Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng
2.1.1. Mục tiêu khảo sát
Đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ, quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường trung học cơ sở của Huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
2.1.2. Đối tượng khảo sát
Công việc khảo sát được tiến hành với các đối tượng sau:
- 03 lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo.
- 0 5 chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo.
- 40 Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng.
- 26 cộng tác viên thanh tra.
- 40 tổ trưởng chuyên môn.
- 40 giáo viên các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Tổng số: 154 người.
2.1.3. Nội dung khảo sát
- Khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Khảo sát đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
2.1.4. Phương pháp khảo sát và xử lý kết quả Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, tham khảo ý kiến của lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Nam Sách, của cộng tác viên thanh tra, của CBQL và giáo viên 20 trường THCS để làm sáng tỏ biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp nghiên cứu hồ sơ hoạt động: Nghiên cứu các quyết định quản lý, các tài liệu văn bản, các kế hoạch kiểm tra, báo cáo tổng kết công tác quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp điều tra viết: Đây là phương pháp quan trọng nhất để nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Từ các thông tin thứ cấp và sơ cấp đã thu thập được, tổng hợp các thông tin để lên các bảng biểu, sử dụng một số công cụ của Microsoft 2018 và một số chương trình ứng dụng khác để tính toán phục vụ cho quá trình phân tích.
2.2. Giới thiệu về các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
2.2.1. Quy mô các trường THCS
Huyện Nam Sách có 19 xã, thị trấn với tổng số 20 trường THCS; trong đó, mỗi xã có một trường THCS và Trường THCS Nguyễn Trãi là trường chất lượng cao của huyện. Các trường đều được xây ở khu vực trung tâm của các xã, thị trấn đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho các em học sinh đến trường; đường giao thông thôn, xóm, liên thôn, liên xã của tất cả các xã trong huyện cơ bản đã được bê tông hoá cho nên đã tạo điều kiện tốt cho học sinh đến trường. Nam Sách là huyện sớm được công nhận đạt phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS; tỷ lệ học sinh bỏ học hàng năm rất thấp, tính chung trong cả huyện chỉ khoảng 0,22%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào các trường trung học phổ thông đạt từ 97,0 – 98,0%. Trường THCS Nguyễn Trãi thực sự là trung tâm chất lượng cao của huyện, hàng năm dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện và Phòng GD & ĐT huyện, Trường THCS Nguyễn Trãi tổ chức xét tuyển học sinh có thành tích học tập đạt loại giỏi trong suốt quá trình học tập ở bậc Tiểu học và có thành tích trong các kỳ thi do tỉnh, huyện tổ chức (chấm theo thang điểm cụ thể) để tuyển vào học tại trường; do vậy chất lượng đầu vào rất tốt. Đội ngũ giáo viên được đầu tư, tuyển chọn kỹ từ 19 trường THCS trong huyện, thực sự có trình độ, tay nghề và tâm huyết để được giảng dạy tại trường; do vậy, Trường THCS Nguyễn Trãi là trường có bề dày thành tích, được Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương xếp ở tốp đầu trong toàn tỉnh.
- Bảng 2.1: Tình hình học sinh THCS cuối năm 2024 -2025
2.2.2. Chất lượng đội ngũ Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
- Đội ngũ giáo viên và nhân viên
Đội ngũ giáo viên các trường THCS trong huyện Nam Sách đủ về số lượng và loại hình (nhạc, hoạ, thể dục, tin học,…) đảm bảo cho việc giáo dục toàn diện; không còn hiện tượng thiếu giáo viên ở bất kỳ trường THCS nào trong huyện. Đội ngũ giáo viên có trình độ, nghiệp vụ chuyên môn tốt, cơ bản được đào tạo chính quy từ Cao đẳng Sư phạm Hải Dương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các trường nhạc, hoạ Trung ương – những trường có uy tín và chất lượng trong Giáo dục và Đào tạo của nước ta hiện nay. Tỷ lệ đạt chuẩn theo quy định đạt 100%; trong đó trên chuẩn 86%. Đội ngũ giáo viên cơ bản được trẻ hoá, có trình độ nhận thức tốt, có nghiệp vụ vững vàng và đặc biệt rất tâm huyết với nghề, tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề để đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay; luôn tự giác, tận tuỵ hết lòng vì học sinh, thực hiện nghiêm túc các quy định, tích cực trong phong trào thi giáo viên giỏi, bồi dưỡng học sinh yếu kém, tổ chức tốt các câu lạc bộ môn học em yêu thích.
Bảng 2.2: Báo cáo đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên, năm học 2024 -2025
- Đội ngũ cán bộ hành chính
100% các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách có đủ cán bộ, nhân viên đảm nhiệm công việc hành chính quản trị: Văn thư, kế toán, thủ quỹ, y tế học đường, bảo vệ, phục vụ, theo các quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học cơ sở.
Các cán bộ nhân viên làm công tác hành chính đều có đủ các loại hồ sơ quản lý, các loại sổ sách theo đúng quy định; hoạt động có hiệu quả góp phần đẩy mạnh hoạt động của các nhà trường.
- Về phía phụ huynh học sinh Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
100% các trường THCS đều có ban đại diện hội cha mẹ học sinh; ban đại diện hội cha mẹ học sinh các trường được tập thể đại diện phụ huynh (chi hội trưởng các lớp) của trường đó bầu theo nhiệm kỳ năm học. Hội cha mẹ học sinh hoạt động đều đặn tích cực, phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo nhà trường và giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, ủng hộ tích cực các chủ trương, kế hoạch của nhà trường; đã làm tốt việc ủng hộ, động viên kịp thời thày và trò các trường trong việc dạy và học; thực hiện có hiệu quả công tác XHHGD góp phần quan trọng cho các nhà trường thực hiện nhiệm vụ của mình.
2.2.3. Chất lượng dạy và học
- Tỷ lệ học THCS lên lớp, lưu ban, sinh bỏ học
Trong những năm gần đây, do có sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, của ngành giáo dục, đặc biệt là sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của nhân dân và các bậc cha mẹ học sinh, cán bộ quản lý và giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách đã nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm, tích cực bồi dưỡng và đổi mới phương pháp giảng dạy nên chất lượng dạy học đã được nâng lên theo xu hướng tích cực.
