, diễn kịch hoặc dưới dạng hình vẽ,…

  • Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp tình huống:

Yêu cầu trong xây dựng và lựa chọn tình huống: Tình huống phải hàm chứa những vấn đề, buộc người học phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã có hoặc phải cấu trúc lại chúng để giải quyết vấn đề.

Động viên học sinh tham gia phát biểu ý kiến.

  • Phương pháp đóng kịch

Đây là phương pháp trong đó giáo viên tổ chức quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học thông qua xây dựng kịch bản những tình huống học sinh có nguy cơ bị lạm dụng và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp học sinh rèn luyện, biết cách xử lý trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng kịch:

  • Kịch bản phải có tính kịch tính, phải giải quyết được các nhiệm vụ đề ra.
  • Nên quan tâm để phân vai phù hợp với các em nhút nhát, ngại hoạt động.
  • Sau vở kịch, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đàm thoại để rút ra kết luận cần thiết.

Phương pháp thuyết trình Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Trong phương pháp này, giáo viên sử dụng lời nói để trình bày, giải thích nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học một cách có hệ thống, logic cho học sinh tiếp thu. Tùy thuộc vào mục đích, nội dung muốn truyền tải đến học sinh mà giáo viên sử dụng các dạng thuyết trình phù hợp.

  • Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp thuyết trình:

Ngôn ngữ của giáo viên khi thuyết trình cần thu hút, giàu hình ảnh, xúc cảm và có khả năng thuyết phục cao. Các vấn đề cần được trình bày theo cấu trúc logic, chặt chẽ.

  • Phương pháp trò chơi

Với phương pháp này, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi giúp gây hứng thú, xúc cảm trong quá trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, làm cho nội dung được truyền đạt và lĩnh hội bằng cách thức nhẹ nhàng, phù hợp với đặc điểm tâm lý trẻ em. Trò chơi có thể được tổ chức khi bắt đầu bài giảng để thu hút sự chú ý, tạo không khí vui tươi, tích cực trong lớp học, có thể sử dụng để dạy kiến thức mới, củng cố hoặc vận dụng kiến thức.

Trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại cho học sinh ở trường tiểu học, phương pháp trò chơi có thể được sử dụng khi bắt đầu vào bài nhằm tạo hứng thú, cho học sinh khởi động, ngoài ra có những nội dung có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học như: giáo dục trẻ gọi đúng tên vùng kín và vùng riêng tư; giáo dục học sinh biết mô tả cảm xúc của bản thân; …

Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp trò chơi:

  • Giáo viên cần giải thích rõ ràng luật chơi và đảm bảo rằng tất cả học sinh đều nắm rõ luật trước khi bắt đầu trò chơi.
  • Trong quá trình chơi, giáo viên cần hướng dẫn và can thiệp khi có học sinh sai luật chơi (Nguyễn Hương Linh, 2026)
  • Hình thức giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học
  • Thông qua lồng ghép vào các môn học chính khóa trên lớp

Lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh vào nội dung của các bài học. Tuy nhiên không phải môn học nào, bài học nào cũng có thể lồng ghép được nội dung của giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục. Vì vậy tùy theo nội dung môn học, bài học mà giáo viên có thể khai thác khả năng lồng ghép và tiến hành giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Thông qua trò chuyện, chia sẻ với học sinh

Giáo viên giành thời gian quan tâm, trò chuyện, chia sẻ với học sinh vào lúc ra chơi, ngoài giờ học để học sinh có kiến thức, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Thông qua tổ chức các chủ đề, chủ điểm hoạt động

Giáo viên lên kế hoạch xây dựng và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh theo các chủ đề, chủ điểm vào các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

  • Thông qua hoạt động tư vấn

Thông qua phòng tư vấn tâm lý học đường của nhà trường, giáo viên phụ trách tư vấn sẽ chia sẻ, tư vấn, giải đáp những thắc mắc cho học sinh những vấn đề liên quan tới giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Thông qua các Câu lạc bộ tuổi thơ

Câu lạc bộ tuổi thơ trong nhà trường tiểu học là nơi tập hợp các học sinh có cùng sở thích, năng khiếu ở một lĩnh vực nào đó tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phù hợp với bản thân. Các em học sinh sẽ được sinh hoạt ngoại khóa cùng nhau dưới sự định hướng, điều khiển của thầy cô. Thầy cô xây dựng chương trình, cùng học sinh thiết kế hoạt động đa dạng, phong phú, lồng ghép giữa việc học với các trò chơi sáng tạo, đóng kịch, kể chuyện,… Đây cùng là một hình thức được các nhà trường sử dụng trong việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.

