Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hệ thống quản lý chất lượng đào tạo trong Đại học đa ngành đa lĩnh vực theo tiếp cận TQM và ứng dụng công nghệ thông tin dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Các nguyên tắc đề xuất hệ thống quản lý chất lượng và các giải pháp triển khai

3.1.1. Tính khả thi

Hệ thống quản lý chất lượng và các giải pháp triển khai hệ thống được đề xuất phải có khả năng áp dụng được vào thực tiễn để đảm bảo chất lượng của nhà trường trong bối cảnh hiện nay một cách thuận lợi, trở thành hiện thực và có kết quả. Để bảo đảm tính khả thi, các giải pháp được đề xuất phải căn cứ vào các nguồn lực và điều kiện cụ thể của nhà trường để thực hiện các giải pháp một cách có hiệu quả.

3.1.2. Tính kế thừa

Hệ thống và các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu được xuất phát từ các giải pháp đã có nhằm quản lí chất lượng đào tạo trong nhà trường nhưng ở mức độ sơ khai, đặc biệt là trong trường đại học giáo dục đă đã bước đầu xây dựng và phát triển được các yếu tố của hệ thống đảm bảo chất lượng theo mô hình đào tạo cử nhân sư phạm a+b đã có. Trên cơ sở hệ thống đã có bổ sung các yếu tố đặc trưng của TQM như xây dựng văn hóa chất lượng, cải tiến liên tục, làm việc theo đội,…

3.1.3. Tính hiệu quả

Quá trình đề xuất hệ thống và lựa chọn một giải pháp triển khai đều được cân nhắc đến tính vừa sức với các điều kiện nguồn lực hiện có. Giải pháp nào đưa đến kết quả cao nhất, với chi phí nguồn lực hợp lý, sẽ được lựa chọn. Các yếu tố xã hội, môi trường, cơ chế hoạt động đang chi phối cũng được tính đến để tránh những rủi ro không đáng có thể xảy ra.

3.1.4 Tính đồng bộ

Hệ thống quản lý chất lượng và các giải pháp triển khai phải tạo nên sự chuyển biến của tất cả các đơn vị, bộ phận trong nhà trường; tạo được sự hoạt động nhịp nhàng của cả nhà trường nhằm đạt những mục tiêu chất lượng đã đặt ra. Một hệ thống đồng bộ có thể chia sẻ, có thể kiểm soát thông tin một cách toàn diện là mục tiêu hướng tới của Luận án.

3.2. Hệ thống quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm trong ĐHĐNĐLV theo tiếp cận TQM và ứng dụng công nghệ thông tin

Hình 3.1. Mô hình hệ thống quản lý chất lượng đào tạo đại học tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể tại trường Đại học giáo dục

Mô hình hệ thống quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm trong đại học đa ngành đa lĩnh vực tiếp cận tiếp cận TQM và ứng dung CNTT có các thành phần chủ yếu sau: Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Với chính sách chất lượng, với các chính sách phát triển chung của toàn ĐHQGHN (ĐHĐNĐLV) cũng như của các đơn vị thành viên, với những quy định, quy chế mà các đơn vị trong ĐHQGHN phải thực hiện; các đơn vị thành viên trong ĐHQGHN tham gia đào tạo cử nhân sư phạm. Các đơn vị này có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau về mặt thông tin quản lý, hệ thống quản lý phải đồng bộ để cùng thực hiện nhiệm vụ là đào tạo cử nhân sư phạm trong ĐHQGHN, đó là tư tưởng hệ thống và toàn diện của mô hình.

Mô hình thể hiện rõ các thành tố của hệ thống QLCL ( QLCL Đầu ra; QLCL Quá trình, QLCL Đầu ra,…)

Các thành tố được liên kết với nhau một cách chặt chẽ và đồng bộ nhờ hệ thống thông tin quản lý, hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ cụ thể là: các phần mềm ứng dụng trong từng khâu của quá trình quản lý; các chỉ tiêu kế hoạch, các chính sách, chỉ đạo đều được thực hiện và quản lý trên hệ thống thông tin, hệ thống tin học mà ở đó hệ thống có thể hỗ trợ thống kê, báo cáo các chỉ số, chỉ báo ngay tức thì từ đó nhà quản lý có những điều chỉnh, có những cải tiến phù hợp với mục tiêu quản lý chất lượng; hệ thống có thể giám sát các quy trình quản lý.

Chu trình này được thực hiện một cách liên tục, hệ thống với mục tiêu làm thỏa mãn khách hàng, thỏa mãn các bên liên quan, hệ thống cho phép các bên liên quan phản hồi đóng góp ý kiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng.

Với một lượng thông tin khổng lồ, với mô hình quản lý phức tạp đan xem nhằm phát huy hết thế mạnh và sức mạnh tổng thể của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHĐNĐLV) cùng tham gia vào đào tạo và quản lý chất lượng cử nhân sư phạm thì không thể không có hỗ trợ của CNTT vào từng khâu của quá trình quản lý chất lượng. nếu không có hệ thống thông tin quản lý có ứng dụng toàn diện CNTT thì việc triển khai quản lý chất lượng theo tiếp cận TQM là không khả thi và không hiệu quả.

Để mô hình hệ thống đề xuất mới có thể vận hành hiệu quả như mong đợi cần triển khai hệ thống các giải pháp một cách đồng bộ.

3.3. Các nhóm giải pháp triển khai hệ thống quản lý chất lượng Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

3.3.1. Nhóm giải pháp chung

  • Xây dựng chính sách chất lượng và hình thành văn hóa chất lượng.

Chính sách chất lượng là điểm tựa cho mọi hoạt động; mọi sáng kiến nâng cao chất lượng công việc được đánh giá cao; b) chức vụ chỉ là thứ yếu so với sự đóng góp hay sự hoàn thành công việc có chất lượng, hiệu quả; c) lãnh đạo là chức năng hành động cho chất lượng chứ không phải của cương vị; cam kết chất lượng của lãnh đạo là tiền đề cho văn hoá chất lượng d) phân quyền để đạt tới những mục tiêu thách thức được hỗ trợ bởi sự phát triển liên tục, tạo bầu không khí trách nhiệm chất lượng công việc, cho việc phát huy nội lực của từng thành viên cho mục tiêu chất lượng. Nó cũng bao hàm ý nghĩa là mọi người trong cơ sở đào tạo, dù ở cương vị, chức vụ nào, làm nhiệm vụ gì cũng đều là người quản lý nhiệm vụ của bản thân mình trong một quá trình cải tiến liên tục để phấn đấu chất lượng công việc do mình đảm nhiệm ngày càng tốt hơn.

Định hướng chính sách chất lượng trong tổ chức quản lý theo quan điểm QLCLTT là làm thỏa mãn nhu cầu các đối tượng khách hàng:

  • Giảng viên (khách hàng bên trong) có nhiều cơ hội được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn về ngoại ngữ cũng như nghiệp vụ sư phạm, có những điều kiện tốt để thể hiện mình trong quá trình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm học và tự học cho sinh viên.
  • Sinh viên (khách hàng bên ngoài thứ nhất) được cung cấp khối lượng kiến thức nhiều nhất theo nhu cầu, bảo đảm các điều kiện học tập sinh hoạt để hình thành những kỹ năng, kỹ xảo, những kiến thức về sư phạm, khoa học giáo dục năng lực sư phạm và hình thành nhân cách nhà giáo.
  • Các cơ sở giáo dục (khách hàng bên ngoài thứ hai) được hưởng những sản phẩm giáo dục của Trường, đó là các giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường tư tưởng vững vàng, có sức khỏe tốt, có trình độ chuyên môn.

Mỗi cán bộ, thành viên của một trường phải hiểu, sống và làm việc theo quan niệm mới về chất lượng, luôn lấy mục tiêu chất lượng là tiêu chí hành động, đây là biểu hiện quan trọng của văn hoá chất lượng. Tuy nhiên, thay đổi văn hoá tổ chức không chỉ thuần tuý yêu cầu thay đổi hành vi của đội ngũ mà đòi hỏi thay đổi cả cách thức quản lý và điều hành của cơ sở đào tạo. Người quản lý phải nhận thức được rằng đội ngũ dưới quyền là những người tạo ra chất lượng, tuy nhiên việc lãnh đạo tạo ra cơ chế tự giám sát và được đánh giá là rất quan trọng. Những thành quả lao động phải được thừa nhận gắn với mức độ đạt được mục tiêu chất lượng. Người lãnh đạo phải biết đánh giá đúng những thành quả lao động của đội ngũ dưới quyền và biết nhân những thành quả lên tầm cao mới. Động cơ làm việc của đội ngũ xuất phát từ phong cách lãnh đạo của nhà quản lý và môi trường làm việc của họ. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Để đội ngũ làm việc tự giác, tích cực có hiệu quả và sản phẩm có chất lượng, các nhà quản lý phải đóng vai trò là người trợ giúp và tạo các điều kiện, giúp đỡ giảng viên trong giảng dạy và sinh viên học tập thay vì kiểm soát quá trình dạy và học bằng các biện pháp hành chính.

Muốn có văn hóa chất lượng ở trường, trước hết cần hoàn thiện phong cách lãnh đạo của những người quản lí đối với trường và xây dựng thói quen, tác phong làm việc của đội ngũ giảng viên/nhân viên và ý thức, phong cách học tập của học sinh, sinh viên trên cơ sở bám sát các chuẩn mực, quy trình đã được công bố trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của từng đối tượng. Hạt nhân văn hóa chất lượng của một trường là triết lí vận hành nhà trường trước yêu cầu đổi mới GD, hệ giá trị mà nhà trường đang theo đuổi, gắn liền với chất lượng của sản phẩm mà trường đó cung cấp cho XH nói chung, cho địa phương nói riêng, tạo nên thương hiệu của nhà trường trong cộng đồng địa phương; là niềm tin và chuẩn mực làm việc, ứng xử với công việc và đối tác. Văn hóa chất lượng trong một nhà trường thường được nhận diện qua các yếu tố sau:

Văn hóa chất lượng có 3 cấp độ: cấp độ “hình thức” (bề nổi, nhìn thấy được như nhà trường có khang trang, sạch đẹp không), cấp độ “hành vi” (thể hiện qua ứng xử giữa CB-GV với nhau trong trường và với đối tác của NT) và cấp độ “giá trị” (thương hiệu của nhà trường). Chỉ khi văn hóa trở thành thói quen, mang tầm giá trị thì nó trở thành tài sản vô hình của một trường.

Để xây dựng dược văn hoá chất lượng phục vụ cần:

  1. Có cam kết mà trước hết là cam kết của lãnh đạo đối với mục tiêu chất lượng, đảm bảo sự tham gia tích cực của mọi thành viên trong trường: sinh viên, giảng viên, cán bộ phục vụ, các tổ chức và cá nhân có quan hệ với trường.
  2. Tạo dựng cơ chế để các đối tác có thể biểu đạt sự quan tâm đến kết quả công việc mà họ là người được phục vụ.
  3. Cùng nhau xác định tầm nhìn cho tương lai, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn của trường và biến thành kế hoạch hành động của từng bộ phận, từng cá nhân, trên cơ sở đó phải xây dựng được các quy trình, thủ tục thực hiện các công việc theo mục tiêu chất lượng. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.
  4. Xây dựng các chỉ số chất lượng và bộ chuẩn (tối thiểu) cho các công việc cụ thể trong trường.
  5. Xác định các thông số chất lượng và yêu cầu bắt buộc về chất lượng cho mọi hoạt động trong trường (làm đúng những điều đã xây dựng với ý thức thoả mãn đối tác, “khách hàng”!).
  6. Định kì rà soát lại mục tiêu chất lượng và nội dung công việc cũng như các quy trình, thủ tục để cải tiến liên tục.
  7. Xây dựng cơ sở dữ liệu (bằng chứng) cho mỗi hoạt động trong trường, mọi công việc của từng cá nhân.
  8. Xây dựng cơ chế đối thoại giữa các bộ phận trong nhà trường, phá bỏ mọi rào cản, khi xuất hiện “mâu thuẫn” cần có sự bàn bạc, giải quyết.
  9. Có kế hoạch phát triển cho từng thành viên và thực thi một cách nghiêm túc những cam kết .
  10. Đổi mới, khuyến khích đổi mới, ghi chép và thảo luận về các kết quả đầu ra của công việc liên quan đến nhiều người.
  11. Lưu trữ dữ liệu về những thay đổi hoặc bất cập về điều kiện đảm bảo chất lượng.
  12. Xây dựng một chu trình cải tiến hàng năm cho toàn bộ các quá trình có trong tổ chức, đối với nhà trường:
  13. Lãnh đạo cam kết với mục tiêu chất lượng và quản lí sự hợp tác, công nhận và ủng hộ cải tiến vì mục tiêu chất lượng;
  14. Triển khai chức năng nhiệm vụ một cách chuyên nghiệp về chất lượng: Các hội đồng chất lượng, nhóm chất lượng, các vấn đề chuyên môn về chất lượng và chi phí chất lượng.

Tuy nhiên, văn hóa chất lượng không tự nhiên mà có, phải trải qua các giai đoạn xây dựng. Giai đoạn đầu mang tính “áp đặt” các chuẩn mực để tạo thói quen tuân thủ, giai đoạn này ngắn dài phụ thuộc đặc điểm của nhà trường và uy tín của đội ngũ lãnh đạo. Cùng với thời gian thói quen làm việc theo chuẩn mực và tuân thủ quy trình, thủ tục cho mục tiêu chất lượng sẽ được hình thành. Tiếp theo là, duy trì thói quen làm việc có chất lượng và tạo ý thức tự giác và cuối cùng khi đã có ý thức tự giác coi mục tiêu chất lượng là sự sống còn thì văn hóa chất lượng đã được hình thành.

  • Xây dựng bộ máy và cơ chế QLCL

Xây dựng mục tiêu và tổ chức huy động nguồn nhân lực, vật lực thực hiện mục tiêu chính là chức năng của bộ máy tổ chức. Trong hoạt động của nhà trường, đặc biệt là hoạt động của trường đại học, bộ máy tổ chức đóng vai trò hạt nhân của quá trình đào tạo. Một trường có bộ máy quản lý tốt sẽ là nhân tố quyết định tới chất lượng đào tạo, chất lượng nghiên cứu khoa học và quyết định tới chất lượng “đầu ra” và thương hiệu của trường. Ngược lại, bộ máy quản lý yêú kém sẽ dẫn tới sự lãng phí mọi nguồn lực, không hiệu quả, chất lượng đào tạo thấp. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Cơ chế hoạt động của hệ thống QLCLĐT tại Trường ĐHGD là các quy chế, quy định về bảo đảm chất lượng được xây dựng dựa trên những văn bản pháp quy của Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Đó là những nguyên tắc phối hợp hiệp đồng trong hoạt động đào tạo, những quy định chặt chẽ về chế độ thỉnh thị, báo cáo thường xuyên, giúp mọi thành viên trong Trường hiểu rõ chức trách, nhiệm vụ của mình, phải làm việc gì ? làm tới đâu ? chất lượng ra sao? giúp các cấp quản lý nắm chắc kết quả hoạt động của cấp dưới, kịp thời điều chỉnh quá trình quản lý đạt mục tiêu. Cụ thể, cơ chế hoạt động của bộ máy QLCLĐT là những quy định rõ ràng về chức trách, quyền hạn của mỗi chức danh trong bộ máy, về giáo dục – đào tạo, về nghiên cứu khoa học, về tổ chức kiểm tra, đánh giá, sử dụng cơ sở vật chất và tài chính, khen thưởng và xử phạt và những văn bản xác lập mối quan hệ, tổ chức phối hợp hiệp đồng giữa các thành tố trong quá trình vận hành bộ máy. Những văn bản, quy chế, quy định hướng theo quan điểm QLCLTT phải bảo đảm yêu cầu :

  • Giúp mọi thành viên trong hệ thống nhận thức đúng và hoàn thành tốt chức trách nhiệm vụ được phân công, tự kiểm tra, đánh giá và chịu trách nhiệm về chất lượng công việc của mình.
  • Việc quản lý chất lượng được thực hiện ở mọi khâu từ đầu vào, quá trình đào tạo cho tới đầu ra.
  • Mọi thành viên trong trường cùng tham gia quá trình quản lý chất lượng.
  • Việc quản lý chất lượng được thực hiện ở mọi thời điểm.
  • Thông tin phản hồi về chất lượng phải được phản ánh trung thực và kịp thời nhằm cải tiến chất lượng liên tục, không ngừng làm thoả mãn nhu cầu các đối tượng khách hàng.
  • Xây dựng kế hoạch chất lượng

Kế hoạch chất lượng có thể được coi là xương sống của quá trình quản lý chất lượng đào tạo, đặc biệt đối với các cơ sở giáo dục áp dụng quản lý chất lượng theo quan điểm QLCLTT. Xây dựng kế hoạch chất lượng chính là việc xác lập nhiệm vụ cần phải hoàn thành và hoàn thành như thế nào. Cụ thể là, nhằm xác định rõ mục tiêu chất lượng đào tạo của trường phải đạt được trong tương lai và những điều kiện thích hợp để đạt được mục tiêu ấy.

Những nguyên tắc trong xây dựng kế hoạch chất lượng :

  • Thu hút mọi thành viên của nhà trường tham gia vào quá trình quản lý.
  • Mọi thành viên phải cam kết và tự nguyện thực hiện những cam kết.
  • Xây dựng bộ công cụ phục vụ cho kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo.
  • Định kỳ kiểm tra, đánh giá mức độ đạt mục tiêu của tổ chức.
  • Coi trọng yếu tố con người và các biện pháp phòng ngừa trong hoạt động quản lý chất lượng.
  • Thường xuyên điều chỉnh, cải tiến chất lượng hướng tới thỏa mãn mọi nhu cầu của các đối tượng khách hàng.

Căn cứ vào mục đào tạo của Trường và định hướng chính sách chất lượng, cần xây dựng kế hoạch chất lượng cụ thể theo những nội dung sau:

  • Xây dựng kế hoạch chất lượng đào tạo Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Hoạt động đào tạo : cải tiến nâng cấp giáo trình, đổi mới nội dung chương trình cho phù hợp với đối tượng và mục tiêu đào tạo. Mục tiêu trong thời gian đào tạo 4 năm, sinh viên lĩnh hội được khối lượng kiến thức nhiều nhất để hình thành những kỹ năng , kỹ xảo, nhân cách nghề nghiệp, nhân cách nhà giáo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực.

