Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng việc phát triển trường TH dạy học 2 buổi/ngày ở vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Vài nét về tỉnh Hòa Bình.
2.1.1. Sơ lược về đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam. Hòa Bình được xem là cửa ngõ của vùng núi Tây Bắc hướng về đồng bằng Bắc Bộ với nhiều tuyến đường bộ, đường thuỷ nối liền nhiều tỉnh, thành phố. Hòa Bình cách thủ đô Hà nội 76 km về phía Tây Nam và tiếp giáp với các tỉnh: phía Bắc giáp Phú Thọ và Hà Nội, phía Nam giáp Ninh Bình và Thanh Hoá, phía Đông giáp Hà Nội và Hà Nam, phía Tây giáp Sơn La.
Hiện nay, tỉnh Hòa Bình có 11 đơn vị hành chính gồm thành phố Hòa Bình và các huyện: Đà Bắc; Cao Phong; Kim Bôi; Kỳ Sơn; Lạc Sơn; Lạc Thủy; Lương Sơn; Mai Châu; Tân Lạc; Yên Thủy. Trong đó có 210 xã, phường, thị trấn với 92 xã thuộc vùng khó khăn. Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế 5 năm 2021 – 2025 tăng 11%.
Với những thuận lợi về vị trí, dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống chính trị, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã giúp kinh tế của tỉnh cơ bản ổn định, văn hóa, xã hội có bước phát triển; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng được bảo đảm. Tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn tỉnh cao hơn bình quân trung của cả nước, nhưng do điểm xuất phát thấp, lượng dân di cư tự do lớn, trình độ dân trí phát triển không đồng đều giữa các vùng, vì vậy tình hình kinh tế – xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Thu ngân sách không đảm bảo chi, hàng năm Trung ương vẫn hỗ trợ; tỷ lệ hộ đói nghèo và cận nghèo vẫn còn cao… làm ảnh hưởng không nhỏ cho việc đầu tư cho sự nghiệp phát triển Giáo dục nói chung và Giáo dục Tiểu học nói riêng, nhất là ở các vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn của tỉnh.
2.1.2. Vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Hòa Bình là tỉnh miền núi có nhiều đơn vị xã thuộc vùng khó khăn. Tại Quyết định 204/QĐ-TTg ngày 1/2/2026 về phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2026 của Thủ tướng Chủ phủ, Hòa Bình có 92/210 xã nằm trong danh mục là các xã đặc biệt khó khăn, chiếm 43,8% số xã trên địa bàn tỉnh. Những xã này có địa bàn phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống đa số là người dân tộc thiểu số, văn hóa xã hội còn nhiều hủ tục lạc hậu, nhận thức của người dân còn hạn chế, đời sống nhân dân còn gặp nhiều thiếu thốn, lao động vất vả, nặng nhọc nhưng thu nhập thấp do chủ yếu là trồng rừng và làm nông nghiệp lúa nước theo quy mô nhỏ Do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề phát triển Giáo dục, trong đó có Giáo dục Tiểu học.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự cố gắng nỗ lực của ngành Giáo dục&ĐT cùng với sự chung tay góp sức của các cấp ủy đảng chính quyền địa phương và các ban, ngành, đoàn thể,… Giáo dục tại các xã vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình được xây dựng, củng cố và có bước chuyển biến rõ rệt trong những năm gần đây.
2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục tỉnh Hòa Bình
Với điều kiện dân cư có nhiều biến đổi nên ngoài bản sắc văn hóa của người Mường, cư dân bản địa tại chỗ, hiện nay, Hòa Bình còn tụ hội thêm nhiều nét văn hóa, tập quán và truyền thống đa dạng của các dân tộc khác của người Kinh, Thái, Dao, Mông, Tày,…Yếu tố này đòi hỏi việc giải quyết phức tạp những mục tiêu của Giáo dục trong việc xây dựng con người phát triển toàn diện nhưng cũng đậm đà bản sắc dân tộc đối với HS. Sự phức tạp này thể hiện từ bố trí trường, lớp đến việc vận dụng nội dung, chương trình, phương pháp Giáo dục thích hợp cho các vùng và cộng đồng dân cư trong tỉnh.
Sự nghiệp Giáo dục&ĐT tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Mạng lưới trường học các cấp từ trường học Mầm non đến Trung học phổ thông được bố trí tương đối phù hợp theo địa bàn phân bố dân cư. Quy mô đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực tăng nhanh, nhất là đào tạo nghề, đào tạo cán bộ cho cơ sở. Chất lượng Giáo dục&ĐT ngày càng được nâng cao, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, thị trấn và các vùng phát triển.
Theo báo cáo tổng kết năm 2025-2026 của Sở Giáo dục&ĐT tỉnh Hòa Bình, mạng lưới trường, lớp học trên địa bàn toàn tỉnh hiện có: 10 Trung tâm Giáo dục TX – Nghề nghiệp; 1 Trung tâm Giáo dục TX tỉnh; 1 Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp – Hướng nghiệp; 1 Trung tâm Ngoại ngữ và Tin học; 1 trường CĐSP; 1 trường Cao đẳng Kinh tế -Kỹ Thuật; 210 Trung tâm học tập cộng đồng.
- Bảng 2.1.Mạng lưới trường, lớp, HS Mầm non và phổ thông
2.1.4. Tình hình phát triển giáo dục tiểu học tỉnh Hòa Bình. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
2.1.4.2 Quy mô trường lớp, đôi ngũ.
GDTH tỉnh Hòa Bình đã đáp ứng cơ bản nhu cầu đưa con em đến trường của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, theo đó qui mô trường lớp cũng có nhiều chuyển biến trong những năm qua. Ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng khó khăn, trong những năm gần đây trường lớp được quan tâm đầu tư xây dựng nhiều, khang trang, đẹp đẽ hơn, nhân dân yên tâm và phấn khởi cho con, em tới lớp học.
Theo báo cáo tổng kết năm học 2025-2026 đối với cấp Tiểu học của Sở Giáo dục&ĐT, hiện nay toàn tỉnh có tổng số 238 trường trong đó có 213 trường Tiểu học và 22 trường TH&THCS, 03 trường PTDTBT tiểu học với 3.150 lớp và 69.110 HS tiểu học; bình quân 22 HS 1 lớp.
Tổng số cán bộ, GV : 5.471 trong đó :
- Cán bộ quản lý : 506 , trình độ : THSP: 57; CĐSP: 139; ĐHSP: 310. Trong đó trình độ vượt chuẩn 449/506 đạt 88,7%.
- GV: 4.965, trình độ : THSP: 1.445; CĐSP: 1.881; ĐHSP: 1.639. Trong đó trình độ vượt chuẩn 3.520/4.965 đạt 70,9 % .
Hiện nay toàn tỉnh có có 134/238 trường tiểu học, TH&THCS có 40 trường tham gia chương trình Đảm bảo chất lượng Giáo dục trường học; 147/238 trường tham gia chương trình VNEN đạt tỷ lệ 61,76%; 73 trường tiểu học triển khai dạy học tiếng Anh 4 tiết/tuần.
Trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày phát triển mạnh về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục hiện nay. Tổng số HS học 5 đến 6 buổi/tuần: 31.416/66.266 chiếm tỷ lệ 47,4%; Tổng số HS học 7-10 buổi/tuần: 34.850/66.226 đạt tỷ lệ 52,6%.
Lãnh đạo các cấp luôn quan tâm chăm lo đối với Giáo dục Tiểu học, các huyện, thành phố đã thực hiện đầy đủ chính sách hộ trợ các trường vùng khó khăn đảm bảo các điều kiện Giáo dục Tiểu học phát triển. Các chương trình, dự án quốc gia của tỉnh đều có ưu tiên cho Giáo dục Tiểu học như: Chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình kiên cố hóa trường lớp học và một số dự án của nước ngoài như Dự án Childfund, tổ chức tầm nhìn thế giới, GNI, chương trình Đảm bảo chất lượng Giáo dục trường học… nhờ đó Kế hoạch phát triển Giáo dục&ĐT tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2025-2030 đã và đang thực hiện đạt kết quả cao.
