Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật qua hoạt động ngoại khóa ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội

Thị xã Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương, có 07 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường: Dĩ An, An Bình, Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, Tân Bình, Bình An, Bình Thắng. Diện tích thị xã khoảng 60,05 km2, dân số 390.859 người [15]. Thị xã Dĩ An nằm ở trung tâm khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp 2 thành phố công nghiệp lớn là Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và cụm cảng Sài Gòn nên có đủ các điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy thị xã Dĩ An được ưu đãi một “địa thế vàng” trong thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến xây dựng và hoạt động. Hiện nay Dĩ An có nhiều khu chế xuất và với khu công nghiệp đã đi vào hoạt động như khu công nghiệp Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Khu công nghiệp Tân Bình, Cụm công nghiệp may mặc Bình An… Lãnh đạo tỉnh và thị xã đã biết tổ chức khai thác các lợi thể nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh phát triển kinh tế và ổn định xã hội tại địa phương [30].

Bên cạnh đó thị xã cũng thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, du lịch trên địa bàn. Tình hình an ninh chính trị – trật tự, an toàn xã hội được giữ vững tạo cơ sở và động lực để thị xã thúc đẩy quá trình phát triển con người, phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Kết quả đời sống của người dân được nâng cao, cải thiện thu nhập, an sinh xã hội được đảm bảo, chất lượng sống của người dân bảo đảm.

Việc phát triển kinh tế vừa là động lực, vừa thúc đẩy nhu cầu về việc giáo dục nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, phục vụ đời sống xã hội của thị xã nói riêng và tỉnh Bình Dương nói chung. Vì vậy thời gian qua tỉnh Bồi dưỡng nói chung và thị xã Dĩ An đã thực hiện các chỉ thị của Đảng, nhà nước và ngành giáo dục về công tác đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương và đã đạt được nhiều thành công, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của địa phương.

Hình 2.1: Bản đồ hành chính thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Tỉnh Bình Dương nói chung và thị xã Dĩ An là một trong các địa phương đi đầu trong việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2020 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Qua đó đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Lãnh đạo thị xã đã chỉ đạo ngành giáo dục thúc đẩy các trường vận dụng các quan điểm dạy học “lấy trẻ làm trung tâm”, tích hợp hiệu quả các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi, tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, trải nghiệm và sáng tạo; đổi mới phương pháp dạy học, chủ động thay đổi nội dung dạy học phù hợp với địa phương theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh; thực hiện một số điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản, tiếp cận định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới; tổ chức triển khai việc xây dựng và chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới; Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ; Đẩy mạnh ứng dục công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục; tăng cường cơ sở vật chất, nguồn lực đầu tư và đảm bảo giáo dục phát triển đồng bộ, hiện đại, hiệu quả cao…

Số lượng GV trực tiếp dạy lớp trên 2 nghìn GV với trình độ đạt chuẩn trở lên đạt tỷ lệ 100%, trên chuẩn là khoảng 80%. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và trường lớp được chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa với hơn 70% số trường đạt chuẩn, bảo đảm đầy đủ số lượng, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của GV. Với sự chỉ đạo từ cấp trên, ngành giáo dục thị xã đã nỗ lực vượt qua những khó khăn trở ngại để nâng cao chất lượng dạy học, trong đó có giáo dục trung học cơ sở (THCS). Qua đó bước đầu đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác đổi mới giáo dục.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 258 trường phổ thông với 1.172 lớp học với 7.257 lớp và 177.327 học sinh. Trong đó riêng thị xã Dĩ An có 33 trường, 1.172 lớp học và 50.196 học sinh phổ thông. Riêng ở cấp THCS, đến năm 2026, toàn thị xã có 10 trường [49]. Qua đó cho thấy Dĩ An là nơi tập trung rất nhiều trường học ở các cấp học khác nhau, vì thế ngành giáo dục Dĩ An cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý giáo dục trên địa bàn. Cụ thể hiện ngành GD&ĐT thị xã chịu nhiều áp lực từ nhu cầu học tập của con, em nhân dân ngày càng cao vì dân số tăng cơ học lớn; sĩ số học sinh mỗi lớp cao từ 40 – 50 học sinh mỗi lớp; một số trường thiếu lớp, thiếu GV nhất là các GV có năng lực đáp ứng các yêu cầu đổi mới đổi phương pháp pháp dạy học và quản lý GV. Điều này gây ra một số khó khăn trong việc quản lý của các trường trong công tác tổ chức và ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dạy học.

2.1.3 Khái quát về các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

Hiện nay tại thị xã Dĩ An hiện có 10 trường THCS trong đó có 9 trường THCS công lập và 1 trường THCS ngoài công lập (bảng 2.1).

Bảng 2.1: Danh sách các trường THCS tại thị xã Dĩ An đến năm 2026

2.2 Tổ chức nghiên cứu Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

2.2.1 Chọn mẫu khảo sát

Có sự khác biệt lớn trong công tác quản lý giữa trường công lập với các trường ngoài công lập nói chung và công tác quản lý quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa ở các trường nói riêng nên trong nghiên cứu này tác giả chỉ xét đến các đối tượng trường công lập để thực hiện công tác lấy mẫu vì đây là đối tượng có số lượng nhiều và có tính đại diện cho các trường THCS trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Bên cạnh đó, vì giới hạn về thời gian và phạm vi tiếp cận nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi 4 trường THCS công lập bao gồm THCS Tân Đông Hiệp, THCS Võ Trường Toản, THCS Tân Bình, và THCS Đông Hoà. Các trường này không nằm trên cùng một phường và có phạm vi địa lý gần nhau để tác giả dễ tiếp cận, lựa chọn mẫu. Cả 4 trường THCS được lựa chọn đều có số cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) đều đạt từ trên 50 người đến hơn 100 người, vì thế tác giả lựa chọn số lượng mẫu ở mỗi trường là 50 mẫu, tổng số mẫu được khảo sát là 200 mẫu, tương ứng với 200 phiếu được phát ra.

2.2.2 Thực hiện khảo sát

Tác giả chuẩn bị đủ số lượng phiếu và dự phòng một số phiếu để đảm bảo số lượng phiếu khảo sát đạt được đã đề ra ban đầu trong một số trường hợp mất, trả lời thiếu tin cậy… Tác giả tiếp cận đến các trường trong danh sách mục tiêu, liên hệ BGH nhà trường, trình bày lý do, mục đích thực hiện cuộc khảo sát và xin phép được thực hiện cuộc khảo sát đối với các thành viên gồm CBQL, GV nhà trường. Một số đối tượng không có thời gian thì tác giả phát phiếu khảo sát và đề nghị họ giúp đánh giá các nội dung khảo sát.

Đối với các CBQL, GV không thể khảo sát trực tiếp thì tác giả xin các thông tin cá nhân như số điện thoại, địa chỉ mail, tài khoản mạng xã hội… để liên lạc sắp xếp thời gian phỏng vấn hoặc gửi phiếu khảo sát để họ đánh giá. Thời gian thực hiện khảo sát là 1,5 tháng theo lịch trình đã đề cập trong kế hoạch nghiên cứu. Hết thời gian này tác giả sẽ tổng kết số liệu để phân tích, đánh giá dữ liệu thu thập được phục vụ cho nghiên cứu.

2.2.3 Cách thức xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Sau khi kết thúc thời gian khảo sát quy định, tác giả sẽ thực hiện tổng kết số phiếu khảo sát, làm sạch và sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong phân tích số liệu để thực hiện phân tích gồm Excel 2020 và phần mềm SPSS 22. SPSS (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) là phần mềm máy tính được dùng chủ đạo trong phân tích dữ liệu. Phần mềm SPSS liên kết được dễ dàng với phần mềm Excel của hãng phần mềm máy tính Microsoft và khá dễ sử dụng với các nhà không chuyên về đo lường trong giáo dục. Vì vậy tác giả sẽ sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu, tạo cơ sở để phân tích. Khi đưa vào phần mềm SPSS, các câu hỏi sẽ được mã hóa tương ứng. Các phân tích sẽ được thực hiện gồm số lượng đánh giá, tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn.

Quy ước đánh giá điểm trung bình (ĐTB) được thể hiện trong bảng 2.2như sau:

  • Bảng 2.2: Quy ước đánh giá điểm trung bình

2.2.4 Kết quả và thống kê mẫu khảo sát

Kết thúc thời gian khảo sát tác giả thu về tổng cộng 192 phiếu và tiến hành sàng lọc, làm sạch, còn lại 178 phiếu có dữ liệu phù hợp để phân tích (chiếm 89% số phiếu phát ra), trong đó có 65 phiếu phỏng vấn trực tiếp, còn lại là được gửi qua các hình thức khác như qua mail, thư giấy, mạng xã hội. Số 178 phiếu này sẽ được đưa vào phân tích các giá trị gồm số lượng, tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn.

