Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực cho học sinh Trường THPT Ứng Hòa B, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng ta đã khẳng định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” [1].
Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông nước ta chuyển mạnh quá trình từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Nội dung các môn học sẽ “tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn” [1]. Phương pháp dạy và học sẽ khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc, chuyển sang dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; đa dạng hoá các hình thức tổ chức giáo dục…
Chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông (THPT) nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với tổ quốc…
Trước những yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là một công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong quá trình hội nhập và phát triển. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp nhằm phát triển giáo dục vững chắc và mạnh mẽ hơn trong thời gian tới đó là đổi mới việc quản lý (QL) tổ chức hoạt động dạy học ngoại ngữ (NN) trong hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) để cung cấp cho thế hệ trẻ một phương tiện giao tiếp, học tập và làm việc hữu hiệu trong môi trường đa ngốn ngữ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Trong thời gian qua, hoạt động dạy môn Tiếng Anh ở Trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội đã đạt được những thành quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập về thực hiện nội dung chương trình để phù hợp với trình độ HS, việc đổi mới phương pháp giảng dạy chưa được thực hiện đồng bộ, đội ngũ GV chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội, trang thiết bị cho dạy học được đầu tư nhiều nhưng chưa được sử dụng có hiệu quả; việc QL các khâu trong quá trình dạy học bộ môn còn lỏng lẻo; việc dạy học ngoại ngữ chưa được coi trọng đúng mức, môn tiếng Anh thường bị coi là môn phụ, một số HS học tiếng Anh mang tính đối phó chưa tự giác.
Là Cán bộ quản lý (Phó hiệu trưởng) và cũng là GV giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở Trường THPT Ứng Hòa B, bản thân tác giả nhận thấy việc nghiên cứu thực trạng dạy học môn tiếng Anh ở trường nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để khắc phục những hạn chế, khó khăn trong công tác hoạt động dạy học bộ môn, nâng cao năng lực học tập cho học sinh, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường là rất cần thiết. Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực cho học sinh Trường THPT Ứng Hòa B, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Những nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, hoạt động dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học rất được quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Từ thế kỷ XV – XVIII, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comesnky đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học, đó là những nguyên tắc như: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ bền vững của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục,… Cho đến nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó.
Nhiều nhà giáo dục có tư tưởng tiến bộ đã chú ý đến dạy học hướng vào người học, khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân HS. Thế kỷ XX, J.Dewey (1916) cho rằng giáo dục và dạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS. Do vậy, quá trình dạy học là sự chỉ dẫn phát triển tiềm năng, năng lực vốn có của HS. Do vậy, quá trình dạy học phải hướng vào người học, đảm bảo cho họ học bằng sự phân tích kinh nghiệm của mình. Việc học tập là quá trình xử lý kinh nghiệm mà người học tự tiến hành với sự giúp đỡ của nhà giáo dục theo nhu cầu và lợi ích cá nhân. Như vậy, dạy học phải chú ý đến cái riêng của mỗi người, đặc biệt là nhu cầu, hứng thú. Dạy học dựa trên kinh nghiệm cá nhân và hiệu quả học tập do từng người quyết định.
Rất nhiều vấn đề và góc độ dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học đã được các tác giả nghiên cứu. Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm yếu và những mục đích riêng. Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học để nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
- Những nghiên cứu trong nước
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục về vấn đề quản lý dạy học như: Nguyễn Thị Dung (2022) nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy học phát triển năng lực học sinh ở Trường Trung học phổ thông B Phủ lý- tỉnh Hà nam”; Bùi Đức Thiện (2024) “Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh các trường trung học phổ thông huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam”; Trần Thị Nhài (2024) “Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường Trung học cơ sở Hòa Bình, Huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng”; Hoàng Thị Kim Thành (2023) “Biện pháp quản lý hoạt động GDTC ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”….
Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục khi thể hiện nội dung nghiên cứu của mình đều làm 3 công việc: a) Xác định khung lý luận của đề tài luận văn về quản lý dạy học; b) Phát hiện thực trạng dạy học, thực trạng quản lý dạy học cùng các yếu tố ảnh hưởng trên địa bàn nghiên cứu được xác định trong luận văn; c) Đề xuất các biện pháp quản lý dạy học, quản lý dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo tốt để luận văn kế thừa về lý luận, về phương pháp nghiên cứu cho đề tài luận văn của tác giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, đề xuất các biện pháp QL dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực cho học sinh trường THPT Ứng Hòa B nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn tiếng Anh tại Nhà trường.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực ở trường THPT.
- Đánh giá thực trạng dạy học và thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực và phân tích nguyên nhân của thực trạng;
- Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số biện pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý dạy học môn Tiếng Anh tại trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực người học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực cho học sinh tại Trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề liên quan đến quản lý dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh theo tiếp cận năng lực người học ở bộ môn tiếng Anh Trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu từ tháng 01/2027 đến tháng 8/2027.
- Phạm vi không gian: nghiên cứu tại trường THPT Ứng Hòa B, Hà Nội.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các vấn đề về lý luận quản lý giáo dục từ các văn bản, tài liệu khoa học về quản lý hoạt động dạy học.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh THPT thuộc địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực HS tại trường THPT Ứng Hòa B, thành phố Hà Nội.
5.3. Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực người học tại trường THPT.
Những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác học tập và nghiên cứu của Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục nói riêng, giáo dục học nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực HS tại trường THPT Ứng Hòa B nói riêng và các trường trên địa bàn huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội nói chung.
Việc áp dụng các biện pháp đổi mới trong quản lý góp phần nâng cao chât lượng đào tạo, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cuộc cách mạng CNH – HĐH đất nước.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực Học sinh tại trường THPT Ứng Hòa B, Hà Nội.
- Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực Học sinh tại trường THPT Ứng Hòa B, Hà Nội.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
Trong lịch sử phát triển của xã hội loại người, mọi hoạt động của đời sống xã hội đều cần tới quản lý. Bất cứ một tổ chức như thế nào, cơ cấu đơn giản hay phức tạp, quy mô rộng hay hẹp, theo mục đích gì đều cần có sự quản lý. Quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới mục tiêu chung. Vậy quản lý là gì ?