2.1.4.2 Chất lượng giáo dục tiểu học Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Với sự phát triển qui mô trường, lớp khắp các thôn bản nên tỉ lệ HS trong độ tuổi đến trường, đặc biệt là HS dân tộc thiểu số cũng được gia tăng đáng kể. Tỉ lệ huy động HS trong độ tuổi học tiểu học đạt 99,9% chất lượng học tập của HS dân tộc nâng cao, tỉ lệ HS học yếu môn Toán, Tiếng Việt giảm xuống dưới 5%. Tiến độ xây dựng trường TH đạt chuẩn quốc gia được đẩy mạnh, tạo điều kiện nâng cao chất lượng Giáo dục TH bền vững, toàn tỉnh có 113/215 trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia đạt tỷ lệ 52,56% (trong đó 101 trường đạt chuẩn mức độ 1 và 11 trường đạt chuẩn mức độ 2). Công tác phổ cập Giáo dục Tiểu học được củng cố và nâng cao chất lượng. Đến cuối năm 2025 có 210/210 xã phường, thị trấn (đạt 100%) đạt chuẩn phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ 1, trong đó có 137 xã, phường, thị trấn đạt Chuẩn PCGDTHĐĐT mức độ 2 đạt 65,2%.
Chất lượng Giáo dục Tiểu học trên địa bàn tỉnh ngày càng ổn định, tỉ lệ HS khá giỏi tăng đáng kể; đặc biệt tỉ lệ HS khá giỏi là người dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến rõ nét. Chất lượng Giáo dục HS tiểu học được thể hiện qua 2 tiêu chí đánh giá của thông tư 32 và 3 nội dung đánh giá đối với thông tư 30/2024 được tổng hợp dưới đây:
- Bảng 2.2. Chất lượng HS tiểu học 3 năm học gần đây
Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy rõ chất lượng HS đạt chuẩn kiến thức kĩ năng tăng đều hàng năm khoảng 3% cho các môn Toán và tiếng Việt. Tỉ lệ HS chưa hoàn thành giảm xuống dưới 1%.
2.1.4.3. Tình hình đầu tư kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục tiểu học.
GDTH tỉnh Hòa Bình đã nhận được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, thể hiện thông qua ngân sách dành đầu tư cho Giáo dục Tiểu học tăng dần theo từng năm; các chương trình, đề án, dự án đều được dành ưu tiên cho Giáo dục Tiểu học như chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình 135,… Việc quy hoạch đất cho các trường tiểu học được Uỷ ban nhân dân các huyện tạo điều kiện. Một số huyện đã quy hoạch xong cho trường tiểu học với diện tích đảm bảo theo hướng xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Trong những năm vừa qua, một số địa phương đã tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức, đoàn thể và nhân dân để đầu tư xây dựng, sửa chữa trường, lớp học, các công trình và các điều kiện khác phục vụ việc dạy và học. Qua đó, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên do đặc thù của một tỉnh miền núi khó khăn về địa bàn cũng như những vấn đề mang tính đặc thù khác ở những đơn vị thuộc vùng khó khăn thì việc quy hoạch đất đang gặp rất nhiều hạn chế, vẫn còn nhiều phòng học tạm, học nhờ… do đó năm học 2025-2026, Giáo dục Tiểu học tỉnh Hòa Bình vẫn tiếp tục thực hiện chủ trương sáp nhập trường tiểu học, trường THCS trên địa bàn xã, dồn những điểm trường lẻ có số lượng HS mỏng, có khoảng cách cho phép để xây dựng các trung tâm trường tiểu học đảm bảo các điều kiện cho trẻ đi lại và đặc biệt là tổ chức tốt hoạt động giáo dục, đồng thời phối hợp các dự án, chương trình, các doanh nghiệp… đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị, đồ dùng cho các nhà trường.
2.2. Tổ chức hoạt động khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
2.2.1. Mục đích khảo sát
- Đánh giá được thực trạng việc quản lý dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Sở Giáo dục&ĐT.
- Đánh giá được thực trạng phát trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình (phát triển số lượng, phát triển chất lượng).
2.2.2. Đối tượng khảo sát
Tổng số người gửi phiếu xin ý kiến là 374; trong đó:
- Phòng Giáo dục&ĐT các huyện, thành phố gồm 22 người (Lãnh đạo phòng và 01 chuyên viên phụ trách Giáo dục Tiểu học);
- Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng các trường Tiểu học của các huyện Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thủy mỗi huyện 04 trường tiểu học vùng khó khăn, mỗi trường 02 cán bộ quản lý (32 người);
- GV là 128 người thuộc 16 trường vùng khó khăn, mỗi trường 8 người ;
- Cha mẹ HS 192 người, mỗi trường 12 người trong Ban đại diện cha mẹ HS của các lớp.
2.2.3. Nội dung khảo sát
- Thực trạng việc quản lí trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày và thực trạng quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Khảo sát nhu cầu và sự tham gia của của cha mẹ HS về việc dạy học 2 buổi/ngày.
2.2.4. Phương pháp và công cụ khảo sát Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Ngoài phương pháp thu thập và xử lý số liệu trong các văn bản, để nhận biết thực trạng các hoạt động quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh, chúng tôi sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi. Chúng tôi soạn một phiếu gồm 6 bảng hỏi theo 2 hoạt động quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày (đã trình bày tại mục 4. chương 1). Mỗi bảng gồm các câu hỏi về mức độ của mỗi hoạt động quản lý (với điểm đánh giá được qui ước là: 4 là tốt, 3 là khá, 2 là trung bình, 1 là yếu). Sau mỗi bảng câu hỏi chúng tôi có một câu hỏi đề nghị nêu những thuận lợi, khó khăn trong công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày và các kiến nghị đề xuất.
Công cụ xử lý số liệu là sử dụng các thuật toán của phương pháp thống kê toán học để tính giá trị trung bình cộng có trọng số X j (còn gọi là trung bình gia quyền) của các mức độ cần đánh giá đối với 1 tiêu chí (hoạt động quản lý) phải đánh giá theo công thức sau:
Trong đó:
- j là thứ tự của các tiêu chí (hoạt động quản lý cần đánh giá);
- Xj là giá trị trung bình cộng có trong số của các mức độ được đánh giá đối với tiêu chí cần đánh giá thứ j (hoạt động quản lý cần đánh giá thứ j);
- x1, x2, …, xn các mức độ được đánh giá đối với một tiêu chí cần đánh giá (có n mức độ được đánh giá).
- f1, f2, …,fn là số lượng các ý kiến đồng ý đánh giá về từng mức độ đạt được của mỗi tiêu chí tương ứng mỗi mức độ cần đánh giá (x1, x2, …, xn ).
Thu thập và xử lý số liệu: tổng hợp các số liệu trong 154 số phiếu thu được và sắp xếp riêng từng loại Tốt (4 điểm), Khá (3 điểm), Trung bình (2 điểm) và Còn yếu (1 điểm) vào một phiếu tổng hợp cho mỗi bảng câu hỏi. Sau đó tiến hành tính giá trị trung bình cộng có trọng số bằng phép toán (công cụ) đã có. Kết quả khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý phát triển trường tiểu học học 2 buổi/ ngày ở các vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình được trình bày ở các mục tiếp theo.