Kết quả thống kê đặt tính mẫu khảo sát gồm giới tính, chức vụ, vị trí đảm nhận, thâm niên công tác, môn dạy học, có tham gia thực hiện HĐNK và Vai trò của họ trong các buổi tổ chức GDPL CHS qua hoạt động ngoại khóa tại trường như thế nào. Kết quả cụ thể được trình bày trong bảng 2.3, cụ thể:

Về thành phần giới tính: Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm phần lớn hơn với 64,6%, số lượng nam chỉ chiếm 35,4% số lượng mẫu khảo sát. Đây có thể là một đặc trưng của các trường THCS hiện nay khi hầu hết các trường THCS đều có lượng CBQL, GV nữ nhiều hơn nam. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Về vị trí công tác: GV chiếm số lượng lớn nhất với 83,7% phiếu, tổ trưởng chuyên môn chiếm 10,1%, là Hiệu trưởng (HT)chiếm 2,2 và 3,9% là Hiệu phó. Điều này phù hợp với cơ cấu tổ chức của các trường THCS, trong đó lực lượng GV là lực lượng chủ đạo, chiếm phần lớn trong lực lượng của nhà trường và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ dạy học.

Về nhiệm vụ đảm nhận của các GV: Trong 178 phiếu có 149 phiếu là của GV tham gia đánh giá. Trong số này có 40,3% hiện là GV bộ môn, 57,0 là GV chủ nhiệm và 2,7% là GV phụ trách đoàn/đội. Thực tế trong các trường THCS, mỗi GV đều được giao nhiệm vụ chủ nhiệm một lớp dựa theo khả năng và trách nhiệm, khi số GV vượt quá số lớp thì các GV còn lại chỉ tham gia nhiệm vụ dạy học bộ môn. Tuy nhiên trong việc tổ chức HĐNK các GV bộ môn vẫn đóng vai trò quan trọng và chủ đạo trong việc tổ chức các HĐNK trong phạm vi bộ môn, hoặc theo chỉ đạo của nhà trường.

Về môn dạy đảm nhận của GV: Số liệu khảo sát cho thấy thành phần các GV tham gia khảo sát được dàn trải ở các môn trong quy định chương trình, chiếm từ 5,5% – 9,7%. Tuy có sự chênh lệch nhưng không đáng kể. Điều này giúp dữ liệu khảo sát có tính bao quát, có tính đại diện cao và không phụ thuộc vào thành phần môn học.

  • Bảng 2.3: Sơ bộ thống kê đặc tính mẫu khảo sát

Về câu hỏi rằng thầy cô đã từng phụ trách tổ chức và thực hiện HĐNK chưa? Thì tất cả các đối tượng tham gia khảo sát đều có tham gia phụ trách tổ chức và thực hiện HĐNK. Trong đó 13,5% số đối tượng Đã từng và 86,5% Đang thực hiện. Vậy tất cả các đối tượng tham gia khảo sát đều đã hoặc đang phụ trách tổ chức và thực hiện HĐNK, vì vậy những đánh giá của họ mang tính thực tế, giúp dữ liệu thu thập được mang tính khoa học cao.

Về vai trò của các đối tượng khảo sát trong các buổi tổ chức GDPL CHS qua HĐNK tại trường cho thấy họ có 3 nhiệm vụ gồm một là chỉ đạo thực hiện HĐNK trong phạm vi môn học được đảm nhận; hai là, hỗ trợ HĐNK do nhà trường, tổ chuyên môn tổ chức; và ba là, hỗ trợ các GV khác khi được yêu cầu. Trong đó nhiệm vụ thứ nhất có 85,8% đối tượng đảm trách; nhiệm vụ thứ hai có 48,9% đối tượng đảm trách; và nhiệm vụ thứ ba có 23,3% đối tượng đảm trách.

  • Bảng 2.4: Vai trò của đối tượng trong tổ chức GDPL CHS qua HĐNK

Điều này cho thấy HĐNK vừa có hình thức là một môn học ngoài chương trình chính khóa, vừa là hình thức tổ chức của các môn học khi có nhu cầu. Vì thế tất cả các môn học đều có thể tổ chức HĐNK cho môn học theo nhu cầu và khả năng của GV bộ môn và học sinh mà không ảnh hưởng đến lịch học chính khóa. Hầu hết các GV đều đã thực hiện HĐNK trong phạm vi môn học được đảm nhận, vì vậy GV là đối tượng quan trọng trong quản lý hoạt động GDPL CHS thông qua HĐNK ở các trường THCS.

2.3 Thực trạng hoạt động giáo pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

2.3.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức của con người được định nghĩa “là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn”. Nhận thức của đội ngũ CBQL, GV trong hoạt động GDPL CHS ở các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương là quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, từ đó giúp CBQL, GV tăng cường tính tích cực, năng động, sáng tạo trong hoạt động hoạt động GDPL CHS tại trường.

Đánh giá về sự cần thiết phải đưa nội dung GDPL CHS qua HĐNK: kết quả được thể hiện qua biểu đồ 2.1:

  • Biểu đồ 2.1: Đánh giá về sự cần thiết phải đưa nội dung GDPL CHS qua HĐNK

Để đạt được hiệu quả trong công tác giáo dục nói chung trước hết cần trang bị cho đội ngũ thực hiện nhận thức tốt về vấn đề. Trong hoạt động GDPL CHS qua HĐNK cũng vậy, nhà trường cần phải trang bị tốt cho CBQL, GV nhận thức tốt về sự cần thiết phải đưa nội dung GDPL CHS qua HĐNK. Nhìn vào biểu đồ 2.1 cho thấy có 31,5% đánh giá Rất cần thiết; 29,8% mẫu đánh giá Cần thiết. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có đến 25,8% đối tượng khảo sát đánh giá Ít cần thiết và 12,9% đối tượng khảo sát đánh giá Không cần thiết.

Qua tiếp xúc với một số CBQL và HS trong các trường thì họ cho rằng “Giáo dục công dân nói riêng và hoạt động GDPL CHS nói chung là môn học phụ, hoạt động phụ; GV và học sinh thường chú trọng, tập trung vào các môn như Toán, tiếng Việt, Lý, Hóa… để đảm bảo thành tích học tập và môn thi tốt nghiệp”. Điều này phản ánh một thực tế rằng một số nhà trường chưa coi trọng hoạt động GDPL CHS, các môn học liên quan như Giáo dục công dân bị xem là môn phụ, chưa quan tâm đầu tư nhân lực, tài lực, thời gian thỏa đáng hoạt động này. Vì thế vẫn còn rất nhiều CBQL, GV (gần 40%) không ủng hộ việc đưa nội dung GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS trên địa bàn, đây là một khó khăn mà các trường cần phải cải thiện.

Đánh giá về nhận thức mục tiêu của hoạt động GDPL CHS thông qua HĐNK của CBQL, GV: Kết quả đánh giá thể hiện trong bảng 2.5. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

  • Bảng 2.5: Đánh giá mục tiêu GDPL CHS qua HĐNK tại trường

Số liệu trong bảng 2.5 cho thấy có 89,9% CBQL, GV cho rằng mục tiêu của hoạt động GDPL CHS thông qua HĐNK là Nâng cao hiểu biết về kiến thức pháp luật phù hợp với lứa tuổi; 87,1% số phiếu cho rằng mục tiêu của hoạt động là Nâng cao ý thức của HS trong tuân thủ pháp luật trong đời sống hàng ngày; và 80,9% cho rằng mục tiêu hoạt động này là giúp HS nắm bắt và thực hiện đúng một số quyền và nghĩa vụ của công dân phù hợp với lứa tuổi. Điều này cho thấy hầu hết CBQL, GV có nhận thức tốt về các mục tiêu của giáo dục pháp luật trong nhà trường nói chung và GDPL thông qua HĐNK nói riêng. Qua đó giúp nhà trường có định hướng đúng về các nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục GDPL thông qua HĐNK cho học sinh.

Kết quả đánh giá về vị trí nào có thể thực hiện hiệu quả hoạt động GDPL CHS qua HĐNK tại trường được thể hiện trong bảng 2.6.

  • Bảng 2.6: Đánh giá hiệu quả hoạt động GDPL CHS qua HĐNK

Theo số liệu bảng 2.6 thì có 92,1% đối tượng khảo sát lựa chọn GV Giáo dục công dân; 66,3% lựa chọn Tổng phụ trách; 57,9% lựa chọn Bí thư đoàn trường; 57,3% lựa chọn GV chủ nhiệm; 62,4% lựa chọn GV bộ môn; 53,4% lựa chọn Hiệu trưởng và 80,9% lựa chọn Tất cả phối hợp. Điều này cho thấy các CBQL và GV đều đánh giá cao vai trò của GV Giáo dục công dân trong GDPL CHS qua HĐNK. Tuy nhiên các thành phần còn lại đều có thể góp phần nâng cao hiệu quả GDPL CHS qua HĐNK, vì vậy lựa chọn Tất cả phối hợp cũng được đánh giá cao với 80,9% số phiếu lựa chọn.

