Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Sơ lược về thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Đặc điểm về kinh tế – xã hội ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Thị xã Tân Uyên có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với vùng đất miền Đông Nam bộ. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, bao thế hệ người Việt Nam trên mọi miền đất nước đã về đây khai hoang, lập ấp, dựng làng, mở mang đất đai để sinh sống và sản xuất; nhiều phong tục, tập quán đã được du nhập tạo nên nền văn hóa đa dạng. Với diện tích 19.175,72 ha, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Dương, với

12 xã – phường, bao gồm 06 phường: Uyên Hưng, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Thạnh Phước, Tân Hiệp, Khánh Bình và 06 xã: Hội Nghĩa, Vĩnh Tân, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp, Thạnh Hội, Bạch Đằng. Thị xã Tân Uyên nối liền với các huyện, thị, thành phố đang phát triển của tỉnh Bình Dương như Thuận An, Dĩ An, thành phố Thủ Dầu Một, Bắc Tân Uyên, Phú Giáo; tiếp giáp với huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai. Tài nguyên thiên nhiên không phong phú, đa dạng, nhưng với vị trí, địa lý đặc biệt, thị xã Tân Uyên trở thành địa bàn quan trọng của Tỉnh cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa, xã hội (http://tanuyen.binhduong.gov.vn, n.d.).

Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của TX.Tân Uyên luôn duy trì ở mức cao, bình quân 12,3%/năm; cơ cấu kinh tế tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp – thương mại, dịch vụ – nông nghiệp; năm 2022 thu nhập bình quân đầu người đạt 82 triệu đồng. Về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, địa phương đã chú trọng đầu tư theo hướng hiện đại; thu hút đầu tư được thực hiện tốt. Lĩnh vực văn hóa – xã hội được quan tâm đầu tư và đạt kết quả tốt; an sinh xã hội được bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện. Quốc phòng – an ninh của thị xã được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế – xã hội phát triển. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Mặt khác, địa bàn thị xã tương đối rộng và giáp ranh với một số địa bàn có tình hình an ninh trật tự phức tạp, cho nên công tác phòng ngừa tội phạm của thị xã, nhất là tội phạm lưu động có những khó khăn nhất định. Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng nhiều, có nhiều thay đổi, điều chỉnh nên ngành chức năng của thị xã gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ, cụ thể như xử lý các trường hợp vi phạm về đất đai, môi trường, xây dựng… (http://baobinhduong.vn, 2023).

2.1.2. Đặc điểm về tình hình giáo dục ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Thị xã Tân Uyên là một trong những địa bàn có sự phát triển mạnh về kinh tế, tập trung dân cư đông đúc, sự tăng nhanh dân số cơ học dẫn đến áp lực về trường lớp. Tuy nhiên với những nỗ lực tích cực của toàn ngành vẫn đảm bảo thực hiện chất lượng giáo dục tốt, đúng với mục tiêu giáo dục đã đề ra. Các trường đều có sự đầu tư tốt về cơ sở vật chất và cảnh quan trong phong trào xây dựng trường học tiên tiến, hiện đại, thân thiện, học sinh tích cực. HĐ phong trào đoàn, đội, văn – thể – mỹ cũng góp phần giáo dục toàn diện cho HS.

Riêng cấp tiểu học, năm học 2023-2024 toàn cấp học có 16 trường Tiểu học, với 560 lớp, 23981 học sinh (11486 nữ). So với năm học 2022 – 2023, số học sinh cấp học tăng 3053 em (Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Uyên, 2024).

Hệ thống các trường Tiểu học ở thị xã Tân Uyên:

  • Trường Tiểu học Thái Hòa A
  • Trường Tiểu học Thái Hòa B
  • Trường Tiểu học Tân Vĩnh Hiệp A
  • Trường Tiểu học Tân Vĩnh Hiệp B
  • Trường Tiểu học Tân Phước Khánh A
  • Trường Tiểu học Tân Phước Khánh B
  • Trường Tiểu học Bạch Đằng
  • Trường Tiểu học Hội Nghĩa
  • Trường Tiểu học Thạnh Hội
  • Trường Tiểu học Thạnh Phước
  • Trường Tiểu học Tân Hiệp
  • Trường Tiểu học Phú Chánh
  • Trường Tiểu học Uyên Hưng A
  • Trường Tiểu học Uyên Hưng B
  • Trường Tiểu học Khánh Bình
  • Trường Tiểu học Vĩnh Tân

2.2. Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Nhằm thu thập đầy đủ những thông tin định tính và định lượng trong công tác quản lý HĐ GDTM cho HS tiểu học và khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, đưa ra những thuận lợi và hạn chế còn thiếu sót trong quá trình quản lý HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Để tiến hành nghiên cứu thực trạng của HĐ GDTM và quản lý HĐ GDTM của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương các nội dung tiến hành khảo sát bao gồm: ngoài những thông tin cá nhân về mẫu khảo sát đề tài tập trung khảo sát về nhận thức của GV đối với mục tiêu GDTM đối với HS ở các trường tiểu học; mức độ và kết quả thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp của HĐ GDTM; mức độ và kết quả thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả GDTM cũng như mức độ đầy đủ của các điều kiện thực hiện HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học; mức độ và kết quả thực hiện các chức năng lên kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá HĐ GDTM của hiệu trưởng các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đồng thời khảo sát mức độ thúc đẩy hoặc cản trở của các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐ GDTM cho HS của hiệu trưởng các trường tiểu học.