2.3. Thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày
2.3.1. Số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Thông qua kết quả nghiên cứu, thống kê từ báo cáo trên hệ thống phần mềm EQMS của Bộ Giáo dục&ĐT đã thu được kết quả cụ thể như sau:
- Bảng 2.3: Tỷ lệ HS thực hiện các chương trình
- Biểu đồ 2.1. So sánh tỷ lệ học sinh thực hiện chương trình học 2 buổi/ngày
Nhìn vào biểu đồ trên cho thấy số HS, số lớp thực hiện nửa buổi ngày của tỉnh Hòa Bình tương đương mặt bằng chung quốc gia, Tỷ lệ thực hiện T30 (30 tiết/tuần) và T33 (33 tiết/tuần) hơn mức trung bình chung quốc gia nhưng tỷ lệ thực hiện T35 (35 tiết/tuần) thực hiện chỉ đạt ½ mức trung bình chung Quốc gia. Xu thế chung toàn quốc là giảm việc dạy học nửa ngày, giảm dạy học từ 6-7 buổi (T30), tăng nhẹ dạy học từ 8-9 buổi (T33) và chú trọng tăng tỷ lệ dạy học 10 buổi/tuần (T35). Đối với Hòa Bình số lượng trường dạy học từ 8-9 buổi/tuần (T33) cao hơn so với toàn quốc nhưng tỷ lệ dạy học 10 buổi/tuần rất thấp mới chỉ đạt 22,3% trong khi đó toàn quốc đã đạt 49,2%. Như vậy, Hòa Bình mới chỉ phát triển mạnh ở số lượng trường dạy học chương trình từ 8-9 buổi/tuần và còn 25,2% HS chưa được học 2 buổi/ngày.
2.3.2. Chất lượng dạy học 2 buổi/ngày
- Bảng 2.4. Chất lượng dạy học 2 buổi/ngày so với chất lượng chung toàn tỉnh
Qua bảng số liệu trên có thể thấy chất lượng các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày cao hơn so với chất lượng mặt bằng chung toàn tỉnh. Bước đầu cho thấy dạy học 2 buổi/ngày đã đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện.
2.4. Thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
2.4.1. Thực trạng phát triển số lượng Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Cùng với sự phát triển của Giáo dục Tiểu học, quy mô Giáo dục Tiểu học vùng khó khăn của tỉnh vẫn đang trên đà phát triển. Mạng lưới trường lớp không ngừng được mở rộng theo quy hoạch, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trong các tỉnh và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn dân cư. Tuy nhiên, việc phát triển mạng lưới vẫn còn những hạn chế: Điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới Giáo dục; Nhiều trường còn thiếu phòng học để dạy 2 buổi/ngày, thiếu phòng chức năng, thiếu nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập; Hầu hết các xã đều có địa bàn chia cắt nên việc mở trường lớp tập trung gặp khó khăn, do đặc thù này mà ở vùng sâu vùng xa số HS/lớp ít,.
Qui mô phát triển số lượng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày được thể hiện trong bảng số liệu dưới đây:
- Bảng 2.5. Số lượng các trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn
Từ kết quả thống kê trên cho thấy thực trạng về phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày như sau:
Trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày có sự tăng mạnh về số lượng trong 3 năm học gần đây tăng 10,9%. Tuy nhiên, số lượng trường tiểu học vùng khó khăn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày so với mặt bằng chung toàn tỉnh rất thấp chiếm 30,9%, có tăng nhẹ hàng năm nhưng tỷ lệ không đáng kể. Như vậy, HS tiểu học trên địa bàn toàn tỉnh được học 2 buổi/ngày đa số tập trung ở vùng thuận lợi, còn 49,6% HS vùng khó khăn chưa được học 2 buổi/ngày. Với 92/210 xã đặc biệt khó khăn thì việc nhân rộng mô hình học 2 buổi/ngày nếu không có lộ trình và kế hoạch cụ thể, không có sự chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất, không huy động sự hỗ trợ về nhân lực, vật lực, không làm công tác tư tưởng đối với người dân và quan trọng hơn là cơ chế, chính sách để thực hiện vấn đề này thì con số HS học 2 buổi/ngày mỗi năm sẽ không được cải thiện là bao.
2.4.1.1. Thực trạng thực hiện quy hoạch trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình của Sở Giáo dục&ĐT.
Quá trình tìm hiểu và đánh giá thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình được chúng tôi tiến hành bằng việc khảo sát đội ngũ Lãnh đạo, chuyên viên 11 phòng Giáo dục&ĐT; cán bộ quản lý, GV, cha mẹ HS tại 16 trường tiểu học vùng khó khăn vùng khó khăn. Chúng tôi gửi đi 250 phiếu, sau 10 ngày thu về được 185 phiếu, trong đó có một số phiếu kém chất lượng chúng tôi loại bỏ và kết quả thu được 167 phiếu đưa vào phân tích. Kết quả phân tích cụ thể được trình bày dưới đây:
- Biểu đồ 2.2. Đánh giá mức độ quy hoạch và thực hiện quy hoạch của Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT
Theo thống kê có 26,3% ý kiến được hỏi cho rằng công tác qui hoạch trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn đã được thực hiện, còn 73,7% cho rằng công tác này chưa được triển khai. Đánh giá thực trạng mức độ công tác quản lí, chỉ đạo hướng dẫn quy hoạch chúng tôi thu được kết quả có 22,2 % cán bộ GV được điều tra cho rằng hoạt động này được tiến hành ở mức độ khá, 71,3% mức độ trung bình, còn lại 6,6 % cho rằng ở mức độ chưa đạt, không có ý kiến nào đánh giá ở mức độ tốt.
Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi phỏng vấn sâu với câu hỏi “ý kiến của đồng chí về vấn đề quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày ở vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình”. Kết quả cụ thể: Hiệu trưởng trường TH Phú Cường huyện Tân Lạc cho biết “Nhìn chung, ngành Giáo dục Hòa Bình đã có những biện pháp quy hoạch trường lớp Tiểu học, đặc biệt là trường dạy học 2 buổi/ngày. Năm nào cũng có báo cáo số liệu trường lớp, HS sinh tiểu học, trong đó báo cáo cả số học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, số lượng các trường vùng khó tổ chức dạy học 2 buổi/ngày chưa nhiều do chưa bắt buộc thực hiện, nơi nào có đủ điều kiện thì triển khai mà vùng khó rồi thì làm sao có đủ điều kiện triển khai nếu không có kế hoạch và lộ trình cụ thể”. Ông L.C.L. Phó Trưởng phòng Giáo dục&ĐT huyện Kim Bôi cho biết: “Năm học nào Sở cũng hướng dẫn các phòng Giáo dục&ĐT rà soát và đăng kí số lượng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên mới chỉ dừng ở việc đăng kí chứ chưa yêu cầu lập đề án hay kế hoạch, sở chỉ đạo và yêu cầu đến đâu phòng thực hiện đến đấy!”. Qua đó cho thấy việc qui hoạch phát triên trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày chưa được thực hiện tốt. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
2.4..12 Thực trạng công tác chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị thực hiện quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày vùng khó.
Đánh giá về mức độ thực hiện công tác chỉ đạo hướng dẫn thực hiện quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của Sở cũng như của phòng thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.6. Thực trạng quản lý của Phòng Giáo dục&ĐT đối với phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày
Bảng số liệu trên cho thấy công tác quản lí của phòng Giáo dục&ĐT đối với phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày còn hạn chế nhất định, yếu nhất là khâu quản lí chỉ đạo các trường lập đề án, phê duyệt đề án và tham mưu xây dựng chế độ chính sách hỗ trợ các trường thực hiện dạy học 2 buổi/ngày.
- Bảng 2.7. Thực trạng quản lý của Sở Giáo dục&ĐT đối với phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày
Nhìn vào bảng số liệu và các biểu đồ trên cho thấy công tác quản lý của Sở Giáo dục&ĐT đối với việc phát triển các trường tiểu học triển khai thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày trên địa bàn tỉnh được đánh giá ở mức độ trên trung bình; vì giá trị trung bình của các trung bình cộng có trọng số X đạt tới 2,39. Trong đó, hoạt động được đánh giá đạt mức độ tốt nhất là: “Tổ chức kiểm tra, giám sát, tư vấn hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày của phòng Giáo dục&ĐT và các nhà trường”. Qua nghiên cứu hồ sơ chúng tôi nhận thấy trong công tác qui hoạch Sở đã có chỉ đạo hướng dẫn các phòng Giáo dục&ĐT đăng kí số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày hàng năm. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua hệ thống các công văn hướng dẫn đăng kí số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày trong 2 năm học 2024-2025; 2025-2026.