2.3.2 Nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường học nói chung và trường THCS đã được bộ GD&ĐT chú trọng thực hiện từ rất sớm. Tùy vào điều kiện và tình hình thực tế ở các trường mà các nội dung giáo dục pháp luật sẽ có sự phân bổ khác nhau. Theo kết quả khảo sát thì các nội dung pháp luật được phổ biến ở các trường THCS trên địa bàn bao gồm Giáo dục pháp luật về quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em; Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; Giáo dục về chấp hành luật giao thông; Giáo dục pháp luật về phòng chống ma túy, các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác; Giáo dục luật nghĩa vụ quân sự; Giáo dục giới tính, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình. Tất cả các nội dung này đều được nhà trường phổ biến cho học sinh thông qua HĐNK tại trường, qua đó cho thấy nhà trường đã rất đa dạng các nội dung giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua HĐNK. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Mức độ thực hiện các nội dung GDPL CHS qua HĐNK tại trường được trình bày trong bảng 2.7:

  • Bảng 2.7: Mức độ thực hiện các nội dung GDPL CHS qua HĐNK tại trường

Bảng 2.7 cho thấy các nội dung được thực hiện nhiều ở mức Thỉnh thoảng phù hợp với độ tuổi học sinh THCS và tình hình vi phạm pháp luật ở địa phương bao gồm Giáo dục về chấp hành luật giao thông; Giáo dục pháp luật về phòng chống ma túy, các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác; và Giáo dục luật nghĩa vụ quân sự với mức điểm trung bình từ 2,24 điểm đến 3,05 điểm.

Trong khi đó các nội dung còn lại chỉ được thực hiện ở mức Hiếm khi gồm Giáo dục pháp luật về quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em; Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; Giáo dục giới tính, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình. Trò chuyện với một số HS thì phần lớn các em cho rằng “nhà trường ít thực hiện giáo dục pháp luật về quyền trẻ em, về giới tính, bình đẳng giới, về phòng chống bạo lực gia đình”. Đây là những nội dung pháp luật rất cần thiết cho các em để biết quyền và nghĩa vụ của trẻ em, biết bảo vệ môi trường sống, biết về giới tính, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình, các vi phạm pháp luật về vấn đề này thường xuyên diễn ra nhưng các trường chưa chú trọng thực hiện ở các HĐNK ảnh hưởng đến việc hiểu và chấp hành của các em trong thực tế. Vì vậy các trường cần tăng cường thực hiện các nội dung GDPL CHS đầy đủ hơn trong thời gian tới.

2.3.3 Hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Hiện nay, các trường cũng đang sử dụng một số hình thức GDPL CHS qua HĐNK. Kết quả khảo sát mức độ thực hiện các hình thức GDPL CHS qua HĐNK thể hiện ở bảng 2.8:

  • Bảng 2.8: Mức độ thực hiện các hình thức GDPL CHS qua HĐNK

Bảng 2.8 cho thấy các trường vẫn tập trung vào một số hình thức. Cụ thể các hình thức Thường xuyên thực hiện bao gồm Tổ chức tuần sinh hoạt công dân học sinh; Tổ chức học tập nội quy, quy chế nhà trường; và Biên soạn cấp phát rộng rãi các tài liệu phổ biến pháp luật, xây dựng tủ sách pháp luật với mức điểm trung bình từ 3,30 đến 3,67. Đây là các hình thức giáo dục các quy định, quy chế giáo dục và đào tạo trong nhà trường, có ý nghĩa trực tiếp đến hoạt động học tập của học sinh.

Trong khi đó, trong các hình thức Sinh hoạt dưới cờ; Sinh hoạt lớp; Sinh hoạt đoàn, hội, đội theo chủ đề pháp luật; Tổ chức tham quan trụ sở các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp; Tổ chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu pháp luật; Xây dựng các tiểu phẩm, tình huống pháp luật; và Lồng ghép các nội dung tìm hiểu pháp luật vào các phong trào thi đua thì Hiếm khi được thực hiện với mức điểm trung bình từ 2,15 đến 2,42. Trò chuyện với một số GV và HS thì đều cho biết các trường “chưa có các câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật; chưa tổ chức tham dự phiên tòa xét xử các vụ án vị thành niên phạm tội; cũng chưa mời cán bộ tư pháp phổ biến pháp luật”. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Kết quả cho thấy các nhà trường chưa có sự quan tâm đồng bộ đến tất cả các hình thức GDPL CHS qua HĐNK.

2.3.4 Công tác phối hợp triển khai giáo dục pháp luật

Đánh giá về công tác phối hợp giữa các lực lượng liên quan trong quản lý GDPL CHS cho học sinh qua HĐNK ở các trường THCS cho thấy công tác này còn chưa được quan tâm đúng mức, thể hiện trong bảng 2.9:

  • Bảng 2.9: Mức độ thực hiện các hình thức GDPL CHS qua HĐNK

Bảng 2.9 cho thấy sự phối hợp với các lực lượng như Với chính quyền địa phương; Với cơ quan công an; Với ban, ngành, đoàn thể các cấp; Với phụ huynh học sinh trong việc triển khai GDPL CHS trong các HĐNK chỉ được đánh giá mức

Hiếm khi với điểm trung bình từ 2,16 đến 2,46 điểm.

Trò chuyện với một số CBQL thì được biết “chỉ khi xảy ra các sự việc vi phạm pháp luật của HS nhà trường mới mới các cơ quan liên quan đến để phối hợp giải quyết”. Điều này cho thấy sự bị động trong công tác giáo dục pháp luật cho HS,làm hạn chế hiệu quả của công tác GDPL CHS qua HĐNK trong các trường THCS trên địa bàn thời gian qua.

2.3.5 Kết quả giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Với sự chỉ đạo từ các cấp quản lý ngành giáo dục các trường THCS tại thị xã Dĩ An đã tích cực, chủ động trong việc GDPL CHS bằng các nội dung, hình thức khác nhau. Ngoài việc GDPL CHS qua chương trình môn học có liên quan là môn học Giáo dục công dân thì các trường cũng đã tích hợp ở một số môn học khác như môn tự nhiên, xã hội, lịch sử, địa lý, ngữ văn… với các nội dung pháp luật về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, pháp luật về giao thông, pháp luật về phòng chống ma túy, pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội, pháp luật về bảo vệ môi trường, các quy chế đào tạo, rèn luyện… và được tuyên truyền, phổ biến trong giờ chính khóa và HĐNK phong phú.

Kết quả đã góp phần giúp HS nâng cao hiểu biết về kiến thức pháp luật phù hợp với lứa tuổi, nắm bắt và thực hiện đúng một số quyền và nghĩa vụ của công dân ở tuổi HS, tăng khả năng tuân thủ pháp luật trong đời sống hàng ngày của HS trong các trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số vi phạm pháp luật trong nhà trường thời gian qua, các vi phạm này được thể hiện ở bảng 2.10:

  • Bảng 2.10: Mức độ thực hiện các hình thức GDPL CHS qua HĐNK

Qua bảng 2.10 cho thấy vẫn còn những vi phạm ở những mức khác nhau, tuy nhiên nhìn chung các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng rất ít xảy ra, trong khi đó các vi phạm pháp luật dân sự diễn ra còn nhiều. Cụ thể các Vi phạm Luật Giao thông đường bộ và Sử dụng internet sai mục đích còn Thường xuyên diễn ra. Một số vi phạm quy định của địa phương diễn ra ở mức Thỉnh thoảng. Các vi phạm khác ở mức Hiếm khi Không vi phạm. Điều này cho thấy để nâng cao hiệu quả công tác GDPL thì các trường cần phải tăng cường các giải pháp quản lý đồng bộ, trong đó có tiếp tục các giải pháp quản lý GDPL CHS qua HĐNK trong thời gian tới.

Trên đây là kết quả phân tích thực trạng hoạt động GDPL CHS qua HĐNK, tiếp theo tác giả sẽ đi phân tích thực trạng quản lý công tác này ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2.4 Thực trạng quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.4.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Để đạt được hiệu quả cao trong quản lý GDPL CHS qua HĐNK thì trước hết các hiệu trưởng nhà trường cần phải chú trọng đến công tác xây dựng kế hoạch. Một kế hoạch tốt sẽ giúp nhà trường xác định được mục tiêu phù hợp với các quy định và điều kiện thực tế tại nhà trường, phù hợp với từng địa phương, đề ra biện pháp thực hiện mục tiêu đã đề ra đó. Để xây dựng kế hoạch giáo dục pháp luật cho học sinh qua HĐNK thì các trường cần phải tổ chức tìm hiểu, thống kê về tình hình vi phạm pháp luật tại địa phương và HS trong trường; căn cứ vào kế hoạch năm học, quy định phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường; điều kiện tổ chức tại nhà trường từ đó đánh giá được nhu cầu, các nội dung và tính cấp bách trong việc tổ chức các hoạt động GDPL CHS để xây dựng kế hoạch chi tiết mang tính phù hợp, hiệu quả và khả thi nhất.

Kết quả khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả đạt được công tác xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được thể hiện trong bảng 2.11 và bảng 2.12.

