Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tại Huyện Đắk Glong, Tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đang được đẩy mạnh, việc đặt ra những yêu cầu đổi mới về vai trò của đội ngũ nhà giáo ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt khi mục tiêu giáo dục được quy định rõ tại Điều 2, Luật giáo dục 2025: “Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [52]. Do đó, trong chiến lược phát triển giáo dục nói chung và chiến lược phát triển của nhà trường nói riêng, phát triển đội ngũ giáo viên luôn là nhiệm vụ trọng tâm. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là biện pháp quan trọng, cốt yếu để nâng cao chất lượng giáo dục.

Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường. Giáo dục phổ thông giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được thực hiện theo hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật triển khai Luật Viên chức, Luật giáo dục. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc xây dựng Đề án vị trí việc làm, tổ chức chuyển xếp từ ngạch sang hạng cho giáo viên theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; đánh giá viên chức để rà soát, sàng lọc và tinh giản theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 39-NQ/TW của Trung ương [2] và Nghị định số 108/2020/NĐ- CP của Chính phủ [19].

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo được thực hiện theo hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật triển khai Luật Viên chức. Nhiều địa phương đã thực hiện tốt việc xây dựng Đề án vị trí việc làm, tổ chức chuyển xếp từ ngạch sang hạng cho giáo viên theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; đánh giá viên chức để rà soát, sàng lọc và tinh giản theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 39- NQ/TW của Trung ương và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm đội ngũ được tăng cường và thực hiện khá tốt, nhiều địa phương đã có những phương án bố trí cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trường học một cách linh hoạt để tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả biên chế; chế độ, chính sách cho nhà giáo được bảo đảm. Việc nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên nhận được nhiều sự quan tâm của các tác giả, tuy nhiên việc nghiên cứu gắn với đị bàn huyện Đắk Glong chưa nhận được sự quan tâm của các tác giả.

Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của tỉnh Đắk Nông trong những năm qua đã có sự phát triển và đạt được những kết quả nhất định. Mạng lưới trường lớp được mở rộng, phân bố rộng khắp, đáp ứng được nhu cầu học tập của con em các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được kiên cố hóa, đồng bộ hơn; trang thiết bị cơ bản đáp ứng được công tác giảng dạy và học tập. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên. Để chuẩn bị thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông năm 2024, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 255/KH-UBND ngày 17 tháng 5 năm 2025 của UBND tỉnh Đắk Nông về việc Triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới [56], với những biện pháp hiệu quả phù hợp để phát triển giáo dục, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa xã hội trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, cũng còn một số khó khăn khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông năm 2024, nhất là thiếu giáo viên ở các cấp học, vì vậy đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và nâng cao về chất lượng là hết sức cấp thiết, nhằm vừa đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, vừa phù hợp với quy hoạch mạng lưới trường lớp của ngành giáo dục, vừa đảm bảo thực hiện tốt Chương trình giáo dục phổ thông năm 2024, trong đó ưu tiên bảo đảm số lượng giáo viên tiểu học dạy môn Tiếng Anh, Tin học bắt đầu từ năm học 2027-2028 theo đúng định mức quy định [8].

Từ năm 2024 đến nay, công tác xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên của các cấp quản lý trong ngành giáo dục huyện Đắk Glong đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở ở huyện còn thiếu về số lượng, chưa đồng bộ về chất lượng và chưa hợp lý về cơ cấu. Đặc biệt là các trường Trung học cơ sở ở các xã cách xa trung tâm huyện, đội ngũ giáo viên (ĐNGV) vừa thiếu vừa yếu. Trước những yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đội ngũ giáo viên giảng dạy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong còn nhiều mặt chưa đáp ứng. Thực tiễn đòi hỏi rất cần có các biện pháp về xây dựng, phát triển và bồi dưỡng Đội ngũ giáo viên để làm tốt công tác giáo dục cho học sinh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, một nhân tố quyết định cho sự phát triển giáo dục. Vì thế, việc quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở là một nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục đào tạo huyện Đắk Glong.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

2.1. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên

  • Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ngoài:

Nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến nghiên cứu về phát triển đổi ngũ. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Learning to teach (Richard I.Arends 1998), Education portal and distanes leaning project (Andrew Scryner, 2010, …Khi đề cập đến phát triển đội ngũ giáo viên ngoài sự thống nhất vè nội dung các nhiệm vụ với quản lý phát triển nguồn nhân lực, các nghiên cứu đều dành sự quan tâm đặc biệt đến số lượng giáo viên, chất lượng và năng lực của giáo viên. Trong quá trình xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mà con phải thúc đẩy sự phát triển bền vững, quan tâm cách thức bồi dưỡng theo modun, theo hướng dạy học tích hợp, co trọng cơ cấu quan hệ về chức danh giữa tỉ lệ giáo viên của các bộ môn, trợ giảng và trợ lí [45].

Thầy giáo cần phải biết và có thể làm gì với vấn đề cốt lõi là: GV phải tận tâm với HS và việc học; GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các bộ môn khác; GV phải có trách nhiệm trogn giảng dạy, quản lý kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; GV phải thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghè nghiệp; GV phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác với cha mẹ HS. Chất lượng Đội ngũ giáo viên là chủ đề được các nhà khoa học giáo dục ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đến nay đã có nhiều công trình được công bố. Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hơp tác Phát triển Châu Âu) chất lượng nhà giáo gồm các nội dung sau: Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp (theo OsDonnel (1986) Modular Design in TAFE caurses, NSW, Sydnel. Raja Roy Singh, (1991), Education for the Twenty – first Century Asia – Pacific Perspectives, Unesco Principal egional office for Asiaand the Pacific Bangkok) [49].

Theo tổng kết của UNESCO, trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người GV đã có thay đổi theo các phương hướng sau đây: Đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; Coi trọng việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; Yêu cầu rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do đó yêu cầu trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết; Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa giáo viên với nhau; Yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; Yêu cầu giáo viên tham gia các hoạt động rộng rãi ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi uy tín truyền thống trong quan hệ với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh [61]. Khuyến cáo 21 điểm về chiến lược phát triển giáo dục hiện đại của tổ chức UNESCO chỉ rõ: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức” và đặc biệt là chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học mới nhất” [62].

Theo Blackwell R, Blackmore p (2009) [54], phát triển đội ngũ nằm trong chiến lược của các nhà trường Trung học cơ sở; các tác giả đưa ra nhiều biện pháp khác nhau về phát triển đội ngũ: Xây dựng các khoa thành những cộng đồng học tập và đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích việc dạy học dựa trên các kết quả nghiên cứu; đưa công nghệ thông tin vào quá trình bồi dưỡng đội ngũ và tạo các điều kiện hỗ trợ việc phát triển đội ngũ. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Các nghiên cứu từ cuối thế kỷ XX về phát triển đội ngũ giáo viên theo xu hướng chuẩn nghề nghiệp được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều nước đã xây dựng chuẩn cho nền giáo dục của mình, gồm: Chuẩn chất lượng, chuẩn trường, chuẩn cán bộ quản lý, chuẩn giáo viên. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đều coi đội ngũ GV, phát triển đội ngũ GV là một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng và sự phát triển của nền giáo dục, quan điểm và nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ GV ngày càng đúng đắn, toàn diện hơn. Đồng thời, các nghiên cứu cũng đưa ra nhiều biện pháp khác nhau để phát triển đội ngũ GV như: Xây dựng chuẩn nghề nghiệp, các tiêu chí, yêu cầu, phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại.