Được đánh giá mức độ khá là công tác kiểm tra, giám sát, tư vấn hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày với mức điểm trung bình 3,50/4 điểm. Công tác kiểm tra hỗ trợ hàng năm được quan tâm thể hiện qua hệ thống công văn tổ chức các đợt kiểm tra của Sở tới các phòng Giáo dục&ĐT, trung bình 1 tháng/1 huyện, trong các năm học gần đây hầu hết Sở Giáo dục&ĐT tổ chức kiểm tra được 11/11 huyện, thành phố, mỗi huyện thành phố trung bình Đoàn kiểm tra hỗ trợ được 6 đơn vị trường học/đợt. Bắt đầu từ năm học 2025-2026, sau mỗi đợt kiểm tra có các văn bản đánh giá, thông báo kết quả kiểm tra của Sở tới các phòng Giáo dục&ĐT (Phụ lục số 4). Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Bên cạnh đó công tác chỉ đạo hướng dẫn các nhà trường xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ ngày phù hợp với điều kiện địa phương, xây dựng và khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị, công tác bán trú và đặc biết quan tâm và chú trọng hướng dẫn Hiệu trưởng các nhà trường quản lí các hoạt động dạy theo yêu cầu dạy học 2 buổi/ ngày học cũng được đánh giá với mức điểm trung bình từ 2,07 đến 3,14 điểm. Nội dung này được thể hiện khá rõ trong công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học.
Việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, GV các trường dạy học 2 buổi/ngày hàng năm cũng được quan tâm triển khai thực hiện từ Sở, Phòng đến các nhà trường với mức điểm trung bình 2,65. Điều này cũng được thể hiện thông qua kế hoạch bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV hàng năm của Sở cũng như của phòng. Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi phỏng vấn sâu một số GV về các nội dung do Sở, phòng tổ chức bồi dưỡng và tập huấn. Cô giáo B. T. D., GV trường TH Bình Cảng, huyện Lạc Sơn cho biết: “Công tác bồi dưỡng đã trang bị cho GV các kĩ năng lập kế hoạch dạy học phân hóa, các kỹ thuật dạy học tích cực, năng lực tổ chức các hoạt động Giáo dục trong trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày”. Thầy giáo Q. N. A., Hiệu trưởng trường TH Kim Bình, huyện Kim Bôi có đánh giá: “Công tác tập huấn chú trọng trang bị cho cán bộ quản lý các kỹ năng quản lí trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày, xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, sắp xếp thời khóa biểu….”. Theo báo cáo công tác bồi dưỡng trong 3 năm học qua hầu hết cán bộ quản lý, GV các trường dạy học 2 buổi/ngày đều được tham gia các lớp tập huấn trong hè và trong năm học do Sở và phòng tổ chức.
Bên cạnh đó việc chỉ đạo và hướng dẫn xây dựng qui hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trên địa bàn tỉnh ở một số nội dung chưa được quan tâm, yếu nhất là công tác chỉ đạo các phòng Giáo dục&ĐT, các nhà trường lập đề án phát triển trường thực hiện dạy học 2 buổi/ngày và phê duyệt đề án, hoạt động này hầu như chưa được thực hiện. Trong suốt 3 năm học qua từ tỉnh cho đến huyện chưa có chỉ đạo về việc lập đề án quy hoạch và phát triển trưởng tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trên địa bàn tỉnh hoặc huyện. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Nguyên nhân do hệ thống văn bản chỉ đạo chỉ đạo chưa kịp thời, theo thống kê từ năm học 2023-2024 đến năm học 2025-2026, Sở Giáo dục&ĐT có 01 Công văn số 1014/SGDĐT-GDTH ngày 30/5/2023 của Sở Giáo dục&ĐT về việc hướng dẫn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, Hàng năm Sở có văn bản hướng dẫn các phòng Giáo dục&ĐT rà soát và đăng kí số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày. Các nội dung khác chủ yếu hướng dẫn chung trong văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, chưa có văn bản hướng dẫn triển khai lập đề án từ cấp tỉnh đến huyện về việc dạy học 2 buổi/ngày nói chung và vùng khó khăn nói riêng. Các phòng Giáo dục&ĐT không xây dựng đề án mà hướng dẫn các trường đăng kí dạy học 2 buổi/ngày theo từng năm. Chính vì vậy nhiều trường còn lúng túng trong tổ chức thực hiện, công tác quy hoạch chỉ dừng việc thực hiện ngắn hạn theo năm học.
Bộ Giáo dục&ĐT chưa có văn bản mang tính pháp lý để bắt buộc và hướng dẫn việc dạy học 2 buổi/ngày nên hình thức dạy học này phần lớn còn mang tính tự phát. Nơi nào có điều kiện thì tổ chức, nơi nào không có điều kiện thì thôi, do vậy khó chỉ đạo thống nhất trên địa bàn tỉnh. Do cơ chế phân cấp quản lí về UBND cấp huyện.
Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT chưa tham mưu với UBND các cấp xây dựng chính sách hỗ trợ các trường về các điều kiện để thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày. Công tác tuyên truyền cho cha mẹ HS và các bên liên quan về tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở trường tiểu học vùng khó khăn mới chỉ đạt mức trung bình. Trong 3 năm UBND tỉnh và UBND các huyện chưa có văn bản hoặc kế hoạch triển khai dạy học 2 buổi/ngày cũng như hướng dẫn các chế độ chính sách hỗ trợ các trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Công tác chỉ đạo chủ yếu thuộc ngành Giáo dục. Do vậy phần lớn các văn bản chỉ đạo chủ yếu tập trung hướng dẫn các hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực quản lí của ngành.
Biểu đồ 2.3. So sánh công tác quản lí, chỉ đạo của Sở Giáo dục&ĐT với phòng Giáo dục&ĐT
- Biểu đồ trên cho thấy:
Công tác chỉ đạo, hướng dẫn về quy hoạch trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày của các Sở Giáo dục&ĐT và phòng Giáo dục&ĐT tương đối thống nhất từ sở đến phòng và các nhà trường cụ thể các nội dung như: Hướng dẫn trường TH lập đề án và phê duyệt đề án phát triển trường thực hiện dạy học 2 buổi trên ngày, công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, GV, hướng dẫn các hoạt động quản lí cụ thể đối với nhà trường.
Tuy nhiên, có một số nội dung như: tham mưu với UBND các cấp xây dựng chính sách hỗ trợ các trường về các điều kiện để thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày khoảng cách chênh lệch lên đến 0,5 điểm; hướng dẫn trường TH xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ ngày phù hợp với điều kiện địa phương; khai thác sử dụng cơ sở vật chất thiết bị dạy học chưa được thực hiện đồng bộ. Với kết quả nghiên cứu như trên, cho thấy trên thực tế ở các nhà trường và các phòng Giáo dục&ĐT việc thực hiện các yêu cầu của Sở Giáo dục&ĐT ở một số nội dung chưa đảm bảo. Nguyên nhân do các văn bản hướng dẫn chủ yếu thực hiện ngắn hạn theo năm học nên các đơn vị không đủ thời gian thực hiện và điều chỉnh phù hợp để mạng lại kết quả như mong đợi.
Với tốc độ phát triển ngày càng nhanh về số lượng trường, lớp và nhu cầu học tập ngày càng cao của HS đòi hỏi ngành Giáo dục cần làm tốt công tác quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày theo đề án để có kế hoạch và lộ trình nhất định giúp cho các cấp quản lý Giáo dục chủ động nắm bắt thực trang, số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày theo từng giai đoạn đáp ứng yêu cầu đổi mới của ngành cũng như nhu cầu xã hội. Đây là nhiệm vụ quan trọng mà Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT và lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm.