2.2.3. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
  • Khách thể khảo sát, chọn mẫu điều tra, khảo sát:

Để thực hiện nghiên cứu thực trạng, người nghiên cứu xây dựng bảng hỏi trưng cầu ý kiến dành cho GV tại 6 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, Bình Dương, bảng hỏi khảo sát được thiết kế (theo phụ lục 1). Đồng thờ, thông tin về mẫu khảo sát thực trạng được thể hiện trong bản như sau:

  • Bảng 2.1. Thông tin khảo sát
  • Công cụ khảo sát:

Kết quả thu thập được sau khi khảo sát tiến hành phân tích nghiên cứu định lượng dựa trên kết quả xử lí số liệu từ các phiếu hỏi đã được thu thập hợp lệ từ các đối tượng tham gia khảo sát. Để xử lý kết quả từ những thông tin phiểu hỏi, người nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để hỗ trợ tính phần trăm (%), điểm trung bình (ĐTB) theo các mức độ đánh giá trong thang đo và độ lệch chuẩn (ĐLC) cho từng đối tượng tham gia khảo sát tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Thang đo, thang đánh giá:

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8. Các giá trị trung bình trong thang đo được quy ước như sau:

  • Bảng 2.2. Bảng quy ước các giá trị trung bình trong thang đo Likert 5

Bên cạnh đó, để phân tích và đánh giá kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐ GDTM, các ĐTB tính được theo các mức độ trong thang đo Likert 3 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (3-1)/3 = 0.666, nên các giá trị trung bình trong thang đo được quy ước theo bảng như sau bảng như sau:

Bảng 2.3. Bảng quy ước các giá trị trung bình trong thang đo Likert 3

  • Phương pháp phỏng vấn sâu Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Để thực hiện phương pháp phỏng vấn, người nghiên cứu xác định đối tượng được phỏng vấn gồm 6 Hiệu trưởng và 12 GV công tác tại các trường tiểu học tham gia khảo sát trong mẫu khảo sát ( phụ lục 2).

Nội dung phỏng vấn về nội dung, cách thức tổ chức HĐ GDTM, cũng như công tác quản lý HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Xử lý thông tin phỏng vấn: Những CBQL là hiệu trưởng của các trường tham gia phỏng vấn được mã hoá QL1, QL2,…QL6, các GV được mã hóa GV1, GV2,…,GV12. Kết quả phỏng vấn được xử lý và trình bày thành biên bản phỏng vấn (phụ lục 3).

2.3. Thực trạng về hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.3.1. Thực trạng xác định mục tiêu của hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Để thực hiện HĐ GDTM có hiệu quả thì việc đầu tiên các GV cần phải xác định đúng và đầy đủ của mục tiêu GDTM. Biểu đồ 2.1 dưới đây là kết quả khảo sát về nhận thức mục tiêu HĐ GDTM của GV các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên.

  • Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về mục tiêu của HĐ GDTM

Mức độ nhận thức được đánh giá cao nhất là mức Tương đối biết, chiếm 49% trên tổng số khảo sát. Bên cạnh đó, 21.5% số GV tham gia khảo sát ở mức độ Biết khá đầy đủ. Mức độ Biết đầy đủ chỉ chiếm 12.5%. Nhìn chung, số người tham gia khảo sát có mức độ nhận thức về mục tiêu của HĐ GDTM ở mức độ từ Tương đối biết đến Biết đầy đủ chiếm tổng số 83% so với tổng số khảo sát. Tuy nhiên, vẫn còn số ít GV không biết hoặc biết ít về mục tiêu của HĐ GDTM ( Biết ít – 6% , Không biết – 11%).

Bên cạnh đó, khi được phỏng vấn về tầm quan trọng của HĐ GDTM, nhiều GV cũng cho thấy mình có những nhận thức tương đối về mục tiêu GDTM, GV1, GV2, GV5 và QL3 cho rằng: “GDTM là một HĐ quan trọng trong công tác GD HS tiểu học. HS không chỉ đến trường để học chữ mà còn học hỏi và khám phá nhiều điều thú vị trong môi trường thiên nhiên, trong cuộc sống. Các em được dạy để nhận biết đâu là cái đẹp, biết yêu thích và sáng tạo cái đẹp. Cho nên GDTM cho HS tiểu học quan trọng và QL HĐ GDTM trong trường tiểu học cũng rất quan trọng”.

Mục tiêu của HĐ GDTM là hình thành cho HS các tiêu chuẩn về cái đẹp, góp phần hoàn thiện nhân cách của HS. Chỉ khi GV có nhận thức đầy đủ và đúng đắn về mục tiêu thì việc thực hiện HĐ GDTM mới mang lại hiệu quả cao như mong muốn.