Từ bảng số liệu 3.1 chúng ta thấy Tỉ lệ học sinh lên lớp đạt cao (99,5%); hạ tỉ lệ học sinh lưu ban xuống còn khoảng 0,22%/năm học và có xu hướng giảm dần vào những năm gần đây; tỉ lệ học sinh bỏ học thấp, trong 2 năm học gần đây tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm rất nhanh (đến nay còn 0,28%). Điều đó khẳng định chất lượng dạy và học trong các trường THCS huyện Nam Sách đang được nâng lên.
- Chất lượng dạy học
Chất lượng giáo dục là cái đích cuối cùng của quá trình giáo dục và đào tạo; nó phản ánh kết quả, là thước đo sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo điều hành của chính quyền và sự thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục nói chung và của các trường học nói riêng. Chính vì vậy, trong những năm qua, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Nam Sách đã tập trung, sát sao chỉ đạo, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà, và chất lượng mũi nhọn.
Chất lượng học tập của học sinh huyện Nam Sách, nhiều năm nay đều đứng ở tốp đầu trong 12 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương; rất nhiều học sinh tốt nghiệp bậc THCS đã dự thi và trúng tuyển vào trường THPT Nguyễn Trãi là trường chất lượng cao của tỉnh. Trong đó, đã có nhiều học sinh huyện Nam Sách tham dự kỳ thi học sinh giỏi cấp Quốc gia, một số em tham dự thi quốc tế và đã đạt thành tích tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
- Kết quả xếp loại học lực của học sinh
Trong 5 năm gần đây nhất, tỉ lệ xếp loại học lực giỏi và khá đạt đều trên 60%, tỉ lệ yếu kém dưới 5% và có xu hướng tăng về tỉ lệ học sinh khá giỏi, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém trong những năn học gần đây. Cụ thể năm học 2024 -2025 như sau:
- Học lực: Giỏi: 22.5 % (giảm 0,39%).
- Khá: 40.75 % (tăng 0,2%).
- Trung bình: 32.93 % (tăng 0,42%).
- Yếu: 3.76% (giảm 0,22%).
- Kém: 0.06 % (giảm 0,01%).
Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả xếp loại học lực năm học 2024-2025
- Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh
Ngoài việc cung cấp cho học sinh kiến thức về khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, những kỹ năng lao động phổ thông, các nhà trường còn phải đặc biệt quan tâm đến giáo dục đạo đức cho học sinh góp phần vào việc xây dựng nhân cách toàn diện cho các em, và nó càng quan trọng hơn đối với các em đang học ở bậc học THCS. Chính vì vậy, các môn học mang tính giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho học sinh được các nhà trường đặc biệt quan tâm; đã tập trung chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả các tiết học Giáo dục công dân, buổi học ngoại khoá, sinh hoạt lớp, tiết chào cờ đầu tuần,…Quan tâm đến việc giáo dục truyền thống quê hương, đất nước và địa phương tỉnh, huyện, xã, thị trấn. 100% trường THCS của huyện đều dạy tiết học lịch sử địa phương huyện Nam Sách mà nội dung do Ban Thường vụ Huyện uỷ phê chuẩn và các tiết học lịch sử của xã, thị trấn mình.
Năm học 2024 – 2025 hạnh kiểm: Tốt: 72.9 % (giảm 0,82%); Khá: 22.01 % (tăng 0,93%); Trung bình: 4.83 % (giảm 0,04%); Yếu: 0.26% (giảm 0,07%).
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả xếp loại hạnh kiểm
- Kết quả thi vào các trường THPT
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào các trường THPT hàng năm đạt trên 90%; trong đó, vào Trường THPT Nguyễn Trãi (trường chuyên), tỉnh Hải Dương bình quân hàng năm là 0,7%.
Tỷ lệ HS không đủ điều kiện dự thi vào các trường THPT dưới 1,0%.
2.2.4. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Cơ sở vật chất là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong nhiều năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở của huyện Nam Sách đã thực sự quan tâm, tạo điều kiện huy động nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng phòng học kiên cố cao tầng, các phòng chức năng, khu hiệu bộ; tôn tạo, xây dựng sân chơi bãi tập, khuôn viên nhà trường đảm bảo xanh, mát, đẹp, cũng như đầu tư mua sắm thiết bị, sách, tài liệu, đồ dùng học tập, bàn ghế đảm bảo phục vụ tốt nhất cho việc dạy và học.
Ngoài ra việc huy động các nguồn lực của cộng đồng xã hội vào dạy học cũng được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, được cán bộ và nhân dân hiểu, ủng hộ; qua đó đã góp phần đầu tư thêm cho các trường hàng nghìn bộ bàn ghế, hàng trăm máy tính, hàng chục máy chiếu và nhiều các trang thiết bị khác phục vụ công tác giảng dạy như: bảng chống loá, ghế đa, cây cảnh, cây bóng mát, nắp hệ thống đèn chiếu sáng,…
Đến nay, các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách, không còn hiện tượng thiếu phòng học phải đi học nhờ, học tạm; tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đạt cao, còn rất ít phòng học cấp 4. Có 100% số trường THCS đảm bảo đủ số phòng học để học 1 ca/ngày, có đầy đủ các phòng hiệu bộ và phòng chức năng, nhất là các phòng học bộ môn đã được xây dựng đảm bảo đủ diện tích theo quy định và đang sử dụng có hiệu quả.
- Bảng 2.5: Tình hình cơ sở vật chất năm học 2024 – 2025
Phòng học, phòng chức năng các trường THCS của huyện Nam Sách đã được đầu tư xây dựng kiên cố, hiện đại đạt tỷ lệ cao (98,64%) đảm bảo cho việc tổ chức học 01 ca/ngày. Cho đến nay, toàn huyện chỉ còn 2 phòng học cấp 4 nhưng cũng được nhà trường tu bổ, sửa chữa, nâng cấp đảm bảo phục vụ tốt cho việc dạy và học.