2.4.2. Thực trạng phát triển chất lượng Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Phát triển về chất lượng trong phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày là đảm bảo nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, GV, hiệu quả đầu tư, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, hiệu quả các hoạt động quản lí trong nhà trường theo những yêu cầu đổi mới Giáo dục cũng như yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Như vậy, chất lượng của trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày thể hiện chất lượng Giáo dục HS và hiệu quả, hiệu lực về lãnh đạo và quản lý các hoạt động của nhà trường.
2.4.2.1 Thực trang chất lượng HS học 2 buổi/ngày vùng khó
- Bảng 2.8. Chất lượng HS học 2 buổi/ngày với chất lượng HS vùng khó khăn
Bảng số liệu cho thấy ở hai nội dung đánh giá theo thông tư 32 và ba nội dung đánh giá theo thông tư 30 chất lượng các trường tiểu học dạy học 2 buổi trên ngày cao hơn 2% so với chất lượng chung các trường vùng khó khăn. Như vậy có thể thấy mặc dù một số trường vùng khó khăn đã tổ chức dạy học 2 buổi/ngày nhưng chất lượng có chuyển biến hàng năm nhưng không đáng kể so với chất lượng chung các trường chưa tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Nguyên nhân là do loại hình GV không đảm bảo, cơ sở vật chất thiếu, cha mẹ HS không có nhu cầu vì điều kiện kinh tế còn khó khăn, không có điều kiện đóng góp kinh phí tổ chức bán trú cho con tại trường. Mặt khác các hoạt động ở trường chưa cuốn hút HS, môi trường học tập tại trường chưa đủ hấp dẫn, thiếu các hoạt động ngoại khoá cộng thêm điều kiện vật chất khó khăn khiến không tổ chức bán trú, HS phải đi về nhiều lần trong ngày điều này làm mất thời lượng học, giảm sự hứng thú khi đến trường ở trẻ em. Chất lượng và phương pháp giảng dạy của GV vùng khó chưa đảm bảo cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều HS có kết quả học tập kém.
Từ các vấn đề nêu trên, có thể thấy để nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi/ngày cần chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình dạy học phù hợp với vùng miền, quan tâm bồi dưỡng đội ngũ, cán bộ quản lý tập trung quản lí hoạt động dạy học và đặc biệt xây dựng được cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ cho các trường dạy học 2 buổi/ngày.
2.4.2.2 Thực trạng thực hiện phát triển chất lượng của các trường tiểu học theo chỉ đạo của Sở Giáo dục&ĐT
Để thấy rõ hơn thực trạng quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày ở các trường tiểu học vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình, tác giả xem xét đánh giá kết quả việc triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Sở Giáo dục và phòng Giáo dục ở các trường TH vùng khó. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Thực trạng thực hiện xây dựng đề án phát triển trường dạy học 2 buổi/ngày của trường TH.
Theo nghiên cứu về phát triển số lượng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày cho thấy công tác chỉ đạo xây dựng và phê duyệt đề án dạy học 2 buổi/ngày của Sở, phòng chưa được thực hiện. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.9. Phân tích số liệu thực trạng thực hiện xây dựng đề án phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày của trường tiểu học
Số liệu bảng 2.9 cho thấy việc thực hiện xây dựng đề án phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày còn có các hạn chế nhất định, các tiêu chí như xây dựng đề án, trình duyệt đề án và điều chỉnh đề án chỉ đạt 1 điểm/4 điểm chứng tỏ mức độ thực hiện rất yếu. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, qua trao đổi với một số hiệu trưởng trường tiểu học được biết họ chưa nhận được sự hướng dẫn cụ thể và chỉ đạo sát sao từ cơ quan quản lý cấp Sở, phòng. Điều này cho thấy Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT cần phải có các văn bản chỉ đạo hướng dẫn cụ thể, thống nhất từ tỉnh đến huyện về việc rà soát, quy hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày theo giai đoạn.
- Thực trang xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày của nhà trường.
Bảng 2.10. Phân tích số liệu thực trạng xây dựng kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày
Bảng số liệu cho thấy hầu hết các trường dạy học 2 buổi/ngày tại vùng khó khăn đã xây dựng kế hoạch chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày đảm bảo các qui trình. Tuy nhiên mức độ thực hiện còn hạn chế nhất định, thể hiện rõ nét nhất trong bảng số liệu là khâu thành lập nhóm xây dựng kế hoạch. Hiện nay, công tác lập kế hoạch của các nhà trường do Hiệu trưởng thực hiện, tuy đã nhận thức được tầm quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch nhưng vì chưa nắm chắc lí luận nên một số Hiệu trưởng chưa tuân theo các nguyên tắc và quy trình của nó. Qua nghiên cứu Kế hoạch của các nhà trường chúng tôi nhận thấy: Trong kế hoạch Hiệu trưởng có đưa ra những thuận lợi và khó khăn nhưng chưa phân tích được những điểm nào tạo cơ hội, những điểm nào là thách thức. Do đó chưa xác định mục tiêu cụ thể cho từng nhiệm vụ và chưa dự báo được chiều hướng phát triển của những chỉ tiêu kế hoạch, điều này tương đồng với kết quả khảo sát ở tiêu chí: “xác định mục tiêu, chọn phương án và đề xuất cách làm cho việc chuyển sang dạy học 2 buổi/ngày” đạt 2,44/4 điểm .
- Thực trạng phân công sử dụng, đào tào bồi dưỡng GV chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày của nhà trường
Bảng 2.11. Phân tích số liệu thực trạng về việc phân công sử dụng đào tạo bồi dưỡng GV chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày
Các số liệu tại bảng 2.11 cho thấy việc phân công sử dụng đào tạo bồi dưỡng GV chuyển đổi sang dạy học 2 buổi/ngày cũng có những hạn chế nhất định với giá trị trung bình của các trung bình cộng có trọng số X chỉ đạt 2,56. Trong đó, yếu nhất là khâu tập hợp nhu cầu và phân loại nhu cầu bồi dưỡng từ phía GV chỉ đạt 1,62/4 điểm. Đây là điểm cần lưu ý đối với Sở Giáo dục và phòng Giáo dục trong việc xác định nhu cầu để tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, GV trường TH về dạy học 2 buổi/ ngày. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Thực trạng quản lí các hoạt động dạy học, Giáo dục HS 2 buổi/ngày của nhà trường
Bảng số liệu 2.12. Phân tích số liệu thực trạng quản lí các hoạt động dạy học, Giáo dục HS 2 buổi/ngày của nhà trường
Các số liệu bảng 2.12 cho thấy thực trạng quản lí các hoạt động dạy học và Giáo dục HS đã được quan tâm và đánh giá với mức độ trên trung bình. Trong đó, hoạt động được đánh giá đạt mức độ tốt nhất là quản lí bán trú, quản lí việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng, quản lí hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Tuy nhiên công tác huy động mọi nguồn lực hỗ trợ, phục vụ hoạt động dạy học của nhà trường, phối hợp với cha mẹ và gia đình HS trong tổ chức dạy học 2 buổi/ ngày còn những hạn chế nhất định. Trong đó yếu nhất công quản lí các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Hiện nay, hầu hết các trường đều thiếu phòng học đa năng; nhà hiệu bộ, các phòng chức năng còn phải kiêm nhiệm nhiều nội dung như: phòng thư viện ghép với thiết bị, phòng nghệ thuật,…; phòng sinh hoạt chung là phòng ăn, phòng ngủ,… Điều đó ảnh hưởng nhiều đến công tác tổ chức các hoạt động giáo dục cho HS khi ở trường cả ngày.