  • Những nghiên cứu ở trong nước

Các công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ta đã được công bố khá phong phú, đa dạng, gồm các sách chuyên khảo, các bài tạp chí, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ các đường lối của Đảng, các văn bản, chính sách, Pháp luật của Nhà nước… Có thể kể đến các công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau đây:

  • Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chất lượng của đội ngũ GV

Xây dựng và phát triển đội ngũ GV là vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế – văn hóa” [46]. Theo nghiên cứu của Tác giả Trần Đình Tuấn (2020) về vai trò của đội ngũ GV đã khẳng định: Chất lượng đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo [54].

Tác giả Lê Đức Ngọc (2011) cho rằng: Có hai lý do chính phải quan tâm hàng đầu về phát triển đội ngũ GV các nhà trường đó là: Trình độ đội ngũ quyết định chất lượng và khả năng của một trường trong giảng dạy, nghiên cứu và phục vụ xã hội trong nền kinh tế hàng hóa; Chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi nhà trường, nó gắn liền với vấn đề chất lượng, hiệu quả và hiệu suất đào tạo [47]. Theo Phạm Văn Kha (2020), nội dung đổi mới căn bản quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý cơ sở giáo dục là đổi mới căn bản về chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục; Đảng, Nhà nước cần có chính sách đặc biệt đối với đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục vì giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, là nhân tố quyết định sự phát triển xã hội, thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao cho đất nước, trong đó đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục có vai trò quyết định đảm bảo chất lượng hiệu quả giáo dục; về đổi mới căn bản và toàn diện [41].

Vấn đề GV và chuẩn hóa đội ngũ GV không chỉ được các nhà giáo dục, các nhà kinh điển Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật giáo dục và Nghị định, Hướng dẫn thực hiện của Chính phủ mà còn được đề cập trong Chỉ thị, nghị quyết của Đảng Bộ tỉnh Đắk Nông. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ GV và tổ chức đào tạo bồi dưỡng đội ngũ GV theo chức danh theo quy định tại Thông tư 20/2024/TT-BGDĐT ngày 22/8/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông [9].

Tóm lại: Những công trình nghiên cứu trên đã khẳng định vị trí, vai trò quyết định chất lượng giáo dục đào tạo của đội ngũ GV, nghiên cứu về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giáo viên và cán bộ quản lý; nghiên cứu thực trạng, đánh giá giáo viên theo chuẩn hóa. Kết quả nghiên cứu của những công trình này có giá trị làm tư liệu khoa học để chúng tôi tham khảo.

Tác giả Bùi Minh Hiền – Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo (2016) [35], đưa ra yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội đội ngũ GV trong một nhà trường phải đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu. Nhóm tác giả phân tích chức năng quản lý phát triển đội ngũ GV từ việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra phải đảm bảo số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ GV trong nhà trường là điều kiện cần phát triển, chú ý đến sự đồng thuận của đội ngũ GV mới để tạo điều kiện đủ cho đội ngũ GV phát triển bền vững. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Tác giả Bùi Văn Quân – Nguyễn Ngọc Cầu (2012), đề cập ba cách tiếp cận nghiên cứu quản lý phát triển đội ngũ GV: (1) Cách tiếp cận quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Chirstan Batal; (2) Tiếp cận theo phương pháp quản lý gồm: Phương pháp giáo dục, vận động tuyên truyền, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế; (3) Tiếp cận theo nội dung phát triển đội ngũ GV. Việc lựa chọn cách tiếp cận nào đó còn phụ thuộc vào khả năng và kết quả phân tích thực tiễn của nhà nghiên cứu quyết định [50].

Như vậy, có thể thấy những nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước đã chỉ ra được cách tiếp cận trong quản lý, phát triển đội ngũ GV, những biện pháp phát triển đội ngũ GV để nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường Trung học cơ sở.

2.2. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

Đội ngũ giáo viên có vai trò là lực lượng “Đảm bảo giáo dục có chất lượng một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người” và “Giáo viên có vai trò chủ yếu trong việc phục hồi thế giới khỏi các xung đột và thảm họa tự nhiên”.

Cuốn sách: “Phát triển giáo viên và thay đổi giáo dục”, tác giả M.Fullan và A.Hargreaves (1992) [65], đã nghiên cứu và chỉ ra các phương diện để nâng cao năng lực cá nhân cho giáo viên, đó là: ( i) Phát triển tâm lí, gồm 4 cấp độ: tự bảo vệ, tiền đạo đức, phụ thuộc một chiều; bảo thủ, phủ định đạo đức, tự lập; lương tâm, đạo đức, phụ thuộc có điều kiện; tự lập, tự chủ, nguyên tắc, tích hợp; ( ii) Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; gồm 6 cấp độ: phát triển các kĩ năng tồn tại; thành thạo các kĩ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ; (iii) Phát triển chu kì nghề nghiệp, gồm 5 cấp độ: khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối quan tâm mới và trở nên chuyên nghiệp.

Cuốn sách: “Quản lý và lãnh đạo giáo dục”, tác giả Bernd Meier (2013), nghiên cứu những năng lực cơ bản mà mỗi giáo viên đều phải có được gọi là năng lực hạt nhân nòng cốt, như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học [63].

Trong cuốn sách: “Công nghệ nội dung kiến thức sư phạm: Một khuôn khổ cho các kiến thức giáo viên”, tác giả Mishra & Koehler (2012) cho rằng: Trong thời đại ngày nay công nghệ thông tin được xem như một nguyên nhân và một bánh xe thúc đẩy kết quả quá trình đổi mới giáo dục. Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tích hợp công nghệ thông tin trong giáo dục là việc phát triển chuyên môn cho giáo viên hiện tại và tương lai, việc phát triển này được xác định là ưu tiên hàng đầu trong chính sách về đổi mới giáo dục. Khung kiến thức cần đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên gồm: Nội dung, phương pháp và công nghệ. Đây là khung phát triển chuyên môn về công nghệ thông tin trong giáo dục. Mô hình này hiện đang được quốc tế công nhận và được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [66]. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Theo quan điểm Triết học, cuốn sách: “Triết học giáo dục Việt Nam”, tác giả Thái Duy Tuyên (2013) [55], đã khái quát những năng lực và phẩm chất của người giáo viên, gồm: chuẩn đoán được nhu cầu, nguyện vọng, khả năng của học sinh; tri thức chuyên môn vững vàng và sâu sắc; có trình độ văn hóa chung rộng rãi; có năng lực nắm bắt và xử lí thông tin nhanh nhạy; năng lực diễn đạt rõ ràng, ngôn ngữ lưu loát, năng lực kiềm chế bản thân; có năng lực tổ chức quản lý, động viên, kích thích học sinh tích cực hoạt động; xây dựng và phát triển kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch; phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, yêu quí học sinh, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục của nhân dân; nghiêm khắc với bản thân, luôn gương mẫu trong công việc và đời sống cá nhân; có những tri thức khoa học giáo dục hiện đại như: quan niệm về dạy học, về quan hệ thầy trò trong điều kiện hiện đại, về nhân tài, về các giá trị đạo đức trong điều kiện toàn cầu hóa.

Cuốn sách: “Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả Nguyễn Hữu Châu (2014), nghiên cứu về mối quan hệ của giáo viên với chất lượng giáo dục và đã chỉ ra những năng lực cơ bản mà người giáo viên cần có, đó là: (i) năng lực chuẩn đoán; (ii) năng lực đáp ứng; (iii) năng lực đánh giá; (iv) năng lực thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác, nhất là với học sinh; (v) năng lực triển khai chương trình giáo dục; và (vi) năng lực đáp ứng trách nhiệm với xã hội [13].

