Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo của các trường tiểu học trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Khái quát về điều kiện tư nhiên, kinh tế – chính trị, văn hóa- xã hội của các trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

Huyện Dầu Tiếng là một huyện phía Bắc của tỉnh Bình Dương được tái lập theo Nghị định số 58/1999/NĐ-CP ngày 23/7/1999 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/8/1999. Dầu Tiếng có diện tích tự nhiên 721,095 km2, với dân số toàn huyện hiện nay là 113.830 người, chủ yếu sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp; tổng diện tích các loại cây hàng năm đạt từ 4.000 đến 4.300 ha/năm; tổng diện tích các loại cây lâu năm đạt 54.750 ha, trong đó diện tích cây cao su là 49.800 ha và cây ăn quả là 650 ha.

Phía Bắc giáp huyện Hớn Quản, Chơn Thành (tỉnh Bình Phước); phía Đông và Đông Nam giáp huyện Bàu Bàng, thị xã Bến Cát; phía Tây Bắc và Tây Nam giáp huyện Dương Minh Châu (tỉnh Tây Ninh); phía Nam giáp huyện Củ Chi (Tp. Hồ Chí Minh).

Cơ cấu hành chính gồm 01 thị trấn và 11 xã, với 89 ấp, khu phố. Thị trấn Dầu Tiếng là trung tâm hành chính – kinh tế – văn hóa của Huyện.

Ước tổng giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 15.565 tỷ 998 triệu đồng, tăng 14,54% so cùng kỳ, đạt 100,19% so kế hoạch. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng đạt 6.653 tỷ 337 triệu đồng, tăng 22,2% so cùng kỳ, đạt 100,16% so kế hoạch; giá trị thương mại – dịch vụ đạt 4.873 tỷ 414 triệu đồng, tăng 12,8% so cùng kỳ, đạt 100,71% so kế hoạch; giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 4.039 tỷ 247 triệu đồng, tăng 5,6% so cùng kỳ, đạt 99,62% so kế hoạch.

Diện tích cây cao su hiện nay là 49.800 ha, giảm 0,4% so cùng kỳ (diện tích cao su tiểu điền là 22.750 ha). Diện tích cây ăn quả 650 ha (tăng 7,6% so với cùng kỳ).

Tổng diện tích gieo trồng các loại cây lương thực và rau màu ước đạt 4.655 ha (tăng 4,7% so cùng kỳ), trong đó diện tích lúa xuống giống 600 ha (giảm 9% so cùng kỳ).

2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục – đào tạo của các trường tiểu học trên địa bàn huyện Dầu Tiếng Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

  • Quy mô phát triển trường lớp GD TH

Theo báo cáo tổng kết của Phòng GD và Đào tạo Dầu Tiếng, năm học 2025 – 2026, tổng số trường TH là 17 trường, gồm 316 lớp. Tổng số học sinh là 10.856 em. Tổng số trường tổ chức bán trú là 10 trường (trong đó có 3 trường mới tổ chức năm học 2025 – 2026).

Huyện Dầu Tiếng có 12 xã/thị trấn, với 17 trường TH. Như vậy, trung bình mỗi xã/thị trấn có 1 trường TH, trong đó có 5 xã/thị trấn đông dân cư hơn nên có 2 trường TH gồm: Thị trấn Dầu Tiếng, xã Thanh Tuyền, xã Định Hiệp, xã Thanh An và xã Minh Hòa. Như vậy, Phòng GD huyện Dầu Tiếng đã đáp ứng được nhu cầu đến trường của các trẻ TH về mặt số lượng. Ngoài ra, về mặt chất lượng, Huyện cũng nỗ lực nâng cao chất lượng GD TH với số lượng trẻ nhập học ngày một tăng cao và không có trẻ bỏ học.

  • Chất lượng GD ở các trường TH

Năm học 2025 – 2026, ngành GD Huyện tiếp tục thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2022/TT-BGDĐT. Học sinh hoàn thành chương trình TH là 10.853/10.856 đạt tỷ lệ 99,97% so với năm học trước, giảm 0,02%.

Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá học sinh theo Thông tư số 22/2022/TT- BGDĐT ngày 22/9/2022 của Bộ GDĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá HSTH ban hành kèm theo Thông tư số 30/2020/TT-BGDĐT, trong đó đặc biệt quan tâm việc đánh giá định kì cuối năm học, xét lên lớp.

Tổ chức Hội thi trò chơi dân gian, hát dân ca cấp TH vòng huyện năm học 2025- 2026. Kết quả vòng huyện mỗi môn thi trao 6 giải nhất, 6 giải nhì, 6 giải ba, 22 giải khuyến khích. Giải Nhất toàn đoàn thuộc về đơn vị TH Định Hiệp, giải nhì đơn vị TH Dầu Tiếng, giải ba đơn vị TH Long Tân và Ngô Quyền. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Tổ chức giao lưu Giáo viên viết chữ đẹp cấp TH vòng huyện năm học 2025- 2026. Kết quả vòng huyện khen thưởng 3 giải tập thể: 1 giải nhất (TH Long Hoà), 1 giải nhì (TH Dầu Tiếng) và 1 giải ba (TH Long Tân). Khen thưởng 20 giải cá nhân gồm: 3 giải Nhất, 3 giải Nhì, 3 giải Ba và 11 giải Khuyến khích. Công nhận 29 giáo viên.

Tổ chức giao lưu Học sinh viết chữ đẹp cấp TH vòng huyện năm học 2025- 2026. Kết quả vòng huyện khen thưởng 1 giải nhất (TH Long Hoà), 1 giải nhì (TH Dầu Tiếng) và 1 giải ba (TH Long Tân). Khen thưởng 29 giải cá nhân gồm: 5 giải Nhất, 5 giải Nhì, 5 giải Ba và 14 giải Khuyến khích. Công nhận 69 học sinh.

Phối hợp với các trường THCS đóng trên địa bàn để cử giáo viên tham gia giám sát việc coi và chấm kiểm tra khối lớp 5 cuối cấp để đảm bảo công tác tuyển sinh lớp 6 được khách quan, minh bạch.