Để làm rõ hơn vấn đề này chúng tôi tiến hành khảo sát phụ huynh HS về công tác tuyên truyền và đánh giá mức độ thực hiện công tác tuyên truyền đối với trường dạy học 2 buổi/ngày nhận được kết quả như sau:
Có 55,7% phụ huynh HS được biết nhà trường dạy học 2 buổi/ngày và có 22,8% đánh giá công tác tuyên truyền tốt, chỉ có 5,1% cho rằng công tác tuyên truyền chưa tốt, có 54,4% cha mẹ HS được tham vấn về kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày của nhà trường với 8,9% đánh giá hoạt động tư vấn tốt. Đặc biệt có đến 96,8% phụ huynh HS có nhu cầu cho con học cả ngày ở trường, điều này cho thấy cha mẹ HS đã có nhận thức đúng về việc học của con, có nhu cầu và muốn đầu tư cho con học cả ngày tại trường. Kết hợp với việc phỏng vấn và nghiên cứu hồ sơ các nhà trường chúng tôi nhận thấy: Các nhà trường đã chú trọng và triển khai tuyên truyền tới cha mẹ HS và cộng đồng về việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày bằng nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên số lượng cha mẹ HS thiếu thông tin hoặc chưa biết về dạy học 2 buổi/ngày còn khá nhiều, nguyên nhân do các nhà trường chưa huy động cha mẹ HS tham gia công tác lập kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày. Do vậy, cần phải có các biện pháp tác động để đẩy mạnh công tác này tại các nhà trường.
- Biểu đồ 2.4. Đánh giá mức độ thực hiện công tác tuyên truyền, nhu cầu và tư vấn về dạy học 2 buổi/ngày.
- Bảng 2.13. Thực trạng mức độ thực hiện các hoạt đông của gia đình và cộng đồng đối với trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Bảng số liệu và các biểu đồ cho thấy mặc dù nhu cầu về việc cho con học 2 buổi/ngày tại trường rất cao (96,8%), song sự quan tâm chăm lo của cha mẹ HS và cộng đồng đối với việc tổ chức dạy học cả ngày còn rất nhiều hạn chế với mức điểm trung bình chung của các tiêu chí đạt 1,73. Việc chăm lo điều kiên phục vụ viêc học của con; khuyến khích con vân dung kiến thức vào thực tế và Giáo dục đạo đức, quản lý viêc học của con khi ở nhà còn nhiều hạn chế nhất định, trong đó yếu nhất là hoạt động hỗ trợ dạy nhạc, múa, hát, vẽ, làm các nghề truyền thống địa phương cho HS.
Để làm rõ hơn thực trạng quản lí về việc huy động cộng đồng tham gia vào hoạt động hỗ trợ trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày, tiến hành khảo sát đánh giá mức độ thực hiện các biên pháp nhà trường đã thực hiện để thu hút HS đến trường và ý kiến về kết quả học tập của con từ phía PHHS, thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.14. Thực trạng mức độ thực hiện các biên pháp thu hút HS đến trường
Bảng số liệu 2.14 cho thấy mức độ thực hiện các biện pháp thu hút HS đến trường được đánh giá ở mức trên trung bình với giá trị trung bình của các trung bình
cộng có trọng số X tới 2,45. Trong đó biện pháp được đánh giá tốt nhất của các nhà trường là động viên cha mẹ HS cho con đi học 2 buổi/ngày và biện pháp được đánh giá yếu nhất là tạo niềm tin cho cha mẹ và học sinh về cơ hôi phát triển tương lai của trẻ. Như vậy, vấn đề chất lượng Giáo dục toàn diện cho trẻ chưa được cha mẹ HS đánh giá cao, chưa tạo được niềm tin từ phía cha mẹ HS thì sẽ khó việc huy động họ tham gia hỗ trợ các hoạt động trong nhà trường.
- Bảng 2.15. Ý kiến của PHHS đối với kết quả học tâp, giáo dục đạo đức của con mình ở trường
Qua việc phỏng vấn một số PHHS về với kết quả học tâp, giáo dục đạo đức của con mình ở trường cho thấy sự hài lòng từ phía cha mẹ HS với các kết quả học tập của con đạt mức trên trung bình; đồng thời qua xử lý các câu hỏi mở (cho biết khó khăn, thuận lợi trong việc cho con học 2 buổi/ngày ở trường?) trong mỗi bảng câu hỏi cho thấy: Trên thực tế phần lớn HS tại các vùng này chỉ học 1 buổi, buổi còn lại phụ giúp gia đình hoăc chơi ở nhà không có người quản lí, không có ai hướng dẫn học vì bố mẹ đều bân, nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa để con ở nhà cho ông bà hoặc gửi hàng xóm và nhiều cha mẹ khả năng hạn chế nên không hướng dẫn con học được.
Khi được hỏi về những thuận lợi và khó khăn cho con học 2 buổi/ngày phần lớn cha mẹ HS đều khẳng định: Con học cả ngày ở trường bố mẹ yên tâm làm ăn, không phải đưa đón nhiều lần, con học tiến bộ hơn. Qua khảo sát và phỏng vấn trực tiếp chị B. T. L., Đại diên cha mẹ học sinh, trường TH Chí Đạo, huyên Lạc Sơn cho biết: “Trên thực tế nhiều gia đình cũng đã nhân thức được viêc đầu tư học tâp cho con mong muốn cho con được học ở trường cả ngày như các bạn học sinh ở thị trấn nhưng vì điều kiên nhà trường không đáp ứng được, thiếu phòng học, nhà vê sinh, nhà các cháu xa trường bố mẹ không có thời gian đưa đón, muốn con học nhưng không có khă năng đóng góp cho con…rất nhiều mong muốn nhưng cũng muôn vàn khó khăn nên phụ huynh đành phải chấp nhân con em mình thiêt thòi”. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình
- Bảng 2.16. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn
Bảng số liệu trên cho thấy yếu tố nói trên được đánh giá ở mức độ cao với giá trị trung bình của các trung bình cộng có trọng số X tới 3,06. Trong đó yếu tố được đánh giá có ảnh hưởng lớn nhất công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn đó là: tỷ lệ, cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, GV và điều kiện cơ sở vật chất. Điều đó cho thấy, để phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày tại vùng này cần quan tâm việc đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất cần bố trí đầy đủ đội ngũ cán bộ quản lý, GV đảm bảo tỷ lệ, cơ cấu và chất lượng.
Bên cạnh đó các yếu tố như điều kiện kinh tế xã hội địa phương và các chính sách hỗ trợ vùng khó cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển trường. Trong thực tế chính sách thu hút ở vùng khó khăn còn rất nhiều bất cập. Hiện nay, các trường ở vùng khó khăn đều đứng trước nguy cơ GV không yên tâm công tác, GV chỉ thực hiện hết thời gian nghĩa vụ tại vùng khó khăn là chuyển công tác ra vùng thuận lợi nên cán bộ quản lý gặp rất nhiều khó khăn trong việc quy hoạch, bố trí, sắp xếp đội ngũ.
Để tìm hiễu rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng chúng tôi tham khảo ý kiến từ phía cha mẹ HS nhận được kết quả như sau:
- Bảng 2.17. Đánh giá của cha mẹ HS về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn
Bảng số liệu cho thấy các yếu tố này cũng được cha mẹ HS đánh giá tương đồng với ý kiến của cán bộ quản lý, GV với mức trung bình 3,35. Trong đó yếu tố về điều kiện gia đình HS được đánh giá có sự ảnh hưởng gần như tuyệt đối 3,93. Điều này cho thấy thực trạng điều kiện sống của đa phần HS vùng khó khăn chưa đảm bảo còn gặp nhiều bất cập, mức sống của nhân dân còn nghèo, trình độ dân trí không đồng đều, thậm chí có nơi dân trí thấp, địa bàn hiểm trở, đường xá chưa có dẫn đến giao thông đi lại còn khó khăn gây ảnh hưởng lớn đến việc huy động HS tham gia học 2 buổi/ngày.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Về cơ bản, Giáo dục Tiểu học vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình có những nét tuơng đồng với thực trạng Giáo dục Tiểu học tỉnh Hòa Bình, bởi tại tỉnh Hòa Bình Quyết định 204/QĐ-TTg ngày 1/2/2026 về phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 năm 2026 của Thủ tướng Chủ phủ, Hòa Bình có 92/210 xã thuộc đơn vị đặc biệt khó khăn chiếm 43,8%. Bằng kết quả khảo sát thực trạng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày và thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn, nhờ phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiêu hỏi; bằng việc thực hiện phương pháp phỏng vấn một số cán bộ quản lý, GV, PHHS tại các trường vùng khó khăn; đồng thời với kết quả xử lý các câu hỏi mở (thuận lợi, khó khăn, đề xuất trong công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày) tại các bảng hỏi trong quá trình khảo sát; có thể chỉ ra các mặt mạnh và thuận lợi cùng các nguyên nhân, các mặt yếu và khó khăn cùng các nguyên nhân của thực trạng quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn dưới đây.