2.3. Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
2.3.1. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về hoạt động kiểm tra nội bộ
Nhận thức định hướng hành động, để có hành động đúng thì trước hết phải có nhận thức đúng. Muốn hoạt động KTNB trường học đạt được mục tiêu đã đề ra, trước hết chủ thể kiểm tra phải nhận thức đúng, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, tầm quan trọng của hoạt động KTNB trường học. Tránh các khuynh hướng coi nhẹ hoạt động KTNB hoặc coi KTNB như một công cụ để răn đe, buộc đối tượng kiểm tra phải tuân thủ vô điều kiện các mệnh lệnh quản lý. Những quan điểm sai lầm, lệch lạc đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả, đôi khi là phản tác dụng của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học.
Quản lý hoạt động KTNB các trường THCS ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương vẫn còn tồn tại một bộ phận CBQL, giáo viên, nhân viên chưa nhận thức rõ vai trò, chức năng, tầm quan trọng của kiểm tra nội bộ, hiểu kiểm tra nội bộ chỉ như một hoạt động phối hợp nằm trong biện pháp động viên thi đua, coi đó chỉ là biện pháp để đánh giá. Một số không ít còn cho rằng kiểm tra với mục đích để kỷ luật, do đó hạn chế hiệu lực của kiểm tra nội bộ trường học đồng thời xuất hiện tư tưởng chống đối của đối tượng kiểm tra khi tiếp nhận đối tượng kiểm tra (với các hình thức và mức độ khác nhau). Nhiều cán bộ quản lý chưa nắm được chức năng cơ bản của quá trình quản lý nên chưa nhận thức đúng chức năng kiểm tra, từ đó việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động kiểm tra chưa nghiêm túc, việc kiểm tra chỉ mang tính đại khái, chung chung, hình thức, thậm chí còn biểu hiện tính quan liêu, xa vời, không sát thực tế. Do đó hoạt động kiểm tra chưa trở thành công cụ sắc bén tăng cường hiệu lực quản lý trường học.
Giáo viên, học sinh chưa có nhận thức đúng về hoạt động kiểm tra nên thường có ý thức đối phó hoạt động kiểm tra của các cấp quản lý, chưa biến các quá trình kiểm tra của các cấp quản lý thành quá trình tự kiểm tra của chính mình. Do đó hiệu quả kiểm tra đạt thấp. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Mặt khác do bệnh thành tích nên cả chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý trong quá trình kiểm tra thường qua loa, việc xác định chuẩn và đánh giá đúng thực trạng so với chuẩn còn nhiều bất cập.
Để nắm rõ mức độ nhận thức của CBQL, giáo viên và nhân viên các trường THCS ở huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương về hoạt động kiểm tra nội bộ trường THCS, tác giả đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của 154 người là cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, nhân viên các trường THCS trong huyện Nam Sách để nắm bắt quan điểm của học về thẩm quyền, mục đích, đối tượng KTNB. Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.6 sau:
- Bảng 2.6: Nhận thức của đội ngũ CBQL, Giáo viên về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
- Từ bảng trên cho chúng ta thấy:
Về thẩm quyền kiểm tra nội bộ trường học: Với tỷ lệ 87% số người đồng ý và rất đồng ý, còn 13% số người chưa xác định đúng thẩm quyền KTNB của Hiệu trưởng đã cho thấy đa số cán bộ quản lý và giáo viên nắm rõ cơ cấu tổ chức bộ máy giáo dục trong nhà trường, xác định đúng thẩm quyền KTNB trường học thuộc về Hiệu trưởng. Tuy vậy vẫn còn một bộ phận CBQL, giáo viên xác định sai thẩm quyền KTNB (cho rằng thẩm quyền này thuộc về cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan quản lý giáo dục cấp trên). Số đối tượng xác định chưa đúng thẩm quyền KTNB phần lớn là giáo viên.
Về mục đích kiểm tra nội bộ trường học có 87,6% số người được hỏi xác định đúng mục đích của kiểm tra nội bộ; số đối tượng còn lại xác định chưa đầy đủ, phiến diện mục đích KTNB (một bộ phần lớn người được khảo sát cho rằng KTNB chủ yếu nhằm chỉ để phát hiện những vi phạm của cán bộ, giáo viên và học sinh để xử lý kỷ luật.; hoặc cho rằng mục đích của KTNB là đánh giá, xếp loại toàn diện giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ và đánh giá xếp loại toàn diện học sinh về học lực, hạnh kiểm). Chính nhận thức chưa đúng về mục đích KTNB của CBQL dẫn đến việc tổ chức triển khai hoạt động KTNB thiếu tính toàn diện, nhận thức chưa đúng của đối tượng kiểm tra về mục đích KTNB sẽ dẫn đến tình trạng hiểu sai tính chất của các cuộc kiểm tra từ đó dẫn đến thái độ không tự giác, đối phó khi tiếp nhận các quyết định kiểm tra.
Về đối tượng kiểm tra nội bộ: 7,1% số người được hỏi không đồng ý về đối tượng của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học đó là tất cả các thành tố cấu thành hệ thống sư phạm nhà trường như: GV, HS, cơ sở vật chất – kỹ thuật, tài chính, kết quả dạy học và giáo dục,… Còn 80,5% số người được hỏi rất đồng ý và đồng ý về đối tượng KTNB là những đối tượng cán bộ, giáo viên, học sinh có biểu hiện vi phạm; 69,5 % số người rất đồng ý và đồng ý cho rằng đối tượng là hoạt động giáo dục của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Việc quan niệm chỉ những đối tượng có biểu hiện vi phạm mới là đối tượng của kiểm tra là điều rất nguy hiểm vì nó tạo cho đối tượng kiểm tra quan niệm mình đang thuộc diện có biểu hiện vi phạm trong đơn vị nên mới bị kiểm tra, từ đó tiếp nhận các nội dung kiểm tra với thái độ thiếu hợp tác, đôi khi có những phản ứng tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến kết quả kiểm tra.