1.3.6. Kiểm tra – đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

Hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học được đánh giá không chỉ có ý nghĩa giúp học sinh đánh giá hiểu quả quá trình tham gia hoạt động giáo dục mà còn giúp nhà trường rút kinh nghiệm, hoàn thiện trong các hoạt động sau này. Tư đó, việc kiểm tra – đánh giá kết quả hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học được thực hiện thường xuyên, công bằng và minh bạch nhằm củng cố thêm kiến thức và kỹ năng cho học sinh, học sinh nhận biết và phát hiện, ngăn ngừa những tình huống xấu, nguy cơ xâm hại đến bản thân kịp thời. Công tác kiểm tra – đánh giá cần có sự phân công phù hợp giữa các lực lượng, đồng thời công cụ kiểm tra (bảng hỏi, thi trắc nghiệm, ý kiến phản hồi) cũng được xây dựng cụ thể, rõ ràng trước và sau khi tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống Xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học diễn ra. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.4. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học là mục tiêu để nhà trường hướng tới và trở thành công cụ để quản lý nhà trường. Quản lý tốt các tác động lên quá trình hình thành, phát triển kỹ năng kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học có ý nghĩa: Tạo ra các nguồn lực và sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý nhất để biến đầu vào thành đầu ra của quá trình hình thành, phát triển kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, đảm bảo cho học sinh được học tập, rèn luyện trong môi trường an toàn.

Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của hoạt động này theo mục tiêu giáo dục và rèn luyện hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học đã đề ra.

1.4.1. Quản lý mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

Quản lý mục tiêu của việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học bao gồm các công việc sau:

  • Nhà trường tổ chức cho cán bộ giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục;
  • Nhà trường xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh, đảm bảo học sinh trong nhà trường nhận thức được mối nguy hiểm khi có nguy cơ bị xâm hại; có kỹ năng ứng phó trong trường hợp bị xâm hại tình dục; biết cách ứng xử phù hợp với người lạ; biết cách bảo vệ cơ thể trước sự động chạm của người khác nếu học sinh không thích. Từ đó giúp học sinh bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.
  • Nhà trường phối kết hợp với các cơ quan ban ngành, gia đình để đảm bảo quyền lợi cho học sinh cũng như thực hiện các kế hoạch đề ra nhằm thực hiện đúng mục tiêu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh nhà trường.

1.4.2. Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

  • Nhà trường tổ chức cho giáo viên nghiên cứu nội dung giáo dục kỹ năng sống, giáo dục giới tính, đặc biệt là kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.
  • Nhà trường xây dựng các kế hoạch phối kết hợp các lực lượng trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các tổ chức trong trường trong việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.
  • Nhà trường huy động sự tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh của các lực lượng ngoài nhà trường như cha mẹ học sinh, các tổ chức xã hội,…
  • CBQL nhà trường đề xuất các phương án, lên kế hoạch kết hợp giữa giáo viên và cha mẹ học sinh dạy cho các em cách gọi tên đúng và vai trò của các bộ phận trong cơ thể, bao gồm cả những vùng nhạy cảm.
  • Tổ chức, chỉ đạo giáo viên giáo dục học sinh biết cự tuyệt- tránh xa- kể ra, khi học sinh gặp phải tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.
  • CBQL nhà trường tổ chức các buổi dạy kỹ năng chung cho tất cả các học sinh trong nhà trường để các em hiểu và thực hiện được các kỹ năng: biết mô tả cảm xúc của bản thân, nhận biết cảm giác an toàn và không an toàn, học sinh biết về quy tắc năm ngón tay, học sinh không giữ bí mật một mình, học sinh có thể chia sẻ với người lớn mà học sinh tin tưởng.
  • Tổ chức, chỉ đạo giáo viên sử dụng đĩa hình tiết dạy mẫu về phòng, chống xâm hại tình dục.
  • Tổ chức, chỉ đạo giáo viên giáo dục học sinh tập dượt xử lý các tình huống mà học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục.
  • Tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tài liệu giảng dạy, tranh ảnh… phù hợp để tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh một cách hiệu quả;
  • Xây dựng môi trường trường học thân thiện, tích cực để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học trong nhà trường.
  • CBQL nhà trường tổ chức kiểm tra việc thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.4.3. Quản lý phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

Nhà trường tổ chức cho giáo viên hiểu rõ và biết cách sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học (phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tình huống, phương pháp đóng kịch, phương pháp thuyết trình, phương pháp trò chơi…)

Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trong các môn học như: Đạo đức, Thể dục…. Chỉ đạo giáo viên dành thời gian quan tâm, trò chuyện, chia sẻ với học sinh vào lúc ra chơi, ngoài giờ học để học sinh có kiến thức, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