2.6.1. Mặt mạnh, thuận lợi và nguyên nhân
Nghiên cứu qua hệ thống các văn bản chỉ đạo từ các cơ quan quản lý nhà nước về Giáo dục&ĐT cho thấy vấn đề quy hoạch trường lớp dạy học 2 buổi/ngày đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình chỉ đạo thực hiện thông qua việc ban hành Quyết định số 1399/QĐ-UBND ngày 05/8/2025 về việc ban hành kế hoạch thực hiện phát triển Giáo dục&ĐT, dạy nghề và nâng cao chất lượng Giáo dục tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2025-2030.
Sở Giáo dục&ĐT đã hướng dẫn, chỉ đạo công tác phát triển trường tiểu học vùng khó khăn trong đó quan tâm đến phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày. Theo đó, Sở chỉ đạo các phòng Giáo dục&ĐT xây dựng một số trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày bước đầu đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới chương trình Giáo dục Tiểu học.
Sở Giáo dục&ĐT đã thực hiện đầy đủ các hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày của tỉnh, trong đó có các hoạt động cụ thể về các lĩnh vực như:
Phát triển số lượng trường dạy học 2 buổi/ngày
- + Chỉ đạo và hướng dẫn việc triển khai đăng kí trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày trên địa bàn huyện.
- + Hướng dẫn trường TH xây dựng đề án thực hiện dạy học 2 buổi/ ngày phù hợp với điều kiện địa phương.
- + Giao cho Phòng Giáo dục&ĐT kiểm tra, phê duyệt đề án
Phát triển chất lượng Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
- Sở tập trung hướng dẫn các trường chú trọng lập kế hoạch chuyển đổi từ dạy học nửa ngày sang dạy học 2 buổi/ngày.
- Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ quản lý, GV trường TH triển khai dạy học 2 buổi/ ngày.
- Hướng dẫn Hiệu trưởng tổ chức các hoạt động dạy học, Giáo dục HS 2 buổi/ ngày, quản lí bán trú.
- Hàng năm có thực hiện đánh giá kiểm tra, giám sát, tư vấn hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày của phòng Giáo dục&ĐT và các nhà trường.
Các hoạt động nhằm vào mục tiêu phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn nêu trên nhìn chung đã đạt được ở mức độ trung bình là nhiều và có một số hoạt động được đánh giá với mức độ khá (theo kết quả khảo sát thực trạng tại 7 bảng số liệu (từ Bảng 2.7 đến Bảng 2.13 của chương này). Thực trạng đó dẫn đến thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn chưa đạt ở mức độ cao (tốt và khá); thực trạng các họat động quản lí của các nhà trường thực hiện dạy học 2 buổi/ngày chưa hiệu quả (như kết quả khảo sát tại các bảng số liệu từ Bảng 2.13 đến Bảng 2.17).
Nguyên nhân chủ yếu có được một số kết quả tốt nêu trên là do Giám đốc Sở Giáo dục&ĐT, chuyên viên phòng giáo dục tiểu học, Lãnh đạo phòng Giáo dục&ĐT các huyện đã nắm được những nét cơ bản học 2 buổi/ngày thông qua chương trình Đảm bảo chất lượng Giáo dục trường học được triển khai trên địa bàn tỉnh từ năm 2020; đồng thời họ cũng có nhiều kinh nghiệm trong công các quản lí trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày; mặt khác có được sự lãnh đạo và quản lý Tỉnh uỷ, hội đồng nhân dân, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo sát sao, cụ thể hoá các quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước thành các chủ trương, chính sách, cơ chế về Giáo dục Tiểu học kịp thời, tạo động lực cho Giáo dục Tiểu học vùng khó khăn phát triển; có được sự chỉ đạo chuyên môn của Bộ Giáo dục&ĐT trên cơ sở Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục&ĐT trong, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường cao, chất lượng tương đối đảm bảo. Các xã đều đã đạt chuẩn phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và đều thực hiện nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo.
Các cấp quản lí từ Sở đến trường đều có nhận thức rõ mục đích, ý nghĩa và đều khẳng định dạy học 2 buổi/ngày góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện, nắm vững yêu cầu đổi mới Giáo dục và xu thế phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày đáp ứng yêu cầu đó.
Trong 3 năm học từ năm học 2022-2023 đến 2024-2025 Hòa Bình chọn năm Giáo dục vùng khó là điểm nhấn trong phát triển Giáo dục của tỉnh. Trong những năm qua ngành Giáo dục&ĐT Hoà Bình luôn có nhiều cố gắng và nhiều biện pháp hợp lý nhằm tăng số lượng trường lớp dạy học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng Giáo dục vùng khó.
Một trong những nguyên nhân để có các mặt tốt nêu trên trong công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày là do từng hiệu trưởng trong đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn đã có những nỗ lực cao nhằm phấn đấu trong học tập, công tác để thích ứng và đáp ứng được với các yêu cầu mới của Giáo dục&ĐT trong giai đoạn mới hiện nay. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Công tác kiểm tra tư vẫn hỗ trợ của Sở Giáo dục&ĐT, phòng Giáo dục&ĐT đến các trường kịp thời, thường xuyên, trực tiếp xuyên suốt trong năm học nên có thể nắm bắt, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch đảm bảo theo yêu cầu.
2.6.2 Mặt yếu, nguyên nhân và các vấn đề cần giải quyết
Cùng với các mặt mạnh về phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn nêu trên, công tác này cũng còn không ít những hạn chế.
Hầu hết việc thực hiện các chức năng quản lý của Sở Giáo dục&ĐT trong quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của tỉnh Hòa Bình mới ở mức độ trung bình (mức độ 2 điểm). Ít có hoạt động quản lý được đánh giá ở mức tốt và khá (đánh giá ở mức độ 4 điểm và 3 điểm);
Trong đó có một số hoạt động quản lý nhằm phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn được đánh giá ở mức độ thấp nhất như: công tác chỉ đạo, hướng dẫn lập đề án, phê duyệt đề án trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Sở Giáo dục&ĐT chưa tham mưu UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày, trong đó có quy hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Công tác tuyên truyền Giáo dục những quan điểm chỉ đạo phát triển Giáo dục đến đội ngũ cán bộ quản lý và GV và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh chưa được thường xuyên.
Công tác tổ chức quản lý dạy học 2 buổi ngày chưa tốt, nhiều trường chưa có kế hoạch, chương trình, nội dung cụ thể; Phương án, kế hoạch tổ chức dạy học 2 buổi ngày chưa linh hoạt, chưa phù hợp với đặc điểm vùng miền, chưa có sự thẩm duyệt của Phòng Giáo dục&ĐT. Có nhiều trường đã tổ chức dạy học 2 buổi/ngày nhưng mới chỉ dừng lại ở việc GV dạy học tự nguyện thêm một đến 2 buổi chiều ôn luyện kiến thức cho HS nên không quản lí nội dung, chất lượng day-học.