Ngoài ra, nhận thức chưa đúng của chủ thể quản lý hoạt động KTNB (Hiệu trưởng) dẫn đến việc triển khai tổ chức thực hiện công tác KTNB không đảm bảo tính toàn diện, một số mặt hoạt động bị coi nhẹ yêu cầu kiểm tra, đánh giá. Từ đó kéo theo nhận thức không đúng về KTNB của đội ngũ giáo viên trong nhà trường. Mặt khác công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng về hoạt động KTNB và chuyên môn nghiệp vụ của công tác KTNB từ cơ quan quản lý các cấp đến các cơ sở giáo dục chưa thường xuyên, đầy đủ.
2.3.2. Thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Khảo sát 154 lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT, CBQL và giáo viên 20 trường THCS huyện Nam Sách, tác giả thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.7: Kết quả kháo sát thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách
Qua bảng số liệu trên cho chúng ta thấy thực trang hoạt động KTNB ở các trường đã được tiến hành trên cả 5 nội dung, Tuy nhiên về mức độ hiệu quả cũng có khác nhau, cụ thể:
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục và phổ cập giáo dục ở các trường THCS của huyện Nam sách đã làm bước đầu có hiệu quả tốt, trong đó nội dung thực hiên chỉ tiêu về số lượng học sinh từng khối lớp và toàn trường: Duy trì sĩ số, tỷ lệ học sinh bỏ học, lên lớp, lưu ban có 83,8% ý kiến cho là thực hiện tốt và khá. Trong khi 85,7% ý kiến cho là tốt và khá với nội dung thực hiện chỉ tiêu kế hoạch về số lượng, chất lượng phổ cập giáo dục ở từng khối lớp và toàn trường.
Đối với thực trạng kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch đào tạo, trong đó thực hiện nội dung, chương trình dạy học và giáo dục được người tham gia phỏng vấn đánh giá tốt và khá với 67,5%, trung bình là 28,6% , yếu là 3,9%, nhìn chung hiệu trưởng các trường đã quan tâm đến việc thực hiện nội dung, chương trình dạy học và giáo dục của nhà trường. Tuy nhiên chất lượng dạy học và giáo dục của các trường vẫn chưa được đánh giá cao, trong đó có 14,9% ý kiếm cho là yếu.
Kiểm tra việc xây dựng đội ngũ bao gồm 2 nội dung chủ yếu là kiểm tra hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn và kiểm tra giáo viên. Hiện nay nội dung này đã được các trường thực hiện khá nghiêm túc, nhưng vẫn thường chủ yếu theo các văn bản hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạo, Sở GD&ĐT, Phòng GD& ĐT. Cụ thể với nội dung kiểm tra hoạt động của các tổ, nhóm chuyên môn có 67,5% ý kiến cho là thực hiện tốt và khá, kiểm tra giáo viên có 74% ý kiến là tốt và khá.
Kiểm tra việc xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất thiết bị dạy học có 22,1% ý kiến cho rằng thực hiện tốt, 48,1% thực hiện khá, 22,7% thực hiện trung bình và 7,1% thực hiện yếu. Thực tế hiện nay thì cơ sở vật chất của các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách còn khá là hạn chế, số lượng không nhiều, vì thế Hiệu trưởng các trường thường giao trách nhiệm quản lý cho phó hiệu trưởng. Công tác này không được đôn đốc và kiểm tra thường xuyên. Hiện tượng buông lỏng quản lý cơ sở vật chất trong các trường học được thể hiện qua các biểu hiện như: Không vào sổ tài sản nhà trường; không có biên bản kiểm kê bàn giao xử dụng tài sản trên các lớp học vv…, hiện tượng xảy ra thất thoát tài sản, xử dụng kém hiệu quả thiết bị dạy học trong các trường học. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Công tác tự kiểm tra của hiệu trưởng hiện nay tại các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách chưa được tốt, cụ thể có 38,3% ý kiến cho rằng thực hiện ở mức trung bình và 11% cho rằng thực hiện ở mức yếu. Bởi vì, Hiệu trưởng là người lãnh đạo cao nhất tại nhà trường, mặt khác công việc bận rộn lên nhiều khi không có thời gian để xem xét lại công tác kế hoạch, công tác tổ chức nhân sự, công tác chỉ đạo…dẫn đến hiệu quả tại công tác này không được cao.
Như vậy qua thực trạng trên ta thấy công tác kiểm tra nội bộ cần được thực hiện một cách có hệ thống, phù hợp với yêu cầu chương trình đổi mới mà giáo viên đang thực hiện. Từ đó, việc kiểm tra giáo viên mới có nề nếp, kỷ cương tránh được bệnh thành tích, làm chiếu lệ để báo cáo cấp trên.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS
Vào đầu năm học, sau khi học nhiệm vụ năm học và triển khai hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học, Hiệu trưởng các trường THCS huyện Nam Sách căn cứ vào nhiệm vụ năm học của bậc học, hướng dẫn của Phòng Giáo dục và Đào tạo, vận dụng tình hình thực tế của nhà trường xây dựng kế hoạch công tác kiểm tra nội bộ trường học. Qua khảo sát kế hoạch KTNB của các nhà trường cho thấy:
- Nhìn vào kết quả điều tra ở bảng 2.8, chúng tôi kết quả như sau:
Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể cho phép của nhà trường và có tính khả thi có 72,7% ý kiến cho rằng thực hiện tốt và khá, có 27,3% cho rằng thực hiện trung bình và yếu. Nhìn chung Hiệu trưởng các trường THCS huyện Nam sách đã bám sát Hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, từ đó xây dựng kế hoạch KTNB phù hợp với nhà trường, cho nên có tính khả thi tương đối cao
- Bảng 2.8: Thực trạng lập kế hoạch kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách
Kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học được thiết kế dưới dạng sơ đồ hoá và được treo ở văn phòng nhà trường có 77,3% ý kiến cho rằng thực hiện tốt và khá, không có ý kiến nào cho rằng nội dung này thực hiện yếu. Nhìn chung các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách đã thực hiện khá tốt nội dung này.