Phòng GD và Đào tạo huyện Dầu Tiếng tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị trong việc tổ chức dạy học môn Tin học trong các trường TH. Kết quả đạt được như sau: có 14/17 trường thực hiện dạy tin học với 8.941 học sinh tham gia. Bên cạnh đó, các trường tổ chức cho học sinh tham gia “Câu lạc bộ khoa học vui”, học sinh tự tay làm xà phòng, đất sét, slam, nước rửa tay. Việc tổ chức các hoạt động giao lưu, các sân chơi trí tuệ bổ ích và thân thiện nhằm phát triển năng lực học sinh như: Liên hoan văn nghệ “Tiếng hát dân ca”, giao lưu tìm hiểu “An toàn giao thông”, giao lưu Tiếng Việt của chúng em, đố vui để học, rung chuông vàng, câu lạc bộ tiếng Anh, tin học, …

  • Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trường TH

Tổng số giáo viên TH 426 người, trong đó giáo viên nữ là 384 người, chiếm 90,14% tổng số giáo viên TH. Chất lượng đội ngũ giáo viên đạt chuẩn trình độ chuyên môn 100%.

Tóm lại, thực trạng tình hình GD TH hiện tại của huyện Dầu Tiếng trong những năm gần đây đạt được nhiều thành tựu và ngày càng tốt hơn trước. Số lượng và thành tích của HSTH tăng qua các năm. Bên cạnh đó, chất lượng giáo viên cũng được chú trọng phát triển thông qua những yêu cầu, chính sách tuyển dụng và hỗ trợ nâng cao năng lực cho giáo viên. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những nhược điểm như: Số lượng học sinh trong một lớp quá đông khiến cho tiến trình dạy và học giảm chất lượng, mất cân bằng giới tính trong đội ngũ giáo viên TH cũng phần nào ảnh hưởng đến chất lượng GD.

  • Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ dạy và học

Các trường chủ động tham mưu đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng thư viện đạt chuẩn, cải tạo cảnh quan trường học đạt tiêu chuẩn xanh – sạch – đẹp, an toàn theo quy định. Phát huy tốt công năng của thư viện và phát triển văn hóa đọc cho học sinh. Các trường thực hiện mô hình thư viện thân thiện, thư viện mini, … Thực hiện nghiêm túc các quy định về việc sử dụng sách giáo khoa, sách bổ trợ, tài liệu tham khảo (Cv 2372/BGDĐT-GDTrH ngày 11/4/2019). Rà soát, sửa chữa, bổ sung thiết bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu. Thực hiện tốt việc triển khai sưu tập tài nguyên dạy học. Qua Hội thi “Triển lãm tài nguyên đồ dùng dạy học điện tử qua bộ sưu tập đồ dùng dạy học điện tử” cấp Tỉnh đạt giải Nhất toàn đoàn. Bảo quản tốt và sử dụng hiệu quả các loại đồ chơi, thiết bị vận động ngoài trời được cấp.

2.2. Khái quát tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HSTH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng nhằm góp phần làm rõ thực trạng cũng như phân tích những ưu và hạn chế trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phụ vụ cho HSTH. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng trong quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HSTH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Để đạt mục tiêu nghiên cứu, khảo sát gồm các nội dung chính sau: Sự cần thiết của việc GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú; Nhận thức của GV, CBQL, PHHS về ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức thực hiện, hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho cho học sinh; Sự quan tâm thực hiện của GV, CBQL trong hoạt động GD ý thức tự phục vụ của HS trường TH bán trú; Việc xây dựng kế hoạch GD ý thức tự phụ vụ cho học sinh; Tổ chức thực hiện kế hoạch GD ý thức tự phụ vụ cho học sinh, trong đó được thể hiện thông qua bố trí nhân sự vận hành đối với đội ngũ giáo viên, đối với phương pháp và hình thức thực hiện; Khảo sát sự chỉ đạo trong công tác thực hiện kế hoạch GD ý thức tự phục vụ cho học sinh; Kiểm tra và đánh giá hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh; Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan;

Các ưu điểm và hàn chế, nguyên nhân hạn chế, từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp trong quá trình quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng.

2.2.3. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Nghiên cứu xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng dành cho 3 nhóm đối tượng gồm:

Thứ nhất, CBQL, GV (phụ lục 1). Đối tượng là các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ khối trưởng, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm lớp của 7 trường: trường TH: TH Long Tân; TH An Lập; TH Bến Súc; TH Thanh Tuyền; TH Thanh Tân; TH Ngô Quyền; TH Dầu Tiếng.

Thứ hai, PHHS (phụ lục 2). Phụ huynh đưa và đón trẻ đến trường và phát phiếu tại cổng trường để thực hiện khảo sát. Khảo sát phụ huynh của tất cả các khối 1, 2, 3, 4 và 5.

Thứ ba, kết quả quan sát học sinh (phụ lục 3). Mỗi trường sẽ chọn 15 học sinh. Các học sinh sẽ được giáo viên quan sát việc thực hiện kỹ năng tự phục vụ thông qua các hoạt động từ lúc đến lớp đến khi tan học về. Thời gian quan sát và đánh giá trong 1 tuần.

2.2.4. Số lượng mẫu khảo sát

Tổng số học sinh của 7 trường là 3.503 học sinh. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu khi biết quy mô tổng thể của Yamane Taro (1967))

Trong đó:

  • n: Số mẫu điều tra.
  • N: Tổng số học sinh của 7 trường TH
  • : Mức độ chính xác mong muốn (độ tin cậy).
  • Với sai số e = 5%
  • n = 3.503/(1+ 3.503 x 0,052) = 359,01 quan sát

Để đảm bảo độ tin cậy, cần khoảng 360 quan sát.

  • Với sai số 10%:
  • n = 3.503/(1+ 3.503 x 0,12) = 97,23 quan sát
  • Để đảm bảo độ tin cậy, cần khoảng 100 quan sát.

Như vậy, mẫu quan sát nằm trong khoảng tin cậy từ 90% đến 95% cần số lượng từ 100 – 360 quan sát. Do thời gian, kinh phí và điều kiện hạn chế, nên lựa chọn số lượng mẫu quan sát như sau:

  1. Số lượng phiếu khảo sát quản lý, giáo viên: 140 (trung bình 20 cán bộ QL, GV/trường x 7 trường)
  2. Số lượng phiếu khảo sát PHHS: 231 (trung bình 33 PHHS/trường x 7 trường).
  3. Số lượng phiếu khảo sát học sinh: 105, mỗi khối lớp 3 em x 5 khối là 15 em (trung bình 15 em/trường x 7 trường).