2.3.2. Thực trạng thực hiện các nội dung của hoạt động giáo dục thẩm mỹ Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Sau khi nhận thức đúng mục tiêu HĐ GDTM thì GV cần làm rõ các nội dung GDTM, xác định đúng nội dung bài học nào liên quan đến GDTM để lựa chọn các hình thức và PP giáo dục cho phù hợp. Bảng 2.4 dưới đây là kết quả khảo sát về mức độ thường xuyên thực hiện và kết quả thực hiện của nội dung HĐ GDTM.

  • Bảng 2.4. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của nội dung HĐ GDTM

Về mức độ thực hiện, nội dung được đánh giá cao nhất là GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua các bài học: nhạc, họa, tiếng việt… ĐTB 4.66 xếp hạng 1. ĐTB trên tương ứng với mức độ đánh giá Rất thường xuyên. ĐLC là 0.638, cho thấy kết quả khảo sát không có sự phân tán, tức là phần đông các GV thực hiện Rất thường xuyên nội dung GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua các bài học: nhạc, họa, tiếng việt. Bên cạnh đó, ĐTB kết quả thực hiện của nội dung này là 3.89, điểm số này tương ứng với mức nhận định kết quả Đạt phần lớn. ĐLC là 0.784, cho thấy các ý kiến trả lời không có sự phân tán, đa số GV chọn kết quả thực hiện ở mức Đạt hầu hết. Từ kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng phần lớn việc thực hiện nội dung GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua các bài học: nhạc, họa, tiếng việt,…được xem như một trong các nội dung trọng tâm, được thực hiện rất thường xuyên và mang lại nhiều kết quả khả quan trong công tác GDTM.

Nội dung được đánh giá cao thứ 2 là GD cho HS biết ca ngợi, trân trọng và bảo vệ cái đẹp, cái tốt. ĐTB 4.36, được đánh giá ở mức Rất thường xuyên. ĐLC là 0.633, cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Điều này cho thấy đa số các GV thực hiện khảo sát cho rằng nội dung GD cho HS biết ca ngợi, trân trọng và bảo vệ cái đẹp, cái tốt được thực hiện rất thường xuyên tại các trường. Về kết quả thực hiện của nội dung này có ĐTB là 3.89, được đánh giá ở mức độ Đạt phần lớn. ĐLC là 0.703, cho thấy đa số các ý kiến cũng cho rằng đây là nội dung không chỉ được thực hiện rất thường xuyên ở các trường tiểu học mà hiệu quả thực hiện lại rất khả quan. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Trong các nội dung GDTM thì nội dung GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua thiên nhiên, học tập, lao động, nghệ thuật, ứng xử,…xếp hạng thấp nhất về kết quả thực hiện (hạng 12). Tuy nhiên ĐTB về mức độ thực hiện của nội dung này lại ở mức Thường xuyên (ĐTB 3.56). Về đánh giá kết quả thực hiện có số ĐTB 4.02, ở mức đạt phần lớn, xếp thứ hạng 5. Tuy có sự chêch lệch về thứ hạng giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện nhưng điều này không quá ảnh hưởng vì ĐTB không có sự khác biệt quá mức. Nhìn chung các GV đều đánh giá nội dung GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua thiên nhiên, học tập, lao động, nghệ thuật, ứng xử,… ở mức độ thực hiện thường xuyên và đạt hiệu quả phần lớn.

Từ kết quả khảo sát và căn cứ trên ĐTB chung đã chỉ ra rằng nội dung GDTM được thực hiện thường xuyên trong giai đoạn hiện nay (ĐTB chung là 4.09). Kết quả thực hiện ở mức đạt phần lớn (ĐTB chung 3.95). Điều đó cho thấy các nội dung GDTM không chỉ được chú trọng thực hiện mà con mang lại kết quả hết sức khả quan. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) là 0.927 và 0.936, ở mức độ tin cậy tốt. Kết quả này cho thấy hoàn toàn có thể tin tưởng vào các số liệu thu thập ở bảng hỏi.

2.3.3. Thực trạng thực hiện các hình thức của hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Hình thức giáo dục rất đa dạng, phong phú. Trong HĐ GDTM, muốn đạt kết quả cao cũng cần lựa chọn các hình thức giáo dục phù hợp với từng nội dung GDTM. Bảng 2.5 dưới đây là kết quả khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của các hình thức tổ chức HĐ GDTM.