Do tính chất phong phú, đa dạng và phức tạp trong hoạt động của con người nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi của luận văn tác giả đưa ra một số khái niệm của các nhà khoa học:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [27, tr.125].
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lí) đến khách thể quản lý (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích của tổ chức” [17, tr. 6].
Như vậy, Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp mọi nỗ lực của cá nhân để đưa tổ chức tiến đến mục tiêu đã xây dựng.
1.1.2. Hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Hoạt động dạy học là hoạt động chuyên biệt do thầy giáo thực hiện theo phương thức nhà trường, nhằm giúp người học lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người, tạo ra sự phát triển tâm lý và hình thành nhân cách. Cần phân biệt dạy trong đời sống hàng ngày và hoạt động giảng dạy do thầy giáo thực hiện theo phương thức nhà trường. Trong cuộc sống đời thường, chúng ta hay nói, “Dạy ăn, dạy nói, dạy gói, dạy mở” đây là cách truyền đạt những kinh nghiệm cuộc sống của thế hệ trước cho thế hệ sau. Điều này tất nhiên cũng đem lại những hiểu biết nhất định, song nó không thể giúp cho thế hệ trẻ lĩnh hội được hệ thống tri thức của nhân loại và giúp cho sự phát triển toàn diện.
Hoạt động dạy học được thực hiện trong một thiết chế chuyên biệt, đó là nhà trường. Ở đó có tổ chức bộ máy, có mục tiêu, có nội dung, chương trình đã được chọn lọc tối ưu phù hợp với từng lứa tuổi, có cơ sở vật chất, tài chính riêng phù hợp với điều kiện địa phương, có đội ngũ GV, cán bộ quản lý được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm trong quản lý, điều hành nhà trường.
Tóm lại, HĐDH là hoạt động truyền thụ tri thức, giúp cho người học phát triển nhân cách. Hoạt động này được tiến hành chủ yếu trong nhà trường, GV giữ vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn người học cách chiếm lĩnh tri thức và phát triển tâm lý.
1.1.3. Năng lực và Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực
Khái niệm năng lực (NL) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. NL được hiểu là thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. NL cũng được hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyến pháp lý của một cơ quan.
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: NL là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[19, tr128] Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2022 thì “NL được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi” [4, tr4].
Năng lực được hiểu là “ một thuộc tính nhân cách rất phức hợp, nó bao gồm kĩ năng và kĩ xảo cần thiết, được hình thành trên cơ sở kiến thức, được gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong công việc” [15, tr24].
Năng lực của người học là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ … phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển NL, khái niệm NL được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu dạy học: mục tiêu dạy học của môn học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết hợp tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ….;
- Mục tiêu hình thành NL định hướng họ việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng các cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hoạt động dạy học về mặt phương pháp;
- Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống;
- Các NL chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành cơ sở chung trong việc giáo dục và dạy học;
- Mức độ đối với sự phát triển NL có thể được xác định trong các chuẩn.
Để hình thành và phát triển NL cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội, NL cá thể.
Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ của những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hóa trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
- Mô hình bốn thành phần NL trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:
Từ cấu trúc của khái niệm NL cho thấy giáo dục định hướng phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Những NL này không tách rời nhau mà còn có mối quan hệ chặt chẽ. NL hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các NL này.
Nội dung dạy học theo quan điểm tiếp cận phát triển NL không chỉ giới hạn trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực NL.
Với cách tiếp cận mục tiêu của chương trình giáo dục hiện hành, hình thức tiếp cận nội dung, chủ yếu bằng trang bị kiến thức nên phương pháp dạy học vẫn theo lối truyền đạt một chiều, học sinh thụ động, ghi nhớ máy móc kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa mà ít được rèn luyện phương pháp học. Hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là trên lớp học, chưa dành thời lượng thỏa đáng cho các hoạt động trải nghiệm. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Dạy học theo tiếp cận NL chính là chú ý nhiều đến việc hình thành NL cho người học thông qua việc tổ chức hướng dẫn học tập của giáo viên như cung cấp phần kiến thức được lựa chọn phù hợp với đối tượng người học, rèn kỹ năng từ đó hình thành NL cho người học, và NL sẽ hổ trợ lại khả năng tiếp thu kiến thức cho người học, phát triển kỹ năng và tiếp tục năng lực người học được nâng lên.
Phát triển NL người học chính là trang bị cho học sinh kiến thức kỹ năng căn bản từ đó hình thành NL hành động, học sinh sẽ chú ý đến chuyện làm và ít chú ý đến tri thức; dựa trên trí thức cơ bản phát triển kỹ năng, hình thành năng lực.
Để hình thành NL cho người học chúng ta phải lựa chọn nội dung, kiến thức cơ bản, có vai trò chủ đạo để giảm nội dung phải truyền tải; hình thành năng lực là không cần nhồi nhét kiến thức, như vậy giáo viên phải có cách dạy và yêu cầu học sinh biết vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề, các tình huống trong đời sống.
Theo tài liệu tập huấn về đổi mới PPDH, KTĐG theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
- Bảng 1.1. So sánh một số đặc trưng cơ bản của dạy học theo cách tiếp cận truyền thống và theo tiếp cận phát triển năng lực người học
1.1.4. Quản lý dạy học môn tiếng anh theo tiếp cận năng lực người học
Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học: hoạt đông dạy và hoạt động học
Hoạt động dạy của giáo viên: đó là hoạt động lãnh đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức học tập của học sinh, giúp học sinh tìm khám khóa tri thức, qua đó thực hiện hiệu quả chức năng học của bản thân.
Hoạt động học tập của học sinh: là hoạt động tự giác, tích cực chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thu nhận xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người hoặc thể hiện mình, biến đổi mình, tự mình làm phong phú tri thức của mình.
Qúa trình dạy học là quản lý một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố cấu trúc như: mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập, kết quả học tập.