  • Bảng 2.11: Đánh giá mức độ thực hiện xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK
  • Bảng 2.12: Đánh giá kết quả trong xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK

Qua bảng 2.11 và 2.12 cho thấy:

Nội dung Tìm hiểu, thống kê về tình hình vi phạm pháp luật tại địa phương và HS trong trường được đánh giá Hiếm khi thực hiện (điểm trung bình 2,45). Điều này cho thấy các lãnh đạo nhà trường chưa thực sự quan tâm đến công tác điều tra các thông tin, tình hình về vấn đề vi phạm trong pháp luật dân sự, hình sự ở tại địa phương nói chung cũng như đối với lứa tuổi học sinh THCS. Đánh giá về kết quả thực hiện nội dung này cho thấy tần suất lựa chọn mức độ đánh giá Tốt chiếm rất ít, chỉ 4,5%, trong khi đó các lựa chọn còn lại gần tương đương nhau, xung quanh mức Trung bình. Điều này cho thấy kết quả đạt được của nội dung chỉ ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Xác định nhu cầu, mục tiêu, tính khả thi của hoạt động GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá với mức 2,39 điểm, tương ứng với mức Hiếm khi. Với việc hiếm khi thực hiện điều tra các vi phạm pháp luật ở địa phương, dẫn đến công tác xác định nhu cầu, mục tiêu, tính khả thi của hoạt động GDPL CHS qua HĐNK của các trường có chất lượng không cao, chưa sát với thực tế, nhu cầu cấp bách của an ninh xã hội địa phương. Trong khi nguồn nhân sự nhà trường còn ít, việc dàn trãi thực hiện GDPL CHS với nhiều nội dung phổ biến, bao quát dẫn đến tính hiệu quả công tác GDPL CHS qua HĐNK sẽ không cao. Chính thế mức đánh giá Yếu (37,1%) và Trung bình(41,6%) chiếm đa số khi đánh giá về kết quả đạt được nội dung này. Điều này cho thấy kết quả đạt được của nội dung không được đánh giá cao.

Nội dung Xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK dựa trên kế hoạch năm học và thực tế địa phương có mức độ thực hiện Hiếm khi và kết quả thực hiện ở mức Trung bình. Điều này cho thấy nhà trường chỉ chú trọng đến kế hoạch dạy học, đảm bảo chất lượng dạy học chương trình chính khóa, việc tổ chức HĐNK chưa được quan tâm đúng mức, vì thế kế hoạch tổng thể về GDPL CHS qua HĐNK không được thiết lập chi tiết và có chất lượng không cao, chưa phù hợp với kế hoạch năm học và thực tế địa phương. Kết quả đạt được nội dung này được đánh giá với lựa chọn Trung bình có tần suất cao nhất, điều này cho thấy kết quả đạt được không được đánh giá cao.

Nội dung Xây dựng kế hoạch chi tiết GDPL CHS qua HĐNK theo tháng, năm học được đánh giá có mức độ thực hiện Hiếm khi với 2,28 điểm và kết quả thực hiện ở mức Trung bình với 2,02 điểm. Điều này cho thấy chất lượng kế hoạch còn thấp, có tính chung chung, nội dung thì sơ sài, chưa cụ thể các hình thức, nội dung. Hiện nay đối với GDPL CHS qua HĐNK nhà trường giao trách nhiệm cho GV bộ môn, GV chủ nhiệm, giáo viên Giáo dục công dân và các bên có liên quan lên kế hoạch về lý do, nội dung cơ bản trước khi thực hiện và trình lên ban giám hiệu phê duyệt hoặc tự tổ chức các HĐNK phù hợp với môn học, nhu cầu của học sinh, vì vậy mức độ chi tiết của kế hoạch này không cao. Kết quả đạt được của nội dung này không được đánh giá cao khi đánh giá Yếu và trung bình chiếm phần lớn.

Nội dung Lựa chọn nội dung GDPL CHS qua HĐNK phù hợp nhu cầu, mục tiêu và lứa tuổi HS được đánh giá khá thấp, chỉ với 2,29 điểm trung bình cho mức độ thực hiện và kết quả ở mức Trung Bình với 2,16. Hiện các nội dung GDPL CHS qua HĐNK còn sơ sài, chất lượng thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, vai trò, yêu cầu của công tác này đối với lứa tuổi THCS. Nội dung giáo dục thường phổ biến, giáo dục pháp luật còn dàn trải, nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn, thực hành, chưa hấp dẫn với lứa tuổi. Đây là lý do nội dung này được đánh giá không cao với tần suất lựa chọn đánh giá Trung bình cao nhất 129/178 phiếu.

Nội dung Xây dựng kế hoạch hỗ trợ về CSVC, trang thiết bị, kinh phí cho GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá 2,24 điểm trung bình, tương ứng mức thực hiện Hiếm khi thực hiện và kết quả thực hiện mức Trung bình với 2,13 điểm. Điều này cho thấy một logic với việc không đầu tư đúng mức vào xây dựng kế hoạch tổng thể và chi tiết cho công tác GDPL CHS qua HĐNK dẫn đến kế hoạch hoạch hỗ trợ về CSVC, trang thiết bị, kinh phí cho GDPL CHS qua HĐNK có chất lượng không cao. Việc hỗ trợ chỉ được thực hiện khi có yêu cầu từ các GV tổ chức, mang tính cấp thời, riêng lẻ. Chỉ một số buổi GDPL CHS qua HĐNK do các cấp quản lý giáo dục tổ chức thì nhà trường mới chú trọng tham gia, tổ chức và hỗ trợ hiệu quả. Nguyên nhân là do nhà trường chỉ chú trọng đến công tác dạy học chính khóa, không quan tâm đúng mức đến GDPL CHS qua HĐNK vì sợ tác động đến kết quả học tập các môn học chính, ảnh hưởng chất lượng dạy học trong nhà trường. Kết quả nội dung này được đánh giá không cao với tần suất lựa chọn đánh giá Trung bình cao nhất 134/178 phiếu. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Tóm lại, kết quả phân tích hoạt động xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK cho thấy mức độ thực hiện các nội dung trong công tác xây dựng kế hoạch còn hạn chế, ở mức thực hiện Hiếm khi và kết quả thực hiện ở mức Trung bình. Kết quả này tác động không tốt đến việc kiểm soát công tác GDPL CHS qua HĐNK trong nhà trường ở các chức năng gồm công tác thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Kết quả phỏng vấn mốt số CBQL, GV đã cho thấy nguyên nhân chính của các hạn chế là nhận thức của một số CBQL, GV còn chưa phù hợp về vị trí, vai trò và mục đích đối của công tác này, xem đây là hoạt động phụ, các môn liên quan là môn học phụ (môn Giáo dục công dân) và đây chỉ là trách nhiệm của giáo viên bộ môn Giáo dục công dân, các GV khác không cần phải tham gia. Điều này đã dẫn đến sự đầu tư cho công tác xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK còn sơ sài, sự chuẩn bị về nội dung còn sơ sài, trùng lắp, dàn trải, nhiều lý thuyết, thiếu tính thực tiễn, không có các hình thức giúp HS thực hành, trải nghiệm. Vì vậy trong thời gian tới để nâng cao chất lượng quản lý GDPL CHS qua HĐNK hiệu trưởng các trường THCS cần phải chú trọng, đầu tư hơn đến hoạt động xây dựng kế hoạch công tác này, nhằm góp phần thực hiện tốt hơn công tác phổ biến pháp luật trong nhà trường mà ngành giáo dục đã đề ra.

2.4.2 Tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Tổ chức thực hiện GDPL CHS qua HĐNK là hoạt động triển khai kế hoạch đã được xây dựng trước đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Hiện nay các trường chỉ có ban Ban chỉ đạo các hoạt động giáo dục (HĐGD) nói chung mà chưa có ban chỉ đạo về HĐNK, vì vậy việc quản lý GDPL CHS qua HĐNK chịu sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo các HĐGD. Ban chỉ đạo các HĐGD thông thường có các thành phần tham bảo gồm Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Bí thư chi đoàn, Tổng phụ trách đội, các tổ trưởng khối lớp, tổ trưởng bộ môn, một số GV. Ban chỉ đạo HĐGD chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó có GDPL CHS qua HĐNK.

Để thực hiện GDPL CHS qua HĐNK có kết quả cao thì Ban chỉ đạo cần phải thực hiện các nội dung phổ biến kế hoạch, xác định các lực lượng tham gia, phân công nhiệm vụ phù hợp, xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng, hỗ trợ quá trình thực hiện và tổ chức giám sát quá trình thực hiện của các lực lượng. Kết quả đánh giá công tác tổ chức thực hiện GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS thị xã Dĩ An được thể hiện qua bảng 2.13 và bảng 2.14.

  • Bảng 2.13: Đánh giá mức độ thực hiện GDPL CHS qua HĐNK
  • Bảng 2.14: Đánh giá kết quả đạt được trong thực hiện GDPL CHS qua HĐNK

Qua bảng 2.13 và 2.14 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Phổ biến kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK đến các lực lượng tham gia được đánh giá thực hiện ở mức Hiếm khi với 2,34 điểm. Điều này cho thấy việc xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK chưa tốt đã tác động đến công tác phổ biến kế hoạch đến các lực lượng tham gia. Vì vậy việc phổ biến diễn ra chung chung bằng các hình thức thông báo, cung cấp tài liệu tại văn phòng, hiệu quả không cao. Vì thế mức đánh giá Trung bình cho kết quả đạt được của nội dung có tần số lựa chọn lớn nhất với 108/178, chiếm 60,7% số phiếu, điều này cho thấy kết quả nội dung được đánh giá không cao.