  • Bảng 2.5. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của hình thức tổ chức HĐ GDTM

Hình thức tổ chức HĐ GDTM được đánh giá cao nhất là GDTM thông qua dạy học các môn học. ĐTB của hình thức này là 4.29, ở mức thực hiện rất thường xuyên. ĐLC là 0.773, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Điều này phụ hợp với kết quả khảo sát về nội dung GD cho HS yêu thích cái đẹp thông qua các bài học: nhạc, họa, tiếng việt…ở bảng 2.2. Vì các nội dung này được thực hiện thuận lợi và thường xuyên nhất cũng thông qua hình thức các môn học. Về ĐTB của kết quả thực hiện 3.88, đạt phần lớn. ĐLC là 0.918, không có sự phân tán nhiều trong các ý kiến trả lời. Kết quả thực hiện của hình thức GDTM thông qua dạy học các môn học xếp thứ hạng 2, cho thấy không có quá nhiều chênh lệch so với mức độ thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thức GDTM thông qua dạy học các môn học ở các trường tiểu học là rất quan trọng, được thực hiện rất thường xuyên và mang lại kết quả tốt. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Một hình thức khác xếp thứ hạng 2, có ĐTB cũng ở mức rất thường xuyên (ĐTB là 4.28), đó là hình thức GDTM thông qua lồng ghép nội dung trong các HĐ NGLL. ĐLC là 0.729, cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các câu trả lời. Trái ngược với hình thức GDTM thông qua dạy học các môn học, hình thức GDTM thông qua HĐ NGLL tuy có ĐTB thấp hơn ở mức độ thực hiện nhưng kết quả thực hiện lại có ĐTB là 3.99, ở mức độ đạt phần lớn và xếp hạng 1. ĐLC là 0.99, cho thấy các ý kiến trả lời không có quá nhiều sự phân tán. Kết quả này cho thấy, GDTM thông qua HĐ NGLL cũng là một hình thức tổ chức HĐ GDTM được chú trọng thực hiện và mang lại kết quả khả quan.

Các hình thức tổ chức HĐ GDTM còn lại cũng được thực hiện ở mức thường xuyên, như xếp thứ 3 là hình thức GDTM thông qua lồng ghép nội dung trong sinh hoạt dưới cờ, trong giờ chơi, giờ ra vào trường (ĐTB là 4.05); xếp hạng 4 là hình thức GDTM thông qua lồng ghép nội dung vào các tiết sinh hoạt chủ nhiệm (ĐTB là 3.92); xếp hạng 5 là hình thức GDTM thông qua lồng ghép, tích hợp hoặc vận dụng nội dung GDTM vào tiết dạy (ĐTB là 3.89), xếp hạng 6 là hình thức GDTM thông qua lồng ghép nội dung trong giờ ăn, giờ nghỉ, giờ sinh hoạt (ĐTB là 3.54).

Trong các hình thức tổ chức HĐ GDTM, hình thức được đánh giá thấp nhất ở thứ hạng 7 là hình thức GDTM thông qua tổ chức các chuyên đề. ĐTB là 2.38, được đánh giá ở mức hiếm khi. Kết quả thực hiện hình thức này có ĐTB là 3.32, ở mức khá đạt. Đây là một hình thức không phải mới lạ nhưng để thực hiện được đòi hỏi GV phải bỏ thêm nhiều công sức đầu tư, sắp xếp thời gian và điều động kinh phí (nếu cần). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hình thức tổ chức HĐ GDTM thông qua các chuyên đề vẫn chưa được tận dụng hết các ưu thế của nó.

Nhìn chung kết quả khảo sát ở bảng 2.5 và ĐTB chung của mức độ thực hiện và kết quả thực hiện cho thấy các hình thức tổ chức HĐ GDTM được thực hiện ở mức độ thường xuyên (ĐTB là 3.76) và đạt phần lớn (ĐTB là 3.66). Điều này cho thấy các hình thức tổ chức HĐ GDTM được đề xuất ở bảng 2.3 không chỉ được chú trọng thực hiện mà còn có kết quả thực hiện tốt. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) là 0.963 và 0.822, cho thấy các số liệu thu thập có thể tin cậy được.

2.3.4. Thực trạng thực hiện các phương pháp của hoạt động giáo dục thẩm mỹ Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Để PP GDTM sau khi thực hiện phải đạt được các mục tiêu GDTM đề ra cần phải chọn lựa các PP GDTM sao cho phù hợp với các nội dung GDTM và hình thức tổ chức HĐ GDTM. Bảng 2.6 sau đây là kết quả khảo sát đối với các GV về mức độ và kết quả thực hiện các PP của HĐ GDTM.

  • Bảng 2.6. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của các PP của HĐ GDTM

Kết quả khảo sát từ bảng 2.6 cho thấy, PP thuyết trình, thuộc nhóm các PP liên quan đến dạy học xếp thứ nhất, có ĐTB là 4.46. ĐTB ở mức thực hiện rất thường xuyên. ĐLC là 0.648. Điều này cho thấy không có quá nhiều sự phân tán của các ý kiến đã chọn. Kết quả thực hiện của PP thuyết trình trong HĐ GDTM cũng đồng xếp hạng 1, có ĐTB là 4.37. ĐTB kết quả thực hiện này xếp ở mức Đạt hầu hết. ĐLC là 0.69, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. PP thuyết trình là một trong những PP dạy học chính, GV dùng lời nói giảng giải cho HS những kiến thức liên quan đến thẩm mỹ. Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy đây là PP vừa được thực hiện rất thường xuyên và mang lại kết quả thực hiện cao.