Như vậy, quản lý dạy học môn tiếng anh theo tiếp cận năng lực người học là những tác động của chủ thể quản lý (CBQL) đến đối tượng quản lý (đội ngũ giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, thiết bị …) nhằm mục đích đạt được những kết quả theo hướng phát huy những năng lực chung và năng lực đặc thù của môn tiếng Anh; các hoạt động quản lý tác động đến tát cả các thành tố như: mục đích, nhiệm vụ dạy học, nội dung chương trình dạy học, phương tiện và phương pháp dạy học, hoạt động dạy và học của thầy và trò, kiểm tra đánh giá …
1.2. Đặc điểm dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực người học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
1.2.1. Những năng lực chung được hình thành và phát triển trong môn tiếng Anh
Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh đòi hỏi phải có một sự thay đổi đồng bộ, toàn diện các bước, các khâu của quy trình đào tạo: từ xác định mục tiêu đào tạo, hệ thống năng lực chung và đặc thù do đặc trưng bộ môn đến lựa chọn nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chương trình dạy học hiện đại được xây dựng theo hai trục chính: tích hợp và phân hóa nhằm hướng tới hình thành và phát triển 3 phẩm chất và 8 năng lực chung cho học sinh.
- 3 phẩm chất: sống yêu thương, sống trách nhiệm, sống trung thực.
- 8 năng lực cốt lõi:
- Năng lực tự học
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực thẩm mỹ
- Năng lực thể chất
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tính toán
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Đó là những năng lực liên quan đến nhiều môn học, mỗi môn học với đặc trưng và thế mạnh riêng sẽ tập trung hướng đến một số năng lực cụ thể. Môn tiếng Anh được coi là môn học công cụ nên một số năng lực chung như: Năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mục tiêu và nội dung dạy học của môn học. Bên cạnh những năng lực chung ấy, môn tiếng Anh còn hướng tới phát triển cho học sinh những năng lực đặc thù, cụ thể, chuyên biệt của môn học như: Năng lực giao tiếp tiếng Anh, năng lực nghe hiểu, đọc hiểu. Trên cơ sở phát triển các năng lực đó để phát triển toàn diện, đồng thời cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Có nhiều cách hiểu về năng lực tiếng Anh. Căn cứ vào mục tiêu, tính chất và nội dung chương trình môn học này từ trước đến nay; từ cách hiểu chung về năng lực, có thể nói năng lực tiếng Anh là trình độ vận dụng các kiến thức, kĩ năng cơ bản về tiếng Anh để thực hành giao tiếp trong cuộc sống. Trong môn tiếng Anh, việc hình thành và phát triển kĩ năng trình bày ngôn ngữ và giao tiếp (năng lực giao tiếp) là mục tiêu quan trọng và cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học. Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Anh được thể hiện qua bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
1.2.2. Năng lực chuyên biệt của môn tiếng Anh Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Năng lực tiếng Anh gồm hai năng lực thành phần là: Năng lực tiếp nhận (nghe) và Năng lực nói, viết..
Năng lực tiếp nhận là khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng. Muốn có năng lực tiếp nhận phải biết cách tiếp nhận, tức là dựa vào những yếu tố, cơ sở nào (từ, ngữ, câu, đoạn, hình ảnh, biểu tượng, số liệu, sự kiện, …) để có thể có được các thông tin và cách hiểu ấy. Đánh giá năng lực tiếp nhận thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nghe và đọc. Nghe và phản hồi các thông tin nghe được một cách nhanh chóng, chính xác, không rơi vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”. Việc đánh giá năng lực tiếp nhận chủ yếu dồn vào kĩ năng đọc hiểu văn bản.
Năng lực tạo lập văn bản là khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng quy cách và có ý nghĩa. Muốn có năng lực tạo lập phải biết cách tạo lập. Tức là nắm được cách viết một loại văn bản nào đó. Đánh giá năng lực tạo lập thường dựa vào kết quả của 2 kĩ năng chính là nói và viết. Kĩ năng nói gắn liền với nghe, cũng như kĩ năng đọc ở năng lực tiếp nhận; việc kiểm tra đánh giá năng lực tạo lập chủ yếu dồn vào cho kĩ năng viết.
Như vậy, để đánh giá năng lực tiếng Anh (cả tiếp nhận và tạo lập) cần phải cụ thể hóa các kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) thành nhiều mức độ khác nhau. Theo từng cấp học, phù hợp với tâm lý – lứa tuổi mà yêu cầu từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp…Cũng từ đó mà lựa chọn một phương thức đánh giá cho phù hợp.
Thí dụ với các kĩ năng nghe và nói, giáo viên chủ yếu thực hiện đánh giá hàng ngày, thông qua các buổi học trên lớp, các hoạt động tập thể, sinh hoạt câu lạc bộ,… Các kĩ năng còn lại (đọc, viết) ngoài việc kiểm tra hàng ngày (đánh giá quá trình) thường được chú trọng ở các kỳ kiểm tra, thi cuối cấp, cuối lớp (đánh giá kết thúc).
Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực khác đánh giá theo hướng cung cấp nội dung. Theo hướng nội dung, mục tiêu đánh giá tập trung vào xem người học biết những gì (nhiều ít); nội dung đánh giá chủ yếu là yêu cầu nhắc lại những nội dung đã học, những gì thầy, cô đã dạy, những bài có trong chương trình và sách giáo khoa; chính vì vậy yêu cầu chủ yếu là chứng minh những gì đã có sẵn, kiểm tra trí nhớ là chính; đề thi và đáp án khép kín, bắt buộc phải tuân thủ theo ý của người ra đề; còn diễn đạt. Kết quả là học sinh tập trung học những phần GV cho ôn tập.