Xây dựng đội ngũ : xây dựng lộ trình cụ thể để tăng cường số lượng cũng như chất lượng đội ngũ giảng viên về trình độ, về năng lực chuyên môn thông qua việc tổ chức tuyển đầu vào, công tác đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước.

Nâng cao chất lượng quản lý sinh viên : xây dựng những chính sách, tiêu chí, cách thức tuyển sinh đầu vào phải phù hợp với nhu cầu về số lượng và chất lượng của các đơn vị. Tổ chức giáo dục và rèn luyện sinh viên phải định hướng chất lượng đầu ra. Sau 4 năm học, sinh viên phải có đầy đủ các tiêu chí của một cử nhân sư phạm ( Chuẩn đầu ra).

Bảo đảm cơ sở vật chất : xây dựng lộ trình cung cấp những điều kiện vật chất tốt nhất hỗ trợ giảng viên và sinh viên nâng cao chất lượng đào tạo như phòng làm việc, giảng đường, thiết bị dạy học, thư viện, tài liệu, giáo trình. Từng bước cải thiện những điều kiện sinh hoạt co sinh viên như : ký túc xá, bãi tập,câu lạc bộ…

Để có chất lượng đầu ra đạt mục tiêu yêu cầu, kế hoạch chất lượng đào tạo cần được xây dựng từ chi tiết đến tổng thể như : Giảng viên xây dựng kế hoạch chất lượng cho từng bài giảng. Tổ bộ môn xây dựng kế hoạch chất lượng cho môn học và Trường xây dựng kế hoạch chất lượng cho ngành đào tạo, Trường xây dựng kế hoạch chất lượng đào tạo tổng thể, kế hoạch kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các kế hoạch chất lượng đào tạo của từng lĩnh vực, từng thành viên, từng giai đoạn, kế hoạch sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, tổ chức cải tiến và điều chỉnh trong quá trình đào tạo.

  • Xây dựng kế hoạch chất lượng thỏa mãn nhu cầu khách hàng

Thỏa mãn nhu cầu khách hàng là đặc trưng cơ bản của quản lý chất lượng theo quan điểm QLCLTT, là nhiệm vụ xuyên suốt quá trình quản lý. Xin đề xuất một số nội dung chính:

  • Giảng viên xây dựng phiếu thăm dò ý kiến sinh viên sau mỗi bài giảng hoặc sau khi kết thức chương trình nhằm điều chỉnh kịp thời phương pháp, nội dung, tiến độ bài giảng phù hợp mức độ lĩnh hội kiến thức của sinh viên.
  • Cấp tổ bộ môn xây dựng phiếu hỏi cho mỗi học phần, môn học tìm hiếu những đánh giá của sinh viên về nội dung chương trình, môn học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học.
  • Cấp Trường định kỳ xây dựng phiếu hỏi sau mỗi học kỳ, năm học nhằm tìm hiểu những nhu cầu của sinh viên về tất cả các hoạt động đào tạo. Trên cơ sở đó, điều chỉnh quá trình quản lý đào tạo của môn học, ngành học.
  • Cấp trường xây dựng phiếu hỏi cho năm học, khóa học, tổ chức đối thoại trực tiếp và hòm thư góp ý, nội dung tập trung vào hoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học, đối tượng hỏi là sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý. Định kỳ nhà trường tổ chức thăm dò ý kiến sinh viên tốt nghiệp, các đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp bằng phiếu thăm dò và hội nghị khách hàng. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Xây dựng bộ công cụ quản lý chất lượng

  • Xây dựng chức trách, nhiệm vụ của các thành viên trong bộ máy

Việc xây dựng chức trách nhiệm vụ cho mỗi chức danh hay tổ chức trong Trường nằm trong quy trình xây dựng cơ chế quản lý, đó là những quy chế, quy định mang tính nguyên tắc nhằm tác động vào các thành viên của tổ chức để họ làm đúng và tốt hơn chức trách nhiệm vụ của mình.

Nhằm xây dựng hệ thống văn bản quản lý chất lượng hiệu quả theo quan điểm QLCLTT, căn cứ vào Luật giáo dục năm 2021, Điều lệ trường đại học….

  • Xây dựng hệ thống tiêu chí chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo

Khi xây dựng mô hình QLCLĐT theo quan điểm QLCLTT, việc thiết kế các tiêu chí nhằm chuẩn hóa kiến thức đạt được của sinh viên là rất cần thiết. Đây sẽ là cơ sở để Nhà trường tự đánh giá, đo lường và xem xét việc đào tạo đã đạt mục tiêu đề ra hay chưa. Trên cơ sở đó cải tiến, điều chỉnh quá trình quản lý chất lượng và chuẩn bị từng bước tham gia vào quy trình kiểm định chất lượng của các trường đại học. Những tiêu chí đo chất lượng “ đầu vào ” có thể đề cập như : tuổi tác, sức khỏe, lý lịch gia đình, lý lịch nhân thân, trình độ, kiến thức và phẩm chất đạo đức…Tiêu chí đo chất lượng “quá trình đào tạo” như : chất lượng dạy và học, chất lượng quản lý, sự gia tăng về kiến thức, quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên…Tiêu chí đo chất lượng “ đầu ra ” như : nhân cách sinh viên tốt nghiệp, kiến thức thu được, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực giao tiếp, năng lực tư duy, thái độ nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức và khả năng thích nghi với môi trường công tác.

Hệ thống tiêu chí chuẩn là bộ công cụ đảm bảo chất lượng theo mục tiêu, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Đồng thời đây sẽ là bộ công cụ để đo mức độ hoàn thành công việc của mọi thành viên từ giảng viên đến Tổ trưởng bộ môn, Chủ nhiệm Khoa, Hiệu trưởng nhà trường. Hệ thống tiêu chí chuẩn phải đo và lượng hóa được chất lượng đào tạo của Nhà trường và biểu thị đựợc mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống, bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động đào tạo, hướng tới chất lượng của từng cá nhân, từng nhóm và chất lượng tổng thể chung của toàn Trường.

Bộ tiêu chí bao gồm các chỉ số định lượng hoặc định tính tương ứng với các lĩnh vực của quá trình đào tạo, giúp cơ quan chuyên môn (tổ chức đánh giá ngoài) đo được chất lượng đào tạo cùng những điều kiện bảo đảm của Nhà trường, trên cơ sở đó công nhận và xếp loại Trường có đạt chuẩn hay không. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Xây dựng quy trình cải tiến chất lượng

Cải tiến chất lượng là hoạt động trọng yếu của quản lý chất lượng theo quan điểm QLCLTT. Trong quá trình quản lý chất lượng, hoạt động cải tiến luôn cần được coi trọng và được tiến hành ngay sau khâu đánh giá, thông tin phản hồi được tiến hành ở mọi khâu, mọi lúc, mọi nơi. Quá trình cải tiến là quá trình tìm tòi, khám phá để khắc phục những tồn tại, ngăn chặn những xu hướng không phù hợp, giảm chi phí, tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu chất lượng tăng không ngừng của khách hàng. Khi áp dụng quan điểm QLCLTT vào quản lý chất lượng, Hội đồng bảo đảm chất lượng của nhà trường có nhiệm vụ:

Quán triệt cho mọi thành viên của Trường hiểu rõ về vai trò và ý nghĩa của cải tiến chất lượng khi triển khai mô hình quản lý theo quan điểm QLCLTT. Mỗi người cần nhận thức được việc cải tiến chất lượng là nguyên nhân để mỗi cá nhân, tập thể tồn tại và phát triển, từ đó tự xác định nhiệm vụ cải tiến cho riêng mình.

  • Vận động, khuyến khích mọi thành viên tích cực khám phá những yếu kém, không hiệu quả trong bảo đảm chất lượng, phát hiện những vấn đề cần khắc phục trong quản lý chất lượng.
  • Xác định những lĩnh vực trọng điểm cần ưu tiên cải tiến.
  • Thu thập, tổng hợp, phân tích những thông tin liên quan tới lĩnh vực cần cải tiến ( nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, điều kiện bảo đảm…).
  • Xây dựng các giải pháp cải tiến, định thời gian và mục tiêu cải tiến.
  • Phân cấp cải tiến chất lượng từ giảng viên, cấp tổ bộ môn, khoa , trường.
  • Triến khai các hoạt động cải tiến, tổ chức đánh giá sau cải tiến.
  • Tổ chức sơ, tổng kết đánh giá kết quả công tác cải tiến, rút kinh nghiệm và tiếp tục điều chỉnh quá trình cải tiến.

Thỏa mãn nhu cầu các đối tượng khách hàng luôn là mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý chất lượng theo quan điểm QLCLTT. Do vậy công tác cải tiến luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý đạt mục tiêu. Căn cứ vào kết quả năm học, kết quả điều tra, khảo sát các đối tượng trong trường, các đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp, Nhà trường tiếp tục điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình, cải tiến phương pháp dạy và học, phương pháp tổ chức kiểm tra đánh giá, đầu tư trang bị phương tiện và thiết bị dạy học, nâng cao chất lượng đào tạo, từng bước đáp ứng tốt nhất nhu cầu xã hội.

3.3.2. Nhóm giải pháp quản lý chất lượng đầu vào Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Quản lý chất lượng đào tạo theo chuẩn đầu ra

Mục tiêu chất lượng của Trường được phản ánh bằng những đặc trưng cơ bản về phẩm chất, đạo đức, năng lực của sinh viên phải đạt tới khi kết thúc quá trình đào tạo và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao khi tốt nghiệp ra trường. Mục tiêu chất lượng đào tạo chi phối tất cả các hoạt động đào tạo của Trường, quy tụ toàn bộ nguồn lực bộ máy sư phạm nhằm đạt chất lượng cao nhất trong hoạt động giáo dục – đào tạo.

Trên cơ sở mục tiêu đào tạo chung của Hệ thống các trường Sư phạm, Trường ĐHGD cần xây dựng mục tiêu đào tạo cụ thể từng ngành, mục tiêu của từng môn học theo tiếp cận chuẩn đầu ra

  • a – Mục tiêu chiến lược :

Trường ĐH Giáo dục – ĐHQGHN phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu Trường học theo định hướng đại học nghiên cứu – nhằm đào tạo đội ngũ giảng viên các trường đại học và cao đẳng, THPT chuyên, cán bộ quản lí giáo dục và cán bộ nghiên cứu Khoa học giáo dục, trên cơ sở liên kết với các chuyên gia, cơ sở giáo dục trong và ngoài nước, đạt chuẩn khu vực, trong đó có bộ phận đạt chuẩn quốc tế.

  • b – Mục tiêu cụ thể:

Ngay từ khi thành lập, Trường đã xác định cho mình sứ mệnh trở thành cơ sở giáo dục đại học hàng đầu về đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, giáo viên cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, dạy nghề và trung học phổ thông; cán bộ giáo dục và nghiên cứu về khoa học giáo dục; cán bộ quản lí giáo dục, đồng thời triển khai nghiên cứu, phổ biến khoa học giáo dục trên cơ sở liên kết, hợp tác với các chuyên gia, cơ sở giáo dục trong và ngoài nước, tiến tới đạt chuẩn khu vực và chuẩn quốc tế.

  • Quản lý nội dung chương trình
  • Mục tiêu:

Quản lý xây dựng chương trình môn học thực chất là sự chỉ đạo của các cấp trong việc định hướng xây dựng chương trình, quản lý việc triển khai thiết kế xây dựng chương trình môn học. Quản lý xây dựng chương trình môn học phải bắt đầu từ giai đoạn phân tích nhu cầu người học đến giai đoạn hoàn thiện và đánh giá thẩm định chương trình. Để có được một chương trình môn học thực sự phù hợp với phương thức đào tạo, nhu cầu của người học và nhu cầu xã hội, thì việc chỉ đạo, quản lý các khâu trong quá trình xây dựng chương trình phải tuân thủ theo các nguyên tắc xây dựng chương trình đã đề ra.

  • Nội dung quản lý: Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Quản lý thiết kế xây dựng chương trình môn học phải được thực hiện trong suốt các khâu của quá trình bắt đầu từ việc khảo sát tình hình và phân tích nhu cầu. Mối quan hệ giữa các khâu của quá trình là chặt chẽ, khâu trước thực hiện không tốt sẽ ảnh hưởng đến khâu tiếp theo. Như vậy, quản lý quá trình xây dựng chương trình gồm các nội dung sau:

  • Quản lý việc khảo sát tình hình và phân tích nhu cầu
  • Việc nghiên cứu bối cảnh sẽ giúp những người tham gia xây dựng chương trình tìm ra cách để làm cho chương trình dự định xây dựng khác biệt với những chương trình hiện đang tồn tại. Việc phân tích nhu cầu người học giúp cho việc lựa chọn nội dung và các hoạt động dạy học sát với nhu cầu của người học.
  • Quản lý việc xác định mục đích và mục tiêu cụ thể của chương trình.
  • Việc xác định mục đích và mục tiêu cụ thể của chương trình dựa trên kết quả khảo sát tình hình và phân tích nhu cầu người học
  • Quản lý các công việc chuẩn bị tổ chức xây dựng chương trình
  • Chỉ đạo việc thành lập nhóm chuyên gia xây dựng chương trình
  • Chuẩn bị đề án xây dựng chương trình,
  • Chuẩn bị thiết kế chương trình,
  • Lập kế hoạch triển khai các nội dung chương trình,
  • Quản lý việc lựa chọn nội dung cho chương trình, cũng như tổ chức các hoạt động thực hiện nội dung đã lựa chọn đưa vào chương trình.
  • Quản lý việc lựa chọn nội dung cho chương trình cần tuân theo các tiêu chí như: mức độ quan trọng, tính giá trị pháp lý, tính hấp dẫn, tính thiết thực, tính khả
  • Quản lý việc đánh giá thẩm định chương trình.

Việc đánh giá nhằm xác định chương trình có phù hợp với mục đích, mục tiêu đã đề ra hay không, đồng thời xem xét tính khả thi của chương trình. Trên cơ sở đó, thủ trưởng đơn vị đào tạo ra quyết định ban hành chương trình. Quản lý đánh giá thẩm định yêu cầu phải quản lý được các khâu chuẩn bị lựa chọn thành phần cho hội đồng, ra quyết định thành lập, tổ chức hội đồng, xử lý kết quả đánh giá của hội đồng, đưa ra quyết định về chương trình.

  • Phương thức quản lý xây dựng chương trình

Quản lý xây dựng chương trình nhằm đảm bảo tính pháp lý và giá trị của chương trình, do vậy cần tuân thủ các văn bản pháp qui hiện hành về xây dựng chương trình của các cấp quản lý, dựa trên cơ sở chuẩn đầu ra của ngành đào tạo và của môn học.

  1. Quản lý đánh giá chương trình môn học
  2. Mục tiêu quản lý đánh giá chương trình

Quản lý đánh giá chương trình môn học nhằm mục đích cải tiến, hoàn thiện và cập nhật chương trình định kỳ để phù hợp với nhu cầu của người học và của xã hội. Đánh giá chương trình là đánh giá toàn diện giá trị của một chương trình dựa vào minh chứng của sự phát triển chương trình hướng tới việc đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Nội dung quản lý Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Quản lý công việc chuẩn bị cho đánh giá: xác định mục đích đánh giá, đối tượng đánh giá, phạm vi và qui mô triển khai đánh giá,
  • Quản lý công việc tổ chức triển khai đánh giá: thiết kế phiếu khảo sát, phiếu phỏng vấn (nếu có), tổ chức thu nhận thông tin từ các nguồn khác nhau, xử lý phiếu khảo sát, phân tích số liệu khảo sát, chuẩn bị báo cáo đánh giá.
  • Quản lý kết quả đánh giá. Thủ trưởng đơn vị quyết định về việc công bố kết quả đánh giá.

Phương thức quản lý

  • Quản lý đánh giá chương trình môn học dựa theo tiêu chí đánh giá do trường đề xuất.
  • Dựa trên cơ sở văn bản chuẩn đầu ra của ngành đào tạo và của môn học.
  • Việc đánh giá các chương trình môn học ở các trường đại học được thực hiện hằng năm với mục đích rà soát lại các chương trình môn học đang hiện hành, bổ sung môn học mới. Những môn học không được cập nhật định kỳ, không còn phù hợp với mục tiêu đào tạo của ngành học sẽ được thay thế bằng môn học khác. Thực tế, hằng năm các trường đại học xuất bản các cuốn Catalog, Bulletin giới thiệu các chương trình của trường cùng với sự bổ sung các ngành đào tạo mới, các môn học mới của ngành.

Quản lý đầu vào sinh viên

  • Quản lý công tác tuyển sinh

Nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyển sinh đầu vào, Nhà trường cần có những biện pháp cụ thể :

  • Tổ chức tuyên truyền về trường : Cần cung cấp cho phụ huynh và học sinh những thông tin về thời gian đào tạo, nội dung, mục tiêu đào tạo đào tạo, nghĩa vụ và trách nhiệm của sinh viên, những chế độ, quyền lợi sinh viên được hưởng trong khi học tập cũng như sau khi tốt nghiệp…
  • Thực hiện nghiêm quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội trong tổ chức thi, chấm thi, quản lý kết quả và công tác xét tuyển.
  • Xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho sinh viên

Xác định cho mỗi sinh viên khi vào trường động cơ học tập đúng đắn, có ý thức học tập cao, vượt qua những rào cản trong quá trình học tập và rèn luyện, đây là việc làm quan trọng trong quản lý sinh viên. Những nội dung công việc cụ thể :

Tổ chức tốt công tác giáo dục nhập học cho sinh viên: Giới thiệu Trường, về tổ chức biên chế, về nhiệm vụ, cơ sở vật chất, những thành tích, truyền thống của Nhà trường. Giới thiệu nội dung chương trình đào tạo của khóa học, quy định của Bộ GD&ĐT, của Đại học Quốc gia Hà Nội, quy định của Trường về giáo dục đào tạo giúp các em hình dung con đường đạt mục tiêu học tập và rèn luyện trong quá trình đào tạo 4 năm tại trường.

Giới thiệu về nghề nghiệp, chỗ đứng, vị trí xã hội trong tương lai, những thuận lợi và khó khăn để sinh viên xác định tốt động cơ trong học tập. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Quản lý đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý

Căn cứ vào những chủ trương của Đảng, Chính phủ xây dựng đội ngũ cán bộ giảng viên trong thời kỳ mới và căn cứ vào thực trạng đội ngũ giảng viên của Trường, luận án đề xuất một số nội dung liên quan đến việc hoàn thiện và phát triển đội ngũ phù hợp với mô hình quản lý theo quan điểm QLCLTT.