Nội dung kiểm tra có sức thuyết phục, hình thức kiểm tra gọn nhẹ không gây tâm lí nặng nề cho đối tượng, cần huy động nhiều lực lượng tham gia kiểm tra và dành thời gian cần thiết, thích đáng cho kiểm tra có 42,9% ý kiến cho rằng nội dung này thực hiện trung bình và yếu. Bởi vì, nội dung kiểm tra còn nặng tính hình thức, gây tâm lí không tốt cho cả giáo viên và học sinh. Mặt khác, nội dung kiểm tra còn thiếu nhiều mặt hoạt động trong nhà trường như: Kiểm tra việc sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất trang thiết bị phòng học; kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên; kiểm tra công tác xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn của giáo viên, nhân viên, kiểm tra công tác Đội thiếu niên, kiểm tra hoạt động ngoài giờ lên lớp; kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp như vậy có thể kết luận việc xây dựng kế hoạch chưa đảm bảo tính toàn diện, còn thiếu nhiều nội dung của hoạt động nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Cụ thể hóa kế hoạch kiểm tra năm học thành kế hoạch kiểm tra học kì, kế hoạch kiểm tra hàng tháng, kế hoạch kiểm tra tuần… với những lịch biểu cụ thể có 18,2% là tốt, có 43,5% là khá; 23,4% là trung bình và 14,9% là yếu.
Như vậy có thể khẳng định rằng ở các nhà trường hiện nay công tác kiểm tra nội bộ đã được chú trọng nhưng mới dừng lại ở việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung kiểm tra. Việc lập kế hoạch còn nặng về hình thức, chưa phát huy hết được vai trò của nó.
Công tác lập kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học công bố công khai từ đầu năm học và cụ thể hóa kế hoạch một cách chi tiết là rất quan trọng vì như vậy sẽ giúp cho cán bộ, giáo viên hình dung được một cách tổng quát công việc của nhà trường và của giáo viên trong một học kỳ hay một năm học, qua đó giáo viên chủ động hơn trong công tác của mình. Vì vậy, lập kế hoạch kiểm tra nội bộ cần phải được các nhà quản lý chú trọng nhiều hơn nữa.
2.4.2. Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS
Kết quả khảo sát của 154 lãnh đạo, chuyên viên phòng, CBQL và giáo viên của 20 trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách như bảng sau:
- Bảng 2.9: Thực trạng về tổ chức hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách
Từ bảng số liệu 2.9, cho chúng ta thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Xây dựng lực lượng kiểm tra: thành lập ban kiểm tra, phân công cụ thể, xác định quyền hạn, trách nhiệm của từng thành viên trong ban kiểm tra có 51,9% người tham gia khảo sát cho rằng tốt và khá, có 48,1% cho rằng trung bình và yếu. Bởi vì, lực lượng kiểm tra tại các nhà trường chủ yếu là ban giám hiệu – lực lượng rất mỏng do đó không thể kiểm tra sát sao hết các hoạt động trong nhà trường.
Phân cấp trong kiểm tra có 16,9% ý kiến cho rằng tốt, 40,3% cho rằng khá, 31,8% cho rằng trung bình và 11% là yếu. Bởi vì, phân cấp kiểm tra còn chồng chéo, công việc không cụ thể, phân cấp không rõ ràng. Phân cấp trong kiểm tra là một yêu cầu quản lý khoa học cho các hệ thống quản lý phức tạp. Do vậy phân cấp trong kiểm tra phải phù hợp với phân cấp trong quản lý.
Xây dựng chế độ kiểm tra: qui định thể thức làm việc, nhiệm vụ cụ thể, thời gian, quy trình tiến hành, quyền lợi cho mỗi đợt kiểm tra có 48,7% cho rằng thực hiện nội dung này còn ở mức trung bình và yếu. Quyền lợi cho mỗi đợt kiểm tra không thực hiện theo đúng theo hướng dẫn, thường là không chi trả chế độ cho hoạt động kiểm tra nội bộ mà chỉ chi trả cho thanh tra viên kiêm nghiệm của các đợt thanh tra do Sở tổ chức. Qua khảo sát chúng ta có thể khẳng định rằng ở các đơn vị trường học Hiệu trưởng cần quy định thể thức làm việc, nhiệm vụ cụ thể, thời gian, quy trình tiến hành, thanh toán chế độ cho người kiểm tra.
Cung cấp kịp thời những điều kiện vật chất, tinh thần, tâm lí cho hoạt động kiểm tra, đây là nội dung bị đánh giá là yếu nhất trong công tác tổ chức kiểm tra nội bộ trong nhà trường, với 54,% ý kiến cho rằng thực hiện ở mức trung bình và yếu. Trang bị những phương tiện, thiết bị, cung cấp thông tin, mẫu biên bản cho hoạt động kiểm ..còn rất yếu và thiếu, chưa phát huy khả năng, sáng tạo của các thành viên trong ban kiểm tra.
Để hoạt động kiểm tra nội bộ đạt được hiệu quả cao cần căn cứ vào cả bốn nội dung đã nêu. Qua khảo sát ở các nhà trường thì trong cả bốn nội dung đều có rất nhiều ý kiến khẳng định là chưa tốt. Điều này đồng nghĩa với việc ở trong các nhà trường chưa thật sự sát sao và quan tâm đúng mức tới hoạt động kiểm tra nội bộ.
2.4.3 Thực trạng việc chỉ đạo thực hiện công tác kiểm tra nội bộ ở các trường THCS Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Bảng 2.10: Thực trạng chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra nội bộ trường học đối với công tác quản lý chỉ đạo hoạt động Giáo dục trong các nhà trường nói chung, trường THCS nói riêng, trong những năm học vừa qua, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nam Sách luôn quan tâm chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ trường học. Cụ thể là vào đầu năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo đều có văn bản hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ trường học. Trong hướng dẫn đều rất cụ thể nội dung các nhà trường tập trung làm tốt công tác kiểm tra nội bộ trong năm học. Phòng Giáo dục và Đào tạo đã thường xuyên kiểm tra chuyên ngành, kiểm tra hành chính, qua kiểm tra đã kịp thời tư vấn cho hoạt động kiểm tra nội bộ của các trường nói chung, các trường THCS nói riêng.