Mục tiêu của đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực cần xác định được khả năng vận dụng tổng hợp những gì đã học của học sinh vào việc giải quyết một bài toán mới, đáp ứng các yêu cầu mới trong một tình huống tương tự. Nội dung đánh giá không phải chỉ là những gì đã học mà còn là yêu cầu tổng hợp, liên hệ nhiều nội dung đã học; không chỉ giữa các phân môn trong môn học mà còn cả những hiểu biết từ các môn học khác. Tăng cường yêu cầu học sinh tìm mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng của bài học với các hiện tượng, sự vật, sự việc, con người…thường xuất hiện trong đời sống sinh hoạt cũng như công việc hàng ngày. Phương thức đánh giá không chú trọng yêu cầu học thuộc, nhớ máy móc, nói đúng và đầy đủ những điều thầy, cô đã dạy… mà coi trọng ý kiến và cách giải quyết vấn đề của mỗi cá nhân người học; động viên những suy nghĩ sáng tạo, mới mẻ, giàu ý nghĩa; tôn trọng sự phản biện trái chiều, khuyến khích những lập luận giàu sức thuyết phục…
1.2.3. Mối quan hệ giữa dạy học và hình thành năng lực
- Mối quan hệ giữa kiến thức kĩ năng và năng lực Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Một năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một người cần vận dụng để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần phải chuyển hoá những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới.
Kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm được các giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp. Khả năng ứng đáp phù hợp với bối cảnh thực là đặc trưng quan trọng của năng lực, tuy nhiên, khả năng đó có được lại được dựa trên sự đồng hoá và sử dụng có cân nhắc các kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Kĩ năng hiểu theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong một môi trường quen thuộc. Kỹ năng hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu biết và trải nghiệm… giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi.
- Mối quan hệ giữa mục tiêu dạy học và năng lực trong môn tiếng Anh
Năng lực của người học đối với một môn khoa học nào đó được mô tả kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ thành hành vi cần thiết giúp người học thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống.
Tiếp cận năng lực trong giáo dục bắt đầu với việc thay đổi cách xác định mục tiêu dạy học và giáo dục. Thay vì viết mục tiêu chung chung, trừu tượng, các nhà nghiên cứu đề xuất cách thức xây dựng mục tiêu theo hướng cụ thể, lượng hoá các kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt sau khi kết thúc bài học, môn học, khoá học. Mục tiêu dạy học được diễn đạt bằng các động từ như: nêu lên, liệt kê, kể tên, phân biệt, mô tả, tính toán, so sánh, giải thích, tổng hợp, phân tích, đánh giá… Cách phát biểu mục tiêu kiểu này thay thế cho các cách phát biểu mơ hồ khó đo đạc trước đó là: nắm được, hiểu được, hay hiểu một cách sâu sắc…
Mục tiêu là cơ sở để lựa chọn nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và đánh giá được hiệu quả, giá trị của một bài dạy, một khoá dạy hay cả một chương trình. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Mục tiêu còn là các mốc để đánh giá được sự tiến bộ của người học trong quá trình học tập. Việc xác minh chính xác, tường minh mục tiêu bài học, giúp người học có cách tự đánh giá sự tiến bộ của bản thân trong quá trình học tập và tự tổ chức quá trình học tập của bản thân theo một định hướng rõ ràng. Có mục tiêu rõ ràng trước mặt, người học biết lựa chọn các hoạt động dẫn tới thành công.
Một mục tiêu được xem là tin cậy và có giá trị khi nó truyền đạt chính xác ý định của nhà giáo dục và để mọi người khác đều hiểu đúng như chính bản thân nhà giáo dục hiểu. Để làm được việc này cần trả lời 3 câu hỏi:
- Người học phải làm được gì?
- Làm được trong điều kiện nào? bằng cách nào?
- Làm được với mức độ ra sao?
Như vậy, một mục tiêu tin cậy và có giá trị khi nó xác định được:
- Một hành vi có thể và phải được hoàn thành.
- Những điều kiện (trong đó hành vi được hoàn thành).
- Tiêu chuẩn (chất lượng, mức độ hoàn thành chấp nhận được).
Một mục tiêu chỉ đạt được tiêu chí tin cậy và có giá trị khi nó chỉ rõ cái người học có thể và phải “làm” hay “thực hiện” được để chứng tỏ đạt mục tiêu. Mọi năng lực của con người còn ở dạng tiềm năng, và nó được hiện thực hóa khi “bắt tay” vào thực hiện nhiệm vụ nào đó của thực tiễn. Có nghĩa là, sự thể hiện thực tế là thước đo của năng lực hình thành bên trong. Chính vì vậy mục tiêu năng lực cũng cần phải được xác định trên cơ sở của các hành vi cụ thể. Chúng ta chỉ có thể xác định năng lực của một người thông qua quan sát hành vi hay năng lực thực hiện hành động nào đó của họ. Hành vi của người học có thể là lời nói hay hành động, có thể là trả lời miệng hay viết một báo cáo, hoặc giải quyết một vấn đề….
Là một môn học công cụ quan trọng, tiếng Anh có vai trò rất lớn trong việc hình thành và phát triển các năng lực chung cho học sinh. Để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh thì phải xây dựng được mục tiêu dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học theo các mức độ của chuẩn và cao hơn để đảm bảo yêu cầu phân hóa trong quá trình dạy học. Khi tiếp cận dạy học tiếng Anh theo hướng tiếp cận năng lực trước hết cần căn cứ vào mục tiêu môn học, do vậy các năng lực cơ bản cần đạt được trước hết là năng lực chuyên môn (năng lực học tập môn tiếng Anh). Từ các năng lực chuyên môn mang tính tổng quát (năng lực đọc – hiểu nghe, nói) có thể xác định các năng lực chung, vừa theo các nội dung và mục tiêu dạy học của môn học, vừa góp phần tạo nên mô hình năng lực chung của học sinh Trung học phổ thông.
1.2.4. Dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực người học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Năng lực của HS THPT được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình dạy học và bằng quá trình dạy học. Vì thế, để phát triển NL của HS một cách có hiệu quả, cần tổ chức thực hiện tốt các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học: chương trình dạy học (CTDH); phương pháp dạy học (PPDH); KTĐG kết quả dạy học …
- Thực hiện chương trình dạy học
Định hướng đổi mới PPDH tiếng Anh là chuyển những kết quả về đổi mới PPDH của CT tiếng Anh hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh. Trong quá trình thực hiện CTDH, kiến thức, kĩ năng của từng bài học phải được chuyển hóa thành NL của HS. Vì thế, GV phải đặc biệt quan tâm đến khâu hướng dẫn HS thực hành, vận dụng kiến thức.