  • Tổ chức dự báo phát triển đội ngũ

Trường ĐHGD là một đơn vị trong tổ chức biên chế của ĐHQGHN, tổ chức biên chế đội ngũ giảng viên luôn tuân thủ biên chế theo Điều lệ Trường Đại học và Qui định của ĐHQGHN. Khi tiến hành công tác dự báo xây dựng đội ngũ cần căn cứ vào những yêu cầu sau :

  • Nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác Sư phạm công tác giá dục chất lượng cao.
  • Nhu cầu giáo viên chất lượng cao cho các Sở Giáo dục – Đào tạo các Trường THPT chuyên.
  • Kết quả khảo sát thực tế và nhu cầu sử dụng trong tương lai về số của các đơn vị.

Trên cơ sở nhu cầu nguồn nhân lực, cần cung cấp tổ chức dự báo số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên cho từng giai đoạn, đến năm 2026 và 2030.

  • Giải pháp về cơ cấu đội ngũ

Cơ cấu đội ngũ giảng viên cần xây dựng một cách khoa học, phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị, đáp ứng mục tiêu, nhu cầu. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Những nội dung chính về cơ cấu đội ngũ cần quan tâm:

Cơ cấu về độ tuổi: Thông thường giảng viên có nhiều năm tuổi nghề, có kinh nghiệm giảng dạy thì tuổi đời cũng cao. Mặt khác tuổi phục vụ tại ngũ của giảng viên trong các trường nói chung và ĐHGD nói riêng đều phải thực hiện theo Luật. Do vậy, cần phải có giải pháp cho lứa tuổi, như kéo dài tuổi phục vụ đối với những giảng viên có bằng cấp phù hợp, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. Việc quy hoạch độ tuổi cũng cần tính tới tính kế thừa, bảo đảm có nhiều lứa tuổi khác nhau và tính kế tiếp giữa các thế hệ.

Cơ cấu về giới tính : Đặc thù môi trường Sư phạm, số giảng viên nữ của Trường hiện chiếm tỷ lệ cao 60%. Do vậy, việc tăng cường tỷ lệ nam giới là giảng viên trong những năm tới là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng rèn luyện sinh viên. Biện pháp giải quyết bằng việc tăng cường bổ sung số sinh viên nam giới tốt nghiệp giỏi giữ lại làm giảng.

Cơ cấu về trình độ: Tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học, đặc biệt là trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư chưa đáp ứng được với nhiệm vụ một cơ sở đào tạo đại học và sau đại học. Chính vì vậy, cần có những biện pháp cấp bách nhằm khuyến khích động viên số giảng viên trẻ có trình độ đăng ký đi học nghiên cứu sinh trong và ngoài nước. Nhà trường cũng cần có những chính sách cụ thể như khuyến khích lương, khen thưởng đối với những giảng viên có bằng cấp và học vị.

  • Giải pháp về số lượng và chất lượng

Nhằm tăng cường chất lượng đội ngũ, Nhà trường, cần thành lập Hội đồng tuyển chọn giảng viên, xây dựng những tiêu chí cụ thể về phẩm chất đạo đức, sức khỏe, lý lịch gia đình, lý lịch nhân thân, năng lực sư phạm, năng lực ngoại ngữ cùng với những quy định cụ thể về quy trình tuyển chọn… Bảo đảm tuyển chọn được đội ngũ giảng viên có chất lượng cao, thực sự là những người có đức, có tài, yêu nghề, từng bước thực hiện việc chuẩn hóa đội ngũ.

Căn cứ mục tiêu đào tạo của Nhà trường cần xây dựng đội ngũ giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ năng lực chuyên môn vững, có kiến thức nghiệp vụ, có năng lực, quản lý, tổ chức chỉ huy điều hành sinh viên, giúp sinh viên hoàn thiện nhân cách. Giảng viên phải được học tập nâng cao trình độ sư phạm và ngoại ngữ bằng các lớp bồi dưỡng tại chỗ về sư phạm và ngôn ngữ vào dịp nghỉ hè, hoặc tổ chức mời các chuyên gia về sư phạm, ngôn ngữ, quản lý giáo dục trong và ngoài nước tham gia giảng dạy. Mặt khác khai thác các nguồn đào tạo nước ngoài của Bộ GD&ĐT và các tổ chức quốc tế nhằm tăng cường gửi giảng viên đi tham gia tập huấn và học tập tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sư phạm, năng lực ngoại ngữ và năng lực nghiên cứu Trường học. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Tổ chức thi và bình xét giảng viên giỏi

Thi và bình xét giảng viên giỏi hàng năm là hoạt động nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức của nhà giáo, phát huy tiềm năng của mỗi con người và của cả tập thể. Cần có những biện pháp động viên những giảng viên có trình độ năng lực chuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, có số giờ giảng vượt chỉ tiêu, có công trình nghiên cứu khoa học, tham gia hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học hoặc khóa luận tốt nghiệp đăng ký thi giảng viên giỏi cấp ở Khoa và cấp Trường. Thành lập hội đồng chấm thi có năng lực, công tâm xem xét trên các lĩnh vực của giảng viên dự thi như : khâu chuẩn bị bài, tổ chức giảng dạy ; năng lực sư phạm; phong cách sư phạm; khả năng sử dụng phương tiện, hiệu quả giờ giảng và nhận xét, đánh giá của sinh viên.

  • Quản lý các điều kiện bảo đảm

Đặc thù sư phạm, mô hình đào tạo a+b căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế của chương 2 về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm, Trường cần tổ chức lại việc trang bị cơ sở vật chất, có cơ chế phối hợp để huy động những cơ sở vật chất dùng chung.

Hệ thống thiết bị dạy học cần đựợc nâng cấp hoặc trang bị mới cho phù hợp với mục tiêu và phương pháp đào tạo. Cần tăng cường phòng thí nghiệm và thực hành cho sinh viên sư phạm. Cán bộ quản lý, giảng viên phải là người tổ chức, hướng dẫn khai thác thiết bị dạy học và phương tiện nghe nhìn một cách hiệu quả trong quá trình đào tạo.

Cần có cơ sở dữ liệu dùng chung của các đơn vị tham gia đào tạo của nhân sư phạm, dữ liệu phải đồng bộ và đầy đủ.

3.3.3. Nhóm giải pháp quản lý chất lượng quá trình dào tạo Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Quản lý hoạt động dạy học của giảng viên

Xây dựng các biện pháp quản lý quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ cần tham khảo và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm của nước ngoài để phát huy thế mạnh phương thức đào tạo theo tín chỉ tại Việt Nam. Để làm được công việc này, cần có những chính sách đồng bộ ở các cấp, các ngành để tạo sự đồng thuận, thống nhất cao, tránh hiện tượng không nhất quán, gây khó cho người quản lý, người dạy và cả người học.

Vấn đề cốt lõi của học chế tín chỉ là người dạy phải thay đổi cách dạy; người học phải thay đổi cách học và nhà trường phải thay đổi cách quản lý. Sau khi nghiên cứu khung lý luận về quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ, phân tích, đánh giá thực trạng dạy và học ở Trường Đại học Giáo dục luận án đề xuất các biện pháp quản lý quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ theo hướng tiếp cận một cách bao quát các yếu tố liên quan tới quá trình dạy – học nhằm đảm bảo các điều kiện để triển khai đào tạo theo tín chỉ.

Các biện pháp được xây dựng bao gồm:

  • Xây dựng “Văn hóa tín chỉ” trong quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ
  • Xác định các điều kiện triển khai quá trình dạy – học theo tín chỉ
  • Chỉ đạo quản lý các thành tố của QTDH theo học chế tín chỉ

Xây dựng “Văn hóa tín chỉ” trong quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ

  • Mục đích và ý nghĩa của biện pháp

Biện pháp này nhằm xây dựng “Văn hóa tín chỉ” nói chung và nâng cao nhận thức, kỹ năng dạy – học phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ nói riêng. Mọi thành viên tham gia quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ cần phải có nhận thức đầy đủ về các hoạt động của mô hình đào tạo này.

Nhận thức việc áp dụng học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần phải được xây dựng trước hết ở tầm vĩ mô. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo bậc đại học, giáo dục Việt Nam cần xác định vai trò, sứ mạng của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay để từ đó có những quan niệm, cách hiểu rõ ràng về học chế tín chỉ.

Ở tầm vĩ mô, xét về vai trò và sứ mạng của trường ĐH, chúng ta cần phải nhận thức rằng, trường đại học trong giai đoạn hiện nay đóng vai trò chuyển giao các giá trị xã hội tới sinh viên thông qua quá trình chiếm lĩnh các kiến thức, kỹ năng của người học. Do vậy, học chế tín chỉ hướng tới từng sinh viên thông qua hệ thống phân phối chương trình giữa giáo dục tổng quát và giáo dục chuyên ngành, đẩy mạnh tính chất tự chọn, tự định hướng của người học.

Quan niệm này sẽ có ảnh hưởng quyết định đến nhận thức về học chế tín chỉ. Chuyển đổi sang quá trình dạy – học theo tín chỉ đòi hỏi phải có một sự thay đổi đồng bộ các thành tố của quá trình dạy – học (từ chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học… đến khâu đánh giá). Trong đó, đặc biệt là sự thay đổi về phương pháp dạy và phương pháp học.

Để hình thành văn hóa học tập tín chỉ trong một cơ sở giáo dục đại học đòi hỏi phải có thời gian lâu dài. Nhưng trước hết, cần phải có các biện pháp tích cực để thay đổi nhận thức và hình thành “văn hóa tín chỉ” của các chủ thể tham gia trực tiếp QTDH này: đó là cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Phần lớn các nhà khoa học giáo dục thống nhất nhau ở quan điểm cho rằng: Cả người dạy và người học đều phải thay đổi nhận thức thì việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ mới có thể thành công. Vấn đề cốt lõi của việc thay đổi nhận thức này là người dạy phải thay đổi cách dạy, người học phải thay đổi cách học và nhà trường phải thay đổi cách quản lý.

  • Nội dung biện pháp xây dựng “văn hóa tín chỉ”

Sau khi đã xác định nhận thức đúng đắn về mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ nói chung và cụ thể là quá QTDH theo mô hình này, nhà trường cần phải tiến hành bồi dưỡng nhận thức cho toàn thể các cán bộ, giảng viên và sinh viên để chuẩn bị tốt cho quá trình triển khai dạy – học theo tín chỉ. Cần tạo ra được sự đồng thuận sâu sắc giữa các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và toàn thể đội ngũ cán bộ, GV, SV trong nhà trường trong việc quyết tâm chuyển đổi phương thức đào tạo.

Trước hết, lãnh đạo nhà trường cần có sự thống nhất cao về nhận thức và đưa ra lộ trình thực hiện cụ thể kèm theo các chỉ đạo, nghị quyết để thực hiện lộ trình đó.

Tiếp đó, các Khoa chuyên môn và các phòng ban chức năng lên kế hoạch và chương trình hành động cụ thể với đơn vị mình để triển khai các nghị quyết của Đảng uỷ và chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường.

Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, Lớp học là những tổ chức đắc lực giúp cho nhà trường tuyên truyền, phổ biến cụ thể về phương thức đào tạo theo tín chỉ tới từng bạn sinh viên để toàn thể tập thể sinh viên nhà trường hưởng ứng và thực hiện tốt lộ trình chuyển đổi của Trường mình.

Khi triển khai quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ, cần huy động tất cả các Khoa, các Bộ môn tham gia công việc với sự phân công nhiệm vụ từ cấp trường, cấp khoa tới cấp bộ môn để tránh tình trạng chồng chéo công việc hoặc chỉ có một vài bộ phận thực hiện. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Sự nhất trí ở tất cả các cấp được thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng ủy, các văn bản chỉ đạo của BGH, các văn bản hướng dẫn triển khai của các Phòng, Khoa… Tiếp đó, nhà trường phải xây dựng một hệ thống thống nhất các văn bản pháp qui, qui chế, các văn bản hướng dẫn triển khai các yếu tố của quá trình dạy – học theo tín chỉ.

Tổ chức các lớp tập huấn cho giảng viên để nâng cao nhận thức rõ về vai trò, mục đích, nguyên tắc của việc đổi mới quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ, từ đó vận dụng tích cực và hiệu quả xu thế đó vào các công việc của mình. Giảng viên phải nắm vững các qui định mới trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đó là kim chỉ nam trong quá trình thực hiện, nhằm đảm bảo tính pháp lý trong đào tạo, tính khách quan trong đánh giá sinh viên và chủ động trong các hoạt động chuyên môn.

Đối với sinh Viên: Để bồi dưỡng nhận thức học tập theo tín chỉ cho sinh viên, bên cạnh việc tuyên truyền, quảng bá về phương thức đào tạo mới này, nhà trường cần trang bị cho họ những kỹ năng học tập cũng như kỹ năng sống cần thiết. Những bài học về: Làm thế nào để quản lý thời gian học tập một cách hiệu quả? Cách thiết lập các mục đích, mục tiêu và các bước tiến hành để đạt tới đích? luôn là những điều sinh viên cần. Qua đó, sinh viên xác định đúng đắn động cơ, thái độ học tập.

Ngoài các bài giảng về chuyên môn, những bài học về phương pháp học tập cần được đưa vào chương trình chính thống, bài bản nhất là trong giai đoạn chuyển đổi này nhằm thay đổi tư duy, nhận thức cho cả một thế hệ.

Tuổi trẻ Việt Nam với truyền thống năng động, sáng tạo, sẽ có khả năng thích ứng nhanh nhạy với môi trường, phương pháp học tập mới. Thực trạng về sức ỳ của sinh viên như đã phân tích ở chương 2 không thể kết luận rằng sinh viên Việt Nam không có nhận thức đúng đắn và khả năng thích ứng với quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ mà phải nói rằng, chúng ta chưa khai thác và phát huy hết tiềm năng, sức mạnh của họ.

  • Cách thức triển khai giải pháp

Tăng cường tập huấn, huấn luyện cho tất cả các thành viên tham gia quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ.

Đối với cán bộ quản lý cấp Trường , cấp bộ môn:

  • Nắm chắc các đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ nói chung và quá trình dạy – học theo các yêu cầu của phương thức đào tạo này.
  • Nắm vững các đặc điểm dạy và học của các đối tượng tham gia quá trình dạy học để chỉ đạo triển khai cho đúng.

Đối với đội ngũ giảng viên : Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Nắm vững các yêu cầu và cách thức thực hiện hoạt động dạy và kiểm tra – đánh giá phù hợp với quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ.
  • Có kỹ năng triển khai đúng các yêu cầu của quá trình dạy – học này.

Đối với đội ngũ sinh viên :

  • Nắm vững các yêu cầu và cách thức thực hiện hoạt động dạy và kiểm tra – đánh giá phù hợp với quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ.Biết cách học phù hợp với yêu cầu của các hình thức dạy học trong học chế này.

Điều kiện để giải pháp khả thi

  • Tập hợp đầy đủ các tư liệu và biên soạn tài liệu hướng dẫn cụ thể.
  • Kế hoạch bồi dưỡng nhận thức được hoạch định rõ ràng, cụ thể và thực hiện thường xuyên, liên tục.
  • Đánh giá, điều chỉnh kết quả « Xây dựng văn hóa tín chỉ » cho từng năm học, từng giai đoạn một cách quyết liệt và áp dụng các hình thức khen thưởng, động viên đối với những thành tích cũng như có chế tài xử lý nghiêm đối với các nhiệm vụ chưa hoàn thành.

Xác định các diều kiện triển khai quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ

Sau khi đã có nhận thức đầy đủ về quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ, để chuẩn bị cho quá trình triển khai phương thức dạy – học này, nhà trường cần nghiên cứu các điều kiện triển khai để từ đó xây dựng lộ trình thực hiện quá trình chuyển đổi từ học chế niên chế sang học chế tín chỉ mang tính khả thi và có hiệu quả cao.

Các điều kiện để triển khai quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ

  • Xây dựng được mô hình đào tạo riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, tương thích với cơ cấu và trình độ của hệ thống GDĐH Việt Nam
  • Nhận thức đầy đủ về đào tạo theo học chế tín chỉ ở bậc đại học
  • Có hệ thống công cụ quản lý rõ ràng và đầy đủ về đào tạo theo học chế tín chỉ

Hệ thống công cụ này là toàn bộ các văn bản pháp quy, tài liệu hướng dẫn trong nhà trường. Đối với cán bộ quản lý và giảng viên, hệ thống tài liệu này bao gồm: Các quy chế đào tạo; Các quy định chung về đào tạo theo tín chỉ; Quy định về tổ chức quản lý đào tạo; Quy định về tổ chức quản lý quá trình dạy – học và kiểm tra đánh giá; Quy định về quản lý sinh viên; Quy định về quản lý cán bộ; Quy định về tài chính  Đối với sinh viên, họ được cung cấp đầy đủ các văn bản đào tạo theo tín chỉ bao gồm: Sổ tay sinh viên; Cẩm nang học tập; Đề cương môn học… Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Có hệ thống môn học đủ lớn và công khai hoá chương trình đào tạo dẫn tới các văn bằng với các điều kiện cụ thể.

Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ phải có tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ quy định mà một sinh viên phải tích luỹ để hoàn thành chương trình đó vì chương trình đào tạo có nhiều môn học cho sinh viên lựa chọn. Các môn học trong chương trình phải đảm bảo tổ chức dạy – học được. Các chương trình này cần phải linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên lựa chọn, bố trí kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện và khả năng của mỗi người.

  • Đổi mới phương pháp dạy và học

Việc lựa chọn phương pháp dạy – học phải phù hợp với mục tiêu bài học và bám sát nội hàm của khái niệm tín chỉ. Đổi mới phương pháp dạy và học được xem là một điều kiện mang tính đột phá trong quá trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ. Phương pháp dạy và học theo học chế tín chỉ được tiến hành theo tiêu chí 3C: Nội dung bao quát là dạy Cách học; phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính Chủ động của người học; biện pháp cần khai thác triệt để là Công nghệ thông tin và truyền thông mới.

  • Đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất cần thiết và phát triển hệ thống học liệu

Quá trình dạy – học theo tín chỉ chỉ có thể phát huy hiệu quả cao khi nhà trường đảm bảo các điều kiện cở sở vật chất cần thiết. Số lượng và chất lượng các phòng học, giảng đường cần tăng cường để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của sinh viên. Đặc biệt cần có một hệ thống thư viện hiện đại với nguồn học liệu phong phú.

  • Đội ngũ cán bộ, giảng viên giỏi chuyên môn, nghiệp vụ và có kiến thức về quy trình đào tạo nói chung, dạy học nói riêng theo tín chỉ Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Đào tạo theo học chế tín chỉ được triển khai dựa trên sức mạnh tổng hợp của toàn thể đội ngũ cán bộ ở một cơ sở đào tạo. Đội ngũ này phải hiểu đúng và đầy đủ về bản chất của quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ. Họ là những người giỏi về chuyên môn và tinh thông về nghiệp vụ. Đội ngũ đó gồm:

  • Cán bộ quản lý, điều hành: Được tập huấn nghiệp vụ vững vàng
  • Giảng viên: Nhà trường và các Trường có đủ số lượng giảng viên dạy các môn học theo chương trình, kế hoạch năm học. Giảng viên phải dạy được nhiều học phần và một phần được nhiều giảng viên dạy.
  • Trợ giảng: Có vai trò giúp sinh viên trong giờ thực hành, thảo luận, học nhóm…
  • Đội ngũ cố vấn học tập: Trong quá trình đào tạo theo học chế tín chỉ không thể thiếu đội ngũ cố vấn học tập. Đội ngũ này cần có tính chuyên nghiệp cao, hiểu biết tường minh về mọi quy chế đào tạo, chương trình ngành học và quy trình đào tạo, các điều kiện học tập … để có thể giúp từng sinh viên lựa chọn và lập kế hoạch học tập tối ưu nhất.
  • Cải tiến phương thức quản lý đào tạo

Quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ có nhiều điểm khác so với học chế niên chế đòi hỏi quá trình này phải có những thay đổi cho phù hợp.

  • Tổ chức khoá học: Khoá học được tổ chức bằng cách ghi danh vào đầu mỗi học kỳ. Một năm có thể có 2 hoặc 3 học kỳ. Học sinh khi đăng ký khoá học phải nắm rõ mọi thông tin của trường học, ngành học.. và được tư vấn để lựa chọn một khoá học phù hợp và hiệu quả nhất.
  • Tổ chức lớp học: Lớp học theo học chế tín chỉ không phải là một đơn vị hành chính mà được tổ chức theo môn học do sinh viên đăng ký. Vào đầu mỗi kỳ sinh viên đăng ký học các môn học theo thời gian nhà trường đã công bố (có sự tư vấn và kiểm soát của cố vấn học tập). Dựa vào số lượng đăng ký đó, bộ phận quản lý đào tạo sắp xếp lớp học và thời khoá biểu cụ thể phù hợp với các hình thức tổ chức dạy học và yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ.

Cần triệt để áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý. Xây dựng phần mềm quản lý đào tạo là không thể thiếu trong học chế tín chỉ do tính đa dạng trong quản lý sinh viên, giảng viên, kế hoạch đào tạo từ khoá học, môn học cho tới từng bài giảng… Ngoài ra, sinh viên còn có thể đăng ký môn học, liên hệ với giáo viên, bộ phận quản lý qua hệ thống mạng nội bộ.

  • Xây dựng quy trình kiểm tra đánh giá theo yêu cầu của học chế tín chỉ

Kiểm tra đánh giá là một công cụ hữu hiệu để quản lý quá trình tích luỹ kiến thức, kỹ năng của sinh viên. Trong học chế tín chỉ người ta đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách thường xuyên không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng cách đánh giá cả quá trình. Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập làm giảm nhẹ sức ép của kỳ thi hết môn, giảm nhẹ tình trạng nhồi nhét kiến thức đồng thời đánh giá được chính xác hơn trình độ của sinh viên. Cách thức kiểm tra đánh giá này là một ưu điểm bởi lẽ nó cho phép sinh viên yêu thích môn học, tìm tòi khám phá môn học trong cả một quá trình, nâng cao khả năng tự học theo kiểu nghiên cứu và chắc rằng kiến thức thu được sẽ chắc chắn hơn.

Công tác kiểm tra phải đảm bảo đánh giá được kết quả học trên lớp (phần nổi) và kết quả tự học (phần chìm) của sinh viên.

  • Biên pháp quản lý các thành tố của quá trình dạy – học Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Để quản lý tốt quá trình dạy – học khi chuyển đổi sang mô hình đào tạo theo tín chỉ, các thành tố của quá trình này phải được cải tiến và triển khai với nhóm các biện pháp quản lý đồng bộ. Các thành tố của quá trình dạy – học được thể hiện qua hình vẽ 3.2.

  • Hình 3.2: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học

Biện pháp quản lý các thành tố của quá trình dạy – học đề xuất cụ thể sau đây:

  • Chỉ đạo việc xác định nhu cầu của người học
  • Quản lý mục đích, mục tiêu, nội dung, chương trình dạy – học
  • Quản lý việc cải tiến phương pháp dạy – học theo tín chỉ
  • Tổ chức có hiệu quả các hình thức dạy – học theo tín chỉ
  • Chỉ đạo việc đổi mới công tác kiểm tra – đánh giá
  • Cải tiến công tác quản lý đào tạo
  • Quản lý hiệu quả các hoạt động đoàn thể của sinh viên
  • Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy – học
  • Đổi mới và hoàn thiện bộ máy quản lý
  • Đánh giá cải tiến quá trình dạy – học

3.3.3.2. Quản lý dữ liệu hồ sơ quá trình đào tạo

Quản lý hồ sơ quá trình đào tạo phải được xây dựng một cách chuẩn hóa, phải được quy trình hóa và có ứng dụng CNTT một cách toàn diện, có như vậy thì hệ thống quản lý chất lượng đào tạo sẽ hiệu quả và vận hành tốt.

  • Xây dựng phần mềm quản lý người học

Khi chuyển sang đào tạo theo hệ tín chỉ, số lượng công việc liên quan đến công tác quản lý đào tạo tăng lên đáng kể.

Cần lựa chọn phần mềm quản lý đào tạo theo hệ tín chỉ thích hợp và có khả năng vận hành tốt. Về nguyên tắc, phần mềm này sẽ phải quản đến từng sinh viên vì mỗi sinh viên có một kế hoạch học tập riêng nếu không áp dụng CNTT thì việc đăng ký học của sinh viên chắc chắn sẽ rất lộn xộn. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Trong quá trình học, bộ phận quản lý kết quả học tập của sinh viên phải cập nhật điểm ngay sau từng kỳ trong các “Thông báo kết quả học tập cá nhân” và kịp thời gửi cho sinh viên vì việc đăng ký các môn học tiếp theo phụ thuộc vào kết quả học trước đó. Ngoài ra, còn rất nhiều những chi tiết cần phải quản lý như: tiến độ học của sinh viên, chuyển đổi ngành đào tạo và các yêu cầu khác nhau của các Trường , các chương trình chuyên ngành, v.v…

Áp dụng CNTT và xây dựng một hệ thống phần mềm quản lý là yêu cầu bắt buộc mà các trường đại học cần phải đặt ra trong lộ trình chuyển đổi từ niên chế sang phương thức tín chỉ. Việc phối hợp giữa các công ty tin học với các trường đại học là một vấn đề cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm thiết kế và cho ra đời thành công phần mềm quản lý sinh viên, đáp ứng các yêu cầu chuyển đổi giáo dục đại học Việt Nam theo mô hình đào tạo tín chỉ.

Nâng cấp chương trình phần mềm đăng ký môn học để SV dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc đang ký lớp môn học là một nhiệm vụ ưu tiên trong lộ trình tiếp

  • Bố trí thời khóa biểu hợp lý

Nhà trường cần bố trí thời khóa biểu hợp lý, hạn chế các buổi học quá ngắn (2 tiết) hoặc quá dài (10 tiết) để tránh sự lãng phí về sử dụng phòng học và ảnh hưởng đến kế hoạch học tập của sinh viên.

Trong mỗi học kỳ nên dành thêm ít nhất 1 tuần (tuần thứ 16) để giảng viên hoàn tất các thủ tục của môn học. Tuần này, giảng viên có thể chấm bài bổ sung hoặc sắp xếp dạy bù cho những giờ giảng vì lý do nào đó mà kế hoạch giảng dạy thay đổi.

  • Tăng cường dội ngũ cố vấn

Nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cố vấn học tập nhằm giúp sinh viên một cách tối đa trong việc lập kế hoạch cũng như thực hiện kế hoạch học tập của mình.

Tổ chức họp lớp khóa học hàng tháng với sự tham gia của cố vấn học tập để kịp thời thông báo các kế hoạch cần thiết và tư vấn cho sinh viên. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Đầu mỗi học kỳ, các cố vấn học tập tập hợp các sinh viên mình phụ trách, giới thiệu các môn đặc thù, hướng dẫn cách chọn môn học phù hợp và trả nợ môn để đủ điều kiện học tập.

Đội ngũ cố vấn học tập được lựa chọn là những giảng viên am hiểu chương trình đào tạo bộ môn, có kinh nghiệm giảng dạy để có thể cố vấn một cách hiệu quả nhất cho người học. Nhiệm vụ của đội ngũ cố vấn là giúp sinh viên lựa chọn các môn học một cách phù hợp nhất. Nếu đội ngũ này cố vấn cho sinh viên lựa chọn các môn học đúng với năng lực và điều kiện của bản thân thì kết quả học tập sẽ tiến bộ rất nhanh. Ngược lại, không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên mà còn gây tâm lý hoang mang, bối rối và có những quyết định sai lầm trong những học kỳ tiếp theo làm ảnh hưởng đến cả quá trình học tập của SV. Tiêu chí để lựa chọn môn học là:

  • Đảm bảo các điều kiện tiên quyết của môn học
  • Đủ môn (nếu ít môn quá, thời gian học sẽ kéo dài, tăng chi phí còn nếu nhiều môn quá thì sinh viên không đủ sức lực và thời gian để hoàn thành)
  • Tỷ lệ hợp lý giữa các môn lý thuyết và thực hành

Nhà trường yêu cầu đội ngũ cố vấn có kế hoạch, thời gian và địa điểm làm việc cố định từng tuần để sinh viên có thể trao đổi, xin ý kiến tư vấn thường xuyên và kịp thời. Nhà trường có thể tạo điều kiện về cơ sở vật chất như bố trí phòng tư vấn và các trang thiết bị cần thiết để đội ngũ cố vấn tiện liện hệ với sinh viên.

Các cố vấn học tập cần phản ánh các ý kiến, nguyện vọng của sinh viên cho Trường và Nhà trường một cách thường xuyên.

Nhà trường và Trường cần phối hợp quản lý, kiểm tra công tác cố vấn thông qua giảng viên, sinh viên và kết quả học tập từng học kỳ để kịp thời điều chỉnh sao cho công tác này đạt được hiệu quả cao nhất.

  • Niên giám học tập

Trong quản lý QTDH theo HCTC, «Niên giám» là một trong những tài liệu quan trọng nhất.

  • Bộ GD&ĐT đưa ra một mẫu niên giám học tập chung, trong đó có phần “cứng” yêu cầu các trường phải có thông tin đầy đủ và phần “mềm” là phần đặc thù riêng của các trường. Có như vậy thì tính minh bạch về thông tin mới đảm bảo và sinh viên được hưởng những dịch vụ giáo dục tốt nhất. Còn giảng viên có tài liệu để thực hiện đúng yêu cầu đặt ra cho đào tạo triệt để theo tín chỉ. Các cán bộ quản lý có kế hoạch giám sát tốt quy trình thực hiện.
  • Công khai hóa toàn bộ thông tin liên quan đến quá trình dạy – học và cung cấp cho sinh viên ngay khi nhập học, bao gồm:
  • Qui chế, qui định, chương trình đào tạo Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.
  • Hướng dẫn đăng ký học, thời khóa biểu
  • Đề cương chi tiết môn học

Trong đó, ngoài phần giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển cũng như cơ cấu tổ chức của nhà trường cuốn sổ tay dành phần lớn nội dung để thông báo chi tiết về các khóa học: các ngành học trong trường, tổng số tín chỉ phải tích luỹ được để tốt nghiệp, tổng số tín chỉ tối thiểu phải tích luỹ từng năm đối với sinh viên học tập trung (full time) và sinh viên học không tập trung (part time); số tín chỉ tối thiểu hoặc tối đa được học trong từng học kỳ; thời gian và địa điểm gặp cố vấn học tập để xây dựng kế hoạch học tập cho mình; cách thức đăng ký môn học; cách thức kiểm tra đánh giá. Đặc biệt cuốn sổ tay này còn giới thiệu cụ thể từng môn học (mã số môn học, số tín chỉ, nội dung tóm tắt, các môn học tiên quyết…). Các tài liệu này là cơ sở để sinh viên “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” về kế hoạch học tập của mình. Niên giám học tập nên được phổ biến trên mạng, rất thuận lợi cho sinh viên.

  • Quản lý hiệu hoạt động đoàn thể của sinh viên

Để đẩy mạnh vai trò của các tổ chức Đoàn thanh niên, Hội sinh viên đối với quá trình dạy – học theo học chế tín chỉ, TW Đoàn cần có những chương trình hành động cụ thể, triển khai đến Đoàn – Hội của từng trường, tạo tiền đề cho các tổ chức này nhanh chóng tiếp cận và hiểu rõ quy trình đào tạo này. Từ đó có thể nghiên cứu, đưa ra một mô hình tổ chức và hoạt động Đoàn tương thích với đào tạo theo tín chỉ. Đoàn – Hội là những lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền, định hướng, tạo lập niềm tin cho các đoàn viên về phương thức đào tạo này. Việc áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ đúng với bản chất của phương thức này từ tâm thế đến sự nhập cuộc của sinh viên không đơn giản. Lúc này cần phải xác định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của Đoàn – Hội trong lộ trình chuyển đổi.

Nghiên cứu về quá trình dạy – học trong học chế tín chỉ, các vấn đề liên quan đến chương trình đào tạo, phương pháp dạy học, giảng viên, cơ sở vật chất … được quan tâm nhiều, trong khi chúng ta ít đề cập tới việc chuẩn bị cho sinh viên các điều kiện tinh thần, vật chất trong phương thức đào tạo tín chỉ. Đó là yêu cầu đặt ra đối với các tổ chức Đoàn – Hội.

Một số các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của các tổ chức này được định hướng như sau:

  • Bộ GD&ĐT phối hợp với TW Đoàn xây chương trình hành động cụ thể hỗ trợ Đoàn các trường ĐH – CĐ theo lộ trình phù hợp với phương thức đào tạo tín chỉ. Các chương trình này được hướng dẫn triển khai ở các trường đại học và tổ chức kiểm tra, đánh giá nghiêm túc việc thực hiện để kịp thời điều chỉnh.
  • Hệ thống tổ chức quản lý sinh viên gồm Ban giám hiệu, Phòng Công tác chính trị sinh viên, Các khoa (trung tâm), Giáo viên chủ nhiệm lớp khóa học, Cố vấn học tập lớp môn học.
  • Thành lập các lớp khóa học cố định ngay từ khi nhập học. Đó là cơ sở hoạt động đoàn thể trong suốt khóa học vì các lớp môn học không cố định. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.
  • Đề án xây dựng hệ thống cố vấn học tập thông qua vai trò của Đoàn, Hội sinh viên nhà trường. Hiện nay, đội ngũ cán bộ Đoàn- Hội đều là các giảng viên trẻ, sinh viên ưu tú, năng động và hiểu biết chuyên môn. Nhà trường cần nghiên cứu mô hình huy động đội ngũ cán bộ đoàn có năng lực làm cố vấn học tập một cách nghiêm túc và bài bản.
  • Khuyến khích sinh viên hình thành các nhóm hoạt động trong trường như các nhóm nghiên cứu khoa học, nhóm hoạt động từ thiện, nhóm hoạt động xã hội, nhóm hoạt động năng khiếu. Các nhóm hoạt động này như là những câu lạc bộ, được thành lập theo sự tự nguyện của cá nhân sinh viên nhưng khi đã tham gia thì phải tuân thủ các quy chế hoạt động và tôn chỉ mục đích của tổ chức. Có như vậy thì hình thức này vừa khuyến khích được sinh viên tham gia vừa đảm bảo được chất lượng sinh hoạt.

Tổ chức Câu lạc bộ TDTT và xem đây là hoạt động vui chơi, rèn luyện sức khỏe của sinh viên thay cho môn học thể dục bắt buộc trước đây. SV có thể chọn bất kỳ một môn thể thao nào phù hợp với sở thích, năng khiếu, điều kiện sức khỏe để tham gia. Biện pháp này vừa thu hút đông đảo SV tham gia, vừa đạt được mục đích rèn luyện thể lực cho SV. Các trường ĐH trên thế giới gần như không có các môn học thể dục bắt buộc như ở Việt Nam mà SV được lựa chọn các môn thể thao phù hợp để tham gia.

  • Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy – học

Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, phòng học lý thuyết, phòng học đa chức năng, hạ tầng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử, … để đáp ứng các yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy và học trong đào tạo theo học chế tín chỉ.

Xây dựng phần mềm quản lý: Cần xây dựng một phần mềm quản lý chung cho các trường đại học theo học chế tín chỉ. Nhà quản lý cần phải tính toán hết được các yêu cầu của mô hình đào tạo này để xây dựng một phần mềm tổng quát, hệ thống. Tránh trường hợp phải lắp ráp chương trình dẫn đến sự khập khiễng, không đồng bộ, nhiều lỗi kỹ thuật xảy ra khi vận hành.

Toàn bộ các cán bộ chuyên trách, giảng viên và sinh viên đều phải được hướng dẫn sử dụng thành thạo phần mềm quản lý đào tạo theo tín chỉ. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Hệ thống thư viện đảm bảo qui mô, chất lượng và hiện đại:

Trong học chế tín chỉ, thư viện đóng vai trò quan trọng và là một nhu cầu thiết yếu của nhà trường. Đó là nơi cung cấp nguồn tài liệu học tập phong phú, các ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, là địa điểm nghiên cứu, học tập của cá nhân hay nhóm sinh viên và là cơ sở để sinh viên phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu, làm chủ quá trình học tập.