Nội dung Xác định, đánh giá năng lực của lực lượng tham gia hoạt động được đánh giá mức độ thực hiện Hiếm khi với 2,47 điểm trung bình trong thang đo 4 mức độ. Việc nhà trường chưa chú trọng đến việc xây dựng chi tiết kế hoạch, chỉ thực hiện xây dựng kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK khi cấp quản lý phát động các chương trình hay giao nhiệm vụ tăng cường phổ biến và giáo dục pháp luật trong trường học. Vì thế việc lựa chọn, xác định, đánh giá năng lực của lực lượng tham gia hoạt động chưa được thực hiện thường xuyên, dẫn đến không có kế hoạch thúc đẩy, đào tạo năng lực cho đội ngũ một cách dài hạn. Hầu hết các trường xem việc GDPL CHS là việc nhiệm vụ của GV bộ môn Giáo dục công dân, cá biệt có trường GV dạy bộ môn này phải bố trí dạy chéo, không đúng chuyên môn vì xem đây là môn phụ. Chính vì vậy GDPL CHS qua HĐNK không diễn ra thường xuyên và có thể được thực hiện bởi các GV, CBQL không đủ chuyên môn, hiểu biết về pháp luật thực hiện. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả thực hiện. Mức đánh giá Trung bình có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này với 143/178, chiếm 80,3% số phiếu, điều này cho thấy kết quả được đánh giá không cao.

Nội dung Phân công nhiệm vụ phù hợp năng lực của các lực lượng tham gia thực hiện GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá chỉ ở mức Hiếm khi với 2,36 điểm trung bình. Điều này xuất phát từ việc nhà trường chưa chú trọng đến công tác lựa chọn, đánh giá và bố trí người có năng lực, kiến thức phù hợp để đảm nhận các hoạt động hoặc có kế hoạch đào tạo phù hợp đối với các lực lượng GV, CBQL, công tác Đoàn, Đội trong nhà trường để đảm nhận công tác này. Các trường hiện còn mặc định cho GV môn Giáo dục công dân thực hiện nhiệm vụ, tuy nhiên pháp luật là vấn đề rất rộng lớn, không thể chỉ một cá nhân có thể đảm nhận và GV môn Giáo dục công dân cũng không đủ thời lượng để phổ biến cho HS tất cả các luật, bộ luật, các quy định liên quan đến HS. Cho thấy rằng việc phân công nhiệm vụ GDPL CHS qua HĐNK ở các trường hiện còn nhiều bất cập.Mức đánh giá Trung bình có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này với 90/178, chiếm 50,6% số phiếu, điều này cho thấy kết quả được đánh giá không cao.

Nội dung Tổ chức thực hiện GDPL CHS qua HĐNK đúng kế hoạch được đánh giá mức thực hiện với 2,31 điểm trung bình, tương ứng mức thực hiện Hiếm khi. Điều này là do quy định về GDPL trong các nhà trường không thuộc chương trình giáo dục vì thế mỗi trường sẽ có kế hoạch, cách thức tổ chức khác nhau, dẫn đến có sự khác biệt trong cách thức quản lý. Việc thực hiện GDPL CHS qua HĐNK ít căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, nhu cầu của HS, các nội dung, hình thức cũng không chú trọng đến sức khỏe, tâm sinh lí mà được thực hiện một cách chung chung; nội dung thường mang tính phổ biến, trùng lặp ít thay đổi; hình thức tổ chức đơn điệu, ít có sự đầu tư nghiên cứu để vận dụng sáng tạo, linh hoạt các nội dung pháp luật trong thực tiễn dễ dẫn đến nhanh quên, không hứng thú đối với HS. Mức đánh giá Trung bình có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này với 138/178, chiếm 77,5% số phiếu, điều này cho thấy kết quả được đánh giá không cao.

Nội dung Xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng giáo dục, sử dụng CSVC, trang thiết bị, kinh phí bố trí cho hoạt động được đánh giá ở mức 2,27 trung bình, tương ứng với mức thực hiện Hiếm khi. Hiện nay khi thực hiện GDPL CHS qua HĐNK các bộ phận liên quan phối hợp với nhau dưa trên những quy định, cơ chế có sẵn như điều lệ hoạt động trường THCS, quy chế, nội quy nhà trường, quy định về đánh giá giáo viên, quy chế về sử dụng CSVC, trang thiết bị, kinh phí mà không xây dựng các quy chế mới, đặc trưng cho công tác này. Mức đánh giá Trung bình có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này với 135/178, chiếm 75,8% số phiếu, điều này cho thấy kết quả được đánh giá không cao.

Nội dung Chỉ đạo việc sử dụng hiệu quả CSVC, trang thiết bị và kinh phí cho HĐNK. Cũng tương tự như nội dung trên, nội dung này cũng được đánh giá mức thực hiện với 2,20 điểm trung bình, tương ứng mức thực hiện Hiếm khi và kết quả thực hiện Bình thường với 2,11 điểm. Điều này thể hiện việc bố trí, sử dụng CSVC, trang thiết bị và kinh phí cho HĐNK phục vụ GDPL CHS chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến kết quả thực hiện không được cao, chỉ được đánh giá mức 2,11 điểm trung bình, tương ứng với đánh giá Trung bình. Lựa chọn Trung bình cũng có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này, vì vậy cho thấy kết quả được không cao. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Tổ chức giám sát các lực lượng tham gia thực hiện kế hoạch. Như đã trình bày ở trên, công tác GDPL CHS qua HĐNK được giao trực tiếp cho CBQL, GV, cán bộ Đoàn, Đội trong nhà trường theo các yêu cầu, quy định từ các cấp quản lý, không có chương trình, kế hoạch chi tiết cụ thể. Điều này gây khó khăn cho các nhà trường trong công tác lựa chọn, phân bổ và giám sát các lực lượng tham gia thực hiện công tác GDPL CHS qua HĐNK. Chính vì vậy nội dung này chỉ được đánh giá thực hiện mức Hiếm khi. Lựa chọn Trung bình cũng có tần suất lớn nhất khi đánh giá về kết quả đạt được của nội dung này, vì vậy cho thấy kết quả được không cao.

Tóm lại, kết quả khảo sát tổ chức thực hiện kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An cho thấy tất cả các nội dung công tác này chỉ đánh giá Hiếm khi và kết quả không cao khi tần suất lựa chọn Trung bình chiếm phần lớn.Điều này phản ánh một thực tế rằng các trường đều không đánh giá đúng vai trò, vị trí của công tác GDPL CHS nói chung và giáo dục GDPL CHS qua HĐNK nói riêng, xem đây là môn phụ, chỉ chú trọng đến hoạt động giáo dục chính khóa và các môn học tự nhiên, xã hội. Việc không đánh giá đúng đã dẫn đến sự lơ là trong việc xây dựng kế hoạch, tác động trực tiếp đến công tác tổ chức thực hiện GDPL CHS qua HĐNK của các trường trong thời gian qua. Dẫn đến công tác tổ chức thực hiện gặp phải một số khó khăn nhất định, gây bối rối cho các lực lượng tham gia công tác GDPL CHS qua HĐNK. Kết quả này không đáp ứng được yêu cầu, thực tế việc vi phạm pháp luật tại địa phương và trong nhà trường trong thời gian nghiên cứu, ảnh hưởng đến việc nắm bắt kiến thức pháp luật, việc tuân thủ pháp luật trong đời sống và quá trình học tập của HS. Chính vì thế để nâng cao chất lượng công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK trong các trường THCS thì hiệu trưởng các trường cần phải đề ra những giải pháp phù hợp trong công tác chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK, nhằm góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhà trường theo chủ trương của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục đang thúc đẩy thực hiện.

2.4.3 Chỉ đạo thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK là một chuỗi các hoạt động của hiệu trưởng, CBQL nhà trường tác động đến các đối tượng thực hiện công tác này nhằm tạo sự hỗ trợ hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khuyến khích, theo dõi tiến trình và ghi nhận kết quả của các đối tượng tham gia thực hiện. Qua đó thúc đẩy quá trình hoàn thành mục tiêu công tác GDPL CHS qua HĐNK nói riêng và mục tiêu giáo dục nói chung. Đánh giá hoạt động chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được trình bày tại bảng 2.15 và bảng 2.16.

  • Bảng 2.15: Đánh giá mức độ chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK
  • Bảng 2.16: Đánh giá kết quả chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK

Qua bảng 2.15 và bảng 2.16 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Tổ chức và giám sát sự phối hợp giữa các lực lượng trong quá trình thực hiện kế hoạch được đánh giá không cao, với mức thực hiện Hiếm khi và kết quả thực hiện Trung Bình. Lãnh đạo các trường hiện rất quan tâm đến việc đảm bảo và nâng cao chất lượng học tập chính khóa, học tập các môn học tự nhiên và xã hội trong giờ lên lớp, vì thế các trường đã đầu tư phần lớn nhân lực, tài lực, thời gian cho công tác này. Trong khi đó HĐNK chưa được quan tâm chú trọng, vì vậy công tác tổ chức và giám sát đối với các lực lượng tham gia còn nhiều thiếu sót, giao hoàn toàn cho lực lượng tổ chức như GV bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, GV môn Giáo dục công dân, phụ trách Đội, Đoàn trường. Chính vì thế việc tổ chức GDPL CHS qua HĐNK mang tính nhỏ lẻ, không xuyên suốt, trùng lắp và không kiểm soát tốt nội dung, hình thức tổ chức của các đối tượng thực hiện. Điều này giải thích tại sao nội dung này được đánh giá không cao về kết quả đạt được, mức Trung bình có tần suất lớn nhất, chiếm 50,6% số đánh giá.