PP GDTM được đánh giá cao xếp thứ 2 là Nhóm PP hình thành hành vi, thói quen: giao việc, luyện tập, tổ chức hoạt động, đây là nhóm PP liên quan đến các PP tổ chức giáo dục. ĐTB mức độ thực hiện của PP này là 4.42, đạt ở mức Rất thường xuyên. ĐLC là 0.629, không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Bên cạnh đó, ĐTB kết quả thực hiện của PP này là 4.24, ở mức Đạt hầu hết. Thứ hạng của nhóm PP hình thành hành vi, thói quen: giao việc, luyện tập, tổ chức hoạt động xếp thứ 3. Tuy rằng so với thứ hạng của mức độ thực hiện có sự chênh lệch nhưng xét về ĐTB thì không có ảnh hưởng đến việc nhận định đây là một phương pháp của HĐ GDTM được chú trọng và có kết quả thực hiện cao.

Đánh giá từ ĐTB chung của mức độ thực hiện và kết quả thực hiện các PP HĐ GDTM, chúng ta có thể thấy rằng các PP HĐ GDTM được thực hiện ở mức độ thường xuyên (ĐTB là 4.22) và kết quả đạt phần lớn (ĐTB là 4.13). Kết quả trên cho thấy, các PP của HĐ GDTM được nêu ở bảng 2.4 được các GV ở các trường tiểu học thực hiện thường xuyên, mỗi PP được nêu trên đều đem lại kết quả khả quan trong HĐ GDTM của nhà trường. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần lượt là 0.974 và 0.822. Từ đó cho thấy các số liệu thu thập có thể tin cậy được.

2.3.5. Thực trạng kiểm tra và đánh giá kết quả của hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Bất kì một HĐ giáo dục nào trong quá trình thực hiện cũng cần được kiểm tra và đánh giá nhằm kịp thời đưa ra những khắc phục và sửa đổi để HĐ đó mang lại kết quả cao hơn. Sau đây là kết quả khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của công tác kiểm tra, đánh giá kết quả GDTM. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Bảng 2.7. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của kiểm tra, đánh giá kết quả GDTM.

Trong chu kỳ kiểm tra, đánh giá, kết quả nghiên cứu cho thấy Kiểm tra, đánh giá thường xuyên (ĐTB là 4.22); Kiểm tra, đánh giá định kỳ (ĐTB là 4.39); Kiểm tra, đánh giá tổng kết (ĐTB 3.93) đều có số ĐTB thực hiện của chu kỳ kiểm tra, đánh giá cũng đạt tù mức đạt phần lớn đến đạt hầu hết. Trong đó kiểm tra, đánh giá thường xuyên xếp thứ 1 về kết quả thực hiện, có ĐTB là 4.27. Đây là mức điểm đạt hầu hết.

Về kết quả khảo sát của hình thức kiểm tra, kiểm tra vấn đáp có số ĐTB thực hiện cao nhất, là 4.28 đạt mức rất thường xuyên. ĐLC là 0.708, cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Bên cạnh đó, ĐTB kết quả thực hiện của kiểm tra vấn đáp trong HĐ GDTM có ĐTB là 4.07, ở mức đạt phần lớn. ĐLC là 0.891, cũng cho thấy đa số các ý kiến tán đồng về kết quả đạt được của hình thức này. Từ các số liệu nghiên cứu cho thất kiểm tra vấn đáp đối với HĐ GDTM không chỉ thực hiện thường xuyên mà kết quả thực hiện còn đạt khá lớn. Bên cạnh hình thức kiểm tra vấn đáp thì hai hình thức còn lại tuy có ĐTB thấp hơn nhưng cả hai hình thức đều đạt ở mức thực hiện thường xuyên và kết quả thực hiện đều đạt phần lớn. Cụ thể, hình thức kiểm tra viết có ĐTB thực hiện là 4.15, ĐTB kết quả thực hiện là 3.64; hình thức kiểm tra thực hành có ĐTB thực hiện là 3.98, ĐTB kết quả thực hiện là 3.7. ĐLC của hai hình thức này lần lượt là 0.76 và 1.144 cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời.

Về các hình thức đánh giá, đánh giá bằng nhận xét xếp thứ 1, có ĐTB là 4.43. Đây là số điểm đạt được ở mức độ rất thường xuyên. ĐLC là 0.668, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hợp lí giữa thực tiễn của ngành và các số liệu thu thập được trong nghiên cứu. GV10, GV11 cho rằng: “GDTM rất khó đánh giá bằng điểm số, bên cạnh đó có sự qui định rõ ràng về kiểm tra và đánh giá đối với HS tiểu học nên GV thực hiện đúng theo qui định chung là được. Đa số kết quả GDTM cho HS được kiểm tra rất thường xuyên và đánh giá nhiều bằng nhận xét”. Khi mà cấp tiểu học đang thực hiện Thông tư 30 và Thông tư 22 liên quan đến đánh giá HS tiểu học. Đối với riêng HĐ GDTM thì việc đánh giá bằng nhận xét được thực hiện rất thường xuyên và kết quả thực hiện cũng đạt phần lớn với số ĐTB là 4.15. ĐLC là 0.835. Điều nay cho thấy đa số các ý kiến tán đồng rằng đánh giá bằng nhận xét đem lại kết quả thực hiện đạt phần lớn. Bên cạnh đó, đánh giá bằng cho điểm có ĐTB ở mức độ thực hiện là 3.09, đạt mức thỉnh thoảng, ĐLC là 0.898. ĐTB về kết quả thực hiện là 3.78, ở mức đạt phần lớn. ĐLC là 0.853, cho thấy đa số tán đồng rằng kết quả thực hiện nhận xét đối với HĐ GDTM đạt phần lớn. Tuy đánh giá bằng nhận xét chỉ thực hiện thỉnh thoảng, đối với một số môn học nhất định và trong các bài kiểm tra định kì, tổng kết nhưng kết quả thực hiện theo nghiên cứu cho thấy là đạt phần lớn các yêu cầu.