Nhà trường và các Trường cần trang bị các phòng đọc điện tử, kết nối mạng internet để giúp sinh viên tiếp cận được với các bài giảng điện tử, tài liệu số hoá và một khối lượng kiến thức khổng lồ, cập nhật. Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn tư liệu điện tử, thiết bị dạy học… bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại. Tạo điều kiện cho 100% sinh viên được sử dụng Internet phục vụ cho việc học tập.

  • Nâng cao số lượng và chất lượng tài liệu học tập:

Hệ thống giáo trình, đề cương bài giảng và tài liệu tham khảo phải đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dạy, người học. Đảm bảo nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của sinh viên. Không có đủ học liệu không thể nói tới học chế tín chỉ.

  • Để đáp ứng nhu cầu tự học của sinh viên trong học chế tín chỉ, nhà trường cần có cơ chế và quy định bắt buộc nhằm tăng cường công tác biên soạn bài giảng, giáo trình của mỗi giảng viên.
  • Ngoài ra, để tăng nguồn tài liệu, giảng viên giới thiệu cho sinh viên các địa chỉ tìm kiếm trên mạng. Hiện nay, phục vụ cho các kiến thức chung liên ngành, các từ điển điện tử như WIKIPEDIA và ENCARTA rất hữu ích, đặc biệt là nguồn học liệu mở của MIT (MIT open course ware) là một kho tư liệu giảng dạy và học tập vô giá cho giảng viên và sinh viên.

Mỗi môn học đảm bảo ít nhất một tài liệu chính (giáo trình để dạy) và vài tài liệu khác để sinh viên đọc thêm. Trong thời đại hội nhập hiện nay, nhà trường cố gắng trang bị cho mỗi môn học một tài liệu tiếng Anh để tham khảo.

  • Giảng đường, phòng học, phòng giảng viên: Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Phòng học cần được đáp ứng đủ yêu cầu về số lượng và chất lượng với các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho bài học. Bên cạnh đó, cần tập trung đầu tư các phòng thực hành, thí nghiệm, thực tập, phòng học đa chức năng- đa phương tiện, sử dụng Wifi và nhiều máy tính nối mạng.

  • Cần có những giảng đường lớn cho những giờ học lý thuyết đông sinh viên.
  • Bố trí phòng học trên lớp cần cải tiến theo hướng tạo cơ hội làm việc nhóm cho sinh viên; Đảm bảo chỗ học cho sinh viên tại thư viện và bố trí một số phòng dành cho tự học.
  • Nâng cấp và đa dạng hóa các phòng thí nghiệm

Bố trí phòng làm việc cho giảng viên để họ có điều kiện tư vấn, trao đổi chuyên môn với sinh viên được thường xuyên.

  • Tạo môi trường học tập gắn kết với thực tế

Liên kết với các Viện nghiên cứu, các cơ sở ngoài nhà trường để tạo ra môi trường học tập thực tế sinh động và hiệu quả cho sinh viên.

  • Hỗ trợ về tài chính

Ngoài các biện pháp tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, biện pháp hỗ trợ tài chính cho giảng viên, sinh viên và các cán bộ là rất thiết thực để động viên họ trong quá trình chuyển đổi sang mô hình đào tạo mới.

  • Tác phong phục vụ sinh viên nhiệt tình, chuyên nghiệp

Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động tự học, các nhà quản lý cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh viên của các bộ phận chuyên trách, các chính sách hỗ trợ của nhà trường để tạo cho sinh viên một môi trường học tập tốt nhất.

  • Đổi mới và hoàn thiện bộ máy quản lý Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Để triển khai mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ không chỉ thay đổi chương trình, nội dung, phương pháp mà còn cần phải đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý cũng như xây dựng cả thể chế quản lý. Đó là các qui chế, qui định có tính chất pháp qui của các cấp trong hệ thống đào tạo: từ cơ quan quản lý Nhà nước, Bộ GD &ĐT đến các trường đại học: Ban giám hiệu; Phòng đào tạo; Khoa ; Bộ môn; Giảng viên; Sinh viên.

Nhà trường cần thường xuyên quan tâm tới việc hoàn thiện và bổ sung các văn bản liên quan đến quá trình đào tạo theo tín chỉ sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tình hình thực tế của nhà trường.

Để công việc quản lý không chồng chéo, các cấp quản lý của nhà trường phải thực hiện việc phân quyền theo đúng chức năng, nhiệm vụ một cách triệt để và đồng bộ. Tuy nhiên, nhà trường cần xây dựng được hệ thống kiểm tra chéo giữa các bộ phận quản lý từ cấp vĩ mô cho tới cấp vi mô nhằm ngày càng nâng cao chất lượng quản lý.

Các bộ phận chức năng trong trường cần phối hợp chặt chẽ, khoa học trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cụ thể như: việc lập thời khóa biểu, phân công lịch giảng cho giảng viên, thiết kế lịch thi, bố trí phòng học, phòng thi… để công việc diễn ra nhịp nhàng, chính xác.

Nâng cao vai trò của tổ bộ môn trong quá trình dạy – học theo HCTC, đó là bộ phận vững vàng nhất về chuyên môn và sát sao nhất với sinh viên thông qua đội ngũ giảng viên và cố vấn học tập. Bộ môn là nơi có quyền quyết định nhất về quá trình dạy – học từ chương trình, nội dung, phương pháp đến nhiều yếu tố khác nữa. Các tổ bộ môn tăng cường trao đổi chuyên môn định kỳ và đột xuất khi có vấn đề phát sinh để kịp thời điều chỉnh.

  • Đánh giá cải tiến quá trình dạy – học

Tổ chức tổng kết, đánh giá qui trình chuyển đổi sang quá trình dạy – học theo tín chỉ từ cấp bộ môn đến cấp trường để kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện ở các học phần tiếp theo.

Để đánh giá quá trình dạy – học đáp ứng nhu cầu học tập của người học ở mức độ nào thì việc lấy ý kiến phản hồi từ chính sinh viên là công việc không thể bỏ qua.

Do vậy, bộ phận đảm bảo chất lượng của nhà trường cần tiến hành lấy ý kiến đánh giá của sinh viên sau khi kết thúc môn học. Trong nền giáo dục VN, đây là một công việc hoàn toàn mới, tế nhị, nhiều giảng viên và cả sinh viên đều không muốn thực hiện. Chúng ta cần có những quan niệm khác, phù hợp với mô hình đào tạo mới. Có thể khẳng định rằng, đây không phải là việc sinh viên đánh giá một giảng viên cụ thể nào mà là đánh giá một quá trình dạy – học họ có quyền được hưởng. Giảng viên tham khảo các ý kiến phản hồi của sinh viên để tiếp tục duy trì và phát huy các ưu điểm, khắc phục các tồn tại và tự điều chỉnh, bổ sung những thiếu sót cần thiết. Việc làm này thể hiện đúng triết lý của đào tạo theo tín chỉ là đề cao vai trò trung tâm của sinh viên trong quá trình đào tạo, luôn quan tâm đến sinh viên, trách nhiệm đối với công việc và sự cầu tiến của giảng viên. Nguồn thông tin phản hồi từ sinh viên sẽ rất hữu ích cho quá trình đánh giá cải tiến hướng tới sự phát triển bền vững của nhà trường. Để thu thập được thông tin chính xác, nhà trường cần tổ chức qui trình đánh giá nghiêm túc và biết cách sử dụng kết quả hợp lý.

3.3.3.3. Quản lý quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Xây dựng mục tiêu – nội dung – phương pháp hoạt động tập thể sinh viên và Đoàn, Hội phù hợp với phương thức dào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ

  • Mục tiêu của biện pháp

Việc xây dựng mục tiêu – nội dung – phương pháp hoạt động tập thể sinh viên và Đoàn, Hội phù hợp với phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ nhằm làm cho hoạt động QLSV và Đoàn, Hội được đúng hướng, phù hợp với phương thức đào tạo mới. Do vậy, nhà trường cần phải xác định được các mục tiêu, các nội dung cần phải hoàn thiện, đổi mới, yêu cầu, mức độ đổi mới của từng nội dung, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo thực hiện.

  • Nội dung biện pháp

Các nội dung hoạt động phải hướng tới việc góp phần thực hiện các vấn đề sau :

  • Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình giáo dục, kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT.
  • Người học được đảm bảo chế độ chính sách xã hội, được khám sức khoẻ theo quy định y tế học đường; được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao và được đảm bảo an toàn trong khuôn viên của nhà trường.
  • Công tác rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học được thực hiện có hiệu quả.
  • Công tác Đảng, đoàn thể có tác dụng tốt trong việc rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học.
  • Có các biện pháp cụ thể, có tác dụng tích cực để hỗ trợ việc học tập và sinh hoạt của người học.
  • Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nội quy của nhà trường cho người học.
  • Có các hoạt động hỗ trợ hiệu quả nhằm tăng tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo.
  • Người học có khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp. Trong năm đầu sau khi tốt nghiệp, trên 50% người tốt nghiệp tìm được việc làm đúng ngành được đào tạo.
  • Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học trước khi tốt nghiệp.

Khi áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ, việc quản lý đoàn viên sinh viên theo chi đoàn “kiểu cũ” bộc lộ những điểm không phù hợp vì ngay trong năm học thứ nhất, các sinh viên đã đăng ký học theo khả năng của mình. Thêm vào đó, lịch học và lịch thi dày đặc lại “lệch nhau” giữa các khóa, các Trường nên việc tập hợp sinh viên vào các hoạt động còn gặp khó khăn. Khi không sinh hoạt theo chi đoàn, nhiều sinh viên tỏ ra thờ ơ, không quan tâm tới tổ chức đoàn, hội. Tuy nhiên, việc quản lý đoàn viên sinh viên tại Trường ĐHGD-ĐHQGHN được Ðoàn trường triển khai qua các nhóm học tập, linh hoạt ở ”lớp môn học” bên cạnh duy trì ”lớp khóa học” nhưng không ”cứng nhắc” như trước. Ðây là cách làm đem lại hiệu quả bước đầu bởi trong hầu hết các môn học lý thuyết, ngoài giờ trên lớp, sinh viên phải chia nhóm để thảo luận và thực tập. Ban chấp hành các chi đoàn quản lý đoàn viên của mình thông qua nhóm này mà trực tiếp là người Nhóm trưởng.

Ngoài ra, Ðoàn trường xây dựng Chi đoàn cán bộ, giáo viên. Chi đoàn có nhiệm vụ cùng Ðoàn trường nắm bắt tình hình của sinh viên trong học tập, rèn luyện và hoạt động đoàn thể. Hầu hết các giáo viên trẻ này đang đảm nhận chức danh cố vấn học tập nên có những đóng góp thiết thực cho công tác quản lý, tập hợp đoàn viên sinh viên. Việc sinh hoạt các chi đoàn được Ðoàn trường phối hợp các Cố vấn học tập gắn liền với việc họp lớp. Theo quy định của nhà trường, trong một học kỳ, các cố vấn học tập phải họp lớp ít nhất 1 tháng/lần để giúp sinh viên các công việc cần thiết. Ðoàn trường cùng các cố vấn học tập tập trung sinh viên và tiến hành sinh hoạt chi đoàn ngay sau buổi họp lớp đó. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Đặc biệt, Ðoàn trường tập trung phát triển mô hình các Câu lạc bộ, đội, nhóm để thông qua đó vừa hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên trong quá trình học tập, vừa quản lý và tập hợp các bạn trẻ đến với các hoạt động. Những mô hình trên đây đã có hiệu quả bước đầu nhưng trong quá trình triển khai vẫn bộc lộ những hạn chế. Tuy vậy, điều đáng trân trọng là Ðoàn Thanh niên – Hội sinh viên trường luôn nỗ lực tìm kiếm phương thức hiệu quả, hợp lý nhất để khẳng định vai trò của mình trong sinh viên, từ đó giúp đỡ và định hướng họ học tập, rèn luyện có kết quả tốt trong một môi trường văn hóa.

  • Cách thức tiến hành

Việc nhận diện các nội dung và yêu cầu đổi mới hoạt động QLSV và công tác Đoàn , Hội cần phải xác định và phân chia các nội dung QLSV ra thành các nhóm có mức độ thay đổi khác nhau trước yêu cầu chuyển đổi. Căn cứ nội dung của hoạt động QLSV đã xác định ở phần trên, đối chiếu với những yêu cầu và vấn đề được đặt ra, có thể phân chia thành các nhóm công việc có mức độ thay đổi khác nhau trong quá trình đổi mới.

  • Trước hết cần xây dựng mục tiêu và nội dung hoạt động bám vào triết lí “lấy người học làm trung tâm” của phương thức đào tạo theo tín chỉ
  • Cần “mềm dẻo” hóa vai trò của “lớp khóa học” và tận dụng tính linh hoạt của “lớp môn học” cho việc tổ chức các hoạt động tập thể; tận dụng vai trò của các câu lạc bộ và Hội SV trong việc lồng ghép các nội dung sinh hoạt đoàn thể.v.v..
  • Việc phân chia thành các nhóm công việc như trên nhằm:
  • Tiếp tục kế thừa và hoàn thiện các nội dung hoạt động đã làm được và phù hợp với bối cảnh mới.
  • Đổi mới các hoạt động không còn phù hợp với điều kiện mới.
  • Bổ sung các hoạt động mới đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của tình hình thực tế.

Hàng năm tổ chức thảo luận, làm rõ các nội dung về quy chế, quy định trong đào tạo của nhà trường giúp SV có hiểu biết đầy đủ về quy chế, quy định làm cơ sở cho SV thực hiện các nghĩa vụ và được hưởng một cách đầy đủ các quyền lợi phục vụ cho quá trình học tập đạt kết quả tốt nhất. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Ngoài các hoạt động giáo dục thông qua các “Tuần sinh hoạt công dân SV” đầu khoá, đầu năm học, các buổi sinh hoạt chuyên đề theo chỉ đạo của cấp trên cho toàn thể SV, cần chú ý tới một “kênh” quan trọng là hoạt động Đoàn TN– Hội SV thong qua việc “đa dạng hóa phương thức hoạt động đoàn, hội”. Đây là các tổ chức chính trị, xã hội quan trọng đối với sinh viên, đã có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cho SV trước đây. Song để tổ chức Đoàn – Hội tiếp tục phát huy được vai trò của mình trong giai đoạn mới cần phải đổi mới các hoạt động đoàn – hội cho phù hợp với hoàn cảnh mới để có thể thu hút SV vào các hoạt động phù hợp với sở thích, hứng thú với SV (phong trào Thanh niên tình nguyện, Câu lạc bộ Võ thuật, Câu lạc bộ ngoại ngữ, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao…) nhằm thu hút SV tích cực tham gia, thông qua đó tuyên truyền giáo dục ý thức chính trị, đạo đức lối sống lành mạnh trong SV, hạn chế được sự lây nhiễm của những tệ nạn, tiêu cực trong xã hội trong SV. Hoạt động Đoàn – Hội trong đào tạo theo niên chế được tổ chức khá thuận lợi trên cơ sở lớp SV, trong quá trình chuyển đổi sang học chế tín chỉ lớp sinh viên dần mất đi vai trò tập hợp, quản lý SV, việc tổ chức hoạt động theo mô hình trước đây sẽ khó khăn hơn, do vậy cần có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung và hình thức sao cho thực sự hấp dẫn để tạo ra khả năng thu hút được SV vào các hoạt động thiết thực, hiệu quả hơn.

Tăng cường tính tự chủ và hiệu quả của các tổ chức của sinh viên trong bối cảnh chuyển ddổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ

  • Mục tiêu của biện pháp

Tư tưởng cơ bản của đào tạo theo tín chỉ là “lấy người học làm trung tâm” và coi trọng “cá thể hóa” người học. Việc tăng cường tính tự chủ và hiệu quả của các tổ chức của sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ nhằm giúp sinh viên có quyền chủ động trong quá trình học tập của mình từ việc chọn các môn học, sắp xếp lịch học, lập kế hoạch học và cả lựa chọn phương pháp học cho mình sao cho phù hợp nhất.

  • Nội dung biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Trong đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải được tạo điều kiện môi trường cho họ phát huy tính chủ động và tích cực bản thân trong cả tổ chức đào tạo và tổ chức dạy học.

Trước đây, trong quan niệm thông thường khi nói tới dạy học người ta hiểu đó là hoạt động đặc trưng của giáo viên, là hoạt động truyền đạt kiến thức ở trên lớp. Hiện nay, theo lý luận dạy học hiện đại, SV được coi là một trong 2 chủ thể của quá trình dạy học. Với quan điểm dạy học hiện đại sinh viên được coi là “trung tâm” của quá trình dạy học, giữ vai trò quyết định chất lượng học tập của bản thân.

Tính năng động và sáng tạo của SV ngày càng được nâng cao hơn do quá trình cá thể hoá việc học tập diễn ra mạnh mẽ. SV trở nên nhạy cảm hơn, có ý thức làm chủ bản thân mình do chỗ họ được quyền tự quyết việc học tập của mình (học cái gì, lúc nào học và học ở đâu thì là do họ tự quyết định). Vì vậy phải đa dạng hóa phương thức tổ chức hoạt động cho họ; phát huy vai trò của ”các nhóm tự nguyên”. Quá trình điều chỉnh này được gọi là quá trình thương thảo với chính mình trong quá trình học tập và hoạt động tập thể để đạt được những mục tiêu mà môn học nói riêng và mục đích học tập nói chung đã được đề ra. Hơn nữa, học không hoàn toàn là một hoạt động cá nhân; nó xảy ra trong một môi trường văn hóa xã hội nhất định trong đó sự tương tác giữa những người học với nhau có vai trò hết sức quan trọng trong thu nhận và tạo kiến thức.. Thực tế này yêu cầu người học phải có thêm một vai trò nữa; đó là, vai trò của người cùng đàm phán trong nhóm và trong lớp học.

Vì dạy – học theo trường lớp thường là một quá trình cộng sinh, cho nên ngoài những vai trò đã kể trên, người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ còn phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọng nữa đó là, người tham gia vào môi trường cộng tác dạy – học. Trong vai trò này, người học được xem như là một thành phần hợp tác trong quá trình dạy – học. Họ hoạt động vừa như là những cộng sự với người dạy trong việc xác định nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa như là người cung cấp thông tin phản hồi về bản thân mình như là những người học (trình độ, khó khăn, thuận lợi, nhu cầu, chờ đợi, mong muốn về môn học, v.v.) cho người dạy để người dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp, tăng hiệu quả dạy – học. Như vậy ngay bản thân quy trình dào tạo theo học chế tín chỉ đã là môi trường hoạt động đa dạng mà các tổ chức chịu trách nhiệm quản lí sinh viên biết tận dụng thì việc quản lí họ sẽ có nhiều cách tiếp cận mới.