Nội dung Chỉ đạo đổi mới, sáng tạo về phương pháp, hình thức tổ chức GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá ở mức thực hiện Hiếm khi với 2,30 điểm trung bình. Điều này thể hiện một thực tế rằng lãnh đạo các trường chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề quản lý công tác này.Trao đổi với một số GV thì được biết “hiệu trưởng nhà trường chỉ chú trọng chỉ đạo đảm bảo các hoạt động trong giờ lên lớp, HĐNK ít khi được chỉ đạo bài bản, chi tiết, thường GV được giao phó toàn bộ quá trình chuẩn bị, thực hiện” về phương pháp, hình thức tổ chức GDPL CHS qua HĐNK.

Về nội dung, các trường đã thực hiện nhiều nội dung GDPL CHS, tuy nhiên chỉ chú trọng đến một vài nội dung liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ hoạt động dạy học như giáo dục Quy chế thi, kiểm tra; Quy chế đánh giá học sinh, kết quả học tập; Giáo dục về chấp hành luật giao thông. Trong khi đó các nội dung khác như Giáo dục pháp luật về quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của trẻ em; Giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; Giáo dục pháp luật về phòng chống ma túy, các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác; Giáo dục luật nghĩa vụ quân sự; Giáo dục giới tính, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình lại ít được thực hiện. Đây đều là những nội dung ảnh hưởng trực tiếp đến sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật của HS, góp phần giúp các em thành những công dân có ích cho xã hội.

Về hình thức, các trường chỉ chú trọng đến một số hình thức tổ chức như Tổ chức tuần sinh hoạt công dân học sinh; Tổ chức HS học tập nội quy, quy chế nhà trường; Biên soạn cấp phát rộng rãi các tài liệu phổ biến pháp luật, xây dựng tủ sách pháp luật. Các hình thức mang tính trải nghiệm, sáng tạo như tổ chức các câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật; tham dự phiên tòa xét xử các vụ án vị thành niên phạm tội; tham quan trụ sở các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp; Tổ chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho HS; Xây dựng các tiểu phẩm, tình huống pháp luật rất ít được thực hiện.

Vì công tác này chưa được đầu tư đúng mức nên không tạo được động lực thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo trong lực lượng tham gia. Chính vì thể kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá không cao khi tần số lựa chọn Khá,Trung bình Yếu chiếm tỷ lệ cao. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Theo dõi, hỗ trợ trong quá trình tổ chức GDPL CHS qua HĐNK là một chuỗi các công tác của lãnh đạo, CBQL nhà trường nhằm tạo điều kiện hỗ trợ các cá nhân, đơn vị trong xây dựng quy chế, bố trí thời gian, phương thức giải quyết các vướng mắc khi thực hiện công tác. Tuy nhiên nội dung này chỉ được đánh giá được thực hiện ở mức Hiếm khi với 2,25 điểm. Điều này phản ánh một thực tế các nhà trường chỉ chú trọng theo dõi, hỗ trợ quá trình thực hiện hoạt động dạy học chính khóa, HĐNK nói riêng và công tác GDPL CHS qua HĐNK chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả đạt được của nội dung này có tần số lựa chọn mức Khá,Trung bình Yếu chiếm tỷ lệ cao, không có lựa chọn Tốt.

Nội dung Ghi nhận và đưa kết quả hoạt động GDPL CHS qua HĐNK thành một tiêu chí đánh giá GV là nội dung được các đối tượng thực hiện quan tâm vì tác động đến mục tiêu, động lực làm việc. Một công tác khi được ghi nhận kết quả thì sẽ thúc đẩy được sự nỗ lực từ phía người thực hiện nhằm tìm kiếm cái mới, tăng cường tính sáng tạo, để nâng cao chất lượng công tác đó. Khi công tác nào đó được mặc định đưa vào quy chế đánh giá trở thành một tiêu chí sẽ bắt buộc và thúc đẩy người thực hiện phải thực hiện tốt, theo đúng yêu cầu. Vì vậy nội dung này được đánh giá thấp chỉ với mức Hiếm khi với 1,94 điểm. Trao đổi với một số GV thì được biết kết quả “kết quả công tác GDPL CHS qua HĐNK không được xem là đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của GV”. Điều này phản ánh thực tế các nhà trường chưa thực sự xem công tác GDPL CHS qua HĐNK là một tiêu chí cần thiết cho việc đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của GV mà chỉ tập trung vào các tiêu chí tổ chức hoạt động dạy học, kết quả trong GDPL CHS qua HĐNK không được ghi nhận vào kết quả đánh giá GV, HS vào học kỳ, cuối năm. Chính vì thế mức lựa chọn Trung bình có tần suất lựa chọn lớn nhất cho kết quả thực hiện nội dung này, qua đó cho thấy kết quả đạt được của nội dung không cao.

Nội dung Động viên, khuyến khích các tổ chuyên môn, GV có thành tích trong tổ chức GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá mức thực hiện Hiếm khi với 2,03 điểm trung bình. Hiện nay các trường xem GDPL CHS qua HĐNK là một phần trách nhiệm phải hoàn thành của CBQL, GV do đó chưa có cơ chế riêng trong việc động viên, khuyến khích mà chỉ được được thực hiện chung trong hoạt động dạy học. Vì vậy, nội dung được đánh giá không cao về kết quả thực hiện với tần suất lựa chọn mức Trung bình lên đến 91/178 phiếu, chiếm 51,1% số đối tượng. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Tương tự như trên, nội dung Khen thưởng đối với các GV có thành tích xuất sắc trong GDPL CHS qua HĐNK của nhà trường cũng được đánh giá thực hiện mức Hiếm khi và kết quả thực hiện Trung bình. Điều này là do các hình thức khen thường chỉ được vận dụng trong quá trình dạy học các môn học trên lớp mà ít vận dụng trong các HĐNK, trong đó có công tác GDPL CHS qua HĐNK.

Tóm lại, kết quả phân tích dữ liệu khảo sát về công tác chỉ đạo thực hiện GDPL CHS qua HĐNK cho thấy còn rất nhiều hạn chế trong hoạt động này ở các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An. Điều này nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, thời lượng trong chương trình HĐNK của học sinh THCS chỉ 3 tiết/tuần hoặc 12 tiết/tháng với mỗi lớp, chiếm rất ít trong thời lượng học tập, trong đó có rất nhiều nội dung được thực hiện; Thứ hai, hiện còn rất thiếu những hướng dẫn, quy định, quy chế, hỗ trợ, đánh giá, ghi nhận trong việc thực hiện HĐNK nói chung và GDPL CHS qua HĐNK nói riêng, trong khi đó lại quy định rất rõ đối với hoạt động dạy học trong giờ lên lớp; Thứ ba, nhiều nhà trường xem HĐNK như một hoạt động phụ, những môn học liên quan là những môn học phụ chủ yếu giúp HS vui chơi, giải trí, rèn luyện thể chất mà không phải là hoạt động học tập nên không quan tâm đầu tư đúng mức; Thứ tư, các trường còn thiếu nhiều về nhân lực có năng lực chuyên môn, CSVC, trang thiết bị để hỗ trợ việc GDPL CHS.

Chính vì thế công tác chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường đối với GDPL CHS qua HĐNK có phần xem nhẹ, chưa tương xứng với vai trò, vị trí, nhu cầu cấp thiết của xã hội, của các trường THCS ở thời điểm này. Do đó, các nhà trường cần phải có giải pháp toàn diện, phù hợp trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2.4.4 Kiểm tra đánh giá thực hiện giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoại khóa

Kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo nhà trường đối với công tác GDPL CHS qua HĐNK là chuỗi những hoạt động có mục đích bao gồm Xây dựng các tiêu chí đánh giá; Đề ra phương pháp đánh giá; Xây dựng lực lượng kiểm tra; Thực hiện kiểm tra; Tổng kết, đánh giá kết quả; Phát hiện sai sót và thực hiện điều chỉnh, sửa chữa khi cần thiết nhằm đảm bảo kế hoạch mục tiêu được thực hiện hoặc điều chỉnh để đạt được mục tiêu mới, kết quả tốt hơn trong tương lai. Đánh giá về hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác GDPL CHS qua HĐNK tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An được thể hiện trong bảng 2.17 và 2.18:

  • Bảng 2.17: Đánh giá mức độ kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK
  • Bảng 2.18: Đánh giá kết quả thực hiện kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK

Qua bảng 2.17 và bảng 2.18 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá thực hiện ở mức Hiếm khi với chỉ 1,85 điểm trung bình. Hiện nay các trường chưa xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động GDPL CHS qua HĐNK. Công tác này được đánh giá chung dựa trên sự hoàn thành nhiệm vụ được giao của CBQL, GV và tình hình hiểu biết và chấp hành pháp luật của HS trong nhà trường. Ngoài những kiến thức thuộc môn Giáo dục công dân được kiểm tra thì các kiến thức pháp luật còn lại là sự tự giác học tập và chấp hành của HS. Kết quả của công tác này không thể kiểm tra một cách toàn diện và chính xác bởi các hành vi pháp luật của HS không chỉ được thể hiện trong khuôn viên nhà trường mà cả trong đời sống xã hội, cá nhân của HS. Đây là một khó khăn cho công tác kiểm tra của nhà trường đối với hoạt động GDPL CHS. Kết quả thực hiện có mức lựa chọn Trung bình đạt tần suất cao nhất với 90 lựa chọn, chiếm 50,6% điều này thể hiện kết quả nội dung không được đánh giá cao.