Đặc điểm của đối tượng khảo sát được thể hiện trong Bảng 2.1, cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Kết quả khảo sát đặc điểm của GV và CBQL tại các trường tiểu học tại huyện Dầu Tiếng

Theo kết quả thống kê từ Bảng 2.1 có một số nhận xét sau:

Số lượng GV và CBQL tại các trường phân bố khá đồng đều. Mỗi trường có từ 18 – 21 giáo viên, trong đó có 4/7 trường có 20 giáo viên. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Vị trí công tác hiện tại và bằng cấp chuyên môn: Mỗi trường có 1 hiệu trưởng và 1 phó hiệu trưởng. Có 38 tổ trưởng chiếm 27,1% và 88 giáo viên chiếm 62,9% số quan sát.

Thâm niên công tác trong ngành: Đa số có thâm niên cao từ 10 năm trở lên chiếm 57,1%, từ 5 đến dưới 10 năm 27,1%. Như vậy, đội ngũ GV và CBQL tại các trường có thâm niên công tác lâu năm trong ngành. Đây là điều kiện thuận lợi giúp nhà trường triển khai trong các hoạt động GD nhà trường.

Bằng cấp chuyên môn: Đa số có bằng cấp cử nhân chiếm 81,4%, cao đẳng chiếm 16,4% và trung cấp 2,1%. Hằng năm, Phòng GD và Đào tạo Huyện đều tổ chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho các giáo viên. Đồng thời tại các trường luôn khuyến khích, tạo điều kiện để các giáo viên học nâng cao chuyên môn.

Giới tính và độ tuổi: Phần lớn là giáo viên nữ chiếm 80,7%, phù hợp với tính chất ngành nghề đòi hỏi sự khéo léo dạy cấp độ TH. Độ tuổi từ 30 – 40 tuổi chiếm cao nhất 35,4%, từ 40 – 50 tuổi chiếm 32,1%. Độ tuổi dưới 30 và trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ thấp hơn.

Nhìn chung, đội ngũ GV và CBQL tại các trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng có thâm niên lâu năm trong ngành và có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu về giảng dạy và hoạt động GD của nhà trường.

2.2.5. Quy ước thang đo

Tiến hành thu thập đầy đủ các phiếu khảo sát từ GV, CBQL, PHHS và kết quả phỏng vấn, quan sát từ học sinh để tổng hợp và xử lý thống kê dữ liệu qua sự hỗ trợ từ phần mềm SPSS 25.0 để tính số lượng, Tỷ lệ (%), điểm trung bình và độ lệch chuẩn, ứng với mỗi mức độ đánh giá. Khoảng cách giữa các mức độ trong thang đo được tính là: (Giá trị lớn nhất – giá trị nhỏ nhất)/5=(5-1)/5=0.8

Từ đó, thang đo được quy ước thông qua điểm trung bình (ĐTB) và thể hiện qua Bảng 2.2 dưới đây:

  • Bảng 2.2. Quy ước thang đo trong đánh giá

Bảng quy ước 2.2 được sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HSTH tại các trường TH trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cũng như trong đánh giá tính khả thi và cần thiết của các biện pháp đề xuất. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn huyện Dầu Tiếng

2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh về giáo dục ý thức tự phục vụ

Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của GV, CBQL, PHHS về sự cần thiết, ý nghĩa, nội dung thực hiện của GD ý thức tự phục vụ cho HSTH được thể hiện qua các bảng như sau:

  • Bảng 2.3. Kết quả khảo sát GV, CBQL về nhận thức sự cần thiết của giáo dục ý thức tự phục vụ của HSTH

Theo kết quả Bảng 2.3 cho thấy, hầu hết GV, CBQL và PHHS đánh giá sự cần thiết của GD ý thức tự phục vụ của HSTH ở mức độ cần thiết và rất cần thiết. Cụ thể có 139/140 GV, CBQL chiếm 99,3% và 220/231 PHHS chiếm 95,2% đánh giá cần thiết và rất cần thiết. Ngoài ra có 10 PHHS chiếm 4,3% đánh giá khá cần thiết và 1 PHHS chiếm 0,7% đánh giá ít cần thiết.

Nhận thức về sự cần thiết của hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HSTH được thể hiện qua biểu đồ sau:

  • Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ % nhận thức về sự cần thiết của hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú

Như vậy, vần đề GD ý thức tự phục vụ cho học sinh được các GV, CBQL và PHHS đánh giá ở mức cần thiết và rất cần thiết là chủ yếu. Vì thế, Các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng cần có những biện pháp bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV và CBQL nhằm nâng cao nhận thức đúng đắn về mục tiêu, vai trò và nội dung của hoạt động GD này.

Xác định các nội dung của GD ý thức tự phục vụ cho học sinh được khảo sát và kết quả thể hiện Bảng 2.4 sau:

  • Bảng 2.4. Kết quả khảo sát CBQL, GV về nhận thức tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Kết quả thống kê Bảng 2.4 cho thấy, trong kỹ năng tự phục vụ được liệt kê với 22 hoạt động chính, thì tất cả đều được đánh giá ở mức quan trọng và rất quan trọng. Trong đó:

Có 14 hoạt động được đánh giá rất quan trọng ở mức 5, với điểm trung bình từ 4,55 – 4,92 gồm: Cất khay đúng nơi quy định; Lấy, cất nệm gối; Đi vệ sinh đúng nơi quy định; Rửa tay bằng xà phòng; Rửa mặt, đánh răng; Bỏ rác đúng nơi quy định; Kê bàn ghế khi đi ngủ; Tự đi ngủ; Chuẩn bị tập, sách khi ra về; Thay đồ trước khi đi ăn bán trú; Mang cặp, giày dép khi ra về; Tham gia các hoạt động tập thể ở trường; Tham gia các hoạt động học tập tại lớp; Tham gia các hoạt động vệ sinh ở trường. Đồng thời độ lệch chuẩn trong các trường hợp dao động ở mức thấp từ 0,291 – 0,661 cho thấy sự đồng thuận cao, các GV và CBQL xem các hoạt động này là quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Còn lại 8 hoạt động được đánh giá quan trọng ở mức 4, với điểm trung bình từ 4,03 – 4,40 gồm: Xếp hàng (vào lớp, đi ăn); Xếp sách vở gọn gàng; Lấy cơm đến bàn ngồi ăn; Để giày dép trên kệ ngay ngắn; Cất đồ vào tủ cá nhân; Lấy, cất đồ dùng học tập; Chải tóc, cột tóc. Độ lệnh chuẩn dao động trong khoảng từ 0,426 – 0,739 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá giữa các đối tượng tham gia khảo sát.

Như vậy, tất cả 22 hoạt động trong GD kỹ năng tự phục vụ được thực hiện tại các trường đều là các kỹ năng quan trọng và rất quan trọng. Vì thế, các trường cần hướng dẫn, GD các em phát huy hơn nữa góp phần nâng cao chất lượng GD cũng như đáp ứng sự phát triển toàn diện cho HSTH.