Công tác bồi dưỡng thường xuyên nâng cao nhận thức, năng lực sư phạm, cũng như nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày còn nhiều hạn chế chưa đạt được kết quả như mong muốn. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Công tác kiểm tra được tăng cường, tuy nhiên việc xử lí và giải quyết các vấn đề tồn tại sau kiểm tra (như thiếu GV, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, chế độ chính sách vùng khó…) chưa được thực hiện kịp thời, do phân cấp quản lí, công tác tham mưu chưa hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu theo các nội dung trên cho thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các hạn chế trong công tác phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn tập trung vào các lĩnh vực hoạt động quản lý cụ thể sau:
Bộ Giáo dục&ĐT chưa có văn bản hướng dẫn chỉ đạo các địa phương bắt buộc phải tổ chức dạy học 2 buổi/ngày mà trên tinh thần khuyến khích những nơi đảm bảo các điều kiện thì triển khai.
Sở Giáo dục&ĐT chưa cụ thể hóa được quy trình, các bước xây dựng đề án phát triển trường dạy học 2 buổi/ngày phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH và phát triển Giáo dục&ĐT của tỉnh Hòa Bình và của vùng khó khăn. Thực trạng này làm cho các hiệu trưởng chưa có căn cứ phù hợp để xây dựng được đề án phát triển trường dạy học 2 buổi/ngày, còn lúng túng, chưa chỉ ra được cơ hội thách thức, chưa nhận biết được các điểm mạnh, yếu của trường trong phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ ngày một các thấu đáo, cụ thể. Điều đó đã tạo ra các khó khăn và cũng là các bất cập cho hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày tại các vùng này.
Tuy rằng năm 2023, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta có Nghị quyết số 29/NQ-TW, ngày 04/11/2023 về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục&ĐT; theo đó NQ 88/2024/QH13 về đổi mới chương trình sách giáo khoa Giáo dục phổ thông với dự thảo chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể cấp tiểu học thực hiện tối thiểu 32 tiết/tuần, nhưng hiện nay chương trình Giáo dụcPT mới chưa ban hành, nên các hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn của tỉnh chưa có cơ sở khoa học định hướng. Điều đó đã tạo ra các khó khăn và cũng là những bất cập.
Việc tuyên truyền chủ chương chính sách cuả Đảng và Nhà nước về việc thực hiện chương trình Giáo dục Tiểu học đến các tầng lớp nhân dân ở vùng khó khăn chưa được sâu rộng, đặc biệt nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng cao có nền kinh tế, chính trị xã hội còn gặp nhiều khó khăn có nơi rất ít thực hiện. Sự quan tâm của cha mẹ HS cũng như các cấp chính quyền ở những vùng này về việc dạy học buổi 2 chưa đúng mức do sự tuyên truyền, vận động của các nhà trường, của cơ quan quản lý Giáo dục về dạy học 2 buổi/ngày chưa được chú trọng. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Hiện nay, việc tăng cường cơ sở vật chất, các chính sách và chế độ đãi ngộ, khuyến khích cũng như tăng cường kinh phí cho các hoạt động giáo dục còn nhiều hạn chế chưa ngang tầm với những yêu cầu đòi hỏi của thực tế xã hội tại vùng khó khăn đối với Giáo dục Tiểu học. Hầu hết các trường đều thiếu phòng học đa năng; nhà hiệu bộ. Một số trường còn thiếu phòng học; thiếu nhà vệ sinh nên ảnh hướng đến hoạt động ngoại khóa, hoạt động tập thể của HS. Nguồn nước sạch chưa đảm bảo cho HS ăn nghỉ bán trú tại nhà trường. Đặc biệt là các phòng chức năng còn phải kiêm nhiệm nhiều nội dung như: phòng thư viện ghép với thiết bị, phòng nghệ thuật,…; phòng sinh hoạt chung là phòng ăn, phòng ngủ,… Điều đó ảnh hưởng nhiều đến công tác tổ chức các hoạt động giáo dục cho HS khi ở trường cả ngày.
Trong khi đó, nguồn kinh phí để để duy trì 2 buổi/ngày chủ yếu dựa vào nguồn XHH nên các trường không thể chủ động và không phải trường nào cũng có nguồn này để trả kinh phí cho GV…Đa số cán bộ quản lý trường học chưa quan tâm đến việc tổ chức cho HS học 2 buổi/ngày do ngại thu tiền HS khi tổ chức dạy buổi thứ hai để trang trải chi phí điện nước, khấu hao cơ sở vật chất. UBND tỉnh chưa có các biện pháp nhằm tạo môi trường thuận lợi (tạo đôngh lực) cho các trường tiểu học thực hiện dạy học 2 buổi/ngày bằng các chính sách ưu đãi riêng của tỉnh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các khó khăn và bất cập ngay trong trong hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Phương thức điều động, luân chuyển cán bộ quản lý, GV chưa phù hợp, thiếu ổn định. Đội ngũ GV phần lớn tăng cường từ vùng thuận lợi lên theo nghĩa vụ từ 3 đến 5 năm nên không ổn định, luân chuyển thường xuyên. Trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của GV chưa cao, chưa thực đầu tư vào việc tổ chức các hoạt động thu hút HS đến trường cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các khó khăn và bất cập ngay trong hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày tại những vùng này.
Ở những vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chưa phát triển thì trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý chưa cao, công tác tự rèn luyện, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các khó khăn và bất cập ngay trong hoạt động phát triển chất lượng trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
Tỉnh Hòa Bình có bề dày lịch sử với nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng, được nhân loại biết đến. Trong những năm gần đây, Giáo dục của tỉnh đã có những thành tựu nhất định về phát triển quy mô và chất lượng, phát triển cơ sở vật chất và thiết bị Giáo dục, phát triển đội ngũ nhân lực Giáo dục, trong đó có phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày. Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới Giáo dục trong giai đoạn mới (đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục) thì vấn đề phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày của các tỉnh này vẫn có những hạn chế nhất định.
Kết quả khảo sát thực trạng phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn cho thấy: Công tác qui hoạch phát triển qui mô trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng này đã được quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn; mọi hoạt động phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày đều được Sở Giáo dục&ĐT đã triển khai; Tuy nhiên công tác tổ chức triển khai thực hiện còn nhiều hạn chế, cần phải khắc phục. Đó là:
- Chưa làm tốt việc cụ thể hoá các qui trình hướng dẫn chỉ đạo xây dựng kế hoạch dài hạn phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày dục nói chung và quy hoạch phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn; Sở Giáo dục&ĐT chưa tham mưu cho UBND tỉnh ra quyết định hoặc phê duyệt Kế hoạch dạy học 2 buổi/ngày, bán trú tại các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh theo giai đoạn.
- Công tác điều động, luân chuyển bố trí sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, GV đáp ứng yêu cầu đổi mới và dạy học 2 buổi/ngày nói riêng còn hạn chế nhất định.
- Hoạt động tuyên truyền và huy động cộng đồng tham gia phối hợp, hỗ trợ các nhà trường trong việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày chưa hiệu quả.
- Công tác quản lí các hoạt động dạy học đảm bảo chất lượng bền vững còn những điểm yếu kém, chưa cập nhật các vấn đề đổi mới.
- Các hoạt động tạo môi trường thuận lợi để tạo động lực cho cán bộ quản lý, GV vùng khó phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày như chính sách ưu đãi riêng của tỉnh chưa được nghiên cứu, ban hành và triển khai.
Các hạn chế nêu trên vừa mang tính mâu thuẫn, vừa trở thành các khó khăn và vừa thể hiện các bất cập trong quản lý phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh. Như vậy, cần phải có các cách thức quản lý để xoá bỏ mâu thuẫn, tháo gỡ khó khăn và khắc phục các bất cập đó để phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục trong bối cảnh phát triển KT-XH hiện nay. Các biện pháp phát triển trường tiểu học dạy học 2 buổi/ngày vùng khó khăn đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục sẽ được trình bày tại chương 3 dưới đây. Luận văn: Thực trạng trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp trường TH vùng khó khăn tỉnh Hòa Bình

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