Nội dung Đề ra phương pháp đánh giá phù hợp với hoạt động GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá thực hiện ở mức Hiếm khi với chỉ 1,94 điểm trung bình. Một số phương pháp đánh giá GDPL CHS qua HĐNK các trường có thể sử dụng như thống kê, so sánh tình hình vi phạm các quy định, luật của HS; Tổ chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho HS; Trao đổi, trò chuyện cùng HS; Tự đánh giá của HS; Quan sát tính tự giác chấp hành quy định trong nhà trường… Tuy nhiên các phương pháp này rất ít được sử dụng trong kiểm tra đánh giá công tác GDPL CHS qua HĐNK ở các trường. Điều này giải thích tại sao nội dung này được đánh giá không cao về kết quả đạt được, các mức Khá, Trung bình và Yếu có tần suất lớn nhất, không có mức đánh giá Tốt.

Nội dung Xây dựng lực lượng kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá mức thực hiện Hiếm khi với 1,83 điểm trung bình. Điều này là do hiện các trường chưa chú trọng đến việc lên kế hoạch riêng hay thành lập bộ phận thực hiện kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK mà chỉ quan tâm đến hoạt động dạy học trong giờ lên lớp, việc kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK chỉ được thực hiện thông qua các kế hoạch đánh giá các chương trình, nhiệm vụ liên quan của nhà trường được các cấp quản lý giao hoặc trong kế hoạch kiểm tra hoạt động dạy học. Kết quả đạt được của nội dung cho thấy các mức Khá, Trung bình và Yếu có tần suất lớn nhất, chiếm 100% lựa chọn, không có mức đánh giá Tốt.

Nội dung Thực hiện kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá mức thực hiện Hiếm khi với 1,87 điểm trung bình. Điều này là do các trường hiện chưa có kế hoạch kiểm tra GDPL CHS qua HĐNK một cách độc lập và chi tiết. Việc kiểm tra công tác GDPL CHS qua HĐNK chỉ được thực hiện trong kế hoạch chung của nhà trường trong các HĐNK hoặc đột xuất từ phía các cơ quan quản lý giáo dục. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá với tần suất lớn nhất là mức Trung bình, chiếm 68,5% số phiếu, điều này cho thấy kết quả đạt được chỉ ở mức thấp. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nội dung Tổng kết, đánh giá kết quả công tác GDPL CHS qua HĐNK được đánh giá ở mức thực hiện Hiếm khi với 1,98 điểm trung bình cho thấy có sự hạn chế trong nội dung này. Hiện nay các trường THCS trên địa bàn vẫn xem công tác GDPL CHS qua HĐNK là một hoạt động phụ, môn học liên quan đến giáo dục pháp luật là Giáo dục công dân là môn phụ, xem công tác này không ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, vì thế các CBQL và GV đều xem nhẹ vị trí của công tác này. Công tác này chỉ được thực hiện sơ kết, tổng kết từng hoạt động riêng lẻ do các CBQL, GV phụ trách thực hiện khi kết thúc hoạt động và không đưa kết quả đó vào đánh giá sơ, tổng kết học kì và năm học. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá với tần suất lớn nhất là mức Trung bình, chiếm 51,1% số phiếu, điều này cho thấy kết quả đạt được chỉ ở mức thấp.

Nội dung Phát hiện sai sót và thực hiện điều chỉnh, sửa chữa khi cần thiết được đánh giá ở mức thực hiện Hiếm khi với 2,02 điểm trung bình. Điều này là do ảnh hưởng của việc nhà trường không chú trọng đến việc lên kế hoạch, thực hiện kiểm tra, đánh giá, tổng kết đối với công tác GDPL CHS qua HĐNK, dẫn đến việc phát hiện các sai sót trong quá trình thực hiện là rất ít. Từ đó tác động đến việc chủ động thực hiện điều chỉnh, sửa chữa kế hoạch ít được thực hiện thường xuyên. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá với tần suất lớn nhất là mức Trung bình, chiếm 56,7% số phiếu, điều này cho thấy kết quả đạt được chỉ ở mức thấp.

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Nhà trường là tổ chức giáo dục, chịu sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục nói chung và trong công tác GDPL CHS qua HĐNK nói riêng. Theo đánh giá của các CBQL, GV tại các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An thì công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK chịu một số tác động từ các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này có tác động thúc đẩy hoặc làm trì trệ khả năng và kết quả thực hiện của các nhà trường trong quản lý GDPL CHS qua HĐNK nếu nhà trường không biết cách vận dụng, giảm bớt những tác động bất lợi và phát huy những yếu tố có lợi.

Mức độ tác động của các yếu tố bên ngoài đến quản lý GDPL CHS qua HĐNK của các trường THCS được trình bày trong bảng 2.19. Cụ thể:

  • Bảng 2.19: Đánh giá các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK

Yêu cầu Quy định về nội dung, thời lượng HĐNK trong trường THCS có mức lựa chọn Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 76,4%; ảnh hưởng nhiều chiếm 23,6%.Điều này là do các trường không thể và cũng không muốn thay đổi quá nhiều quy định chương trình giáo dục THCS mà ngành giáo dục đã ban hành, qua đó quy định nội dung, thời lượng HĐNK, việc lồng ghép hay thay đổi hình thức tổ chức thực hiện là có thể nhưng nhà trường phải tuân thủ đầy đủ quy định nội dung, thời lượng HĐNK. Vì vậy, yếu tố này có tác động lớn đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK.

Yếu tố Nguồn kinh phí dành cho HĐNK có lựa chọn mức đánh giá Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 74,7%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 25,3%. Khác với giáo dục chính khóa có nguồn kinh phí đảm bảo ổn định được nhà nước cung cấp, với các HĐNK nhà trường phải thu xếp một phần từ nguồn được phân bổ, còn phần lớn là từ sự hỗ trợ của các mạnh thường quân, phụ huynh HS, tổ chức trên địa bàn. Hiện nay nguồn kinh phí dành cho GDPL CHS qua HĐNK không nhiều và không ổn định đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý, ảnh hưởng lớn đến kết quả thực hiện công tác. Do đó yếu tố này được đánh giá có tác động lớn đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK.

Yếu tố Sự quan tâm, ủng hộ từ gia đình, cộng đồng xã hội có lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 87,6%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 12,4%. Mục tiêu giáo dục xuất phát từ yêu cầu xã hội vì vậy khi được sự quan tâm, ủng hộ từ gia đình, cộng đồng xã hội đối với công tác GDPL CHS thì các trường cũng sẽ tích cực thực hiện các yêu cầu đó. Do đó yếu tố này được đánh giá có tác động lớn đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK.

Mức độ tác động của các yếu tố bên trong đến quản lý GDPL CHS qua HĐNK của các trường THCS được trình bày trong bảng 2.20. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

  • Bảng 2.20: Đánh giá các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK

Yếu tố Nhận thức của cán bộ quản lý và GV về sự cần thiết phải GDPL CHS qua HĐNK có lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 82,0%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 18,0%. Trong phân tích phần thực trạng công tác GDPL CHS qua HĐNK đã cho thấy nhận thức của các CBQL, GV còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng thực hiện công tác này trong nhà trường. vì thế cho thấy đây là một trong những yêu cầu tác động mạnh đến quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK trong các nhà trường.

Yếu tố Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tổ chức HĐNKcó lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 68,5%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 31,5%. Điều này là do hiện nay việc mua sắm, trang bị CSVC ở các trường chủ yếu được sử dụng trong hoạt động giáo dục trên lớp, còn các HĐNK chưa được quan tâm đầu tư. Chính vì vậy các trường bị giới hạn về nội dung và hình thức trong công tác GDPL CHS, nhất là những nội dung và hình thức cần sử dụng những thiết bị hiện đại, nhiều vật dụng, thiết bị, trò chơi, đồ dùng, mang tính trải nghiệm, khám phá sáng tạo.

Yếu tố Trình độ, kỹ năng của CBQL và GV trong thực hiện tổ chức thực hiện GDPL CHS qua HĐNK có lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 69,7%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 30,3%. Qua phân tích thực trạng cho thấy hiện nay một phần không nhỏ lực lượng CBQL, GV chưa có nhận thức tốt công tác GDPL CHS qua HĐNK và trình độ, kỹ năng tổ chức còn hạn chế. Điều này đã làm giảm đáng kể kết quả các công tác GDPL CHS qua HĐNK trong thực tế. Điều này cho thấy yếu tố trình độ, kỹ năng của CBQL và GV có tác động lớn đến quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK tại các nhà trường.

Yếu tố Phẩm chất và năng lực của học sinh có lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 88,2%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 11,8%. Yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu cung cấp, khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin và thực hiện, tuân thủ của HS trong thực tế. Vì vậy, yếu tố này được đánh giá ảnh hưởng lớn đến quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK.