2.3.2. Thực trạng về thực hiện chương trình, nội dung giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về sự thực hiện chương trình, nội dung GD dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú được thể hiện qua Bảng 2.5 như sau:

  • Bảng 2.5. Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực hiện chương trình, nội dung giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Theo kết quả thống kê từ Bảng 2.5 cho thấy, thực trạng thực hiện các chương trình, nội dung GD ý thức cho học sinh được đánh giá ở 4 cấp độ: Không thường xuyên, thường xuyên, khá thường xuyên và rất thường xuyên. Cụ thể như sau:

Các hoạt động được GD rất thường xuyên, ở mức 5 gồm 3/18 nội dung: Cất khay đúng nơi quy định; Tự ý thức vệ sinh cá nhân và rửa tay đúng cách bằng xà phòng. Độ lệch chuẩn dao động từ 0,291 – 0,401 ở mức thấp cho thấy sự đồng nhất cao trong các ý kiến khảo sát. Đây là các hoạt động rất thường xuyên hàng ngày nên được các GV quan tâm hướng dẫn.

Các hoạt động được GD khá thường xuyên ở mức 4 gồm 2/18 nội dung: Tự xếp hàng (vào lớp, đi ăn); Kê, xếp bàn ghế ngay ngắn trước khi đi ngủ. Độ lệch chuẩn 0,481 – 0,621.

Các hoạt động được GD thường xuyên ở mức 3 gồm 10/18 nội dung: Tự xếp sách vở gọn gàng; Tự thực hiện khi đi ăn trưa, xế; Biết để giày dép trên kệ ngay ngắn; Tự Lấy và cất nệm gối; Biết rửa mặt, đánh răng đúng cách; Tự ý thức vệ sinh trường lớp; Tự đi ngủ đúng giờ; Lấy, cất đồ dùng học tập; Thay đồ bán trú trước khi đi ăn và sau khi ngủ; Mang cặp, giày dép khi ra về. Độ lệch chuẩn trong các trường hợp này ở mức cao từ 0,721 và 0,936 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát.

Các hoạt động được GD không thường xuyên ở mức 2 gồm 3/18 nội dung: Tự cất đồ vào tủ cá nhân; Chuẩn bị tập, sách khi ra về; Chải tóc, cột tóc, móc quần áo. Độ lệch chuẩn ở mức cao 0,827 – 0,894 thể hiện các quan điểm, ý kiến khác nhau trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát.

Kết quả khảo sát GD ý thức tự phục vụ của PHHS đối với con em tại gia đình thể hiện qua Bảng 2.6:

  • Bảng 2.6. Ý kiến của PHHS về giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Theo kết quả thống kê từ Bảng 2.6 cho thấy, PHHS cũng đã tham gia GD ý thức tự phục vụ cho con em mình, một số nội dung rất thường xuyên ở mức 5 gồm: Đánh thức các em dậy mỗi buổi sáng; Kiểm tra khi giao việc cho các em. Một số nội dung được nhắc nhở thường xuyên ở mức 4 gồm: Bảo các em đi ngủ đúng giờ; Nhắc em ăn sáng mỗi ngày; Nhắc các em đi học đúng giờ; Tâm sự với các em mỗi ngày; Kiểm tra góc học tập của các em; Kiểm tra tập sách các em mỗi ngày; Thỏa thuận trước yêu câu của học sinh. Một số nội dung thỉnh thoảng mới thực hiện, điểm ở mức 3 gồm: Giao việc phù hợp với các em; Có thời khóa biểu ở nhà cho các em; Khen các em khi các em thực hiện tốt; Nhắc nhở khi các em chưa tốt.

Độ lệch chuẩn trong các trường hợp trên cao từ 0,600 – 1,255 chưa thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá các nội dung này của các đối tượng tham gia khảo sát. Chứng tỏ, việc hỗ trợ, quan sát và rèn luyện tính tự giác của PHHS đối với con em trong mỗi gia đình là khác nhau. Tuy nhiên các PHHS cũng đã tích cực trong việc thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho con cái thông qua nhắc nhở, giao việc và khen thưởng. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Kết quả của việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh của PHHS tại nhà thể hiện trong Bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Kết quả khảo sát PHHS về biểu hiện ý thức tự phục vụ tại nhà của HS trường TH bán trú

Với sự rèn luyện của nhà trường và gia đình, ý thức tự phục vụ của học sinh đã thể hiện theo chiều hướng tích cực. Được đánh giá ở mức 5 cao nhất “rất thường xuyên, với điểm trung bình là 4,74 là kỹ năng “Thưa gửi người lớn khi đi học”. Độ lệch chuẩn 0,51 ở mức thấp, cho thấy sự đồng thuận trong quan điểm của các PHHS.

Kỹ năng được đánh giá ở mức 4 “thường xuyên” với điểm trung bình 3,58 là “Tự đánh răng, rửa mặt”. Còn lại ở mức 3 và 2. Trong đó, mức 3 “thỉnh thoảng” gồm: Tự ăn sáng; Tự sách cặp sách ra xe; Tự thay đồ; Tự xách cặp vào nhà; Xem ti vi. Mức 2 “ít thường xuyên” gồm: Tự chải đầu, thay quần áo; Tự soạn tập sách, vở; Tự tắm rửa; Tự vào bàn học; Đi ngủ đúng giờ; Tự giúp gia đình những việc vừa sức. Độ lệch chuẩn của các đánh giá này cao từ 1,181 – 1,360 chưa thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các PHHS được khảo sát.

Như vậy, tại mỗi gia đình, các em được nhắc nhỡ, rèn luyện về ý thức tự phục vụ khác nhau. Tuy các em đã thể hiện khá tốt khả năng tự phục vụ cho bản thân, tự đánh răng, rửa mặt, tự ăn sáng tại nhà, tự sách cặp ra xe chờ người thân đưa đến trường để học, hạn chế xem ti vi, nhưng tự vào bàn học, đi ngủ đúng giờ, tự tắm rửa và giúp người thân làm một số việc vừa sức là chưa thực hiện tốt. Chính vì vậy, cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc GD ý thức tự phục vụ cho học sinh, cần có những biện pháp hữu hiện hơn trong quá trình GD ý thức này.