Từ sự phân tích trên và căn cứ vào ĐTB chung của công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học cho thấy mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá ở mức độ thường xuyên (ĐTB là 4.06) và kết quả thực hiện ở mức đạt phần lớn (ĐTB là 3.95). Kết quả này cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của HĐ GDTM được quan tâm thực hiện và thu được những kết quả nhất định theo yêu cầu. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần lượt là 0.973 và 0.859 cho thấy các số liệu thu thập trên có thể chấp nhận được.

2.3.6. Thực trạng về các điều kiện để thực hiện hoạt động giáo dục thẩm mỹ Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

HĐ GDTM có thể đạt được kết quả thực hiện tốt nhất không thể thiếu các điều kiện thực hiện. Các điều kiện thực hiện có đầy đủ và kịp thời hay không ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng GDTM trong nhà trường. Bảng 2.8 sau đây là kết quả thu thập được về thực trạng của các điều kiện để thực hiện HĐ GDTM.

  • Bảng 2.8. Đánh giá của GV về các điều kiện để thực hiện HĐ GDTM

Từ bảng 2.8 cho thấy, điều kiện để thực hiện HĐ GDTM được đánh giá cao nhất là điều kiện về tài liệu và nguồn thông tin. ĐTB của điều kiện này là 4, đạt ở mức “đủ”. ĐLC là 0.98, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Đối với xã hội hiện nay, nguồn thông tin hết sức đa dạng, phong phú. Nếu các GV kịp thời cập nhật và biết chọn lọc các dữ liệu, thông tin phù hợp với nội dung GDTM thì sẽ phát huy hiệu quả trong công tác giảng dạy.

Trong các điều kiện về quản lý, điều kiện có ĐTB cao nhất, xếp thứ hạng 4 là điều kiện Hiệu trưởng định hướng mục tiêu cho HĐ GDTM. ĐTB là 3.66, đạt mức độ “đủ”. ĐLC là 0.818. Điều này cho thấy đa số các GV tham gia khảo sát đồng ý rằng Hiệu trưởng có định hướng mục tiêu cho HĐ GDTM. Định hướng trước mục tiêu cho HĐ GDTM là công tác hàng đầu người quản lý nhà trường cần thực hiện để quá trình tiến hành HĐ GDTM diễn ra khoa học và mang lại hiệu quả. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy Hiệu trưởng các trường có sự quan tâm trong việc xác định mục tiêu của HĐ GDTM. Trong các điều kiện quản lý còn lại, Hiệu trưởng có tâm quyết và đủ năng lực tổ chức HĐ GDTM có ĐTB là 3.64, đạt mức “đủ”. Hiệu trưởng điều phối các nguồn lực phù hợp trong HĐ GDTM có ĐTB là 3.52. Việc Hiệu trưởng điều phối các nguồn lực phù hợp trong HĐ GDTM tuy có ĐTB đạt mức “đủ” nhưng xếp thứ hạng 7, thấp nhất trong các điều kiện về quản lý và gần xếp cuối trong tổng tất cả các điều kiện được đề xuất trên. Kết quả này cho thấy các điều kiện về quản lý nhằm thực hiện HĐ GDTM tuy đạt “đủ” nhưng vẫn chưa có sự cân bằng hài hòa giữa các điều kiện. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Trong các điều kiện về GV, điều kiện được đánh giá cao nhất là GV có đủ năng lực thực hiện GDTM cho HS. ĐTB là 3.88, đạt ở mức “đủ”. ĐLC là 0.657, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Về thứ hạng, đây là điều kiện có thứ hạng 2 trong tổng các điều kiện được nêu trên. Điều đó cho thấy, năng lực thực hiện GDTM cho HS của GV được đa số những người khảo sát công nhận là đủ. Bên cạnh đó, điều kiện GV là tấm gương về đạo đức, vẻ đẹp trí tuệ và tâm hồn cho HS noi theo cũng được đánh giá ở mức đủ (ĐTB là 3.81). ĐLC là 0.739, cho thấy đa số ý kiến có sự tán đồng về điều kiện này. Như vậy, các số liệu cho thấy GV có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện HĐ GDTM. Đây là một điều kiện rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả GDTM HS. Tuy nhiên, điều kiện GV nhận thức về tầm quan trọng của GDTM lại có hạng 8, thấp nhất trong tất cả các điều kiện được đề xuất. Mặc dù số ĐTB đạt mức đủ (ĐTB là 3.51). Kết quả này cho thấy tuy nhận thức của GV về tầm quan trọng của GDTM là đủ nhưng cần nhấn mạnh làm rõ hơn vai trò của GDTM nhằm phát huy hiệu quả như mong đợi.