Yếu tố Phong cách lãnh đạo của hiệu trưởng có lựa chọn mức Ảnh hưởng rất nhiều chiếm 88,8%; Ảnh hưởng nhiều chiếm 11,2%. Phân tích trong phần thực trạng đã cho thấy sự quan tâm, hỗ trợ của lãnh đạo nhà trường ảnh hưởng lớn kết quả thực hiện công tác GDPL CHS qua HĐNK. Với việc chưa quan tâm đúng mức đã làm giảm đáng kể kết quả đạt được của công tác GDPL CHS qua HĐNK trong khi đó các hoạt động dạy học chính khóa ngày càng được nâng cao chất lượng. Vì vậy, yếu tố này được đánh giá ảnh hưởng lớn đến quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK.

2.6 Đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương

2.6.1 Ưu điểm, nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Các trường đã tuân thủ tốt các quy định, nhiệm vụ trong vấn đề phổ biến pháp luật trong nhà trường do ngành giáo dục đề ra. Các trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An có chức năng quản lý giáo dục tại cơ sở, chịu sự quản lý của cơ quan quản lý giáo dục nhà nước, vì thế các trường luôn đảm bảo thực hiện đúng, đủ các nhiệm vụ được cấp trên giao, đảm bảo mục tiêu toàn diện mà ngành giáo dục đã đề ra đối với HS lứa tuổi THCS. Vì vậy, trong công tác GDPL CHS, các trường đã hưởng ứng, thực hiện tốt các nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành có liên quan đến thiết thực đến đời sống, lao động và học tập của học sinh. Nhà trường tích cực lồng ghép và giảng dạy tích hợp nội dung pháp luật trong các môn khoa học xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân… và hình thức HĐNK.

Các trường đã dần đa dạng nội dung, hình thức GDPL CHS qua HĐNK. Một số hình thức GDPL CHS qua HĐNK được vận dụng, triển khai trong các trường như Biên soạn cấp phát rộng rãi các tài liệu phổ biến pháp luật, xây dựng tủ sách pháp luật; Sinh hoạt dưới cờ; Sinh hoạt lớp; Sinh hoạt đoàn, hội, đội theo chủ đề pháp luật; Tổ chức tuần sinh hoạt công dân học sinh; Xây dựng và tổ chức các câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật, nghe nói chuyên về pháp luật; Tổ chức HS học tập nội quy, quy chế nhà trường; Tổ chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho HS; Xây dựng các tiểu phẩm, tình huống pháp luật; Lồng ghép các nội dung tìm hiểu pháp luật vào các phong trào thi đua;… qua đó bước đầu đạt được một số kết quả.

Đội ngũ CBQL, GV, nhất là GV môn Giáo dục công dân các trường ngày càng được đào tạo chuyên nghiệp, trẻ hóa, có cơ hội được tiếp cận với các thông tin, truyền thông về các nội dung pháp luật, tình hình an ninh trật tự trong trường học…và nhận thức tốt về nhu cầu GDPL CHS, từ đó có những phương thức và nội dung giáo dục pháp luật phù hợp cho HS.

Các trường được trang bị tốt tủ sách pháp luật trong thư viện nhà trường, các phương tiện công nghệ thông tin, internet. Điều này là do các trường được sự quan tâm, đầu tư từ các cơ quan quản lý giáo dục. Điều này sẽ giúp nhà trường có được nhiều kênh tham khảo, truy soát như thông tin pháp luật. Qua đó tạo điều kiện nhà trường đa dạng hóa nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện GDPL CHS qua HĐNK. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học ngày càng đa dạng, phong phú, phù hợp với sự phát triển công nghệ, truy cập thông tin đa chiều vì vậy có thể hỗ trợ tốt cho GDPL CHS qua HĐNK.

2.6.2 Hạn chế, nguyên nhân của công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh

Nhiều CBQL và GV không chú trọng đến việc tích hợp GDPL CHS vào môn học và trong các buổi HĐNK. Điều này là do họ chưa nhận thức đúng vài trò, vị trí của công tác GDPL CHS xem đây là trách nhiệm của bộ môn Giáo dục công dân, phụ trách đội, Đoàn. Xem GDPL CHS là một hoạt động phụ, không có vai trò gì trong việc hỗ trợ kết quả đào tạo, dạy học trong nhà trường, chỉ xem trọng các các môn học chính như Toàn, tiếng Việt, Vật lý, Tiếng Anh…Việc tích hợp GDPL CHS vào môn học và trong các buổi HĐNK sẽ tạo thêm áp lực, gánh nặng cho GV vì vậy nhiều GV không ủng hộ việc GDPL CHS qua HĐNK.

Lãnh đạo và CBQL nhà trường chưa quan tâm đúng mức trong xây dựng được kế hoạch GDPL CHS qua HĐNK dẫn đến việc tổ chức thực hiện không xuyên suốt, có tính chung chung, sơ sài, chất lượng không cao. Điều này dẫn đến nhiều việc nhà trường rất khó khăn trong công tác chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá.

Nội dung công tác GDPL CHS qua HĐNK nhà trường chỉ chú trọng đến một số nội dung liên quan trực tiếp hoặc hỗ trợ hoạt động dạy học như giáo dục Quy chế thi, kiểm tra; Quy chế đánh giá học sinh, kết quả học tập; Giáo dục về chấp hành luật giao thông. Đây cũng là các nội dung được tích hợp trong hoạt động dạy học của nhà trường, ít phát sinh công việc và không tạo thêm áp lực cho GV. Các nội dung GDPL mở rộng, chuyên sâu thì nhà trường ít khi chú trọng thực hiện mà chỉ khi có các phong trào, chiến dịch tuyên truyền mà các cấp, ngành quản lý yêu cầu thì nhà trường mới tổ chức.

Về hình thức GDPL CHS qua HĐNK các trường chỉ tập trung đến một số hình thức tổ chức như tổ chức tuần sinh hoạt công dân học sinh; Tổ chức HS học tập nội quy, quy chế nhà trường; Biên soạn, cấp phát rộng rãi các tài liệu phổ biến pháp luật, xây dựng tủ sách pháp luật. Trong khi đó các hình thức mang tính trải nghiệm, sáng tạo, kích thích HS chủ động tìm hiểu pháp luật thì không được tổ chức thường xuyên như hình thức câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật; tham dự phiên tòa xét xử các vụ án vị thành niên phạm tội; tham quan trụ sở các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp; Tổ chức các trò chơi, cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho HS; Xây dựng các tiểu phẩm, tình huống pháp luật rất ít được thực hiện… Điều này dẫn đến HS không được phát huy tính tích cực, không thu hút HS tham gia, tác động làm hạn chế chất lượng GDPL CHS qua HĐNK trong nhà trường.

Ngoài ra còn một số hạn chế như các trường chưa xây dựng các quy trình tổ chức các công tác GDPL CHS qua HĐNK; tiêu chí kiểm tra, đánh giá công tác GDPL CHS qua HĐNK chưa được thiết lập một cách khoa học, đầy đủ. Vì vậy cơ sở để tổ chức quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK chưa vững chắc, dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc, chồng chéo ảnh hưởng đến kết quả thực hiện, kết quả quản lý công tác GDPL CHS qua HĐNK trong nhà trường.

Việc chưa chú trọng đến HĐNK nói chung dẫn đến CBQL các trường hiện nay thiếu kinh nghiệm, kỹ năng quản lý HĐNK, khả năng kiểm soát nội dung, hình thức và cách thức tổ chức GDPL CHS qua HĐNK. Các GV không tích cực đầu tư nghiên cứu các nội dung pháp luật, các hình thức tổ chức thu hút HS, kích thích sáng tạo dẫn đến GDPL CHS qua HĐNK nhàm chán, lý thuyết và trùng lắp. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

Các trường hiện chưa thúc đẩy xã hội hóa công tác GDPL CHS qua HĐNK. Điều này làm giảm tính đa dạng và chất lượng công tác GDPL CHS qua HĐNK trong nhà trường, trong khi đó tiềm năng xã hội của địa phương là rất lớn.

Các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.

Tiểu kết chương 2

Nội dung chương 2 đã đi phân tích thực trạng công tác thực hiện và quản lý GDPL CHS qua HĐNK của lãnh đạo các trường THCS tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Qua đó cho thấy công tác thực hiện GDPL CHS qua HĐNK đã có một số kết quả tích cực nhưng còn rất nhiều hạn chế, không được đánh giá cao. Trong công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK còn rất nhiều khó khăn, hạn chế trong khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá kết quả. Qua đó tìm hiểu những nguyên nhân, phân tích cụ thể các nguyên nhân đó. Kết hợp với việc đánh giá sự ảnh hưởng của một số yếu tố tác động bên trong và bên ngoài nhà trường đến công tác quản lý GDPL CHS qua HĐNK tạo ra cơ sở đề ra các biện pháp cải thiện hiệu quả quản lýGDPL CHS qua HĐNK trong thời gian, nội dung các biện pháp sẽ được trình bày trong nội dung chương 3. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục pháp luật cho học sinh ngoại khóa

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537