  • Cách thức tiến hành

Trong điều kiện hiện nay, cần phát triển những hình thức hoạt động đa dạng như tổ chức, hướng dẫn SV hoạt động qua CLB chi hội ngành học, CLB kỹ năng học tập, CLB liên quan đến kỹ năng sống, phong trào tình nguyện…để SV phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng tự lực, năng lực phấn đấu. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Phát triển các phong trào hoạt động tập thể thông qua internet, các diễn đàn, thảo luận CLB trên trang web của Đoàn và Hội SV là một kênh cần phát Theo từng ngành nghề đào tạo, Đoàn, Hội cần xây dựng những nội dung sinh hoạt phù hợp. Ví dụ: Đối với SV chuyên ngành sư phạm, Đoàn, Hội có thể tổ chức những CLB gia sư, “lớp học tình thương” tại các nơi sinh viên tham gia tình nguyện. Việc tổ chức như vậy không những tạo cho SV cơ hội học hỏi, tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu ứng dụng vào việc học tập của mình trong Nhà trường mà còn giúp cho hoạt động tập thể của sinh viên được hiệu quả hơn.

Tạo điều kiện cho sinh viên “lựa chọn” phương thức hoạt động tập thể và học tập phù hợp nhất với “nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân” trong khuôn khổ các quy định của học chế tín chỉ và sinh hoạt đoàn hội theo yêu cầu của công tác quản lí học sinh, sinh viên của cấp quản lí đã đề ra

Tăng cường các lực lượng dối với công tác quản lý sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi phương thức dào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ.

  • Mục tiêu của biện pháp

Việc tăng cường các lực lượng đối với công tác quản lý sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ nhằm phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong trường. Từ đó các bộ phận làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo nhà trường và thực hiện tốt nhiệm vụ liên quan đến bộ phận mình trong việc tìm các giải pháp thích hợp trong hoạt động QLSV.

  • Nội dung biện pháp

Trên cơ sở Quy định của trường về chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị, sự phối hợp giữa các lực lượng trong QLSV được trình bày qua sơ đồ ở Hình 3.3.

  • Hình 3.3. Sự phối hợp giữa các lực lượng trong QLSV

Qua sơ đồ trên, ta thấy tham gia vào hoạt động QLSV, ngoài các lực lượng trong nhà trường, còn có các lực lượng khác ngoài nhà trường như gia đình, chính quyền địa phương… Nếu hoàn thiện được cơ chế phối hợp giữa các lực lượng này trong QLSV chắc chắn sẽ tạo ra được hiệu quả quản lý cao. Cơ chế đó phải tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng cho từng bộ phận, tránh sự chồng chéo và không đổ lẫn trách nhiệm cho nhau. Cần tổ chức, triển khai các nội dung phối hợp sau:

Phối hợp với các phòng ban, tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân SV” vào đầu mỗi năm học cho SV với nội dung sau: Phổ biến tình hình trong nước và quốc tế, các chính sách và chế độ của Nhà nước đối với SV (học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, nghĩa vụ trong thời bình, về an ninh, trật tự trị an…), các quy chế, nội quy, các thông tư, chỉ thị liên quan đến SV, các kiến thức pháp luật thường thức, các vấn đề thời đại: môi trường, dân số. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Phối hợp với các Trường tiến hành phân loại xếp hạng SV theo từng học kỳ, năm học, giai đoạn và kết thúc khoá học theo quy chế hiện hành làm căn cứ để thực hiện chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và học phí cho SV. Kiến nghị biểu duơng khen thưởng tập thể và cá nhân SV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Kiến nghị các hình thức kỷ luật đối với những SV vi phạm quy chế, nội quy. giải quyết các thủ tục hành chính, chuyển các học sinh, sinh viên bị thi hành kỷ luật ở mức đình chỉ học tập, buộc thôi học về địa phương.

Căn cứ chế độ học bổng, học phí và trợ cấp xã hội hiện hành, trên cơ sở kết quả điểm tuyển sinh hoặc kết quả phân loại, xếp hạng, căn cứ đơn xin cấp học bổng, hoặc trợ cấp xă hội, đơn xin miễn giảm học phí, tiến hành tổ chức xét cấp học bổng trợ cấp xã hội và mức học phí cho SV, kể cả học bổng do các tổ chức và cá nhân tài trợ cho trường. Đôn đốc việc thu học phí và kiến nghị xử lý những SV không đóng học phí đầy đủ theo qui định.

Phối hợp với phòng đào tạo tổ chức kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, chương trình học tập, thực tập, thi và kiểm tra học phần, môn học, học kỳ, lên lớp, thi chuyển giai đoạn và thi tốt nghiệp cho các lớp, khoá học.

Phối hợp với phòng đào tạo và các Khoa, phòng, ban liên quan tổ chức cho SV tham gia thi SV giỏi, nghiên cứu Trường học, xét cấp học bổng khuyển khích tài năng cho những SV xuất sắc trong học tập và nghiên cứu Trường học.

Trực tiếp hoặc phối hợp với các bộ phận chức năng được Hiệu trưởng uỷ quyền tiến hành việc thu nhận đơn xin ở nội trú của SV, xem xét và bố trí chỗ ở cho SV trong ký túc xá, kiểm tra SV trong việc chấp hành quy chế ký túc xá, kiến nghị xử lý các trường hợp vi phạm.

Phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và các phòng ban tổ chức và tạo điều kiện cho SV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các câu lạc bộ sở thích và các hoạt động giải trí lạnh mạnh khác. Định kỳ tổ chức các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo nhà trường với SV, làm đầu mối giải quyết và trả lời khiếu nại của SV.

Cùng với Phòng Bảo vệ và Ban Quản lý ký túc xá, chủ động phối hợp với chính quyền ở quận (huyện) phường (xã) nới trường đóng trong việc giữ gìn trật tự an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là trong quan hệ giữa SV của trường với trường khác và với nhân dân địa phương nơi trường đóng. Phối hợp xử lý nghiêm minh và kịp thời các vụ việc vi phạm qui tắc bảo vệ trật tự trị an.. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Phối hợp với các phòng, ban có liên quan giải quyết các thủ tục hành chính cho SV chuyển trường, chuyển ngành học; tổ chức cấp chứng chỉ, bằng tốt nghiệp và các hồ sơ giấy tờ khác cho SV tốt nghiệp và kết thúc giai đoạn. Thực hiện việc bồi hoàn kinh phí đào tạo đối với SV tốt nghiệp không chấp hành phân công công tác và SV đang học xin đi định cư ở nước ngoài.

Tiến hành giới thiệu và tìm việc cho SV sau khi tốt nghiệp và cho những SV nghèo có khó khăn ngay trong quá trình học tập.

  • Cách thức thực hiện

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, nhà trường cần:

  • Cụ thể hóa “cơ chế phối hợp” các bộ phận trong sơ đồ nêu trên
  • Phải tổ chức được bộ máy, lực lượng cán bộ làm QLSV của trường và các Trường đào tạo đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ.
  • Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng trong, ngoài nhà trường về QLSV để thu thập và nắm vững tình hình mọi mặt của các SV.
  • Tổ chức xây dựng và quản lý tốt dữ liệu thông tin về từng SV một cách đầy đủ, lập được hồ sơ về từng SV, cập nhật thường xuyên các thông tin về SV trong suốt quá trình học tập tại trường.
  • Trong điều kiện hiện nay, để hỗ trợ cho hoạt động quản lý SV cần xây dựng được phần mềm phù hợp cho hoạt động QLSV, làm công cụ hữu ích giúp hoạt động quản lý SV được thuận tiện và chính xác hơn.
  • Tiếp tục cải tiến về thủ tục hành chính theo hướng tạo điều kiện thuận lợi, giải quyết một cách nhanh chóng các nhu cầu về mặt hành chính cho SV.
  • Ban hành các quy định, quy trình, mẫu biểu giải quyết các loại giấy tờ, thủ tục hành chính giúp SV nắm được và thực hiện đúng, tránh việc SV phải đi lại mất thời gian.
  • Thông báo, tuyên truyền một cách đầy đủ các quy định của Nhà nước về chế độ chính sách đối với các SV
  • Xây dựng và công bố các quy trình, thủ tục giải quyết các chế độ chính sách của nhà trường đối với SV.
  • Tổ chức giải quyết một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ các chế độ chính sách cho SV thuộc đối tượng chính sách.

Trong công tác tiếp nhận SV, thời gian tới cần chú ý bổ sung tăng cường các hoạt động tư vấn, hỗ trợ cho SV về các vấn đề ăn ở, sinh hoạt giúp SV mới nhập học nắm được tình hình, nhanh chóng làm quen, ổn định sinh hoạt bước vào học tập tốt.

  • Về hệ thống tổ chức cố vấn học tập của nhà trường: Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Nhà trường tổ chức một hội đồng cố vấn học tập (CVHT) gồm các chuyên gia về các lĩnh vực đào tạo, công tác sinh viên. Hội đồng CVHT có trách nhiệm biên soạn tài liệu hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, cung cấp tài liệu, thông tin, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ các CVHT, trực tiếp tư vấn các vấn đề chuyên môn sâu cho sinh viên khi SV được các CVHT giới thiệu đến. Hội đồng cố vấn hoạt động dưới sự chỉ đạo và quản lý của Ban giám hiệu nhà trường. Hội đồng cố vấn sẽ là một lực lượng chuyên gia quan trọng làm cộng tác viên hỗ trợ cho hoạt động tư vấn cho trung tâm dịch vụ tư vấn, hỗ trợ SV trong học tập và sinh hoạt của Nhà trường.

Tại các khoa xây dựng đội ngũ cố vấn học tập do khoa quản lý, trực tiếp phụ trách các nhóm SV theo chuyên ngành đào tạo, chịu sự chỉ đạo của Hội đồng cố vấn nhà trường về chuyên môn, nghiệp vụ.

Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra, cố vấn học tập phải là những người:

  • Có ý thức trách nhiệm cao, nhiệt tình với công việc.
  • Nắm vững hệ thống chương trình đào tạo, nội dung của các khối kiến thức có trong chương trình, vị trí của từng môn học được nhà trường tổ chức giảng dạy trong phạm vi chuyên môn mình phụ trách.
  • Biết lắng nghe ý kiến của sinh viên, biết thông cảm với SV và được SV tin cậy.
  • Có hiểu biết về các vấn đề kinh tế, chính trị – xã hội, về nhà trường.
  • Biết giải quyết vấn đề có tình có lý.
  • Có hành vi mẫu mực làm gương cho sinh viên.
  • Nắm được vai trò, nhiệm vụ của cố vấn học tập.
  • Hoạt động của CVHT cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
  • Luôn quan tâm đến lợi ích của sinh viên, không làm điều gì gây thiệt hại cho sinh viên.
  • Biết giữ gìn những điều bí mật riêng tư của sinh viên.
  • Trong quyền hạn, khả năng có thể được, phải làm hết sức mình để giúp đỡ sinh viên hoặc hướng dẫn họ tìm đến sự giúp đỡ của những người khác.
  • Có hành động cư xử phù hợp với đạo đức nghề nghiệp, có tư cách đạo đức tốt để làm gương cho sinh viên.

Đội ngũ cố vấn có nhiệm vụ cụ thể là: Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Làm cố vấn cho một nhóm sinh viên do Ban chủ nhiệm Khoa chỉ định bao gồm cố vấn về chương trình, kế hoạch học tập, tiến độ học tập, việc đăng ký môn học, việc lựa chọn ngành nghề, về rèn luyện nhân cách, kỹ năng học tập-phát triển chuyên môn, nghề nghiệp.
  • Giúp đỡ sinh viên phát triển các kỹ năng học tập, nghiên cứu khoa học
  • Giúp đỡ sinh viên phát triển các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp xã hội
  • Hỗ trợ bộ phận đào tạo, bộ phận QLSV trong việc quản lý sinh viên.
  • Đề đạt ý kiến về các vấn đề xét cấp học bổng, đánh giá kết quả rèn luyện, khen thưởng, kỷ luật có liên quan đến nhóm sinh viên do mình phụ trách.

Trong quá trình chuyển đổi, cần xây dựng và phát triển đội ngũ CVHT từ hệ thống giáo viên chủ nhiệm, là những người đã có nhiều kinh nghiệm làm việc với SV. Để đảm bảo khả năng và chất lượng của hoạt động tư vấn cần xây dựng đội ngũ CVHT đủ về số lượng để mỗi CVHT chỉ phụ trách khoảng từ 30 đến 40 SV. Như vậy với quy mô hệ cử nhân chính quy của Trường Đại học Giáo dục hiện nay cần có khoảng 20 đến 25 CVHT, đó là số lượng có thể đáp ứng được.

3.3.4. Nhóm giải pháp quản lý chất lượng dầu ra

  • Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá a- Tổ chức nhận thức về kiểm tra, đánh giá

Quán triệt rộng rãi cho cán bộ, giảng viên, sinh viên trong toàn Trường, tạo sự thống nhất trong nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá trong bảo đảm chất lượng đào tạo theo quan điểm QLCLTT, đồng thời nắm chắc các nguyên tắc, hình thức, phương pháp tổ chức kiểm tra, đánh giá. Trên cơ sở đó nâng cao ý thức trách nhiệm và thái độ của mỗi thành viên trong tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ.

  • Mục đích của kiểm tra, đánh giá

Đối với sinh viên : Tuyển chọn và phân loại đúng năng lực và trình độ của đầu vào (đánh giá đầu vào). Đánh giá điều kiện sinh viên lên lớp, lưu ban, ngừng học, đánh giá kết quả gia tăng về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp và mức độ hình thành nhân cách của sinh viên tốt nghiệp (đánh giá đầu ra).

Đối với giảng viên và cán bộ quản lý : Nắm chắc tình hình học tập và rèn luyện của sinh viên. Tiếp nhận thông tin phản hồi làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình, cải tiến phương pháp, tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Yêu cầu trong kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá trong quá trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm, yêu cầu người thầy luôn có thái độ khách quan, công bằng và trung thực, tránh những định kiến chủ quan. Mục đích của kiểm tra là phát hiện những sai sót, khiếm khuyết về kiến thức để có biện pháp bổ sung cho sinh viên. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên và hệ thống sẽ giúp thấy nắm chắc kiến thức nghiệp vụ của từng sinh viên và trình độ chung của lớp, hình thành thái độ nghiêm túc cho sinh viên trong học tập.

Kiểm tra, đánh giá có đúng chất lượng đào tạo hay không phụ thuộc vào mục tiêu chất lượng của học phần, môn học và khóa học đã được xây dựng trước đó. Khi xây dựng chương trình, người quản lý phải lượng hóa được khối lượng kiến thức cần đạt đựơc khi kết thúc.

Kiểm tra, đánh giá phải tổ chức thống nhất trong toàn Trường về thời gian cũng như cách thức, nội dung đánh giá. Tùy thuộc vào đặc thù từng ngôn ngữ, môn học có thể có những cách thức kiểm tra, đánh giá khác nhau. Nhà trường cần định hướng các Trường tiếp tục hoàn chỉnh ngân hàng đề thi để đưa vào sử dụng.

  • Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá

Những nguyên tắc chính của quá trình kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với mục tiêu đào tạo; bảo đảm tính khách quan, công bằng, tính thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá. Trong giáo dục-đào tạo, kiểm tra, đánh giá được coi như phương thức thúc đấy sự phát triển và hoàn thiện không ngừng nhằm đạt mục tiêu và là công cụ đo lường chất lượng đầu ra của mỗi bài học, mỗi học phần, mỗi môn học và cả quá trình đào tạo.

Nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá

  • Đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực sư phạm của sinh viên.
  • Đánh giá hiệu quả phương pháp giảng dạy và việc sử dụng thiết bị vào dạy học.
  • Đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu, mức độ phù hợp của nội dung chương trình, nhằm bố sung kiến thức thiếu hụt của sinh viên được phát hiện sau kiểm Điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy, phương pháp học và tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
  • Kiểm tra, đánh giá chính xác về chất lượng dạy học ở mỗi thời điểm, ở mỗi bộ môn sẽ là cơ sở để tự điều chỉnh và cải tiến liên tục trong quá trình đào tạo nhằm đạt mục tiêu đã định. Trong quản lý chất lượng theo quan điểm QLCLTT, kiểm tra, đánh giá luôn là công cụ quan trọng hỗ trợ quá trình cải tiến thường xuyên hướng đạt mục tiêu chất lượng.

Hình thức kiểm tra, đánh giá Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Trường ĐHGD cũng giống như các trường đại học khác, cần có sự thống nhất về hình thức tổ chức và nội dung kiểm tra, đánh giá trong quá trình đào tạo. Kiểm tra, đánh giá đào tạo sư phạm có những đặc thù riêng, do vậy cần thực hiện bằng hình thức kiểm tra trắc nghiệm, tự luận và vấn đáp, trong đó tập trung cho hình thức trắc nghiệm và vấn đáp. Chương trình kiểm tra được tiến hành thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra kết thúc và bằng các phương pháp khác nhau.

Nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng

Nội dung kiểm tra, đánh giá cần được tiến hành trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo, do điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung tổ chức đánh giá một số thành tố chính của mô hình đào tạo.

  • Đánh giá nội dung chương trình

Đánh giá sự đáp ứng của nội dung chương trình đào tạo đối với mục tiêu đào tạo của nhà trường, sự phù hợp với điều kiện môi trường sư phạm, môi trường khoa học cơ bản, thực trạng đội ngũ giảng viên, đặc thù sinh viên. Việc đánh giá nội dung chương trình cũng cần phải xem xét tính hiện đại của xu thế hội nhập quốc tế, mức độ phù hợp của giáo trình, tài liệu giảng dạy với mục tiêu đào tạo. Trên cơ sở đó đề xuất đổi mới nội dung chương trình, hoàn thiện giáo trình tài liệu.

  • Đánh giá phương pháp giảng dạy

Tập trung đánh giá phương pháp sư phạm có đáp ứng với mục tiêu đào tạo của nhà trường, với nhu cầu hình thành nhân cách nghề nghiệp của sinh viên, cụ thể là các kỹ năng để kịp thời điều chỉnh cải tiến phương pháp theo định hướng dạy học tích cực của nội dung giải pháp đã đề cập.