Điều kiện về thiết bị, máy móc và đồ dùng học tập có ĐTB 3.59, đạt mức “đủ”. Thứ hạng của điều kiện này trong bảng xếp hạng là 6. Đây là điều kiện hỗ trợ cho HĐ GDTM đạt hiệu quả cao hơn. Kết quả cho thấy, các trường tiểu học có sự quan tâm hỗ trợ về cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc và đồ dùng học tập nhằm đảm bảo chất lượng cho HĐ GDTM.

Từ các phân tích trên và ĐTB chung cho thấy các điều kiện nhằm thực hiện HĐ GDTM là “đủ” (ĐTB là 3.70). Kết quả này cho thấy, các điều kiện thực hiện HĐ GDTM được sự quan tâm của nhà trường, của người hiệu trưởng và trong đó có sự nỗ lực của GV. Tuy nhiên, các điều kiện dù đủ cũng cần phát huy hết ưu thế thì mới đem lại hiệu quả tốt nhất cho HĐ GDTM. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) là 0.975. Điều này cho thấy các số liệu thu thập có thể tin tưởng được.

2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Lập kế hoạch là công tác quan trọng hàng đầu của nhà quản lý. Đối với HĐ GDTM cũng cần thực hiện việc lập kế hoạch để đảm bảo cho HĐ GDTM diễn ra khoa học và hiệu quả. Bảng 2.9 sau đây là kết quả khảo sát thu được về thực trạng lập kế hoạch cho HĐ GDTM.

  • Bảng 2.9. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của thực trạng lập kế hoạch cho HĐ GDTM

Kết quả thu được trong bảng 2.6 cho thấy, Hiệu trưởng tổ chức cho GV học tập để nắm vững các qui định, yêu cầu về HĐGDTM là yếu tố được đánh giá cao nhất ở mức độ thực hiện. ĐTB là 3.77, đạt mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.855.

Điều này cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Bên cạnh đó, ĐTB của kết quả thực hiện là 3.72, ở mức đạt phần lớn. ĐLC là 0.993, cho thấy đa số các ý kiến đều cho rằng hiệu trưởng tổ chức cho GV học tập để nắm vững các qui định, yêu cầu về HĐGDTM đã đạt phần lớn khi thực hiện.

Hiệu trưởng xác định nội dung, chương trình GDTM là 3.82, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.768. Điều này cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các câu trả lời. Về ĐTB thực hiện của nội dung này ở mức đạt phần lớn, với số ĐTB là 3.54, ĐLC là 0.872. Tuy mức độ hiệu trưởng thực hiện xác định nội dung, chương trình GDTM có thứ hạng 2 và đạt mức thường xuyên nhưng kết quả thu được mặc dù đạt phần lớn nhưng xếp hạng 7, có sự chênh lệch khá lớn. Điều này cho thấy so với các nội dung thực hiện khác trong việc lập kế hoạch của hiệu trưởng thì việc xác định nội dung, chương trình GDTM vẫn chưa có sự cân đối giữa quá trình thực hiện và kết quả thu được. Để làm rõ về nội dung lập kế hoạch cho HĐ GDTM, kết quả phỏng vấn QL1, QL2 có ý kiến: “Nhà trường xây dựng các kế hoạch dựa trên các kế hoạch chung của cơ quan cấp trên, HĐ GDTM được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua dạy học các môn học trên lớp, thông qua HĐ NGLL,…mà các hoạt động này đều có kế hoạch cụ thể nên việc xây dựng riêng kế hoạch cho HĐ GDTM rất dễ gây lặp lại về nội dung”. Bên cạnh đó, QL5 cho rằng: “Hằng năm, trường chúng tôi tổ chức rất nhiều các HĐ dành cho HS, trong đó ngoài những hoạt động học tập thì rất nhiều HĐ liên quan đến GD kỹ năng, GDTM như tổ chức cuộc thi sáng tạo khoa học, tổ chức thi vẽ tranh, tổ chức thi làm báo tường ngày 20 – 11, tổ chức văn nghệ trong các ngày hội,…Đây cũng là một trong các HĐ liên quan đến GDTM cho HS và mỗi HĐ này đều được lên kế hoạch và triển khai cụ thểLuận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Một nội dung khác trong công tác lập kế hoạch cũng được nhiều sự quan tâm, xếp thứ 3 trong các nội dung thực hiện kế hoạch của người hiệu trưởng. Đó là Hiệu trưởng tổ chức cho GV học tập để nắm vững các qui định, yêu cầu về HĐ GDTM. ĐTB của nội dung này là 3.77, đạt mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.855, cho thấy đa số các ý kiến trả lời đều tán đồng. ĐTB kết quả thực hiện là 3.72, xếp hạng nhất trong kết quả thực hiện của tất cả các nội dung. Kết quả này cho thấy việc người Hiệu trưởng tổ chức cho GV học tập để nắm vững các qui định, yêu cầu về HĐ GDTM được chú trọng thực hiện thường xuyên và mang lại kết quả đạt phần lớn.