Mặc dù trong công tác chỉ đạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn các nhà trường xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện song do chưa tập huấn được kỹ về nghiệp vụ chỉ đạo kiểm tra nên trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra nội bộ trường học hiệu quả chưa được như mong muốn. Qua số liệu điều tra cho thấy hầu như trên 50% ý kiến được hỏi cho rằng Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động KTNB ở mức trung bình và yếu.
Qua khảo sát 154 phiếu khảo sát về hình thức kiểm tra nội bộ chúng ta thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.11. Khảo sát đánh giá mức độ quan trọng của các hình thức kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách
Qua khảo sát cho thấy rằng: Mỗi hình thức kiểm tra đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Để đánh giá một cách chính xác năng lực chuyên môn của giáo viên thì trong công tác quản lý, chỉ đạo, người Hiệu trưởng trường THCS huyện Nam Sách cần có sự linh hoạt, nhạy bén để các hình thức được sử dụng trong kiểm tra nội bộ nhà trường được đen xen một cách linh hoạt, nhạy bén, phong phú chứ không khư khư theo một lề thói xưa cũ nào hoặc theo ý chủ quan của một cá nhân nào (kể cả người quản lý hay đối tượng được quản ký). Sự linh hoạt trong việc chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ cũng nhằm tạo nên sự công bằng, khách quan, chính xác, đáp ứng được yêu cầu đổi mới chất lượng giáo dục THCS trong giai đoạn hiện nay.
Hình thức kiểm tra đột xuất được đánh giá là hiệu quả nhất, với 89% ý kiến cho rằng rất quan trọng, 11% cho rằng ít quan trọng. Qua ý kiến của những người được hỏi họ đều cho rằng khi tiến hành kiểm tra đột xuất, những gì giáo viên, nhân viên không làm thường xuyên, không đúng quy trình, không tận tâm… đều được thể hiện ra bên ngoài hết sức cụ thể. Qua đó người kiểm tra có thể căn cứ đánh giá, xếp loại đối tượng kiểm tra một cách công khai, dân chủ.
Hình thức kiểm tra thường xuyên, hằng ngày với 53,9% cho rằng rất quan trọng và kiểm tra thường kỳ theo kế hoạch với 49,4% cho rằng rất quan trọng. Tuy nhiên các nhà quản lý cũng công nhận rằng hiệu quả của hình thức này không cao lắm. Điều này cho thấy khi được báo trước, đối tượng kiểm tra dù ít – nhiều đã có sự chu đáo hơn. Vô hình chung làm cho mục đích cuộc kiểm tra thành hình thức, kiểm tra để lấy thành tích, thiếu khách quan, kết quả là sự phản ánh phần nào bệnh hình thức trong giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Thực trạng điều tra cho thấy các đồng chí Hiệu trưởng các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã xác định rõ mục đích của từng hình thức kiểm tra. Cụ thể là từng hình thức đã được áp dụng theo từng nội dung, từng thời điểm, từng đối tượng cụ thể. Ví dụ kiểm tra đột xuất nhà trường thường áp dụng cho tất cả giáo viên đặc biệt là những giáo viên còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ để họ phải tập trung vào việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề. Đồng chí hạn chế đến mức thấp nhất tính ỷ lại, lơ là trong chuyên môn.
2.4.4 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá công tác hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS
Bảng 2.12: Thực trạng kiểm tra hoạt động kiểm tra nội bộ và xử lý kết quả kiểm tra nội bộ ở nhà trường THCS huyện Nam Sách
Qua điều tra bằng phiếu điều tra và kết hợp hỏi ý kiến trực tiếp của cán bộ, giáo viên của các trường trên địa bàn huyện Nam Sách chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.13. Phân tích số liệu chúng tôi nhận thấy: Thực trạng kiểm tra kiểm tra nội bộ có 36,4% là tốt, trong đó 50% là bình thường, 13,6% là chưa tốt. Đánh giá công tác kiểm tra nội bộ có 29,2% là tốt, trong khi nội dung xử lí kết quả kết quả kiểm tra nội bộ có 32,5% là tốt.
Như vậy, qua kết quả điều tra trên đã nói lên rằng công tác đánh giá kết quả KTNB đã bắt đầu được chú trọng. Tuy nhiên, hạn chế vẫn tồn tại ở công tác kiểm tra của Hiệu trưởng và xử lí kết quả KTNB. Ở trong các nhà trường Hiệu trưởng là người quản lý chung mọi công việc do đó thời gian dành cho hoạt động kiểm tra nội bộ còn nhiều hạn chế. Có thể công tác tự kiểm tra của Hiệu trưởng rất tốt ở mặt này nhưng lại chưa tốt ở mặt kia hay nói cách khác kiểm tra một cách toàn diện và chi tiết là một vấn đề rất khó khăn. Mặt khác, khi có kết quả kiểm tra, cán bộ kiểm tra xử lý kết quả ấy lại chưa minh bạch, chưa thỏa đáng dẫn đến đối tượng được kiểm tra không khâm phục (điều đó thể hiện có rất nhiều ý kiến đánh giá là chưa tốt).
2.4.5. Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS
Để tìm hiểu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS trên địa bàn huyện Nam Sách, chúng tôi đã điều tra bằng phiếu hỏi đối với 154 lãnh đạo, chuyên viên phòng, CBQL và giáo viên của 20 trường THCS. Nội dung phiếu hỏi được đánh giá ở 4 mức độ Rất ảnh hưởng (4đ), Ảnh hưởng (3đ), Phân vân (2đ), Không ảnh hưởng (1đ). Kết quả tổng hợp điểm các ý kiến trả lời như sau:
- Bảng 2.13: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các THCS huyện Nam Sách
Thông qua quá trình khảo sát và kết quả khảo sát, tôi nhận thấy yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS huyện Nam Sách là: Hệ thống văn bản, quy định pháp luật liên quan đến KTNB trường học sở dĩ đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất vì mọi nội dung quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) của Hiệu trưởng đều bị chi phối bởi các văn bản, quy định của pháp luật.