  • Đánh giá các điều kiện bảo đảm

Căn cứ vào giải pháp về điều kiện bảo đảm, thường xuyên và định kỳ tổ chức đánh giá mức độ và hiệu quả của điều kiện cơ sở vật chất như giáo trình tài liệu, trang thiết bị dạy học : phòng tập giảng, phòng công nghệ dạy học, phòng multi, thiết bị nghe nhìn, thư viện chuyên ngành…. Trên cơ sở đánh giá tiếp tục tổ chức các điều kiện bảo đảm nhằm đạt mục tiêu chất lượng đã xây dựng. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  • Đánh giá sinh viên

Đánh giá người học là đánh giá kết quả sản phẩm của giáo dục. Trong đánh giá chất lượng người học có nhiều cấu trúc để xem xét như : học lực, hạnh kiểm hay trí lực, tâm lực, thể lực và trí, đức, thể mỹ… Nhưng cấu trúc hoàn hảo hơn cả để đánh giá chất lượng sinh viên là : Kiến thức, kỹ năng và thái độ.

  • Đánh giá giảng viên

Thông thường Nhà trường tổ chức đánh giá giảng viên qua bình bầu, thi đua khen thưởng hoặc tổ chức thi giảng viên dạy giỏi hàng năm. Khi áp dụng quản lý theo quan điểm QLCLTT, việc đánh giá giảng viên cần chính xác và công bằng hơn, tạo động lực cho sự phát triển. Song song với việc đánh giá theo thống kê chất lượng đội ngũ có thể tổ chức đánh giá qua phiếu thăm dò sinh viên trong quá trình giảng dạy và đồng nghiệp trong tổ chức dự giờ. Nội dung đánh giá tập trung vào năng lực sư phạm, thái độ trong kiểm tra đánh giá, thái độ ứng xử, quan hệ với sinh viên.

Một phương pháp khác là đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp, đây là nội dung đánh giá rất chính xác. Dựa vào hệ thống chuẩn người giáo viên có thể tự đánh giá mình đã đạt chuẩn hay chưa, nhà trường đánh giá được chất lượng đội ngũ của mình và các cơ quan chuyên môn đánh giá được chất lượng đội ngũ của nhà trường. Hiện nay Trường ĐHGD chưa xây dựng được chuẩn đánh giá chất lượng đội ngũ, nội dung này cần có sự đầu tư của một chương trình nghiên cứu khác.

  • Đánh giá kết quả hoạt động dạy học

Căn cứ vào mục đích, yêu cầu, hình thức và nội dung kiểm tra, đánh giá, việc đánh giá chất lượng đào tạo cử nhân Sư phạm cần tập trung vào các hình thức kiểm tra thường xuyên, đột xuất và định kỳ (học kỳ, năm học). Các khâu chuẩn bị cho đánh giá cần được chuẩn bị nghiêm túc như tổ chức ôn thi, ra đề thi, coi thi, chấm điểm, công khai và bảo quản kết quả thi. Những hình thức thi, kiểm tra phải lựa chọn phù hợp, đối với các kỹ năng nghe, đọc cần tăng cường hình thức thi trắc nghiệm, kỹ năng sư phạm, tầm nhìn của một nhà giáo dục…

  • Quản lý công tác thông tin phản hồi và quản lý sinh viên sau tốt nghiệp

Hàng năm nhà trường tổ chức triển khai thu thập và xử lý thông tin phản hồi bằng các phiếu hỏi. Tất cả các phiếu hỏi này được thiết kế trên nguyên tắc của Hệ thống thông tin quản lý đào tạo có ứng dụng của công nghệ thông tin, đó là các phiếu hỏi được thiết kế thu thập và xử lý thông tin trực tuyến, đảm bảo tính chính xác, tính kịp thời, và thông suốt của hệ thống thông tin.

  • Giảng viên xây dựng phiếu thăm dò ý kiến sinh viên sau mỗi bài giảng hoặc học trình nhằm điều chỉnh kịp thời phương pháp, nội dung, tiến độ bài giảng phù hợp mức độ lĩnh hội kiến thức của sinh viên.
  • Cấp tổ bộ môn xây dựng phiếu hỏi cho mỗi học phần, môn học tìm hiếu những đánh giá của sinh viên về nội dung chương trình, môn học, cách thức tổ chức hoạt động dạy học.
  • Cấp Khoa định kỳ xây dựng phiếu hỏi sau mỗi học kỳ, năm học nhằm tìm hiểu những nhu cầu của sinh viên về tất cả các hoạt động đào tạo, trên cơ sở đó điều chỉnh quá trình quản lý đào tạo của môn học, ngành học.
  • Cấp trường xây dựng phiếu hỏi cho năm học, khóa học, tổ chức đối thoại trực tiếp và hòm thư góp ý, nội dung tập trung vào hoạt động dạy học và nghiên cứu Trường học, đối tượng hỏi là sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý. Định kỳ nhà trường tổ chức thăm dò ý kiến sinh viên tốt nghiệp, các đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp bằng phiếu thăm dò và hội nghị khách hàng. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Đặc biệt việc xây dựng hệ thống thông tin, và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ quản lý mạng lưới cựu sinh viên tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội được tác giả đề xuất dưới đây là một biện pháp mà tác giả thấy cần thiết và là linh hồn của hệ thống quản lý chất lượng đào tạo theo TQM mà cụ thể là quan tâm nhiều đến sinh viên sau khi tốt nghiệp, quan tâm đến các phản hồi của khách hàng.

  • Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

Thương hiệu, Uy tín là tài sản vô giá của Trường Đại học Giáo dục, trong đó hệ thống Cựu sinh viên đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển thương hiệu và uy tín đó.

Thứ nhất, Cựu sinh viên chính là một kênh thông tin để quảng bá, truyền thông cho thương hiệu, uy tín của Trường Đại học Giáo dục.

Thứ hai, Cựu sinh viên cũng là nguồn học viên tiềm năng cho Trường Đại học Giáo dục nếu ta biết khai thác và sử dụng dữ liệu cựu sinh viên hiệu quả.

  • Do vậy, việc đề xuất các biện pháp cần dựa trên các nguyên tắc sau:

Việc đề xuất các biện pháp quản lý phải dựa trên chủ trương, định hướng của Trường Đại học Giáo dục về việc phát triển thương hiệu nâng cao uy tín thông qua hoạt động xây dựng và quản lý mạng lưới Cựu sinh viên.

Nguyên tắc kế thừa: Việc đề xuất các biện pháp quản lý cũng phải mang tính kế thừa. Tính kế thừa thể hiện ở chỗ, biện pháp đề xuất có thể là biện pháp mới, nhưng được kế thừa dựa trên những biện pháp đã được thực hiện hiệu quả trước đây. Hoặc vẫn là những biện pháp cũ, nhưng trong quá trình triển khai, có khâu nào có thể làm tốt hơn nữa thì cần khai thác, đưa để việc triển khai các hoạt động trong quá trình quản lý Cựu sinh viên được tốt hơn.

Nguyên tắc hiệu quả: bất kỳ một biện pháp nào đưa ra, cũng phải đặt yếu tố hiệu quả trong quá trình thực thi, để đảm bảo biện pháp đó có thể thực hiện và mang lại hiệu quả trong quá trình quản lý mạng lưới cũng như trong quá trình kết nối Cựu sinh viên với Cựu sinh viên, Cựu sinh viên với nhà trường.

Các biện pháp đề ra phải trên cơ sở phù hợp với các điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, đảm bảo về nguồn lực và tài lực.

Dữ liệu về Cựu sinh viên được coi là yếu tố quan trọng số một. Mọi hoạt động bổ trợ cho công tác và xây dựng mạng lưới Cựu sinh viên chỉ có thể thực hiện khi chúng ta có một database chuẩn và đảm bảo mức độ “sống” của thông tin trên database (luôn trong tình trạng được cập nhật). Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Do đó, công tác lưu trữ database luôn phải được ưu tiên hàng đầu.

Cần có nguyên tắc và hệ thống lưu trữ rõ ràng và khoa học:

  • Cựu sinh viên chương trình ngắn hạn được lưu hồ sơ riêng. Trong hồ sơ này phân rõ đối tượng từng năm/ từng lớp.
  • Cựu sinh viên chương trình dài hạn được lưu hồ sơ riêng. Trong hồ sơ này phân rõ đối tượng từng năm/ từng lớp.
  • Để việc quản lý database về Cựu sinh viên hiệu quả, thì cần thiết sinh viên phải điền đầy đủ các thông tin trên “Hồ sơ tóm tắt cựu sinh viên”. Và thông tin phải được thống nhất từng cách ghi. Việc này yêu cầu Bộ phận triển khai lớp học phải:
  • Nhắc sinh viên ghi đầy đủ thông tin trên “Hồ sơ tóm tắt cựu sinh viên”, không để trống mục nào.
  • Trong quá trình nhập liệu các thông tin dựa trên tờ khai của sinh viên, Cán bộ triển khai lớp học phải viết đầy đủ, không được viết tắt một thông tin nào theo đúng quy định.

Cập nhật thông tin để đảm bảo database của Cựu sinh viên “sống”:

Để thông tin về sinh viên được cập nhật một cách tối đa (cơ sở dữ liệu luôn được duy trì và “sống”), Phòng Đào tạo và Công tác sinh viên phải lên kế hoạch cập nhật định kỳ thông tin về Cựu sinh viên.

Đẩy mạnh công tác quảng bá, truyền thông về cộng đồng Cựu sinh viên của Trường Đại học Giáo dục

Một thương hiệu mạnh không chỉ cần có chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt mà còn phải biết kết hợp với việc quảng bá thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Việc quảng bá, truyền thông về cộng đồng Cựu sinh viên hiện nay mới chỉ dừng đến thông tin được đăng tải trên website của trường, và thông tin chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về cộng đồng Cựu sinh viên.

Xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng cho từng hoạt động quản lý mạng lưới Cựu sinh viên

  • Biện pháp về nâng cao chất lượng nhân sự làm công tác quản lý Cựu sinh viên.
  • Nâng cao kỹ năng quản lý Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Trường đã duy trì công tác Xây dựng và quản lý Cựu sinh viên trong một thời gian dài nhưng vẫn thiếu những kỹ năng chuyên ngành. Thứ nhất vì Cựu sinh viên là một hoạt động còn rất ít ở môi trường giáo dục tại Việt Nam nên không có sự tham vấn. Cần đầu tư nghiên cứu một các bài bản về vấn đề này, vì thực tế nếu khai thác hiệu quả mạng lưới cựu sinh viên thì sẽ là tài sẩn vô giá cho trường, sẽ là một kênh thông tin một kênh phản hồi trung thực nhất về chất lượng đào tạo nhà trường, từ đó có các biện pháp điều chỉnh nhằm phù hợp và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

Nâng cao nhận thức về uy tín, thương hiệu và xây dựng đội ngũ quản lý Cựu sinh viên chuyên nghiệp

Như lý thuyết về thương hiệu đã đề cập, mỗi nhân viên đều phải là một “đại sứ” cho thương hiệu. Cho nên cần thấm nhuần và nâng cao nhận thức về uy tín và thương hiệu nhà trường. Mỗi cán bộ làm công tác Quản lý Cựu sinh viên khi tiếp xúc với Cựu sinh viên cần nhận thức rõ những đặc điểm và giá trị thương hiệu của mình thông qua hoạt động này, từ đó làm kim chỉ nam trong mọi hành vi, ứng xử của cán bộ đối với Cựu sinh viên, luôn để Cựu sinh viên thấy được sự nhất quán trong giao tiếp và ứng xử của cán bộ từ quá trình tuyển sinh, quá trình đào tạo và quá trình kết thúc.

Tóm lại, văn hoá thương hiệu, văn hóa chất lượng cho phép mỗi cán bộ, nhân viên đều là một tuyên truyền viên xuất sắc và tự hào về uy tín, thương hiệu của nhà trường. Do đó, cán bộ giảng viên cần ý thức rõ được giá trị này.

Trong thời đại ngày nay, uy tín và thương hiệu được xem là tài sản vô giá của bất kỳ cơ quan tổ chức hay đơn vị nào. Một tổ chức giáo dục có thương hiệu càng trở nên uy tín và thực sự là tín hiệu đáng mừng cho nền giáo dục nước nhà. Do đó, việc xây dựng, phát triển và gìn giữ thương hiệu là một trong những nhiệm vụ cấp thiết.

3.3.5. Giải pháp tổ chức thực hiện quy trình và ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý chất lượng

Thứ nhất là trong các quy trình thủ tục, các hoạt động quản lý đào tạo cử nhân sư phạm nêu ở trên trong các công việc, trong các thao tác, từng nội dung quản lý đều cần được tin học hóa, đều cần có phần mềm quản lý thực hiện (CNTT được ứng dụng vào các giải pháp quản lý chất lượng đào tạo, từ QLCL mục tiêu đào tạo, QL chương trình, QL đội ngũ giảng viên, CBQL,…).

Thứ hai là các quy trình thủ tục của hệ thống quản lý chất lượng được công khai và được thao tác trên hệ thống phần mềm tin học hỗ trợ, như hệ thống kiểm tra giám sát, hệ thống thống kê dữ liệu; hệ trợ giúp ra quyết định cũng được ứng dụng và triển khai trong hệ thống QLCL ĐT. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Luận án đã nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm trong đại học đa ngành đa lĩnh vực theo TQM và Ứng dụng CNTT trong quản lý chất lượng, trên cơ sở trên cơ sở các thành tố trong quản lý chất lượng đó đề tác giả đề xuất biện pháp quản lý thực thiện quy trình quản lý chất lượng. Với các chuẩn mục, thủ tục, quy trình. Việc thực hiện làm đúng những thủ tục quy trình đã công bố cần sự chỉ đạo sát xao của người quản lí và không thể thiếu được vai trò của hệ thống thông tin quản lý ứng dụng của công nghệ thông tin và truyền thông một các toàn diện. Công việc cụ thể của hoạt động này là quán triệt cho mọi người nhận thức và kỹ năng thực hiện công việc với “văn hoá chất lượng” cao. Tiếp theo là có cơ chế theo dõi giám sát việc thực hiện và sẵn sàng “can thiệp” sửa lỗi hay bổ sung điều kiện để động viên, khuyến khích việc thực hiện hoặc cho “lời khuyên” kịp thời và thưởng phạt công minh để tin rằng kế hoạch chất lượng được thực hiện tốt. Khi kiểm tra để chỉ đạo tốt việc thực hiện những điều nêu trên cần chú ý 3 nội dung kiểm tra:

  • Kiểm tra đầu việc đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí đã ban hành;

Giả sử chúng ta đã có các tiêu chuẩn và chuẩn mực cho các hoạt động của cơ sở của mình và nếu cần thiết chúng ta sẽ xem xét lại định kỳ để xem tính phù hợp của nó và lượng giá, đưa ra các chỉ số định lượng các thủ tục thực hiện. Trong giai đoạn thực hiện các chuẩn mực đã được thống nhất và công bố thì việc tuân thủ và thực hiện chúng là rất quan trọng. Khi kiểm tra công việc theo tiếp cận QL chất lượng cần phải kiểm tra thông qua việc thực hiện các chuẩn mực đã quy định. Dạy học là công việc sáng tạo của GV tuy nhiên việc tuân thủ các “chuẩn mực” sẽ góp phần tạo nên chất lượng như mong muốn của người quản lí.

  • Kiểm tra việc thực hiện quy trình, thủ tục

Mỗi mảng công việc được thực hiện bởi các bộ phận của nhà trường. Trong từng bộ phận cần phải “mô tả công việc” theo chức năng nhiệm vụ của mình và gắn với các chuẩn mực của công việc mà phần trên đã trình bày (bảng mô tả đó cần có các mục: nội dung công việc; người chịu trách nhiệm chính; kết quả cần đạt với các chuẩn mực cụ thể (đầu ra công việc); đối tác “hưởng thụ” và mức độ hài lòng của họ…).

Bản mô tả công việc này phải được thực hiện ở tất cả các bộ phận và gắn với các địa chỉ cụ thể và đây là một phần của “viết những điều cần làm” để thực hiện công việc một cách có chất lượng.

Sau khi đã có các bản “mô tả công việc” cần thực hiện đúng quy trình vì vậy phải xây dựng quy trình cho từng “bản mô tả công việc” nêu trên.Nguyên tắc của quy trình triển khai công việc là căn cứ vào “quy mô công việc” và các “lực lượng phối hợp” để vẽ “đường đi đến đích” của công việc theo một logic hợp lí nhất, phù hợp với các quy định tiến hành công việc của cơ quan và mong đợi của đối tác tiếp nhận kết quả công việc đó. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Quy trình thực hiện công việc cụ thể thể coi nó là một “sơ đồ” có các véctơ nối nhau mà điểm đầu và điểm cuối của mỗi véctơ là điểm xuất phát và đích của một nội dung công việc cụ thể để tiến hành công việc một cách khoa học nhất (có thể theo sơ đồ xương cá…). Một khi quy trình đã được thống nhất và phê duyệt bởi người có trách nhiệm thường là trưởng bộ phận hay trưởng đơn vị thì bắt buộc phải thực hiện đúng và đây chính là việc thực hiện “đúng những gì đã viết” theo tư tưởng đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên quy trình đảm bảo chất lượng một cơ sở GD&ĐT rất gần với quy trình kiểm định chất lượng nhưng ở đây chủ yếu là “tự kiểm định”! nó cũng phải trải qua các công đoạn tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, tiêu chí đã xác định với các minh chứng thực hiện được lưu giữ, tiếp đến là đánh giá thẩm định bản tự đánh giá của nhà trường để khẳng định mức độ đạt được và tính chính xác của tự đánh giá và tự đưa ra kết luận về mức độ đạt được chất lượng của mình hoặc của các bộ phận của nhà trường. Ở đây chỉ khu trú đối với quy trình thủ tục thực hiện công việc cụ thể gắn với các nhiệm vụ của các bộ phận hay cá nhân của tổ chức. Sau khi đã có “bộ tiêu chuẩn, tiêu chí và thủ tục quy trình thực hiện công việc” đã được “viết ra” vấn đề bây giờ là “làm đúng những điều đã viết” và được kiểm tra, giám sát mức độ thực hiện. Do nhiều lí do như “văn hoá chất lượng” thấp mà chủ thể thực hiện các quy trình thủ tục thường “quên” hay “rút gọn” làm cho công việc không đạt được kết quả mong đợi. Ở giai đoạn “văn hoá chất lượng” chưa hình thành hay ở giai đoạn đầu kiểm tra từ ngoài là rất quan trọng. Khi văn hoá chất lượng đã được nâng cao thì việc tự đánh giá và báo cáo trở thành công cụ kiểm tra phù hợp nhất. Thời gian “chuyển giai đoạn” dài hay ngắn phụ thuộc vào văn hoá nhà trường và ý thức của nhân viên cũng như sự chỉ đạo quyết liệt của cấp quản lý.