2.3.3. Thực trạng về thực hiện phương pháp giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Kết quả thống kê thực trạng về thực hiện phương pháp GD dục ý thức tự phục vụ cho HSTH gồm có 5 nhóm phương pháp: Nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm; Nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa); Nhóm phương pháp dùng lời nói; Nhóm phương pháp GD bằng tình cảm và khích lệ và Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá

  • Bảng 2.8. Kết quả khảo sát GV, CBQL về phương pháp tổ chức giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú

Kết quả Bảng 2.8 cho thấy nhóm phương pháp dùng lời nói có điểm trung bình cao nhất 4,16, được đánh giá ở mức 4, mức “thường xuyên” được áp dụng. Độ lệch chuẩn 0,712 ở mức thấp, thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của GV, CBQL.

Còn lại 4 nhóm phương pháp đều xếp hạng 3, ở mức được tổ chức “khá thường xuyên”, gồm: Nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm; Nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa); Nhóm phương pháp GD bằng tình cảm và khích lệ; Nhóm phương pháp nêu gương – đánh giá. Điểm trung bình từ 2,76 – 3,35. Trong đó nhóm phương pháp thực hành trải nghiệm có điểm trung bình thấp nhất 2,76. Độ lệch chuẩn dao động từ 0,645 – 0.887 ở mức thấp, cho thấy sự đồng nhất trong đánh giá. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Do đó, Nhà trường và các GV cần đẩy mạnh tổ chức giảng dạy GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú thông qua phương pháp này. GV khuyến khích học sinh tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, phân tích, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân.

Như vậy, các trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng các phương pháp GD ý thức tự phục vụ cho học sinh, đặc biệt là phướng pháp “thực hành trải nghiệm” cần được tổ chức giảng dạy nhiều hơn nữa. Ngoài ra, nhóm phương pháp trực quan – minh họa (quan sát, làm mẫu, minh họa) cũng cần được thực hiện nhiều hơn, giúp các em HS nắm bắt nhanh và thực hiện tốt.

2.3.4. Thực trạng về thực hiện hình thức giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Ngoài việc áp dụng các phương pháp tổ chức GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú thì nhà trường thực hiện các hình thức tổ chức như Bảng 2.9 sau:

  • Bảng 2.9. Thực trạng về hình thức tổ chức giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú của GV và CBQL

Theo thống kê từ Bảng 2.9 cho thấy, có 8 hình thức tổ chức chủ yếu được áp dụng trong giảng dạy cho HSTH. Theo kết quả đánh giá của CBQL, GV thì các hình thức tổ chức được chia thành ba nhóm cấp hạng 2,3 và 4, tương ứng với đánh giá “ít thường xuyên”, “khá thường xuyên” và “thường xuyên”. Cụ thể như sau:

Các hình thức tổ chức được đánh giá hạng 4, mức “thường xuyên” được áp dụng gổm: Tổ chức hoạt động trong phòng lớp; Tổ chức hoạt động cả lớp và Tổ chức hoạt động cá nhân. Điểm trung bình dao động từ 3,69 – 4,06. Trong đó điểm trung bình cao nhất là hình thức “tổ chức hoạt động cá nhân” với 4,06 điểm. Độ lệch chuẩn dao động từ 0,654 – 0,748 thấp, thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các tổ chức khảo sát.

Các hình thức tổ chức được đánh giá hạng 3, mức “khá thường xuyên” gồm các hoạt động: Tổ chức ngày lễ, hội; Tổ chức hoạt động ngoài trời và Tổ chức hoạt động theo nhóm. Điểm trung bình dao động từ 3,04 – 3,69, trong đó điểm trung bình thấp nhất là tổ chức các hoạt động ngoài trời 3,04 điểm. Như vậy, việc tổ chức các hoạt động ngoài trời còn hạn chế. Ngoài ra, việc Tổ chức hoạt động theo nhóm có rất nhiều tác dụng giúp các em biết cách làm việc nhóm, thêm gắn kết, hiểu nhau, học hỏi lẫn nhau nhưng lại không được tổ chức thường xuyên. Điểm trung bình dao động từ 0,860 – 1,084 ở mức thấp, thể hiện sự đồng nhất trong quan điểm đánh giá của các đối tượng khảo sát.

Các hình thức tổ chức “ít thường xuyên” được tổ chức áp dụng, hạng 2 gồm: Tổ chức hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của học sinh và Tổ chức các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày. Độ lệch chuẩn lần lượt là 1,147 và 1,159 ở mức cao. Qua phỏng vấn ý kiến một số GV và CBQL. Kết quả, BGH2 và GV1, GV2 cho rằng: “Vì thời gian chủ yếu tập trung vào các hoạt động dạy học, nên phần lớn hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ được tổ chức ngoài giờ lên lớp và ít được tổ chức tại trường”.

Để nâng cao chất lượng GD nhà trường cũng như chất lượng trong các hoạt động giáo ý thức tự phục vụ cho học sinh được đảm bảo, các trường cần tổ chức hoạt động theo nhóm nhiều hơn nữa cho các học sinh. Ngoài ra, Nhà trường cần tổ chức đa dạng các hình thức kết hợp trong lớp và ngoài trời, các hoạt động có chủ đích của giáo viên và theo ý thích của học sinh.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

2.4.1.  Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về việc thực hiện xây dựng kế hoạch GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.10. Thực trạng thực hiện xây dựng kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng

Qua kết quả thống kê từ Bảng 2.10 cho thấy, công tác lập kế hoạch hoạt động GD ý thức tự phục vụ tại các trường TH được thực hiện ở mức trung bình với 5/6 chỉ tiêu, điểm trung bình từ 0,65 – 3,45, xếp hạng 3 gồm: Khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch; Xác định các mục tiêu GD ý thức tự phục vụ trong bản kế hoạch; Dự kiến nhân lực cho việc triển khai; Chuẩn bị các điều kiện về CSVC; Lên kế hoạch thời gian cho các hoạt động. Độ lệch chuẩn ở mứ cao từ 0,790 – 1,062. Còn lại 1 chỉ tiêu “Dự trù các hình thức tổ chức và các biện pháp thực hiện” có điểm trung bình 4,29, xếp hạng 4, xếp loại khá. Độ lệch chuẩn thấp 0,603 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng khảo sát.

Ngoài ra, tác giả phỏng vấn CBQL và GV về thực trạng xây dựng kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú huyện Dầu Tiếng. Kết quả, BGH5 và GV6 trả lời rằng: “Nhà trường thường xuyên xây dựng kế hoạch với thời gian phù hợp, kế hoạch chuẩn bị các điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất để hỗ trợ cho hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh”.