Trong cuốn: “Kỉ yếu hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam”, tham luận về “Phát triển đội ngũ giáo viên trong thế kỷ XXI” tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc (2009) [44], cho rằng ở thế kỉ XXI đội ngũ giáo viên phải đạt các tiêu chuẩn sau: (i) phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên; (ii) năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; (iii) năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục; (iv) năng lực thực hiện kế hoạch dạy học; (v) năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục; (vi) năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức; (vii) năng lực hoạt động chính trị xã hội; và (viii) năng lực phát triển nghề nghiệp.

Trong cuốn sách: “Quản lý giáo dục”, của các tác giả Bùi Minh Hiền-Vũ Ngọc Hải – Đặng Quốc Bảo (2016) [35], đã đề cập đến các khía cạnh của quản lý Nhà nước về giáo dục. Cuốn sách có 01 chương nghiên cứu về “Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục” với 4 vấn đề: (i) tầm quan trọng của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; (ii) Những yêu cầu chung về xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; (iii) quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong một nhà trường; và (iv) xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục. Tiếp cận theo chức năng quản lý, tài liệu khẳng định trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên cần tuân thủ các khâu: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và phát triển đội ngũ giáo viên: đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Cuốn sách: “Quản lý nhà nước về giáo dục – Lí luận và thực tiễn”, của Đặng Bá Lãm (2011) [43], tác giả nhấn mạnh 3 vấn đề trong quản lý Nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên, đó là: (i) phát triển đội ngũ giáo viên là sự tăng trưởng về mặt số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây chính là quá trình chuẩn bị lực lượng để giáo viên có thể theo kịp được sự thay đổi và chuyển biến của giáo dục; (ii) phát triển đội ngũ giáo viên bao gồm cả tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp. Phát triển đội ngũ GV tăng cả về số lượng lẫn chất lượng và sử dụng có hiệu quả đội ngũ GV; và (iii) phát triển đội ngũ giáo viên còn chính là việc xây dựng đội ngũ GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục. Đồng thời, xây dựng một tập thể sư phạm, trong đó mỗi cá nhân có tinh thần trách nhiệm, gắn bó với nhà trường tham gia tích cực, sáng tạo vào trong quá trình giảng dạy và học tập. Nội dung công tác phát triển giáo viên liên quan đến quy mô, cơ cấu, chất lượng đội ngũ giáo viên.

Chuyên khảo: “Đổi mới quản lý giáo dục Việt Nam – một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Phan Văn Kha (2020) [41] chủ biên. Chuyên khảo là sản phẩm của Chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ: “Đổi mới quản lý giáo dục trong quá trình hội nhập quốc tế”. Chương trình cung cấp các luận cứ khoa học và đề xuất biện pháp đổi mới quản lý giáo dục ở Việt Nam. Chương trình nghiên cứu đã dành 01 chương nghiên cứu về “Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý” với 5 vấn đề lớn: (i) giáo viên và Cán bộ quản lý giáo dục thể kỉ XXI; (ii) vấn đề qui hoạch, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh mới; (iii) vấn đề đào tạo bồi dưỡng theo tiếp cận năng lực lấy thực tiễn làm trung tâm; (iv) vấn đề đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ và đánh giá theo khung năng lực và (v) vấn đề về chính sách và tạo động lực đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý các cơ sở giáo, quản lý Nhà nước về GD&ĐT theo tinh thần đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển.

Tóm lại, những công trình nghiên cứu về giáo viên, phát triển giáo viên và đội ngũ giáo viên ở trong và ngoài nước là những cơ sở lí luận để luận văn kế thừa, vận dụng trong nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở. Các công trình nghiên cứu về giáo viên đã tập trung nghiên cứu sâu về phẩm chất và năng lực của người giáo viên với nhiều cách tiếp cận khác nhau; Các công trình nghiên cứu về quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên chủ yếu theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông, thực trạng đội ngũ và thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, các yêu cầu của đổi mới giáo dục đặt ra cho các trường Trung học cơ sở, đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong đáp ứng đổi mới giáo dục hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông và giáo viên trường Trung học cơ sở để có cơ sở xác định các nội dung nghiên cứu của luận văn.
  • Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ và phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong.
  • Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong đáp yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.
  • Khảo sát tính cấp thiết, tính khả thi và tổ chức thực nghiệm một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn địa bàn nghiên cứu: TH&THCS Đắk Plao; Trung học cơ sở Đắk Nang; Trung học cơ sở Hoàng Văn Thụ; Trung học cơ sở Chu Văn An; Trung học cơ sở Phan Chu Trinh; TH&THCS Trần Quốc Toản; Trung học cơ sở Nguyễn Du; TH&THCS Võ Thị Sáu; PTDTBT- Trung học cơ sở Đắk R’Măng; Trung học cơ sở Quảng Hòa.

Giới hạn khách thể khảo sát: Đề tài tập trung khảo sát thực tiễn đội ngũ, phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Giới hạn thời gian khảo sát: năm học 2026 – 2027.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

5.1. Phương pháp luận

  • Tiếp cận hệ thống

Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố khác trong hoạt động quản lý nhà trường, chúng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau. Đặc biệt trong thời kì đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề nghiên cứu chịu nhiều sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan nên nó được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố.

  • Tiếp cận lịch sử

Luận văn nghiên cứu lịch sử phát triển và kinh nghiệm phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở để tìm ra ưu, nhược điểm, vận dụng vào quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • Tiếp cận thực tiễn

Nghiên cứu phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra những yếu điểm, hạn chế, khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng quản lý và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận của luận văn.

Các phương pháp cụ thể: Đọc và phân tích, tổng hợp, khái quát các dữ liệu trong các tài liệu lý luận: các công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ giáo viên và các công trình nghiên cứu có liên quan. Trên cơ sở đó xác lập cơ sở lý luận cho vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong.

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Mục đích: Sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học gồm hai phương pháp chính là điều tra bằng tổng hợp các văn bản báo cáo về đội ngũ cán bộ, giáo viên và thực tiễn tại các đơn vị. Đồng thời đề tài còn sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm. Các phương pháp nghiên cứu này nhằm phát hiện thực trạng Đội ngũ giáo viên và thực trạng các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong. Sử dụng phương pháp thực nghiệm để khẳng định mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất.

Các phương pháp cụ thể: Phương pháp điều tra bằng bằng tổng hợp các văn bản báo cáo về đội ngũ cán bộ, giáo viên: Phương pháp này thu thập những thông tin thực trạng đội ngũ giáo viên và thực trạng phát triển Đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong. Tiến hành khảo sát thực tiễn đội ngũ giáo viên 10 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong. Mẫu được chọn là ngẫu nhiên từ các giáo viên về độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn.

Phương pháp điều tra thực tiễn tại các đơn vị: Phương pháp này được sử dụng để hỏi ý kiến những người am hiểu về đội ngũ giáo viên và phát triển Đội ngũ giáo viên để hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng tổng hợp các văn bản báo cáo về đội ngũ cán bộ, giáo viên. Phương pháp này được thực hiện qua trao đổi, tọa đàm với 10 cán bộ quản lý/lãnh đạo trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, Phòng Giáo dục và Đào tạo về những vấn đề liên quan để làm rõ hơn thực trạng, … bổ sung dữ liệu để có thể đánh giá những mặt mạnh, yếu, làm rõ nguyên nhân tác động đến sự phát triển Đội ngũ giáo viên của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm trong công tác phát triển đội ngũ GV của các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong từ năm 2022 đến nay, tiếp thu những kinh nghiệm thành công, khắc phục những bất cập để đề xuất những biện pháp theo tiếp cận phát triển trong bối cảnh mới.

Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng một số biện pháp vào thực tiễn phát triển đội ngũ GV ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, đánh giá so sánh kết quả đạt được của đội ngũ GV của các trường tại thời điểm trước và sau thử nghiệm nhằm kiểm chứng bước đầu về tính khả thi và ý nghĩa của những biện pháp đã được đề xuất.

  • Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê

Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu khảo sát bằng điều tra tổng hợp các văn bản báo cáo về đội ngũ cán bộ, giáo viên, điều tra thực tiễn tại các đơn vị thu được. Trên cơ sở thống kê, lập biểu bảng trình bày các số liệu khảo sát. Các số liệu khảo sát được xử lý bằng các bảng biêu, các công thức tính số lượng giáo viên, định múc số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục theo quy định để định lượng kết quả nghiên cứu thu được.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1. Về mặt lý luận Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Bổ sung các vấn đề lý luận phát triển đội ngũ GV ở các trường Trung học cơ sở trong bối cạnh đổi mới giáo dục hiện nay.

6.2. Về thực tiễn

Một mặt phản ánh được thực trạng số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên và thực trạng chất lượng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Mặt khác đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông có tính khả thi. Đề xuất với các cấp có thẩm quyền xây dựng cơ chế chính sách trong việc đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng một cách đồng bộ, hiệu quả.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn được chia thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Kết quả khảo sát thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
  • Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Giáo viên trung học cơ sở

Luật Giáo dục 2025 qui định “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên” [52].

Giáo viên phổ thông là Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục phổ thông.

Giáo viên trung học cơ sở là Nhà giáo giảng dạy, giáo dục trong nhà trường trung học cơ sở, trường liên cấp có cấp trung học cơ sở: bao gồm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng và giáo viên trong trường Trung học cơ sở.

1.1.2. Đội ngũ giáo viên Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Đội ngũ: Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: “Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” hoặc “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống” [60].

  • Đội ngũ giáo viên

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung khái niệm đội ngũ đều được hiểu chung là: Một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng hay không cùng nghề nghiệp nhưng đều có chung một mục đích nhất định.

Khi đề cập đến đội ngũ giáo viên, một số tác giả đã nêu lên quan niệm: “đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục” [45, tr.25].

Đối với các tác giả Việt Nam vấn đề này được quan niệm: “Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm Cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục” [50, tr.31-32].

Từ những quan niệm đã nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, ta có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học – Giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật Giáo dục và các luật khác được Nhà nước quy định.

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là những người làm công tác giảng dạy – giáo dục trong trường Trung học cơ sở, có cùng nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện học sinh Trung học cơ sở, giúp các em hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu giáo dục đã xác định cho cấp học. Theo quan điểm hệ thống, tập hợp các giáo viên của một trường Trung học cơ sở nhất định được gọi là đội ngũ giáo viên của trường Trung học cơ sở đó. Đây là một hệ thống mà mỗi thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế xác định. Vì lẽ đó mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa trên toàn thể với toàn bộ hệ thống.

1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực giáo dục Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

  • Phát triển nguồn nhân lực:

Về phát triển nguồn nhân lực (Human resources development) có nhiều cách tiếp cận khác nhau. UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ hẹp là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ phát triển của đất nước. Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạn phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kĩ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm [61].

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng phát triển nguồn nhân lực không chỉ chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để phát triển tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất của tất cả các định nghĩa là đều coi phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia [30].

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Do đó, phát triển nguồn nhân lực đồng nghĩa với quá trình nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt: thể lực, nhân cách đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước [22].

  • Phát triển nguồn nhân lực trong các cơ sở giáo dục:

Phát triển nguồn nhân lực trong các cơ sở giáo dục là quá trình quy hoạch, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm cho đội ngũ này tăng tiến cả về số lượng lẫn chất lượng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của các cơ sở giáo dục [23, tr.14].

Phát triển đội ngũ GV trên cơ sở kết hợp giữa phấn đấu cá nhân của giáo viên và sự quan tâm của các cơ sở giáo dục, chính quyền. Việc xem sự phát triển đội ngũ GV không chỉ đề cập tới sự biến đổi theo hướng tăng thêm đơn thuần về số lượng, chất lượng mà còn phải tính đến việc đáp ứng ngày càng phát triển của xã hộ đối với sự đổi mới và phát triển của toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Vì vậy, vấn đề phát triển đôi ngũ GV đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà khoa học, nhà quản lý. Với những các tiếp cận khác nhau, các công trình khoa học quản lý giáo dục đã chỉ ra vai trò, nội dung, phương thức, điều kiện phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó có một số tác giả đáng chú ý sau đây [23]. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Theo J.Scchiffer: “Các chương trình phát triển đội ngũ GV cần tạo ra sự biến đổi của cá nhân giáo viên, tuy nhiên bản thân điều này chưa đảm bảo được sự hoàn thiện của các cơ sở giáo dục bởi điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa sư thay đổi của nhà trường với sựu thay đổi của giáo viên”. Vì vậy muốn đạt hiệu quả trong quá trình phát triển đội ngũ GV cần phải chú ý đến nhu cầu và kế hoạch của nhà trường, sự phát triển của xã hội [45].

Theo PiPer (1993): Phát triển đội ngũ giáo viên là công cụ mạnh nhất của công tác phát triển nhà trường. Nó tập trung và các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu trong tương lai và gắn chặt với việc lập kế hoạch chiến lược. Theo đó phát triển đội ngũ giáo viên phải trên cơ sở kết hợp giữa phấn đấu cá nhân của giáo viên và sựu quan tâm của nhà trường, của Nhà nước [45].

Phát triển đội ngũ GV là quá trình quy hoạch, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GV làm cho đội ngũ này tăng tiến theo chiều hướng: Bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đực, tác phong, phong cách sư phạm mẫu mực; trình độ chuyên môn sư phạm đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của xã hội, tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu khoa học và khả năng vận dụng vào thực tiễn đạt hiệu quả; đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp và vững vàng giữa cac thế hệ nhằm thực hiện thắng lợi của các cơ sở giáo dục.

1.1.4. Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

Sự phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở được hiểu là quá trình biến đổi làm cho số lượng, cơ cấu và chất lượng luôn vận động đi lên trong mối quan hệ hỗ trợ bổ sung lẫn nhau tạo nên thế cân bằng, bền vững [23, tr.18]. Phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là một bộ phận của phát triển nguồn lực con người hay còn gọi là phát triển nguồn nhân lực [23]. Phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục được thể hiện trong các mặt:

Một là, phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là xây dựng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở, làm cho đội ngũ đó được biến đổi theo chiều hướng đi lên, xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, từng bước nâng cao chất lượng, đồng bộ về cơ cấu.

Hai là, thực hiện tốt tất cả các khâu từ việc quy hoạch, tuyển chọn, sử dụng hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở. Đó là quá trình làm cho đội ngũ nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ chính trị, năng lực quản lý, có phẩm chất tốt, có trí tuệ và tay nghề thành thạo, nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người GV Trung học cơ sở.