Tiếp đến là các yếu tố về năng lực của Hiệu trưởng về kiểm tra nội bộ; Yêu cầu về đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW; Kỹ năng của các chủ thể tham gia vào quá trình kiểm tra nội bộ; Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về công tác kiểm tra nội bộ trường THCS; Điều kiện, kinh phí cho kiểm tra nội bộ trường học; Sử dụng kết quả kiểm tra nội bộ.
2.5. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
2.5.1. Một số kết quả đạt được
Trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2021 Hội nghị Trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngành giáo dục huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã có những bước chuyển mình đáng kể, trong đó có công tác thanh, kiểm tra nói chung và công tác KTNB các trường THCS nói riêng.
Với việc ban hành Thông tư số 39/2021/TT-BGDĐT ngày 04/12/2021 “Hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, công tác KTNBTH đã được quan tâm chú ý hơn. Căn cứ vào hướng dẫn thực hiện công tác thanh tra của Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như nhiệm vụ trọng tâm năm học của ngành giáo dục Nam Sách, Phòng Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch công tác kiểm tra của ngành, trong đó có hướng dẫn chi tiết, cụ thể các nhà trường đối với công tác KTNB trường học. Thông qua các hoạt động kiểm tra cũng như qua việc báo cáo, đánh giá sơ kết, tổng kết hàng năm, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã có sự uốn nắn, chấn chỉnh kịp thời giúp cho hoạt động KTNB các trường THCS đi đúng hướng.
Nhận thức về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng công tác KTNB của cán bộ, giáo viên, nhân viên các nhà trường từng bước được nâng lên. Việc xây dựng kế hoạch KTNB và tổ chức thực hiện ngày một quy củ, nề nếp, bài bản hơn. Hiệu quả đạt được qua công tác KTNB cũng đã góp một phần không nhỏ vào việc ổn định và nâng cao chất lượng giáo dục của các đơn vị. Nó giúp cho công tác quản lý, quản trị trường học có tính bao quát và sâu sát hơn, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những biểu hiện vi phạm đạo đức nhà giáo, đạo đức học sinh cũng như những vi phạm về quy chế chuyên môn, nội quy nhà trường. Từ đó, kỷ cương, nề nếp chuyên môn được giữ vững, khối đoàn kết nội bộ được củng cố
2.5.2. Một số hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Tuy nhiên công tác quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS vẫn còn một số tồn tại, đó là: Hoạt động KTNB chưa đảm bảo tính toàn diện, mới chú trọng nhiều đến hoạt động sư phạm của nhà giáo, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn; hoạt động kiểm tra chưa diễn ra một cách thường xuyên trong năm học. Vì vậy dễ nảy sinh tư tưởng chủ quan trong giáo viên, chỉ tập trung chú ý các hoạt động trong khoảng thời gian diễn ra các hoạt động kiểm tra theo chu kỳ. Một số lĩnh vực quản lý chưa được quan tâm đúng mức trong công tác kiểm tra nội bộ. Chưa kịp thời phát hiện những vấn đề bất cập trong tư tưởng của đội ngũ dễ dẫn đến các biểu hiện thiếu thống nhất, mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nội bộ, làm suy giảm sức mạnh của cả tập thể sư phạm nhà trường.
Một số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ở một số trường THCS chưa nhận thức rõ vị trí vai trò, chức năng, tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, hiểu kiểm tra nội bộ chỉ như một hoạt động phối hợp nằm trong biện pháp động viên thi đua, coi đó chỉ là biện pháp để đánh giá do đó nảy sinh tư tưởng buông lỏng quản lý hoạt động KTNB. Việc kiểm tra nhiều lúc vẫn còn mang tính hình thức.
Việc xây dựng kế hoạch KTNB của một số trường THCS chưa đảm bảo yêu cầu kế hoạch còn chung chung nhiều khi mang tính hình thức, đối phó với cấp trên; chưa xác định rõ các căn cứ để xây dựng kế hoạch; các nội dung kiểm tra còn thiếu; kế hoạch thanh kiểm tra, không cụ thể hóa lực lượng, nội dung kiểm tra, hình thức kiểm tra, các biện pháp thiếu tính khả thi để thực hiện kế hoạch đạt kết quả tốt nhất; thiếu chương trình kiểm tra hàng tháng, tuần nên trong quá trình thực hiện thiếu tính chủ động, thường thực hiện không đảm bảo theo kế hoạch. Cá biệt còn có đơn vị khi kiểm tra phát hiện chưa xây dựng kế hoạch KTNB theo quy định.
Hình thức thanh kiểm tra chưa phong phú, các trường chưa chú trọng hình thức kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra đột xuất. Đối với hình thức kiểm tra báo trước, kết quả kiểm tra chưa phản ánh trung thực chính xác thực trạng tại thời điểm kiểm
Việc đánh giá kết quả thanh kiểm tra ở một số đơn vị, một số cá nhân còn chưa thực sự khách quan, chính xác. Còn biểu hiện xuê xoa, cả nể, rút kinh nghiệm chung chung do ngại va chạm; khâu đánh giá trong kiểm tra cũng bị xem nhẹ: việc xác định chuẩn chưa đúng (thường là hạ thấp chuẩn); việc so sánh thực trạng với chuẩn còn nhiều bất cập. Nội dung tư vấn, thúc đẩy cho đối tượng được thanh kiểm tra còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Trình độ nghiệp vụ của một số CBQL và cộng tác viên làm nhiệm vụ thanh tra còn bất cập, nên chưa giúp đỡn nhiều cho đối tượng được thanh tra có hướng khắc phục tồn tại yếu kém, ngăn ngừa sai phạm trong và sau kiểm
Hồ sơ kiểm tra chưa được hoàn thiện đúng quy định (cả về hình thức và nội dung các văn bản).