Như vậy, các trường tuy đã thực hiện lập kế hoạch tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh thông qua việc khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch, xác định các mục tiêu GD, dự kiến nhân lực, chuẩn bị điều kiện CSVC, lên kế hoạch thời gian nhưng tất cả chỉ đạt mức trung bình. Đây là những việc cần làm tốt hơn nữa trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng trong công tác quản lý hoạt động GD tự phục vụ cho học sinh.

2.4.2. Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Bảng 2.11. Thực trạng tổ chức thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng

Theo kết quả thống kê từ Bảng 2.11 cho thấy, công tác của Hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh được các đối tượng tham gia khảo sát khá tốt, điểm trung bình trong đánh giá đạt hạng 3, ứng với xếp loại mức độ khá thường xuyên.

Điểm trung bình của 7 hoạt động tổ chức thực hiện dao động từ 2,76 – 3,45, trong đó hoạt động có điểm trung bình cao nhất là “Tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ quản lý thực hiện nhiệm vụ” đạt 3,45 điểm và hoạt động “Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về hoạt động GD ý thức tự phục vụ” có điểm trung bình thấp nhất là 2,76 điểm. Độ lệch chuẩn từ 0,627 – 0,925 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá.

Tác giả phỏng vấn CBQL và GV về thực trạng thực hiện kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng. Kết quả, TTCM2 và GV3 cho ý kiến: “Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi để các bộ phận phối hợp thực hiện, quá trình thực hiện có sự phân công phù hợp”.

Nhìn chung, tình hình tổ chức thực hiện các hoạt động GD ý thức tự phục vụ của Hiệu trưởng các trường được thực hiện khá thường xuyên. Một mặt Hiệu trưởng phân công cụ thể công việc, tạo điều kiện thuận lợi cho các CBQL thực hiện nhiệm vụ, chuẩn bị các nguồn lực, mặt khác có cơ chế phối hợp và bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên. Ngoài ra, thường xuyên giám sát, đôn đốc và có khen thưởng, xử lý kịp thời, công bằng, chính xác. Hiệu trưởng cần tiếp tục hoàn thiện, phát huy và tổ chức thường xuyên hơn nữa các hoạt động này.

2.4.3. Thực trạng quản lý chỉ đạo thực hiện GD ý thức tự phục vụ cho học sinh

Kết quả khảo sát thực trạng về chỉ đạo thực hiện GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Bảng 2.12. Thực trạng chỉ đạo thực hiện GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng

Theo kết quả thống kế từ Bảng 2.12 cho thấy, công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng các trường được thực hiện khá tốt, điểm trung bình ở mức cao từ 3,38 – 3,67. Cụ thể như sau:

Có 2/4 chỉ tiêu có điểm trung bình cao nhất, xếp hạng 4, xếp loại khá gồm: Hiệu trưởng chỉ đạo Hiệu phó, Tổ chuyên môn xây dựng nội dung sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn bàn về ý thức tự phục vụ cho các em, điểm trung bình 4,24 và Chỉ đạo các giáo viên, tổ chuyên môn nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được giao điểm trung bình 3,67. Độ lệch chuẩn lần lượt là 0,674 và 0,673 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá.

Ngoài ra, còn lại 2/4 chỉ tiêu có điểm trung bình thấp hơn, xếp hạng 3, xếp loại trung bình gồm: Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất nội dung dạy ý thức tự phục lồng ghép trong các hoạt động, điểm trung bình 3,38 và thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức GD ý thức tự phục vụ, điểm trung bình 3,44. Độ lệch chuẩn 0,826 và 0,771 thể hiện sự thống nhất trong đánh giá của các đồi tượng được khảo sát.

Tác giả phỏng vấn CBQL và GV về tình hình chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng. Kết quả, BGH4, TTCM7 nêu ý kiến: “Nhà trường đã động viên, khích lệ tinh thần các bộ phận đoàn kết thực hiện hoạt động”, “tổ chức khen thưởng phù hợp, khách quan”.

Như vậy, Hiệu trưởng cần tiếp tục phát huy chỉ đạo Hiệu phó, Tổ chuyên môn xây dựng nội dung sinh hoạt tổ, nhóm bàn về ý thức tự phục vụ và chỉ đạo các giáo viên, tổ chuyên môn nghiên cứu, xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Hiệu trưởng cần quan tâm sâu sát hơn trong công tác chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất nội dung dạy ý thức tự phục lồng ghép trong các hoạt động và thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức GD ý thức tự phục vụ nhằm nâng cao hiệu quả GD ý thức tự phục vụ cho học sinh.

2.4.4. Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra đánh giá việc thực hiện GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng được thể hiện qua Bảng 2.13 sau:

Bảng 2.13. Thực trạng kiểm tra đánh giá việc thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng

Từ Bảng 2.13 cho thấy, công tác kiểm tra đánh của Hiệu trưởng trong thực hiện các hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú còn nhiều hạn chế. Trường thực hiện thường xuyên kiểm tra theo học kỳ, theo năm học. Còn lại các kiểm tra đánh giá khác ít thường xuyên, trong đó việc “Kiểm tra hàng tháng” và “Bình xét, khen thưởng cá nhân, tổ nhóm có thành tích tốt trong hoạt động GD kỹ năng tự phục vụ” là không thực hiện. Cụ thể như sau:

Có 2/9 hoạt động đánh giá được thực hiện thường xuyên là: Kiểm tra theo học kì; Kiểm tra tổng kết theo năm học với điểm trung bình ở mức cao, lần lượt là 4,26 và 3,97. Độ lệch chuẩn lần lượt 0,439 và 0,504 thể hiện sự đồng nhất cao trong đánh giá của các đối tượng khảo sát. Như vậy, việc thực hiện kiểm tra tổng kết theo học kỳ và theo năm học được thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại trường.

Có 1/9 hoạt động kiểm tra đánh giá thỉnh thoảng được thực hiện, là “Kiểm tra kết quả thực hiện GD kỹ năng tự phục vụ của GV” với điểm trung bình 2,78 và độ lệch chuẩn là 0,730 thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá của các đối tượng tham gia khảo sát.