Ba là, con người với tư cách là tiềm lực của sự phát triển GD&ĐT, phát triển xã hội, cải tạo xã hội, làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng cao hơn. Như vậy, phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là phát triển sao cho đảm bảo số lượng (đảm bảo định mức lao động), nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm giúp họ hoàn thành tốt vai trò, nhiệm vụ của người GV Trung học cơ sở [23]. Chất lượng của đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở được hiểu trên bình diện gồm có chất lượng và số lượng. Số lượng luôn gắn chặt với chất lượng, chất lượng bao hàm số lượng. Khi xem xét đến chất lượng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần phải xét các mặt:

  • Số lượng đội ngũ: Cơ cấu phù hợp. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Chất lượng đội ngũ: gồm phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Một đội ngũ được đánh giá là có chất lượng khi đội ngũ đó đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu.

Phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu đổi mới hiện nay

Khái niệm Chuẩn có thể được định nghĩa như sau: Chuẩn là hệ thống các yêu cầu cơ bản được cụ thể bằng các tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể nhằm đạt được một mục tiêu nhất định nào đó.

Chuẩn nghề nghiệp: Chuẩn nghề nghiệp là thước đo năng lực nghề nghiệp. Năng lực nghề nghiệp là khả năng làm được, thực hiện có hiệu quả một công việc nào đó (Hướng dẫn áp dụng Chuẩn nghề nghiệp vào đánh giá giáo viên). Tiêu chuẩn là quy định về những nội dung cơ bản, đặc trưng thuộc mỗi lĩnh vực cần đạt được. Tiêu chí là yêu cầu và điều kiện cần đạt được về một số nội dung cụ thể của mỗi tiêu chuẩn. Một tiêu chuẩn gồm nhiều tiêu chí. Minh chứng là các bằng chứng (tài liệu, tư liệu, sự vật, hiện tượng, nhân chứng) được dẫn ra để xác nhận một cách khách quan mức độ cần đạt được của tiêu chí [45].

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với giáo viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cần đạt được nhằm đáp ứng mục tiêu của giáo dục.

1.2. Phân cấp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

1.2.1. Phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Quản lý nhà nước về giáo dục: là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt đông GD&ĐT trong phạm vi một quốc gia nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra. Quản lý nhà nước về GD&ĐT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GD&ĐT do các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo qui định của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp GD&ĐT thực hiện mục tiêu GD&ĐT của nhà nước. Như vậy có thể hiểu Quản lý nhà nước về GD&ĐT là sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của bộ giáo dục từ trung ương đến cơ sở lên HTGĐQD và các hoạt động GD của xã hội nhằm nâng cao dân trí – đào tạo lực – bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho công dân [39, tr.21-22].

Đặc điểm Quản lý nhà nước về GD&ĐT ở Việt Nam hiện nay là sự kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong các hoạt động quản lý giáo dục. Thực chất đây là việc triển khai chức năng, nhiệm vụ quyền hạn do Nhà nước qui định (phân cấp, phân công hoặc uỷ quyền), Các cơ quan, tổ chức thay mặt Nhà nước triển khai sự nghiệp GD&ĐT và điều hành, điều chỉnh các hoạt động GD&ĐT.

  • Phân cấp quản lý nhà nước đối với giáo dục phổ thông

Phân cấp quản lý là sự chuyển giao thẩm quyền từ cấp trên xuống cấp dưới nhằm đạt được một cách có hiệu quả mục tiêu chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước [39]. Khi tiến hành phân cấp quản lý, đã có sự phân định rõ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp trong bộ máy hành chính nhà nước.

Phân cấp quản lý đối với GDPT là một nội dung quan trọng trong chương trình cải cách hành chính trong ngành giáo dục. Phân cấp Quản lý nhà nước đối với GDPT là việc trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, vai trò và vị trí của các cơ quan quản lý giáo dục và sự phối hợp của chính quyền và các ban ngành trong việc thực thi chức năng Quản lý nhà nước về giáo dục.

1.2.2. Phân cấp quản lý nhà nước đối với giáo dục phổ thông Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Năm 2024 chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2024/NĐ-CP ngày 21/9/2024 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục [20]. Nghị định này đã quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với giáo dục phổ thông theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở đó, giúp các bộ, UBND các cấp, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT thuận lợi trong việc tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền được giao.Nghị định này cũng nêu ra các yêu cầu đối với việc quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục là bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về giáo dục; bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được giao; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm quản lý nhà nước của các bộ, UBND các cấp và các cơ quan có liên quan [20].

Nghị định 127/2024/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp huyện, cấp xã, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện, xã; trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo.

UBND cấp tỉnh có trách nhiệm sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương; bảo đảm đủ biên chế công chức quản lý giáo dục, đủ số lượng người làm việc theo đề án vị trí việc làm được phê duyệt, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, tiến tới tổ chức học 02 buổi/ngày ở giáo dục phổ thông; chịu trách nhiệm giải trình về hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, quản lý đội ngũ công chức, viên chức, người lao động và người học thuộc phạm vi quản lý [20]. Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương theo quy định của pháp luật và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo phân cấp, ủy quyền của UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện.

1.2.3. Căn cứ phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở

Cùng với đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục, sự thành công của công cuộc đổi mới căn bản toàn diện GD và đào tạo. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển GD phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập trung nâng cao chất lượng GD, coi trọng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới căn bản nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí, phát triển đội ngũ giáo viên (GV) và Cán bộ quản lý là khâu then chốt” [1]. Như vậy, trong đổi mới căn bản, toàn diện nền GD nước nhà, phát triển đội ngũ GV và Cán bộ quản lý được xem là giải pháp then chốt. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ GV trung học cơ sở (THCS) cốt cán, trong những năm qua, ngành GD&ĐT đã thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trung học cơ sở cốt cán. Do vậy, đến nay, về cơ bản, Thanh Hóa đã có một đội ngũ GV Trung học cơ sở cốt cán có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức tốt, tạo nên sự phát triển vững chắc cho ngành GD&ĐT của tỉnh. Đánh giá về vấn đề này trong Chỉ thị 40-CT/TW [2] của Đảng đã chỉ rõ: “Trước yêu cầu mới của sự phát triển GD thời kì CNH, HĐH, đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý GD có những hạn chế, bất cập…”. “Đẩy mạnh xã hội hóa GD gắn với nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động khoa học – công nghệ, GD – đào tạo, văn hóa, y tế, thể dục, thể thao” [3, tr.3]. Từ đó, có thể thấy, phát triển đội ngũ GV Trung học cơ sở cốt cán theo tiếp cận năng lực nói riêng là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Nghiên cứu thực trạng phát triển đội ngũ GV Trung học cơ sở cốt cán theo tiếp cận năng lực tại các trường Trung học cơ sở cũng là một vấn đề thực tiễn cấp thiết góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GV Trung học cơ sở cốt cán lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới GD căn bản và toàn diện GD&ĐT.

1.3. Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Như các nội dung đã trình bày ở phần trên chúng ta có thể thấy, thực hiện phân cấp và phân quyền về nhiệm vụ giáo dục phổ thông nói chung, nhiệm phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở nói riêng thuộc về nhiệm vụ của Phòng GD & ĐT với các nhiệm vụ cụ thể là: (1) Thực hiện việc tuyển dụng; (2) Sử dụng đội ngũ sao cho đúng quy định và hiệu quả; (3) Bồi dưỡng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên trong các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc UBND cấp huyện theo quy định của pháp luật khi được ủy quyền;

1.3.1. Thực hiện tuyển dụng đội ngũ giáo viên

Nhiệm vụ tuyển dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là UBND huyện triển khai trên cơ sở tham mưu của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, tổng hợp từ nhu cầu và chỉ tiêu tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện.