CBQL tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh theo các chủ đề, chủ điểm vào các tiết chào cờ đầu tuần, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Thông qua phòng tư vấn tâm lý học đường của nhà trường, chỉ đạo giáo viên phụ trách tư vấn sẽ chia sẻ, tư vấn, giải đáp những thắc mắc cho học sinh những vấn đề liên quan tới giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

Xây dựng và quản lý các câu lạc bộ tuổi thơ trong nhà trường tiểu học. Đây là nơi tập hợp các học sinh có cùng sở thích, năng khiếu ở một lĩnh vực nào đó tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phù hợp với bản thân. Các em học sinh sẽ được sinh hoạt ngoại khóa cùng nhau dưới sự định hướng, điều khiển của thầy cô. Thầy cô xây dựng chương trình, cùng học sinh thiết kế hoạt động đa dạng, phong phú, lồng ghép giữa việc học với các trò chơi sáng tạo, đóng kịch, kể chuyện,… Đây cùng là một hình thức được các nhà trường sử dụng trong việc giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh.

1.4.4. Quản lý các điều kiện giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

  • Nhà trường chủ động bổ sung các loại sách giáo khoa, văn bản pháp luật, các tài liệu, kỷ yếu hội thảo về phòng chống xâm hại tình dục ở trẻ em.
  • CBQL rà soát, kiểm ra, yêu cầu thư viện bổ sung tài liệu giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.
  • Chuẩn bị nguồn kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống nói chung, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục nói riêng.
  • CBQL phối hợp với địa phương, công an, các tổ chức đoàn hội tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng cho học sinh tiểu học về lĩnh vực phòng chống xâm hại tình dục.
  • Kiểm tra cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học

1.5.1. Các yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Môi trường kinh tế – xã hội của địa phương

Xã hội phát triển, công nghệ phát triển, và sự phát triển của các mạng xã hội.  cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục thực tế cho trẻ lứa tuổi học sinh tiểu học. Môi trường thực tiễn tác động tới nhận thức và hành vi của các em, giúp các em chiêm nghiệm những hành vi gây ảnh hưởng và nguy hiểm đối với bản thân.

Trình độ dân trí, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa, điều kiện xã hội, điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên, mối quan hệ giữa các tổ chức trong và ngoài nhà trường; môi trường xã hội và gia đình HS cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.

Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục ngoài nhà trường: so với việc giáo dục về vấn đề xâm hại tình dục trong nhà trường thì các hình thức ngoại khóa về kỹ năng, các môn dạy lồng ghép cho đến các hình thức giáo dục, hoạt động giáo dục xã hội về xâm hại tình dục, thì tình hình tuyên truyền giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cũng có tác động đến nhận thức của các tầng lớp nhân dân, trong đó có cả học sinh.

Giáo dục trong gia đình: Gia đình, người thân có ảnh hưởng rất lớn tới trẻ em khi giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh. Việc gia đình quan tâm và bảo vệ cho con của mình khỏi các tệ nạn xã hội là điểm tựa vững chắc nhất. Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường giáo dục trẻ đầu tiên và kéo dài suốt cuộc đời của trẻ. Do đó, gia đình và nhà trường phải liên kết trong một mối quan hệ gắn bó với nhau để giúp cho việc giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất. Cha mẹ cần quan tâm và trang bị cho học sinh kiến thức, kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục để học sinh có thể bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục. Giáo dục của cha mẹ và gia đình chính là nền tảng cơ bản, vững chắc hỗ trợ cho giáo dục nhà trường, giúp nhà trường thực hiện hiệu quả việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh tiểu học, đặt nền móng cho việc phát triển bền vững sau này.

Tuy nhiên, hiện nay, cha mẹ chưa có đủ kiến thức để trang bị cho học sinh. Nhiều bậc cha mẹ quan niệm các em học sinh tiểu học còn nhỏ, chưa cần thiết biết về các vấn đề có liên quan đến tình dục, họ cho rằng việc nói các vấn đề này cho học sinh sẽ vô tình “vẽ đường cho hươu chạy”. Vì vậy, các bậc cha mẹ thường lảng tránh, ngăn cấm trẻ tìm hiểu các vấn đề có liên quan tới giới tính và tình dục. Nhiều cha mẹ có tâm lý ngại ngùng, lảng tránh trước các câu hỏi của các em hoặc la mắng khi các em đề cập tới các vấn đề về giới tính. Điều này gây nguy hại nếu học sinh tự tìm hiểu qua các nguồn thông tin không lành mạnh, không chính thống và có thể khiến “hươu chạy sai đường”, ảnh hướng xấu tới nhận thức và hành vi của học sinh về các vấn đề có liên quan tới giới tính và tình dục. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Cơ sở vật chất thiết bị tài chính