- Sử dụng phương pháp day học
PPDH theo định hướng phát triển NL cần “phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng; Theo định hướng phát triển năng lực, cần đổi mới phương pháp dạy của GV và PP học của HS. GV phải dạy cho HS NL nhận thức, NL tư duy sáng tạo. Muốn thế GV phải nắm vững NL nhận thức, NL tư duy của HS và biết áp dụng các PPDH khác nhau, tùy theo mục tiêu, nội dung, tính chất của môn học, đặc điểm của người học, lớp học. Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn tiếng Anh, việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực cũng góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh đạt hiệu quả: Thảo luận nhóm, Đóng vai, Nghiên cứu tình huống, Dự án, … và các kĩ thuật dạy học tích cực được thực hiện trong các hoạt động dạy học.
Như vậy, PPDH theo định hướng phát triển năng lực môn tiếng Anh không chỉ chú ý tích cực hóa hoạt động trí tuệ của HS mà còn chú ý rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống; gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT theo tiếp cận phát triển năng lực người học không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo kiến thức trong những tình huống khác nhau.
Theo định hướng về kiểm tra, đánh giá của Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh, một trong những nội dung rất quan trọng mà việc đánh giá cần hướng tới là năng lực nghe, nói, đọc, viết, tích cực của mỗi HS cũng như NL tư duy và giao tiếp bằng tiếng Anh. Những năng lực này chỉ có thể được bộc lộ qua việc (nghe,nói và viết). Do vậy việc yêu cầu HS thực hiện những bài tập trắc nghiệm khách quan và tự luận vẫn là một cách ra đề rất cần thiết trong môn học tiếng Anh. Tất nhiên việc kiểm tra bằng hình thức tự luận rất cần có sự đổi mới để phù hợp với mục tiêu, nội dung và phương pháp học tập mới.
Trong quá trình đánh giá, cần sử dụng các phương pháp như quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoạt động của HS, đánh giá thực hành, HS tự đánh giá và HS đánh giá lẫn nhau … Đồng thời, chú trọng đánh giá việc kiến thức ở mức độ tư duy bậc cao; chuyển hóa/sáng tạo lại kiến thức…
1.3. Quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực ở trường THPT
1.3.1. Quản lý mục tiêu và kế hoạch dạy học theo tiếp cận năng lực
- Tổ chức cho giáo viên xác định năng lực và các mục tiêu nhận thức tương ứng làm cơ sở cho dạy học.
Đầu năm học Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn cùng các nhóm trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, khối, lớp cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu đánh giá của môn học đồng thời xác định các mức độ năng lực của người học. Ngoài ra có thể tham khảo cán bộ quản lý của các đơn vị giáo dục khác. Trên cơ sở mục tiêu và mức độ năng lực đã xác định của môn học sẽ yêu cầu giáo viên giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể và xác định các phương diện năng lực mà học sinh cần hình thành và phát triển qua môn học.
- Xây dựng kế hoạch dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực người học.
Xây dựng kế hoạch phải dựa trên cơ sở chỉ đạo của ngành. Kế hoạch dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực phải phù hợp với chương trình nhà trường, đối tượng học sinh và triển khai thực hiện về các nhóm chuyên môn, thường xuyên rút kinh nghiệm đánh giá kết quả đạt được để điều chỉnh, bổ sung cho những năm học tới.
1.3.2. Quản lý chương trình, nội dung dạy học theo tiếp cận năng lực Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Chương trình dạy học về nguyên tắc là pháp lệnh của nhà trường do Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành, là căn cứ pháp lệnh để nhà trường tiến hành chỉ đạo giám sát quản lý hoạt động dạy học. Chương trình (khung) dạy học quy định số lượng tiết học, xây dựng phương pháp, hình thức dạy học, số tiết trên tuần và số tiết cho cả năm học nhằm thực hiện mục tiêu của cấp học.
Cách xây dựng chương trình theo định hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu, đáp ứng yêu cầu giáo dục và đào tạo con người trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ chưa từng có và nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia. Cách tiếp cận này đặt ra mục tiêu căn bản là giúp cho học sinh có thể làm được gì sau khi học, chứ không tập trung vào việc xác định HS cần học những gì để có được kiến thức toàn diện về các lĩnh vực chuyên môn.
Thực tiễn dạy học tiếng Anh của Việt Nam trong thời gian gần đây và thực trạng hiện nay cho thấy cách dạy học tiếng Anh theo lối cũ và cung cấp cho học sinh các kiến thức lí thuyết một cách tách biệt không đáp ứng được nhu cầu học tập của giới trẻ ngày nay và không còn phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại. Kinh nghiệm đổi mới chương trình theo hướng tích hợp và đa dạng hóa được đưa vào nhà trường trong chương trình hiện hành cũng đặt cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng đó trong bối cảnh xây dựng chương trình phát triển năng lực nói chung. Nhiều điểm tích cực, tiến bộ của chương trình hiện hành sẽ phải được kế thừa và phát huy hơn nữa.
Nội dung môn tiếng Anh được tổ chức theo mạch tương ứng với bốn kĩ năng giao tiếp cơ bản. Bốn mặt kĩ năng này được triển khai thành hệ thống các chuẩn cần đạt đối với từng kĩ năng. Chuẩn cần đạt thể hiện ở những điều học sinh cần biết và có thể làm được sau khi học. Việc xây dựng nội dung chương trình dựa vào hệ thống các chuẩn cần đạt, thay vì dựa vào các nội dung cần dạy học, giúp nhà trường có được cơ sở đánh giá được chất lượng của sản phẩm mà mình tạo ra. Hệ thống chuẩn này cũng là căn cứ để xác định được những nội dung phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá thích hợp đối với mỗi lớp học sao cho HS có được những năng lực và phẩm chất mà xã hội kì vọng.
1.3.3. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên theo tiếp cận năng lực
Mục tiêu giáo dục theo định hướng phát triển năng lực là chú trọng kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục.
Nội dung giáo dục theo định hướng phát triển năng lực là lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết.
Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…; chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành.
Hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực là tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học
Đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng phát triển năng lực là các tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.
Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong trí thức, kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung phát triển các lĩnh vực năng lực: Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
- Năng lực chuyên môn: các tri thức chuyên môn, khái niệm, phạm trù, quy lực, mối quan hệ …; Các kỹ năng chuyên môn, việc ứng dụng và đánh chuyên môn.
- Năng lực phương pháp: Lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc; các phương pháp nhận thức chung như thu thập, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin và các phương pháp chuyên môn.
- Năng lực xã hội: khả năng làm việc nhóm, hiểu biết về phương diện xã hội; có cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm và khả năng giải quyết vấn đề.
- Năng lực cá thể: Biết tự đánh giá điểm mạnh điểm yếu, xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân và biết đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức, văn hóa và lòng tự trọng.
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý đến tích cực hóa học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh học tập những trí thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung học tập các chủ đề phức hợp nhằm phát triển năng giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trọng tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.
- 1, Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên:
Kết quả từng tiết học nói riêng và chất lượng của quá trình dạy học nói chung phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị trước giờ lên lớp của GV là:
Chuẩn bị soạn bài chu đáo, cẩn thận và dự tính các bước đi trong một tiết học, các việc có thể xảy ra trong mỗi tiết học, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp giảng dạy phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, đổi mới PPDH, hình thức tổ chức phải nâng cao hiệu suất một giờ lên lớp.
Thiết kế bài giảng là một quá trình có tính hệ thống sử dụng những nguyên tắc dạy học nhằm hình thành hoạt động dạy, hoạt động học, biết sử dụng, khai thác các phương tiện dạy học, các tài liệu với nhiều cách tiếp cận khác nhau như tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận năng lực… Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Thiết kế bài giảng theo tiếp cận năng lực cần xác định mục tiêu bài dạy sát với yêu cầu thực tiễn, biết lực chọn nội dung, biết tích hợp giữa lý thuyết với rèn kỹ năng và hình thành năng lực cho người học.
Hiệu trưởng cần yêu cầu các tổ, nhóm chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung chương trình mà mình thực hiện giảng dạy, trao đổi kỹ trong nhóm dạy để thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học theo hướng tiếp cận năng lực.
- 2, Quản lý giờ lên lớp của giáo viên:
Giờ lên lớp của GV giữ vai trò quan trọng nhất của quá trình dạy học, nó quyết định chất lượng dạy học. Việc soạn bài, và chuẩn bị thiết bị đồ dùng dạy học trước giờ lên lớp đạt kết quả cao khi người GV thực hiện thành công tiết dạy trên lớp. Ngoài việc thực hiện ý đồ chuẩn bị, người GV khi lên lớp phải biết lựa chọn nội dung, phương pháp tập trung vào học sinh, phát huy cao nhất tính tích cực chủ động sáng tạo, hình thành kỹ năng, phát triển năng của học sinh dưới sự hướng dẫn học tập của GV, linh hoạt giải quyết các tình huống xảy ra, tạo ra niềm yêu thích và hứng thú học tập cho học sinh.
Trong nhà trường hiệu trưởng không giữ vai trò trực tiếp quyết định chất lượng giờ lên lớp nhưng trên cương vị lãnh đạo và quản lý nhà trường. Hiệu trưởng có vai trò tác động gián tiếp tới chất lượng hiệu quả giờ lên lớp. Ngoài ra việc tác động về mặt tinh thần, vật chất, để tạo điều kiện phát huy hết nhiệt tình, khả năng lên lớp của GV. Hiệu trưởng phải có những biện pháp quản lý tác động sâu sắc tới giờ lên lớp của GV.
- 3, Dự giờ – đánh giá tiết dạy
Do đặc tính dạy học ở trường THPT có nhiều môn học nên nhà trường phải xây dựng kế hoạch dự giờ thăm lớp với nhiều hình thức kiểm tra thường xuyên, đột xuất, hay định kỳ; hoạt động này huy động hầu hết CB- GV nhà trường tham gia.
Sau khi dự giờ GV, việc tổ chức rút kinh nghiệm và đánh giá tiết dạy phải được thực hiện nghiêm túc, phải giúp GV thấy rõ điểm yếu, điểm mạnh của mình về nội dung, kiến thức về phương pháp giảng dạy; về tổ chức các hoạt động học tập của học sinh qua đó giúp GV nâng cao được năng lực sư phạm, đồng thời giúp hiệu trưởng thấy rõ việc kiểm tra bằng dự giờ, rút kinh nghiệm đánh giá tiết dạy là công việc thường xuyên, quan trọng trong hoạt động dạy học của một nhà trường.
- 4, Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên: Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Quản lý hồ sơ là một trong các hoạt động quản lý, là một phương tiện phản ánh quá trình quản lý có tính khách quan và cụ thể giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn việc thực hiện quy chế chuyên môn của GV theo yêu cầu đề ra.
Theo “điều lệ trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học” điều 27 quy định hồ sơ chuyên môn đối với mỗi giáo viên phải có:
Bài soạn, kế hoạch giảng dạy theo tuần, sổ dự giờ thăm lớp, sổ chủ nhiệm và các hồ sơ khác theo quy định của Sở GD&ĐT.
Để quản lý tốt hồ sơ chuyên môn của GV, hiệu trưởng cần quy định nội dung, thống nhất mẫu ghi chép các loại sổ sách, kết hợp với tổ trưởng chuyên môn có kế hoạch thường xuyên kiểm tra đánh giá chất lượng hồ sơ của từng GV, tổ trưởng chuyên môn.
1.3.4. Quản lý hoạt động học của HS theo tiếp cận năng lực
Căn cứ vào kết quả môn học tiếng Anh năm học trước của học sinh, căn cứ vào các chỉ tiêu phấn đấu năm học, nhà trường cần xây dựng các biện pháp giáo dục phù hợp nhằm phát huy tinh thần, thái độ và động cơ học tập cho học sinh ở môn học này.