Tuyển dụng được hiểu là tiến trình thu hút nhân lực từ các nguồn khác nhau và lựa chọn đúng người có tiêu chuẩn phù hợp để sử dụng vào đúng vị trí công việc mà doanh nghiệp có nhu cầu về nhân lực. Tuyển dụng là quy trình mà kết quả của nó là việc lấp đầy các vị trí trống trong tổ chức. Quy trình này bao gồm những hoạt động có mối liên hệ chặc chẽ với nhau như thu hút ứng viên, lựa chọn trong số các đơn xin việc gởi về cho tổ chức, phỏng vấn, định hướng vào công việc, giao việc cho nhân viên thông qua việc luân chuyển, thăng tiến hay gián chức và quản trị số nhân viên thông qua việc xin từ chức, sa thải hay về hưu.

Công tác tuyển dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở cần xem xét, đánh giá, cân nhắc kỹ lưỡng, lấy mục tiêu tuyển dụng để thúc đẩy sự nghiệm giáo dục, tuyển dụng đội ngũ GV Trung học cơ sở là việc làm thường xuyên theo kế hoạch tuyển dụng nhưng phải được tổ chức công khai, minh bạch, dân chủ, đúng quy trình theo đúng quy đinh của ngành và Pháp luật của nhà nước. Các tiêu chuẩn để lựa chọn căn cứ theo Luật giáo dục, Điều lệ và những yêu cầu thực tế của nhà trường [23]. Việc tuyển chọn GV cần đảm bảo tính chiến lược, không chỉ nhằm giải quyết sự thiếu hụt GV trong thời điểm hiện tại, mà phải hướng vào việc đáp ứng các yêu cầu thực hiện mục tiêu, sứ mệnh của nhà trường trong tương lai; cách tiếp cận cá nhân dựa vào năng lực thực tế của ứng viên so với các tiêu chuẩn của vị trí cần tuyển dụng; quyền chủ động của cấp bộ môn được phát huy trong việc đánh giá, thẩm định tiêu chuẩn tuyển dụng đối với ứng viên, thoát ly khỏi sự tập trung quyền lực vào hiệu trưởng.

1.3.2. Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên là trách nhiệm của cả Phòng Giáo dục và đào tạo huyện và các Nhà trường, vì dựa vào vị trí việc làm, vị trí tuyển dụng theo chỉ tiêu mà Phòng Giáo dục và Đào tạo thực hiện bố trí đội ngũ giáo viên cho phù hợp và các Nhà trường sẽ là chủ thể sử dụng đội ngũ giáo viên.

Bố trí nhân sự là quá trình sắp đặt nhân lực vào các vị trí công việc của tổ chức. Sử dụng nhân sự là quá trình khai thác và phát huy năng lực làm việc của người lao động một cách tối đa nhằm đạt hiệu quả cao trong công việc.

Bố trí và sử dụng nhân sự do vậy phải xuất phát từ hiện thực của tổ chức và năng lực của nguồn nhân lực. Sự thành công của mỗi con người đều có quan hệ chặt chẽ đến môi trường của nó, trong tình huống bình thường hoàn cảnh hiện thực có thể trở thành điều kiện và cũng có thể trở thành vật cản cho sự thành công của mỗi người. Do đó dẫn dắt nhân viên xây dựng con đường trưởng thành và cống hiến phải căn cứ vào hoàn cảnh thực tế là điều rất có ý nghĩa.

Người làm công tác phát triên nguồn nhân lực cần biết tính toán phân loại nhân viên theo các cấp độ nhu cầu về nhân lực của tổ chức và năng lực của nhân viên. Bố trí và sử dụng nhân sự như vậy phải căn cứ đúng vào sở trường và các tố chất khác nhau của mỗi người để tính toán các cấp độ sử dụng, cũng như mức độ mà mỗi người có thể đạt đến. Việc đánh giá chính xác nhân viên do vậy cũng tỏ ra rất quan trọng.

Hiện nay, việc bố trí và sử dụng đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở có liên quan chặt chẽ với nhau: bố trí đúng thì mới có thể sử dụng được, ngược lại nếu doanh nghiệp tìm và bố trí được nhân viên có năng lực mà không biết cách sử dụng họ thì hiệu quả tổng thể cũng sẽ không đạt được [45]. Từ những quan niệm trên, có thể thấy bố trí đội ngũ giáo viên có liên quan chặt chẽ đến cơ cấu tổ chức của mỗi nhà trường, và do vậy nó mang tính ổn định tương đối. Việc sử dụng đội ngũ giáo viên liên quan đến cá nhân từng người lao động và mang tính linh hoạt. Và như vậy, các nhà quản lý trực thuộc các cơ quan quản lý nhà nước vê giáo dục và cán bộ QLGD trong các nhà trường đều phải tham gia tích cực vào công tác bố trí và sử dụng đội ngũ giáo viên.

Trong công tác bố trí sử dụng đội ngũ giáo viên nhà quản lý cấp phòng GD cần đặc biệt quan tâm tới các vấn đề sau:

Đảm bảo đủ số lượng: đảm bảo đủ số lượng giáo viên theo yêu cầu của hoạt giáo dục trong mỗi nhà trường tránh tình trạng thừa hoặc thiếu nhân lực. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Đảm bảo đúng người: đảm bảo sử dụng giáo viên đúng với năng lực, sở trường, trình độ chuyên môn và nguyện vọng của giáo viên. Giáo viên nếu bị bố trí sai chuyên môn và năng lực, sở trường của họ thì sẽ ảnh hưởng đến năng hiệu quả giáo dục và giảng dạy học sinh [35]. Hơn nữa, trong xã hội hiện đại nguyện vọng của người lao động luôn cần được chú ý, quan tâm nhằm tạo ra động lực cho giáo viên trong quá trình làm việc.

Đảm bảo đúng thời hạn: có nghĩa là phải đảm bảo tính mềm dẻo và linh hoạt trong sử dụng giáo viên. Việc sử dụng đội ngũ giáo viên phải đảm bảo tránh các đột biến về nhân lực trong quá trình phục vụ nhiệm vụ giáo dục và mục tiêu phát triển nhà trường do các yếu tố hưu trí, bỏ việc… Hoặc trong nhiều trường hợp cần đa dạng hoá các loại hình hợp đồng lao động nhằm tiết kiệm chi phí nhân công đối với các nhà trường chưa được phân bổ đủ nguồn nhân lực theo các quy định của các cơ quan quản lý nhà nước và sự thay đổi của chương trình giáo dục mà cần đến sự hiện diện của các nguồn nhân lực mang tính mang tính động (nguồn giáo viên cần thiết phục vụ cho sự biến động của các chủ đề, nội dung giáo dục được người học lựa chọn dưới sự cho phép của chương trình giáo dục mở) .

1.3.3. Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

Chủ thể đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chính là các Nhà trường và chính đội ngũ giáo viên khi thực hiện các hoạt động liên quan đến bồi dưỡng và tự bồi dưỡng và đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.

Đào tạo, bồi dưỡng gồm các hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề, kỹ năng, giúp người lao động hoàn thành công việc hiện tại tốt hơn. Đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ nhân sự là các hoạt động định hướng vào việc cải thiện năng lực cá nhân và nhóm trong tổ chức. Một vài quan điểm khác cho rằng quy trình này như là việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên ở tất cả các cấp độ. Nhưng hầu hết tất cả giáo viên trong bất kỳ cơ sở giáo dục nào cũng cần được huấn luyện ban đầu và bồi dưỡng trong quá trình làm việc để họ có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao cùng với sự phát triển không ngừng của các nhà trường và xã hội.