Cơ sở vật chất thiết bị tài chính có tác động nhất định đến quá trình dạy học. Cơ sở vật chất tốt tạo môi trường thoải mái cho cả người dạy và người học, do đó, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu và ghi nhớ các kỹ năng được hiệu quả hơn. Thiết bị dạy học tốt, đặc biệt là thiết bị hiện đại giúp giáo viên tăng thêm sự hấp dẫn của bài học, lôi cuốn học viên qua những hình ảnh, phim minh hoạ nội dung bài giảng giúp học sinh dễ nắm bắt hơn.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

  • Nhận thức và trình độ, năng lực của cán bộ quản lý và giáo viên

Con người từ khi sinh ra và lớn lên được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi, nhưng trường học được coi là môi trường dạy học và giáo dục đạt hiệu quả cao và đóng vai trò quan trọng với sự hình thành và phát triển của học sinh. Nhà trường chính là cơ quan chuyên trách trong việc giáo dục thế hệ trẻ, trong đó giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục là một phần trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường cần thúc đẩy các hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học. Điều này phụ thuộc vào nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh.

Giáo viên hơn ai hết chính là những người trực tiếp tham gia cùng học sinh trong các hoạt động dạy học và giáo dục, là những người hướng dẫn, điều khiển hoạt động học tập của học sinh, đồng thời là những người được học sinh tin tưởng, thường xuyên trao đổi và trò chuyện với học sinh. Vì vậy, để giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh được hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng về giáo dục giới tính, kỹ năng giúp học sinh nhận biết và phòng ngừa xâm hại tình dục; phải có kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục hiệu quả và hấp dẫn và khả năng tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trong quá trình dạy học một cách nghệ thuật và hiệu quả.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, giáo viên chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức về giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ em. Không những thế, nhiều giáo viên còn chịu ảnh hưởng của tâm lý Á Đông, ngại ngùng và lúng túng khi giáo dục giới tính cho học sinh. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh trong trường tiểu học. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

  • Nhận thức của học sinh

Học sinh là chủ thể của hoạt động học, là trung tâm của quá trình dạy học và giáo dục. Do đó, để kết quả rèn luyện kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh đạt được hiệu quả thì học sinh phải chủ động, tích cực tham gia, rèn luyện trong các hoạt động dưới sự điều khiển, hướng dẫn của người giáo viên, đặc biệt trong các hoạt động xử lý các tình huống học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục.

Hơn ai hết, học sinh là người quyết định kỹ năng sống của bản thân mình. Vì vậy, học sinh cần có nhận thức đúng về vai trò, về sự cần thiết phải rèn luyện kỹ năng sống nói chung và kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục nói riêng; có ý thức rèn luyện kỹ năng này để bảo vệ bản thân trước các tình huống có nguy cơ bị xâm hại tình dục.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ở độ tuổi học sinh tiểu học cơ thể còn non nớt, tốc độ tăng trưởng và phát triển rất nhanh, cấu tạo và các chức năng trong cơ thể chưa hoàn thiện dễ bị tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, khả năng thích ứng và chịu đựng rất kém. Do đặc điểm phát triển cơ thể, hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh luôn được sự quan tâm của các trường và là nội dung quản lý quan trọng của Hiệu trưởng trong trường tiểu học.

Hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh trong các trường tiểu học có ý nghĩa quan trọng nó đảm bảo cho học sinh có khả năng nhận biết các nguy cơ, hành vi xâm hại tình dục và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã được học để tránh xa và tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại tình dục. Hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học được dựa trên mục tiêu và yêu cầu phát triển toàn diện học sinh. Chính vì vậy, hoạt động giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh là hoạt động tích cực, sáng tạo, nhiệt tình của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng hoặc lồng ghép vào các hoạt động, tiết học trên lớp để học sinh có thể tránh được nguy cơ bị xâm hại và chống lại hành vi xâm hại tình dục, chủ động tự bảo vệ bản thân mình.

Đề tài đã nghiên cứu và trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề về xâm hại tình dục trẻ em, giáo dục phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học ở ngoài nước và Việt Nam. Đồng thời, đã hệ thống hóa một số vấn đề chung về giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục trong nhà trường cho học sinh tiểu học, bao gồm các khái niệm cơ bản về trẻ em; xâm hại tình dục trẻ em; kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học…; vấn đề xâm hại tình dục trẻ em; các vấn đề trong giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học và quản lý hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học. Ngoài ra, đề tài cũng đã xác định các nội dung quản lý học sinh và chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở trường tiểu học.

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh trong các trường tiểu học và quản lý hoạt động này là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả xây dựng bộ công cụ khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong chương tiếp theo. Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537