  • Kiểm tra kết quả

Kết quả là sản phẩm của quy trình hoạt động; khi kết quả đạt được không như mong đợi một trong các nguyên nhân là không tuân thủ quy trình, thủ tục. Tuy nhiên, cũng có thể có các nguyên nhân khác, chỉ thông qua việc “lưu trữ hồ sơ công việc” mới biết được nguyên nhân “tốt” hoặc “chưa tốt”. Ngay cả khi đã tuân thủ quy định trên nhưng khâu “lưu hồ sơ” không tốt cũng là một khiếm khuyết trong quản lí chất lượng; vì vậy kiểm tra kết quả gắn với việc kiểm tra việc lưu hồ sơ thực hiện công việc kèm theo kết quả đã đạt được. Điều này cần được quán triệt cho cả người kiểm tra lẫn người được kiểm tra

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Chính (2014), trong giáo dục người ta thường dùng một bộ thước đo bao gồm các tiêu chí và các chỉ số ứng với các lĩnh vực trong quá trình GD và dịch vụ cộng đồng của các trường. Bộ thước đo này có thể dùng để đánh giá đo lường các điều kiện đảm bảo chất lượng, có thể đánh giá đo lường bản thân chất lượng đào tạo của một trường. Các chỉ số đó có thể là chỉ số định lượng, tức là đánh giá và đo được bằng điểm số. Cũng có thể có các chỉ số định tính, tức là đánh giá bằng nhận xét chủ quan của người đánh giá. Muốn quản lí chất lượng có kết quả và thực hiện đánh giá chất lượng các chỉ số cần các minh chứng, minh chứng là bằng chứng hữu ích cho việc nhận diện cái được, cái chưa được vì vậy việc xây dựng các chỉ số và các minh chứng cho các tiêu chuẩn liên quan đến Đầu vào – Quá trình – Đầu ra nêu trên là rất quan trọng và bắt buộc. Dựa vào các chuẩn mực và các chỉ số (tiêu chí) có thể đánh giá là tốt nếu tài liệu lưu trữ kết quả và bằng chứng rõ ràng có triển khai thực hiện có hiệu quả từng yêu cầu trong từng tiêu chí của đa số các chuẩn mực (tiêu chuẩn) nêu trên.

Việc đánh giá, đo lường chất lượng có thể được tiến hành bởi chính đội ngũ giảng viên, sinh viên của trường nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như đánh giá bản thân chất lượng đào tạo của trường mình. Ví dụ, một trường tự điều tra số lượng học sinh tốt nghiệp và “đường đi” của họ trong thời gian 6 tháng sau khi tốt nghiệp để tìm hiểu mức độ đáp ứng yêu cầu của các đối tác nói riêng và của xã hội nói chung của học sinh trường mình.

Việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài do các cơ quan hữu quan thực hiện với các mục đích khác nhau (khen – chê, xếp hạng, khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận .v.v ..).

Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích của việc đo lường, đánh giá. Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp cũng như các công cụ đo lường tương ứng. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Tuy nhiên điểm chung của đánh giá trong quản lí chất lượng là gắn với “hồ sơ công việc” – minh chứng và các biểu mẫu.

Tự đánh giá là một khâu đầu tiên trong tổng thể các hoạt động đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục. Trước hết tự đánh giá cấp trường là thể hiện cụ thể tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động GD và dịch vụ xã hội theo chức năng nhiệm vụ được giao của cơ sở giáo dục và phù hợp với tôn chỉ mục đích và sứ mạng của nhà cơ sở giáo dục, tạo cơ sở cho bước tiếp theo là đánh giá từ ngoài.

Khi tiến hành tự đánh giá cần làm rõ thực trạng quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động GD theo chức năng, nhiệm vụ của trường đại học và phù hợp với tôn chỉ mục đích và sứ mạng của trường trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói riêng, của đất nước nói chung.

Xác định và so sánh mục tiêu GD đã đạt được so với các tiêu chuẩn, tiêu chí đã được Bộ GD&ĐT quy định cho việc đánh giá chất lượng của trường: đánh giá thực trạng các hoạt động tổ chức quản lý và các điều kiện bảo đảm chất lượng cho GD toàn diện của nhà trường bao gồm cả cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên,. . . đến các nguồn kinh phí và dịch vụ sinh viên,…xem đạt đến mức nào của các tiêu chuẩn đòi hỏi đối với một trường đại học trong bối cảnh đổi mới GD.

  • Trong quá trình tự đánh giá cần đề xuất ra các chiến lược, kế hoạch, biện pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng GD của trường mình trên cơ sở thực hiện các nội dung sau:
  • Thu thập, phân tích và tổng hợp các thông tin, tư liệu, số liệu thống kê theo yêu cầu của các minh chứng cần có cho các tiêu chuẩn và tiêu chí kiểm định đề ra.
  • Tổ chức thẩm tra, khảo sát ý kiến tự đánh giá của các cán bộ, giáo viên và học sinh của cơ sở giáo dục. Điều tra đánh giá tình hình việc làm sau khi tốt nghiệp của học sinh thông qua việc lấy ý kiến nhận xét, đánh giá của các cơ sở sử dụng “đầu ra” của nhà trường.
  • Viết báo cáo tự đánh giá theo các tiêu chuẩn kiểm định do Bộ GD&ĐT ban hành trên cơ sở các thông tin và bằng chứng thu được.
  • Tham khảo ý kiến các cán bộ, giảng viên và học viên của cơ sở giáo dục về báo cáo tự đánh giá để bổ sung và hoàn thiện.

Trong khuôn khổ nghiên cứu của Luận án tác giả đã đề xuất một số quy trình điển hình làm cơ sở minh họa cho giải pháp quy trình hóa và ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý chất lượng đào tạo, đây là minh chứng rằng vai trò CNTT là hết sức quan trọng trong việc triển khai quản lý chất lượng cử nhân sư phạm theo TQM (Xem phụ lục 6).

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết, tính thực tiễn và tính khả thi về các giải pháp triển khai hệ thống quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm trong Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Sau khi thực hiện xong nội dung chương 3, tác giả đã tổ chức xin ý kiến chuyên gia bằng tham vấn trực tiếp và hệ thống phiếu hỏi. Thành phần 40 giáo viên (Ban chủ nhiệm Khoa,Tổ trưởng bộ môn của các khoa) và 20 cán bộ quản lý (chuyên viên của trường tham gia đào tạo sư phạm, cán bộ quản lý sinh viên và cán bộ các phòng ban chức năng).

Tác giả trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn chính đề xuất mô hình, các yếu tố của mô hình và nội dung của từng nhóm giải pháp, chủ động nêu vấn đề tham vấn và giải quyết những vấn đề của các chuyên gia đặt ra.

Các chuyên gia đã cho ý kiến về tính cấp thiết, tính thực tiễn và tính khả thi của các giải pháp triển khai mô hình. Tổng cộng có 20 ý kiến đóng góp và 60 đánh giá qua phiếu khảo sát online.

  • Bảng 3.1. Kết quả khảo sát về các giải pháp Quản lý chất lượng tổng thể

Các nhóm giải pháp triển khai mô hình đã bao quát toàn bộ nội dung các lĩnh vực quản lý chất lượng đào tạo, phù hợp với quan điểm QLCLTT là: quản lý chất lượng ở mọi nơi, mọi lúc và mọi khâu, với sự hỗ trợ của CNTT, một hệ thống tin học, hệ thống thông tin đồng bộ đủ mạnh sẽ giúp đạt mục tiêu của QLCLTT (TQM).

Kết quả ý kiến đóng góp qua tham vấn các chuyên gia và qua phiếu khảo sát, các đại biểu đều nhất trí đánh giá các giải pháp đề xuất đều có cấp thiết, tính thực tiễn và tính khả thi cao ( xem bảng 3.1).

3.5. Thử nghiệm một số quy trình quản lý chất lượng ở trường Đại học giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

3.5.1. Mục đích, ý nghĩa của việc thử nghiệm

Tác giả đã xây dựng hệ thống thông tin quản lý hỗ trợ quản lý sinh viên sau khi tốt nghiệp (Quản lý đầu ra) Biện pháp thứ 4.

Tác giả đã phát triển sử dụng phần mềm mã nguồn mở để tin học hóa quy trình này, tác giả khảo sát thử nghiệm điều tra sinh viên sau khi tốt nghiệp. Phần mềm Hỗ trợ quản lý Sinh viên sau khi tốt nghiệp được cài đặt tại địa chỉ website: http://cuusv.education.vnu.edu.vn/css/ Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

3.5.2. Quy trình và dối tượng thử ngi m

  • Giai đoạn 1: Lấy ý kiến chuyên gia về nội dung, đối tượng, phương thức thử nghiệm. Mục đích của giai đoạn này là xác định được các quy trình thử nghiệm, hình thức thử nghiệm cũng như đối tượng tham gia thử nghiệm.
  • Giai đoạn 2: Lựa chọn các quy trình phù hợp với nội dung, đối tượng, phương thức thử nghiệm.
  • Giai đoạn 3: Đưa ra các quy trình được lựa chọn, phỏng vấn sâu các chuyên gia về nội dung, các điều kiện để áp dụng các quy trình trong nhà trường.
  • Giai đoạn 4: Triển khai tin học hóa quy trình đã lựa chọn và vận hành quy trình này khi đã được tin học hóa.

Trên sinh viên (300) trường Đại học Giáo dục thực nghiệm quy trình quản lý chất lượng đầu ra có ứng dụng của công nghệ thông tin trong quá trình quản lý.

3.5.3. Đánh giá kết quả thử nghiệm

  • Đối với phương pháp truyền thống:

Đối với phương pháp truyền thống khi triển khai điều tra thì với quy trình điều tra khảo sát định kỳ hàng năm đối với sinh viên sau khi tốt nghiệp, đã phối hợp nhiều phương pháp thủ công khác nhau để điều tra khảo sát, thu thập thông tin phản hồi như: gửi thư, gọi điện thoại, liên hệ bằng các nhóm sinh viên, nhóm đồng hương.

Kết quả: thu về lượng thông tin không đầy đủ, tốn kém, lưu trữ và bảo quản vất vả và dẽ bị thất lạc, không thống kê tức thì được các thông tin cần biết (số liệu báo cáo hồi cứu Phòng ĐT&CTSV trường ĐHGD).

Phương pháp mới thử nghiệm có ứng dụng công nghệ thông tin bằng có hỗ trợ của phần mềm khảo sát online:

Tác giả đã gửi email cho các sinh viên của Khóa QH-2018-S trong vòng 1 tuần đã nhận được thông tin phản hồi và có tương đối đầy đủ các thông tin mà đơn vị cần. Có thể thống kê, báo cáo và lưu trữ một cách đầy đủ các thông tin được phản hồi.

Dưới đây là một vài mô tả bằng hình ảnh minh họa cho phần mền điều tra khảo sát sinh viên sau khi tốt nghiệp. Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý Cựu sinh viên tại trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà nội được mô tả tại (Phụ lục 5)

Kết luận chương 3 Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

Căn cứ vào cơ sở lý luận của chương 1, nghiên cứu thực tiễn của chương 2 và những đặc thù của Trường ĐHGD và các Trường thành viên đào tạo Cử nhân Sư phạm trong Đại Quốc gia Hà nội đang đào tạo theo học chế tín chỉ, chương 3 đề cập những nội dung cơ bản sau :

Thứ nhất, Định hướng xây dựng mô hình QLCLĐT theo quan điểm QLCLTT tại Trường tham gia đào tạo Cử nhân Sư phạm tại Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng mô hình.

Thứ hai, Xây dựng được mô hình QLCLĐT theo quan điểm QLCLTT, bằng tiếp cận xu thế quản lý chất lượng tiến tiến và tận dụng được những ưu điểm phương thức đào tạo theo tín chỉ trong Đại học đa ngành; khẳng định vai trò không thể thiếu của CNTT trong việc triển khai hệ thống QLCLTT (TQM). Xuất phát từ quan điểm toàn diện, Mô hình đã bao hàm hoạt động của các thành tố đào tạo (thầy, trò, điều kiện, mục tiêu, nội dung, phương pháp) trên mọi lĩnh vực (dạy học, nghiên cứu Trường học và rèn luyện sinh viên) và ở mọi thời điểm ( đầu vào, quá trình và đầu ra) của quá trình đào tạo.

Thứ ba, xuất phát từ quan điểm toàn diện, mô hình được đề xuất bao hàm hoạt động của các thành tố đào tạo (thầy, trò, điều kiện, mục tiêu, nội dung, phương pháp) trên mọi lĩnh vực (dạy học, nghiên cứu khoa học và rèn luyện sinh viên) và ở mọi thời điểm ( đầu vào, quá trình và đầu ra) và được triển khai bằng 5 nhóm giải pháp triển khai mô hình.

Thứ tư, kết quả ý kiến đánh giá của chuyên gia về sự cần thiết xây dựng mô hình QLCLĐT theo quan điểm QLCLTT tại Trường ĐHGD và tính cấp thiết, tính thực tiễn, tính khả thi của các giải pháp triển khai mô hình.

Thứ năm, tác giả đã triển khai thử nghiệm giải pháp thứ 4 quản lý chất lượng đầu ra bằng việc thực hiện ứng dụng Công nghệ thông tin vào quá trình quản lý chất lương tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

1. Kết luận

Chất lượng giáo dục là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các cơ sở giáo dục đào tạo đại học và toàn hệ thống giáo dục đào tạo nói chung. Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi cơ sở đào tạo đặc biệt là trong thế kỷ 21, nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nguồn lực quan trọng và nhà trường đóng vai trò quyết định sự phát triển của xã hội. Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Trường Đại học Giáo dục nói riêng và các trường ĐH trong cả nước nói chung phải nâng cao chất lượng quản lý.

Vấn đề quản lý chất lượng được áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo mới từ cuối thập niên 80. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về đảm bảo chất lượng đào tạo. Các đơn vị đã thành lập Trung tâm Kiểm định và Đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, cho đến nay về chất lượng đào tạo vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau. Trong bối cảnh đó, đề tài luận án đã xây dựng được mô hình quản lý chất lượng đại học tiếp cận quan điểm quản lý chất lượng tổng thể và các giải pháp để triển khai hệ thống Quản lý chất lượng.

Tư tưởng cốt lõi, xuyên xuốt trong quá trình nghiên cứu và được thể hiện trong đề tài luận án về quan niệm chất lượng đào tạo đại học nói chung và Trường Đại học Giáo dục nói riêng là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng, chuyển từ quản lý theo mục tiêu sang quản lý theo quá trình. Quản lý chất lượng không chỉ vì hiện tại mà phải hướng vào tương lai và tăng cường vai trò, trách nhiệm tự quản lý của cơ sở đào tạo đại học và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của cơ sở đào tạo đại học đó. Quản lý chất lượng trong mọi hoạt động của quy trình công việc, với việc nghiên cứu mang tính liên ngành giữa lý thuyết về quản lý, quản lý chất lượng với nghiên cứu về hệ thống thông tin quản lý và ứng dụng Công nghệ thông tin tác giả đã đề xuất được các giải pháp cấp thiết, có tính thực tiễn và khả thi khi triển khai áp dụng.

Nhìn chung, mô hình quản lý chất lượng đào tạo tiếp cận hệ thống chất lượng tổng thể trên cơ sở tin học học đã được thiết kế và trình bày trong Chương 3 có thể áp dụng chung trong quản lý đào tạo đại học, với tính ưu việt của quan điểm QLCLTT, sự hữu ích của ứng dụng Công nghệ thông tin vào trong các hoạt động đào tạo sẽ là một bước đột phá trong việc hỗ trợ quản lý nâng cao chất lượng đào tạo.

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.

  1. Với chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo đại học, Bộ GD&ĐT cần tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản pháp qui dưới luật tạo ra hệ thống những qui định, yêu cầu, nền tảng ban đầu cho việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng.
  2. Trong điều kiện hạn chế về nhiều mặt, đề tài luận án mới chỉ đề cập những bước đi ban đầu trong việc tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể trên cơ sở tin học hóa. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh mô hình, ứng dụng thí điểm một các hệ thống và đồng bộ vào trường ĐHGD để tiếp tục điều chỉnh và đưa vào áp dụng trong toàn bộ hệ thống giáo dục.
  3. Đề nghị Bộ Giáo dục-Đào tạo tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng (thể chế, tài chính, cơ sở vật chất v.v…) phục vụ công tác quản lý và tổ chức triển khai đào tạo để các cơ sở đáp ứng tốt hơn các nhu cầu do khách hàng đặt ra.
  4. Trường Đại học Giáo dục cần nhanh chóng triển khai ứng dụng những ưu việt của CNTT và áp dụng đồng bộ quyết liệt theo mô hình NCS đã đề xuất để có thể kiểm soát và theo dõi kết quả thực hiện của mọi hoạt động quản lý chất lượng đào tạo trong thời gian sớm nhất. Như vậy, bước đầu có thể đánh giá được hiệu lực và hiệu quả của mô hình quản lý chất lượng một cách đồng bộ, nhanh chóng, và để từ đó có những rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế. Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm.
  5. Với phạm vi của đề tài luận án tiến sỹ, NCS mới chỉ xây dựng được mô hình quản lý chất lượng đào tạo ở bậc đại học cho trường ĐHGD, đề ra một số giải pháp để triển khai, thực hiện mô hình. Để cho hệ thống Quản lý chất lượng hoạt động một cách hiệu quả cần đầu tư kinh phí và thời gian để phát triển tiếp nội dung của đề tài như quy trình hóa toàn bộ các hoạt động đào tạo và tin học hóa toàn bộ quy trình có như vậy thì hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng do tác giả đề xuất mới góp phần một cách có hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, khẳng định sự ưu việt của một mô hình đào tạo cử nhân Sư phạm mới, mô hình a+b trong ĐHĐNĐLV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý chất lượng đào tạo cử nhân sư phạm

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537