Học tập trên lớp: Yêu cầu mỗi học sinh tự xây dựng được tinh thần, thái độ học tập đúng đắn, nắm được cách học, cách tự học, tự rèn luyện, có ý thức học tập tốt, biết tập trung nghe giảng để hiểu bài ngay tại lớp, chuyên cần học bài và làm bài đầy đủ, có thái độ trung thực trong kiểm tra.
Học tập ở nhà: Tự biết sắp xếp góc học tập ở nhà, đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ học tập như học bài và làm bài đầy đủ bài tập về nhà, chuẩn bị bài học học mới và chuẩn bị đồ dùng học tập.
Khen thưởng – kỷ luật trong thực hiện nền nếp học tập môn tiếng Anh: Xây dựng, tổ chức khen thưởng để động viên học tập cho học sinh, động viên cho học sinh có tiến bộ trong lớp và học sinh học tập nổi trội trong lớp. GV cần tạo sân chơi cho các em học sinh qua hình thức các câu lạc bộ mà các em yêu thích như: câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ phóng viên nhỏ, câu lạc bộ HS yêu thích văn học, … qua đó, giúp học sinh tìm hiểu kiến thức, phát triển trí tuệ phù hợp năng lực trí tuệ của học sinh, làm tốt sẽ kích thích hoạt động học tập của học sinh. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
1.3.5. Xây dựng môi trường học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực
- 1, Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến môi trường học tập: nhà trường, học sinh, gia đình,….
- 2, Các nhân tố cơ bản có tác động tích cực để xây dựng môi trường học tập theo quan điểm tiếp cận năng lực:
Về phía gia đình: Gia đình giữ vai trò quan trọng nhất trong việc giúp học sinh các hình thành những chuẩn mức đạo đức, ý thức trách nhiệm, thực hiện chức năng cơ bản của mình; Để có chức năng xã hội hóa tốt hình thành nhân cách con người, đồi hỏi phải có sự chăm sóc, dạy bảo, hướng dẫn, rèn luyện của các bậc phụ huynh giúp các em làm quen và thực hiện những chuẩn mực, nền nếp trong gia đình và ngoài xã hội.
Về phía nhà trường: Tập trung tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cảnh quan môi trường tạo ra môi trường học tập thân thiện; tập trung đổi mới PPDH, giảm áp lực dạy học theo hình thức tiếp cận nội dung, thực hiện theo quan điểm tiếp cận năng lực; giảm áp lực về hình thức đánh giá học sinh như vậy mới có thể có môi trường học tập tích cực “mỗi ngày đến trường là một niềm vui” học sinh không cảm thấy ngại khi học tiếng Anh. Như vậy, các em sẽ phát huy được tích cực, phát huy khả năng, năng lực của mình trong môn học.
1.3.6. Quản lý các phương tiện phục vụ dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng nhất cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc tổ chức nâng chất lượng dạy và học.
Nội dung quản lý CSVC – trang thiết bị dạy và học trong nhà trường:
- Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng và các điều kiện khác phục vụ cho lớp học.
- Quản lý trang thiết bị phục vụ cho dạy học, …
- Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu phục vụ cho giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.
- Quản lý đồ dùng học tập của học sinh.
Hiện nay với định hướng thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực thì việc đầu tư trang thiết bị càng trở nên cấp thiết hơn, với trang thiết bị phục vụ cho dạy học ngày càng hiện đại thì sử dụng, khai thác hiệu quả các trang thiết bị cần phải bồi dưỡng cho ĐNGV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH theo tiếp cần nâng lực càng thêm cấp thiết.
1.3.7. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá dạy học theo tiếp cận năng lực Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
- Những nội dung quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá
- Tổ chức cho giáo viên xác định năng lực và các mục tiêu nhận thức tương ứng làm cơ sở cho dạy học nói chung và cho kiểm tra đánh giá.
Thông thường, đầu năm học Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn cùng các nhóm trưởng chuyên môn căn cứ chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, khối, lớp cùng thảo luận để xây dựng mục tiêu đánh giá của môn học đồng thời xác định các mức độ năng lực của người học. Ngoài ra có thể tham khảo cán bộ quản lý của các đơn vị giáo dục khác. Trên cơ sở mục tiêu và mức độ năng lực đã xác định của môn học sẽ yêu cầu giáo viên giảng dạy xây dựng mục tiêu cụ thể và xác định các phương diện năng lực mà học sinh cần hình thành và phát triển qua môn học.
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá.
Kế hoạch kiểm tra đánh giá được thực hiện chính là hệ thống các mẫu biểu, thời điểm kiểm tra, nội dung kiểm tra và hình thức kiểm tra.
- Tổ chức thực hiện các hình thức KTĐG trong quá trình dạy học.
Các phương pháp KTĐG phải phù hợp với mục tiêu, không chỉ là mục tiêu của môn học mà còn là mục tiêu của cả chương trình đào tạo cho nên phải do người quản lí quyết định. Việc lựa chọn chính xác phương pháp và hình thức kiểm tra sẽ góp phần rất lớn đến việc nâng cao chất lượng. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
- Tổ chức để giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh
Sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để theo dõi và thúc đẩy, hỗ trợ sự tiến bộ của học sinh. Sử dụng kết quả kiểm tra vào việc điều chỉnh phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học tập của học sinh, cũng như điều chỉnh mục tiêu dạy học và giáo dục.
- Thu thập và xử lí thông tin phản hồi từ học sinh
Thu thập kịp thời chính xác những thông tin về mức độ đã hoặc chưa đạt được trên các phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ học tập của học sinh mục tiêu và chuẩn môn tiếng Anh. Xác định khách quan, chính xác mức độ năng lực học tập môn tiếng Anh của học sinh vào những thời điểm nhất định, có tính chiến lược theo mục tiêu môn học và mặt bằng chất lượng chung của học sinh. Tìm đúng nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn tiếng Anh trên cả hai phương diện tiêu cực và tích cực. Đưa ra những quyết định đúng vào các giai đoạn để điều chỉnh hoạt động dạy và học có được kết quả tốt nhất. Nhận định và thông báo kết quả, thành tích học tập môn tiếng Anh của học sinh tới mọi người để giúp học sinh, phụ huynh, giáo viên, nhà quản lí… biết kết quả học tập môn học của học sinh, xác định định hướng nghề nghiệp, có kế hoạch bổ trợ, nâng cao chất lượng học tập của học sinh.