Đối với đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở việc bồi dưỡng phát triển đội ngũ hiện nay cần khảo sát và đánh giá lại năng lực nghề nghiệp và đạo đức của GV một cách chính xác và khách quan; Đối chiếu với yêu cầu của Chương trình GDPT 2024 để thấy rõ những năng lực nghề nghiệp còn yếu của GV, các nội dung chuyên môn cần bổ sung từ đó xác định nội dung cần bồi dưỡng cho GV và xây dựng các chương trình bồi dưỡng; Biên soạn các tài liệu bồi dưỡng GV theo từng nội dung hoặc chủ đề mà GV còn thiếu và yếu như dạy học theo định hướng phát triển năng lực, dạy học tích hợp liên môn [23]…

Các chương trình đào tạo lại, các khóa bồi dưỡng giáo viên cần được tổ chức một cách linh hoạt nhưng vẫn phải đảm bảo tính nghiêm túc, và luôn cần có quá trình kiểm tra, đánh giá đẻ xác định hiệu quả của quá trình đào tạo lại hay bồi dưỡng.

Trên cơ sở đánh giá, phân tích “lỗ hổng” năng lực thực hiện chức năng của từng cá nhân và đội ngũ giáo viên để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, tức là các năng lực/mức độ năng lực cần được bổ sung cho đội ngũ giáo viên. Một khi khung năng lực được cấu trúc tốt sẽ giúp cho lãnh đạo nhà trường không chỉ xác định được các hành vi theo các chỉ số thực hiện công việc hiệu quả, mà còn cả những gì cần đòi hỏi để thực hiện thành công định hướng chiến lược, cũng như phát triển và duy trì văn hóa của tổ chức cần có để đạt kết quả công việc tốt nhất. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Việc đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo định hướng chiến lược của nhà trường; cách tiếp cận cá nhân trong việc bổ sung và hoàn thiện năng lực của từng cá nhân GV; tính thống nhất vì mục tiêu phát triển của nhà trường; phát huy quyền chủ động của tổ trưởng tổ chuyên môn trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên của đơn vị.

1.3.4. Đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên

Đánh giá thực hiện công việc là tiến trình nhằm đảm bảo để người lao động đạt được các tiêu chuẩn hiện hành và cải thiện việc thực hiện công việc trong quá trình làm việc trong doanh. Chủ thể thực hiện đánh giá đội ngũ giáo viên chính là Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở, dựa vào kết quả tự đánh giá, kết quả đánh giá từ các tổ chuyên môn mà Hiệu trưởng triển khai đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên trong Nhà trường. Đối với toàn huyện thì Phòng Giáo dục và Đào tạo là chủ thể thực hiện việc đánh giá phát triển đội ngũ giáo viên.

Đội ngũ giáo viên là nguồn nhân lực của một cấp học, ngành học, trong phạm vi cả nước, một địa phương hay tại một cơ sở giáo dục. Vì vậy, phát triển đội ngũ giáo viên tiếp cận dưới góc độ quản lý nguồn nhân lực là một khoa học về phát triển con người. Với cách tiếp cận này, giáo viên được đặt vào trung tâm của sự phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Vì vậy, nội dung bồi dưỡng giáo viên cần phải được xây dựng trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu tổng thể của nguồn nhân lực, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển cá nhân, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức [35]. Đánh giá sự phát triển của đội ngũ giáo viên cũng phải được xem xét dưới góc độ của các tiêu chí tạo ra sự phát triển của cả cá nhân và của cả nguồn nhân lực.

Hiện nay trong các cơ sở giáo dục công lập, việc đánh giá thực hiện công việc của cán bộ quản lý, giáo viên theo chuẩn đang được các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục triển khai rộng khắp. Việc này nhằm theo dõi, đánh giá sự phát triển nghề nghiệp của GV và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông trong cả hệ thống giáo dục, từng tỉnh, từng huyện, từng trường và từng cá nhân, làm căn cứ cho việc xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức bồi dưỡng [39, tr.35]. Kết quả đánh giá theo chuẩn cũng là căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu quả và cập nhật các chương trình bồi dưỡng thường xuyên của các địa phương và của Bộ GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2024 và đổi mới giáo dục.

Tóm lại, phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở là một quá trình quản lý nhằm phát triển về số lượng, điều chỉnh cơ cấu (độ tuổi và môn học); đảm bảo chất lượng đạt chuẩn nghề nghiệp; tạo lập môi trường làm việc phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc; tạo nguồn đào tạo và có chính sách đặc thù, hướng tới xây dựng được đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở của từng trường, từng địa phương, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và góp phần đảm bảo cho giáo dục Trung học cơ sở phát triển bền vững.

Đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng GD&ĐT. Đặc biệt trong quá trình đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới căn bản toàn diện giáo dục… thì hơn bao giờ hết vai trò trách nhiệm thuộc về nhà giáo. Như vậy, vấn đề phát triển đội ngũ nhà giáo kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế vô cùng quan trọng.

1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

1.4.1. Yếu tố khách quan

Các quy định về quản lý nguồn nhân lực cho GD của cơ quan quản lý cấp trên còn nhiều bất cập: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển giáo dục nói chung, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục (ĐNNG&CBQLGD) nói riêng. Các văn kiện của Đảng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với ĐNNG&CBQLGD trong đó tập trung vào một số vấn đề cơ bản: Về vị trí, vai trò của ĐNNG&CBQLGD; Về lượng, chất lượng và cơ cấu; Về đào tạo, bồi dưỡng; Về đãi ngộ, tôn vinh; Về quản lý, sử dụng. Những yếu tố thuộc về quản lý Nhà nước thể hiện qua các chiến lược, kế hoạch, chính sách, đề án, dự án, chương trình liên quan đến giáo dục nói chung và phát triển giáo dục nói riêng; Những yếu tố thuộc về quản lý nhà trường thể hiện qua tầm nhìn, năng lực, phẩm chất, trình độ, niềm đam mê nghề nghiệp của cán bộ; sự đoàn kết, đồng thuận trong tập thể nhà trường; Những yếu tố thuộc về quản lý đào tạo giáo viên; chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo…

Địa phương chưa có chế độ khuyến khích đội ngũ giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ: Tăng cường tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên theo các chương trình tiên tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ nhà giáo trong tình hình mới. Hoạt động bồi dưỡng giáo viên cần được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, có những hình thức bồi dưỡng trực tiếp mang tính tổ chức chính quy như: Tham dự các khóa học, khóa tập huấn bồi dưỡng, hội thảo khoa học… và những hình thức mang tính chất gián tiếp như: Bồi dưỡng từ xa qua mạng Internet, tài liệu hướng dẫn; hay bồi dưỡng cá nhân dưới sự hướng dẫn, tư vấn của giảng viên sư phạm.

Môi trường sư phạm, điều kiện làm việc của các cơ sở giáo dục còn hạn chế: Trong bất kỳ tổ chức nào cũng vậy, đoàn kết tập thể luôn tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho sự thành công của tổ chức. Đoàn kết trong tập thể, đây là nhiệm vụ tâm lý xã hội đặc biệt quan trọng của người quản lý. Thực tế đã chứng minh rằng đoàn kết trong tập thể sư phạm có tác dụng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Ngược lại một tập thể không có sự đoàn kết thống nhất sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả giáo dục của nhà trường. Giữa các giáo viên trong tập thể cần có mối quan hệ bình đẳng, phối hợp. Mọi giáo viên cùng nhau hợp tác, tương thân, tương ái, khoan dung, độ lượng với nhau sẽ tạo bầu không khí tâm lý lành mạnh, thấm đượm tình cảm đồng nghiệp, anh em, bạn bè… Tổ chức công đoàn nhà trường có nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng tập thể sư phạm thành tổ ấm gia đình thứ hai, nơi mọi người có thể chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, thành công hay thất bại với nhau.

Điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội của địa phương còn khó khăn: Đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội nói chung và sự đáp ứng các yêu cầu về sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đang được đặt ra đối với các Sở Giáo dục và Đào tạo. Do yêu cầu về sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền có ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ giáo viên. Mạng lưới các trường học được quy hoạch phát triển nhằm đáp ứng theo sự đòi hỏi của vùng miền, địa phương. Đảng và Nhà nước đã có các chủ trương, biện pháp để phát triển nguồn nhân lực phù hợp với vùng miền để tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế của địa phương.

Vị thế của nghề GV còn thấp so với các ngành nghề khác: Hiện nay các chính sách về đãi ngộ chưa được tương xứng, vì vậy việc duy trì và phát triển đội ngũ giáo viên ở vùng sâu, vùng khó khăn đủ về số lượng và chất lượng trong giai đoạn hiện nay là vô cùng khó khăn. Hiện tượng có nhiều giáo viên xin chuyển vùng sâu, vùng khó khăn về các vùng thuận lợi, về các Ban ngành khác. Những giáo viên chuyển đi lại là những giáo viên có trình độ, năng lực và kinh nghiệm.

1.4.2. Yếu tố chủ quan Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Kế hoạch tuyển dụng GV của địa phương được chưa hợp lý: Việc xây dựng hoạch phát triển đội ngũ giáo viên phải đảm bảo tính định hướng chiến lược, phù hợp với chiến lược phát triển của nhà trường; đảm bảo tính thống nhất trong công tác quy hoạch; cách tiếp cận cá nhân thông qua việc quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển tạo điều kiện cho mỗi cá nhân GV phát triển nghề nghiệp và có cơ hội được bổ nhiệm lên vị trí cao hơn, từ đó nâng cao năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người GV.

Chế độ hỗ trợ lương, thưởng, cho đội ngũ giáo viên còn chưa hợp lý: Trong quản lý đội ngũ giáo viên, đãi ngộ được hiểu là tạo môi trường thuận lợi cho việc duy trì và phát triển đội ngũ giáo viên, là yếu tố quan trọng giúp GV yên tâm công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong phát triển đội ngũ giảng viên, đãi ngộ được xem là một hình thức ghi nhận sự tiến bộ và những đóng góp của mỗi cá nhân GV, nhằm tạo động lực để thúc đẩy họ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ. Việc đãi ngộ GV dựa vào năng lực cho phép kết nối giữa đánh giá năng lực với chi trả thù lao và các lợi ích khác. Nói cách khác, đó chính là thực hiện việc chi trả tiền lương và tạo môi trường làm việc thuận lợi dựa theo năng lực và sự cống hiến của mỗi người để tạo động lực cho GV phấn đấu nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ. Đối với những GV có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề cao xứng đáng được hưởng mức tiền lương cao tương xứng với sự cống hiến, đóng góp của họ vào việc thực hiện mục tiêu chiến lược của nhà trường, đồng thời được tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu tốt hơn so với những người bình thường; những GV sau quá trình được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tốt hơn so với trước đây cũng cần được nâng mức lương để ghi nhận sự tiến bộ của họ.

Sử dụng đội ngũ giáo viên chưa có hiệu quả: Phân công, bố trí và sử dụng giáo viên nhân viên là quyền hạn và trách nhiệm của người Hiệu trưởng. Đó là việc phân công giáo viên giảng dạy và chủ nhiệm các lớp trong trường. Nếu phân công hợp lí sẽ phát huy tối đa tiềm năng của giáo viên, ngược lại phân công, bố trí không hợp lí sẽ làm giảm chất lượng dạy học và giáo dục của họ, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chung của nhà trường.

Điều kiện, cơ sở vất chất, tài chính, cơ chế chính sách phục vụ bồi dưỡng phát triển đội ngũ chưa hợp lý: Điều kiện cơ sở vật chất cũng đóng vai trò rất quan trọng. Nếu muốn kiểm tra, đánh giá giáo viên, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên làm việc tốt, hiệu quả cao thì cần có hệ thống cơ sở vật chất với trang thiết bị đồng bộ. Đồng thời, khi các thông tin, dữ liệu được lưu trữ đầy đủ thì công tác phát triển giáo viên sẽ được dễ dàng hơn rất nhiều.

Trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập: Đội ngũ cán bộ quản lý của Phòng giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý. Những người làm công tác quản lý phòng GD&ĐT đòi hỏi không những phải có trình độ năng lực chuyên môn vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng mà còn phải có tài năng quản lý. Nói cách khác, cán bộ quản lý phòng giáo dục của một huyện vùng sâu, vùng xa và khó khăn phải là những người nắm chắc và hiểu sâu sắc định hướng mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục của huyện nhà, phải là người hiểu sâu sắc về chương trình, nội dung giáo dục các cấp học, biết chỉ đạo, điều hành các nhà trường hoạt động sao cho có hiệu quả. Phần lớn nhận thức của đội ngũ giáo viên đều rất tốt. Họ là những người dễ tiếp thu những cái mới, hiểu được vai trò, sứ mệnh của mình trong nhà trường nên luôn cố gắng, mẫu mực trong công tác và sinh hoạt. Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác phát triển giáo viên và ngược lại với những giáo viên hạn chế về trình độ nhận thức sẽ gây khó khăn thậm chí là khiếu kiện, thắc mắc không nên có.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

Từ kết quả nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu về nhân lực; nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực; phát triển giáo viên và phát triển đội ngũ giáo viên theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, tác giả đã rút ra và kế thừa được những điểm mới về lí luận. Những kết luận khoa học được rút có vai trò định hướng trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn.

Tại chương 1 của nghiên cứu này chúng tôi đã làm rõ các khái niệm cơ bản như: Phát triển; phát triển nguồn nhân lực; giáo viên; đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở và phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở. Những khái niệm cơ bản có vai trò công cụ quan trọng trong nghiên cứu đề tài luận văn. Chúng tôi cũng đã thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung và chức năng quản lý để phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở. Theo đó, các nội dung chủ yếu phát triển đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở của chủ thể quản lý theo phân cấp quản lý tại Việt Nam hiện nay chính là các Phòng giáo dục, các công việc chủ yếu để phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở đó chính là: (1) Thực hiện công tác tuyển dụng đội ngũ giáo đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giáo dục của các cơ sở giáo dục; (2) Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên phù hợp và hiệu quả (3) Đào tạo lại, bồi dưỡng phát triển năng lực cho đội ngũ giáo viên; (4) Đánh giá thực hiện công việc của giáo viên, nhân viên. Đồng thời tại chương 1, chúng tôi cũng đã nêu và phân tích đến các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở của quản lý cấp phòng giáo dục. Kết quả nghiên cứu cơ sở lí luận phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở theo tiếp cận nội dung là cơ sở lí luận để khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên và đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở tại địa bàn nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu phát triển giáo dục địa phương nói riêng và đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam nói chung. Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Phát triển đội ngũ giáo viên THCS tại Huyện Đắk Glong […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537