2.5.3. Nguyên nhân của thực trạng
- Nguyên nhân từ quá trình đào tạo
Trong hoạt động kiểm tra nội bộ trường học, vai trò của người Hiệu trưởng là rất quan trọng song trong thực tế từ công tác đào tạo tại các khoa Quản lý Giáo dục (cung cấp, bồi dưỡng nguồn cán bộ quản lý cho các nhà trường) thì nội dung công tác kiểm tra nội bộ trường học lại chưa được quan tâm đúng mực.
- Từ cơ quan quản lý cấp trên
Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có thông tư hướng dẫn số 39/2021/TT- BGDĐT hướng dẫn về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, ở đó mới chỉ hướng dẫn thanh tra chuyên ngành đối với cấp Bộ, cấp Sở và Phòng Giáo dục & Đào tạo.
Chế độ chính sách cho công tác kiểm tra nội bộ chưa rõ ràng nên việc vận dụng chi cho hoạt động kiểm tra nội bộ ở các nhà trường chưa có sự thống nhất, chưa thực sự động viên cán bộ nhân viên thực hiện tốt công tác kiểm tra nội bộ trường học.
- Từ Hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên các trường THCS
Do hạn chế về nhận thức: Một số cán bộ quản lý chưa nắm vững chức năng cơ bản của quá trình quản lý nên chưa nhận thức đúng chức năng kiểm tra, từ đó việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động kiểm tra chưa nghiêm túc, việc kiểm tra chỉ mang tính đại khái, chung chung, hình thức, thậm chí còn biểu hiện tính quan liêu, xa vời, không sát thực tế. Do đó hoạt động kiểm tra chưa trở thành công cụ sắc bén tăng cường hiệu lực quản lý trường học. Một số giáo viên, học sinh chưa có nhận thức đúng về hoạt động kiểm tra nên thường có ý thức đối phó hoạt động kiểm tra của các cấp quản lý, chưa biến các quá trình kiểm tra của các cấp quản lý thành quá trình tự kiểm tra của chính mình. Do đó hiệu quả kiểm tra đạt thấp.
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kiểm tra nội bộ của một số cán bộ quản lý, giáo viên còn nhiều hạn chế, yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ của Hiệu trưởng và chất lượng kiểm tra. Đội ngũ làm nhiệm vụ kiểm tra trường THCS chưa được bồi dưỡng về nghiệp kiểm tra giáo dục một cách bài bản nên hiệu quả các cuộc kiểm tra chưa.
Nội dung, hình thức và phương pháp kiểm tra còn chậm đổi mới, chưa theo kịp đổi mới về hoạt động chuyên môn.
Một số trường chưa quan tâm đến chế độ, quyền lợi của các thành viên trong tổ kiểm tra, chưa thực sự tạo điều kiện về vật chất, tinh thần cho tổ kiểm tra hoạt động thuận lợi. Điều đó đã ảnh hưởng tới định mức hoàn thành công việc và ảnh hưởng đến thái độ, chất lượng các cuộc kiểm tra. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Tư tưởng cào bằng, nể nang trong hoạt động kiểm tra, đánh giá còn tồn tại trong phương pháp làm việc của nhiều cán bộ, giáo viên làm nhiệm vụ kiểm tra nội bộ trường học nên việc đánh gia, tư vấn, thúc đẩy trong hoạt động kiểm tra chưa đi vào thực chất.
Xử lý sau khi kiểm tra chưa tương xứng với thực trạng kiểm tra, chưa đưa ra những biện pháp mạnh mang tính răn đe để xử lý khiến cho đối tượng kiểm tra không coi trọng kết luận kiểm tra dẫn đến không có động lực để sửa chữa, khắc phục những tồn tại đã được phát hiện trong quá trình kiểm
- Từ Phòng Giáo dục và Đào tạo
Phòng Giáo dục và Đào tạo đã có hướng dẫn các trường THCS trong công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện song chưa quan tâm đến việc duyệt và góp ý bổ sung cho kế hoạch của các nhà trường.
Chưa tập huấn cho đội ngũ trực tiếp tham gia công tác kiểm tra ở các nhà trường giúp các Hiệu trưởng trong công tác kiểm tra nội bộ trường học.
Chưa tổng kết rút kinh nghiệm kịp thời trong công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. Chưa xây dựng được mô hình nổi trội trong công tác kiểm tra nội bộ trường học để các nhà trường học tập.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
Qua nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm tra nội bộ và quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS của huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, chúng tôi rút ra kết luận sau:
Nhận thức chưa đúng của chủ thể quản lý hoạt động KTNB (Hiệu trưởng) dẫn đến việc triển khai tổ chức thực hiện công tác KTNB không đảm bảo tính toàn diện, một số mặt hoạt động bị coi nhẹ yêu cầu kiểm tra, đánh giá. Từ đó kéo theo nhận thức không đúng về KTNB của đội ngũ giáo viên trong nhà trường. Mặt khác công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng về hoạt động KTNB và chuyên môn nghiệp vụ của công tác KTNB từ cơ quan quản lý các cấp đến các cơ sở giáo dục chưa thường xuyên, đầy đủ.
Công tác kiểm tra nội bộ chưa được thực hiện một cách có hệ thống, phù hợp với yêu cầu chương trình đổi mới mà giáo viên đang thực hiện. Từ đó, việc kiểm tra giáo viên mới có nề nếp, kỷ cương tránh được bệnh thành tích, làm chiếu lệ để báo cáo cấp trên.
Yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với quản lý hoạt động KTNB ở các trường THCS huyện Nam Sách là: Hệ thống văn bản, quy định pháp luật liên quan đến KTNB.
Các nhà trường hiện nay công tác kiểm tra nội bộ đã được chú trọng nhưng mới dừng lại ở việc xây dựng kế hoạch và lựa chọn nội dung kiểm tra. Việc lập kế hoạch còn nặng về hình thức, chưa phát huy hết được vai trò của nó.
Thực trạng việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương làm chưa tốt và Hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động KTNB ở mức trung bình và yếu.
Những phân tích thực trạng hoạt động quản lý công tác kiểm tra nội bộ ở các trường THCS ở chương 2 là cơ sở khoa học cho những đề xuất biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường THCS huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương ở chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý kiểm tra nội bộ ở các trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