Có 4/9 hoạt động đánh giá được xếp hạng 2 “ít thường xuyên” gồm: Kiểm tra đột xuất; Kiểm tra kết quả thực hiện kỹ năng tự phục vụ của HS; Đánh giá, rút kinh nghiệm; Thực hiện các điều chỉnh cần thiết. Điểm trung bình từ 2,02 – 2,26. Độ lệch chuẩn 1,021 – 1,249. Tác giả phỏng vấn CBQL và GV về tình hình kiểm tra, đánh giá thực hiện giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú trên huyện Dầu Tiếng. Kết quả, TTCM2, GV5 cho rằng: “Tuy được thực hiện thường xuyên, sử dụng kết quả để điều chỉnh kế hoạch nhưng quá trình kiểm tra đánh giá chưa có tiêu chí rõ ràng”.

Ngoài ra, hoạt động “kiểm tra hàng tháng” và “Bình xét, khen thưởng cá nhân, tổ nhóm có thành tích tốt” việc thực hiện GD ý thức tự phục vụ cho học sinh là không thực hiện. Điểm trung bình thấp 1,49 và 1,78. Việc không thực hiện hàng tháng mà chỉ thực hiện theo học kỳ, hoặc theo năm sẽ dẫn đến các GV không quan tâm, chú ý đến các hoạt động này. Thông qua các cuộc họp định kỳ hàng tháng, Hiệu trưởng sẽ nắm bắt được các khó khăn vướng mắc trong các hoạt động GD ý thức tự phục vụ của HS và có những giải pháp xử lý kịp thời, chỉ đạo cho các GV thực hiện. Thêm vào đó, thông qua các cuộc họp định kỳ hàng tháng, Hiệu trưởng Bình xét, khen thưởng cá nhân, tổ nhóm có thành tích tốt sẽ góp phần khích lệ động viên các GV hoàn thành tốt công việc. Vì thế, hoạt động kiểm tra hàng tháng nên được thực hiện.

Tóm lại, Hiệu trưởng các trường cần phải tăng cường trong công tác kiểm tra đánh giá thường xuyên, định kỳ đặc biệt là trong kiểm tra hành tháng cũng như kiểm tra kết quả thực hiện của học sinh, thực hiện việc nhận xét rút kinh nghiệm, khen thưởng phù hợp nhằm nâng cao chất lượng trong hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh. Ngoài ra, Hiệu trưởng cần tiếp tục thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá việc triển khai thực hiện của GV, cũng như đánh giá kết quả thực hiện của học sinh. Từ đó, kịp thời có hướng khắc phục các thiếu xót, phát huy điểm mạnh của hoạt động này.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh trường tiểu học bán trú trên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Ý thức tự phục vụ của học sinh tiểu học là quá trình rèn luyện, tích lũy, hoàn thiện kỹ năng bản thân .Ý thức tự phục vụ luôn chịu tác động bởi nhiều yếu tố, gồm cả yếu tố khách quan (Nhận thức, tâm lý của cha mẹ học sinh về GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị GD và môi trường GD: nhà trường – gia đình – xã hội) và các yếu tố chủ quan (Nhận thức của GV, PHHS về GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú, năng lực quản lý sự thay đổi của đội ngũ CBQL về GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú và ý thức của mỗi cá nhân học sinh TH).

Kết quả khảo sát CBQL, GV về mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đế quản lý GD ý thức tự phục vụ của học sinh TH thể hiện ở Bảng 3.14 sau:

Bảng 2.14. Kết quả khảo sát CBQL, GV về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ của học sinh

Nhóm các yếu tố khách quan được đánh giá là quan trọng, hạng 4. Điểm trung bình từ 3,76 – 3,94. Trong đó, yếu tố “Nhận thức, tâm lý của cha mẹ học sinh về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH” có điểm trung bình cao nhất 3,94. Kế đến là tầm quan trọng của yếu tố “Môi trường GD: nhà trường – gia đình – xã hội” với 3,89 điểm. Thấp nhất là “Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị GD” với 3,76 điểm. Độ lệch chuẩn dao động từ 0,792 – 0,862 ở mức thấp, thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá khát sát CBQL và GV.

Nhóm các yếu tố chủ quan có 2/3 yếu tố được đánh giá rất quan trọng và 1 yếu tố quan trọng. Cụ thể, yếu tố “Nhận thức của CBQL và GV về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH “ và yếu tố “Ý thức của mỗi cá nhân học sinh TH” có điểm trung bình lần lượt là 4,61 và 4,46, xếp hạng 5. Yếu tố còn lại là “Năng lực quản lý sự thay đổi của đội ngũ CBQL về GD ý thức tự phục vụ cho HSTH” với 4,05 điểm, hạng 4. Độ lệch chuẩn dao động từ 0,544 – 0,842 ở mức thấp, thể hiện sự đồng nhất trong đánh giá khát sát CBQL và GV.

Như vậy, quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú chịu ảnh hưởng từ những yếu tố khách quan và chủ quan. Do đó, để nâng cao chất lượng ý thức tự phục vụ cho trẻ thì cần thực hiện đa dạng các biện pháp quản lý của Nhà trường – gia đình – xã hội. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh tiểu học bán trú trên huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

2.6.1. Ưu điểm

Qua khảo sát thực trạng về hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh cũng như công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, kết quả thống kê cho thấy, các trường TH bán trú có đội ngũ CBQL, GV có thâm niên công tác trong ngành cũng như trong lĩnh vực chuyên môn lâu năm. Có 57,1% các GV có thâm niên giảng dạy từ 10 năm trở lên, trình độ chuyên môn cử nhân chiếm 81,4%.

Bên cạnh đó, các GV và CBQL đã nhận thức cao về mục tiêu, nội dung và vài trò của hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú, với 99,3% đánh giá cần thiết và rất cần thiết GD kỹ năng này cho các học sinh. Đặc biệt, trong quá trình tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh, đội ngũ giáo viên nhà trường thường xuyên tạo điều kiện để các em được quan sát trực tiếp, được tiếp xúc với phương tiện, hành động mẫu, cũng như thực hiện biểu dương nhắc nhở góp ý các em. Ngoài ra, GV và CBQL đã thường xuyên thực hiện các hình thức hoạt động theo lớp, theo cá nhân và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nội dung của học sinh tại trường

Trong công tác quản lý, các trường đã thực hiện thường xuyên về các hình thức và các biện pháp nhằm hoàn thiện quá trình thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú. Đặc biệt Hiệu trưởng các trường thường xuyên chỉ đạo các bộ phận phối hợp tổ chức, xây dựng kế hoạch, và khuyến khích các bộ phận hoàn thành tốt mục tiêu đề ra.