- Những yêu cầu về quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay
Muốn quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá hiệu quả theo tinh thần “đổi mới căn bản và toàn diện” của Nghị quyết TW29 khóa XI phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Có mục tiêu, kế hoạch kiểm tra đánh giá cụ thể, khoa học phù hợp với thực tiễn nhà trường.
- Có quy trình kiểm tra đánh giá phù hợp.
- Phối hợp sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội.
- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kiểm tra đánh giá theo đúng quy trình. Xây dựng “ma trận” đề trong kiểm tra đánh giá đảm bảo đánh giá kiến thức một cách toàn diện, tránh học tủ hướng tới phát triển năng lực người học.
- Thanh tra, kiểm tra hoạt động kiểm tra đánh giá để có các điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá.
1.4. Những yếu tố tác động tới quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực học sinh ở trường THPT Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
1.4.1. Yếu tố chủ quan
Về trình độ, năng lực, phẩm chất của Hiệu trưởng: Hiệu trưởng phải là người am hiểu mục tiêu giáo dục, nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp dạy học; có khả năng lãnh đạo, tiếp thu các chủ trương, các chương trình, kế hoạch một cách sâu sắc, có khả năng triển khai, chỉ đạo tổ chức thực hiện nội dung dạy, đổi mới phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học; Hiệu trưởng phải là người có hiểu biết về tâm lý quản lý, có uy tín, gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, thực tế ở một số nhà trường năng lực chỉ đạo đổi mới PPDH của BGH nhà trường còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Về trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ giáo viên dạy học môn tiếng Anh: Giáo viên là đội ngũ chủ lực, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ dạy học, làm nên chất lượng dạy học của nhà trường.
Trình độ, năng lực giáo viên hiện nay: cơ bản đáp ứng đủ về số lượng và chất lương dạy học, đa số giáo viên đều đạt trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, nhưng trong thực tế năng lực chuyên môn, nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế khác nhau.
Phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp: Người giáo viên phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm gương trong việc thực hiện ý thức đạo đức, nghề nghiệp của mình. Đặc biệt với GV dạy môn tiếng Anh thì khả năng diễn đạt, việc sử dụng ngôn từ phải mang tính chuẩn xác để làm gương cho HS.
Nhiều GV có nhận thức đúng đắn và xác định rõ sự cần thiết phải đổi mới PPDH, đã vận dụng được các PPDH và kỹ thuật DH tích cực trong quá trình GD. Tuy nhiên vẫn có một bộ phận GV nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới PP giảng dạy còn hạn chế, chưa nghiên cứu lý luận về PPDH sâu hoặc vận dụng chắp vá nên chưa tạo sự đồng bộ và do đó chưa đạt hiệu quả. Tình trạng DH theo lối truyền thụ một chiều ở bộ môn tiếng Anh vẫn còn tồn tại.
Như vậy, trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, phẩm chất của người giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục của nhà trường.
- Về phẩm chất, năng lực của học sinh: Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Đề thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực thì vai trò của người học là rất quan trọng, vì người học phải tích cực, chủ động tiếp nhận kiến thức, rèn kỹ năng và thể hiện năng lực của mình trong quá trình học, còn giáo viên chỉ với vai trò hướng dẫn, định hướng hoạt động giúp người học lĩnh hội kiến thức, rèn kỹ năng, hình thành năng lực sau mỗi bài học.
Phẩm chất và năng lực học sinh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: như về điều kiện chăm lo giáo dục trong gia đình, điều kiện kinh tế xã hội, nếp sống nơi dân cư, bản sắc dân tộc của địa phương … các vấn đề trên đều có ảnh hướng đến quá trình học tập của học sinh.
1.4.2. Yếu tố khách quan
Những năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm đến phát triển và đổi mới GD. Từ năm 2002 bắt đầu đã triển khai chương trình sách giáo khoa phổ thông mới mà trọng tâm là đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Ngành GD&ĐT đã tăng cường chỉ đạo đổi mới PPDH qua các đợt tập huấn, hội thảo chuyên môn các cấp; Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học; dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh; dạy học trải nghiệm sáng tạo, … Triển khai thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông theo Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nguồn lực phục vụ quá trình đổi mới PPDH trong trường như: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hạ tầng công nghệ thông tin… dù đã được chú ý nhưng còn chưa đồng bộ làm hạn chế các PPDH hiện đại.
Áp lực từ phía xã hội lên GD có ảnh hưởng trực tiếp chất lượng dạy và học của nhà trường.
Vậy ngoài thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ, nhà quản lý phải biết nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động dạy học, biết vận dụng hợp lý trên cơ sở phối hợp tích cực giữa gia đình nhà trường và xã hội, thực hiện đúng các đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đưa hoạt động dạy học nói chung và ở môn tiếng Anh nói riêng đạt kết quả cao nhất.
Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực học sinh ở trường THPT nói chung và ở bộ môn tiếng Anh nói riêng là yêu cầu tất yếu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.
Luận văn đã tiến hành nghiên cứu tầm quan trọng và tính tất yếu của hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực người học.
Luận văn cũng đã nghiên cứu các yêu cầu đối với công tác QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực người học, các biện pháp QL hoạt động dạy học và tác động của những biện pháp đó lên chất lượng dạy học môn tiếng Anh theo định hướng phát triển năng lực HS.
Phần lý luận về dạy học môn tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực người học ở chương 1 được sử dụng làm cơ sở để:
Phân tích thực trạng dạy học và quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực cho HS trường THPT Ứng Hòa B, huyện Ứng Hòa, Hà Nội trong chương 2. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực.
Đề xuất các biện pháp quản lý khả thi để nâng cao chất lượng quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận phát triển năng lực cho HS trường THPT Ứng Hòa B, huyện Ứng Hòa, Hà Nội trong chương 3.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học tiếng Anh theo tiếp cận năng lực

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực […]
Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh theo tiếp cận năng lực