2.6.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm thì quá trình thực hiện hoạt động GD cũng như trong công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng còn tồn tại nhiều hạn chế thiếu sót như:

Các trường tuy đã thực hiện lập kế hoạch tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh thông qua việc khảo sát thực trạng trước khi lập kế hoạch, xác định các mục tiêu GD, dự kiến nhân lực, chuẩn bị điều kiện CSVC, lên kế hoạch thời gian nhưng tất cả chỉ đạt mức trung bình. Việc thực hiện xây dựng kế hoạch GD ý thức tự phục vụ cho học sinh chưa được đội ngũ GV chú trọng. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Tình hình tổ chức thực hiện các hoạt động GD ý thức tự phục vụ của Hiệu trưởng các trường được thực hiện khá thường xuyên. Tuy nhiên, việc chỉ đạo “tổ chuyên môn thống nhất nội dung dạy ý thức tự phục lồng ghép trong các hoạt động” và việc “đổi mới hình thức tổ chức GD ý thức tự phục vụ” chỉ ở mức trung bình.

Công tác kiểm tra đánh của Hiệu trưởng trong thực hiện các hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại các trường TH bán trú còn nhiều hạn chế. Trường thực hiện thường xuyên kiểm tra theo học kỳ, theo năm học. Còn lại các kiểm tra đánh giá khác ít thường xuyên, cá biệt việc “Kiểm tra hàng tháng” và “Bình xét, khen thưởng cá nhân, tổ nhóm có thành tích tốt trong hoạt động GD kỹ năng tự phục vụ” là không thực hiện. Thêm vào đó, rất ít thực hiện việc kiểm tra đột xuất, kiểm tra kết quả thực hiện kỹ năng tự phục vụ của HS, đánh giá, rút kinh nghiệm và các điều chỉnh cần thiết. Vì thế, Hiệu trưởng sẽ không kịp thời nắm bắt được các khó khăn vướng mắc trong các hoạt động GD ý thức tự phục vụ của HS và đưa ra những giải pháp xử lý kịp thời.

2.6.3. Nguyên nhân của những hạn chế

Qua phỏng vấn CBQL, GV, PHHS và quan sát thực trạng thực hiện các hoạt động ý thức tự phục vụ của các em học sinh trường TH bán trú, kết quả tự phục vụ đạt ở mức trung bình. Các em đã có ý thức tự phục vụ nhưng thực hiện còn chậm, chưa khéo léo và còn cần nhiều sự nhắc nhở, hướng dẫn của giáo viên. Có nhiều nguyên nhân của các tồn tại, nhưng một số nguyên nhân chính như sau:

Bảng 2.15. Một số nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết quả hoạt động và công tác quản lý giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú

Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ % các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giáo dục ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú

Theo kết quả thống kê Bảng 2.16 và Biểu đồ 2.1 cho thấy, có 7 nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả hoạt động và công tác quản lý như: Áp lực công việc và thời gian thực hiện; Giáo viên chưa được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ về GD ý thức tự phục vụ; Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường về xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ; Giáo viên chủ nghiệm chưa phối hợp, liên hệ với gia đình để tìm hiểu học sinh và có những giải pháp phù hợp; Phụ huynh chưa quan tâm và phối hợp với nhà trường trong việc rèn luyện khả năng tự phục vụ của học sinh; Cở sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng tốt cho hoạt động GD ý thức tự phục vụ và chưa có cơ chế, chính sách phù hợp trong trả lương, thưởng. Trong đó, nguyên nhân chính là giáo viên chưa được bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ về GD ý thức tự phục vụ, chiếm 32,86%, kế đến là chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường về xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động GD ý thức tự phục vụ, chiếm 22,14% và Giáo viên chủ nghiệm chưa phối hợp, liên hệ với gia đình để tìm hiểu học sinh và có những giải pháp phù hợp, chiếm 15,71%.

Như vậy, để tăng cường công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, các trường cần phải có những biện pháp phù hợp để bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên, đẩy mạnh phối hợp chặt chẽ trong xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện và phối hợp với PHHS để cùng GD học sinh tốt hơn. Ngoài ra, nàh trường cần xây dựng cơ chế khen thưởng hợp lý, tạo động lực cho giáo viên và cải thiện cơ sở vật chất.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Trong chương 2, nghiên cứu đã tập trung thực hiện phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh tại trường TH bán trú trên địa bàn huyện Dầu Tiếng. Kết quả phân tích cho thấy, tuy các trường đã có những biện pháp thực hiện quản lý hoạt động GD này nhưng chưa mang lại hiệu quả trong hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh.

Các trường TH bán trú đã tổ chức được hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho HS theo một số hình thức và phương pháp nhất định. CBQL, GV, HS và PHHS đã có nhận thức tích cực về tầm quan trọng của hoạt động GD ý thức tự phục vụ trong GD. Trong quá trình giáo viên tổ chức các hoạt động GD ý thức tự phục vụ, giáo viên đã biết sử dụng các biện pháp, phương pháp, hình thức tổ chức ở từng thời điểm tùy thuộc vào khả năng nhận thức của học sinh. Nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả cao, nội dung và hình thức tổ chức còn nghèo nàn, chất lượng GD ý thức tự phục vụ cho HS còn thấp. Việc quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ của đội ngũ CBQL, GV còn chưa đi vào nề nếp và chưa có chiều sâu, chưa thực sự đóng góp nhiều cho việc nâng cao chất lượng GD toàn diện của nhà trường. Do vậy các nhà QL cần phải có những biện pháp GD kỹ năng tự phục vụ cho HS để nâng cao chất lượng GD, nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho GV để tăng cường hiệu quả GD ý thức tự phục vụ cho HS.

GD ý thức tự phục vụ cho HS chưa đạt hiệu quả do nhiều yếu tố ảnh hưởng từ chủ quan và khách quan. Bên cạnh, trong quá trình thực hiện còn gặp một số khó khăn nhất định là nhận thức của CBQL và GV, năng lực tổ chức hoạt động GD ý thức tự phục vụ và các điều kiện tổ chức thực hiện hoạt động này trong nhà trường. Do vậy cần xây dựng được hệ thống các biện pháp sao cho phù hợp GD ý thức tự phục vụ cho HS trường TH bán trú đạt được hiệu quả cao hơn.

Từ đó, với những kết quả nghiên cứu thực trạng trên, người nghiên cứu đề xuất các biện pháp phù hợp nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động GD ý thức tự phục vụ cho học sinh trường TH bán trú huyện Dầu Tiếng. Các biện pháp được thể hiện trong chương tiếp theo với mục tiêu, nội dung và cách thức thực hiện đáp ứng tính khả thi và cần thiết. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục ý thức tự phục vụ cho học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537