Những nội dung còn lại trong công tác lập kế hoạch cho HĐ GDTM của hiệu trưởng đều được thực hiện ở mức thường xuyên. Cụ thể, Hiệu trưởng tìm hiểu thực trạng GDTM (ĐTB là 3.72); Hiệu trưởng xác định mục tiêu cho HĐGDTM (ĐTB là 3.7); Hiệu trưởng cùng phó hiệu trưởng và khối trưởng xây dựng tiêu chí đánh giá trong việc dạy học và tổ chức các HĐGD khác có liên quan đến GDTM (ĐTB là 3.68); Hiệu trưởng yêu cầu GV xác định các phương pháp, hình thức cho HĐGDTM (ĐTB là 3.67). Tuy nhiên, khi tham gia phỏng vấn cũng có một vài ý kiến trái chiều, cụ thể GV7, GV8, GV12 có cùng ý kiến: “ Ở trường chúng tôi không có triển khai một kế hoạch riêng biệt nào cho HĐ GDTM”.

Trong các nội dung lập kế hoạch của hiệu trưởng thì nội dung Hiệu trưởng tìm hiểu nhu cầu GDTM là một trong các nội dung quan trọng ban đầu mà người hiệu trưởng cần phải thực hiện. Mặc dù nội dung công việc này có số ĐTB ở mức thực hiện thường xuyên (ĐTB là 3.63) nhưng về thứ hạng lại xếp thấp nhất trong tất cả các nội dung được nêu trên. ĐLC 1.009, cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Mặc dù thứ hạng thực hiện thấp nhất nhưng không ảnh hưởng đến kết quả thực hiện của việc tìm hiểu nhu cầu GDTM. ĐTB kết quả thực hiện của nội dung này là 3.63, bằng với ĐTB thực hiện. Kết quả này cho thấy đạt phần lớn các yêu cầu.

Nội dung có ĐTB kết quả thực hiện thấp nhất là Hiệu trưởng xác định các lực lượng tham gia HĐGDTM (ĐTB 3.4), ở mức khá đạt. Mặc dù, nội dung này được thực hiện một cách thường xuyên (ĐTB thực hiện là 3.66). Kết quả cho thấy, việc xác định các lực lượng tham gia HĐ GDTM mặc dù được quan tâm thực hiện nhưng kết quả mang lại vẫn còn những hạn chế.

Từ những phân tích trên và ĐTB chung, kết quả nghiên cứu cho thấy các nội dung trong công tác lập kế hoạch HĐ GDTM của hiệu trưởng các trường tiểu học được thực hiện ở mức thường xuyên (ĐTB chung là 3.73) và đạt kết quả thực hiện phần lớn (ĐTB chung là 3.60). Tuy nhiên, những phân tích trên có thể thấy mặc dù công tác lập kế hoạch được chú trọng thực hiện thường xuyên nhưng kết quả thực hiện của một số nội dung vẫn chưa đạt ở mức mong muốn. với Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần lượt là 0.964 và 0.96 thì các số liệu thu thập trên có thể chấp nhận được.

2.4.2. Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục thẩm mỹ Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Muốn cho HĐ GDTM đạt kết quả tốt thì việc sắp xếp và phân bố các nguồn lực của công tác tổ chức rất quan trọng. Đây là một chức năng không thể thiếu của hiệu trưởng. Sau đây là kết quả khảo sát về thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục thẩm mỹ ở các trường tiểu học.

  • Bảng 2.10. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của thực trạng tổ chức HĐ GDTM

Kết quả từ bảng 2.10 cho thấy, nội dung của công tác tổ chức có số ĐTB thực hiện cao nhất là Hiệu trưởng ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV khi tham gia HĐGDTM. ĐTB là 4.05, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.904, cho thấy các ý kiến trả lời không có quá nhiều sự phân tán. Bên cạnh đó, số ĐTB kết quả thực hiện của nội dung này ở mức đạt phần lớn (ĐTB là 3.76). ĐLC là 0.848, cho thấy đa số các ý kiến khảo sát đều tán đồng việc Hiệu trưởng ban hành các quy định về nhiệm vụ, quyền lợi của phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV khi tham gia HĐ GDTM thu được kết quả rất khả quan.

Nội dung được thực hiện ở mức thường xuyên xếp thứ 2 là Hiệu trưởng qui định sự phối hợp của GV với cha mẹ học sinh để GDTM cho HS (ĐTB là 4.04). ĐLC là 0.804, cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. bên cạnh thì ĐTB kết quả thực hiện của nội dung này đạt 3.81, ở mức đạt phần lớn. Kết quả thu được cho thấy công tác GDTM cần có sự phối hợp giữ GV và cha mẹ HS, người hiệu trưởng đã có sự quan tâm và ban hành qui định sự phối hợp này một cách thường xuyên, đem lại kết quả thực hiện khả quan trong công tác quan lý.

Những nội dung khác trong công tác tổ chức HĐ GDTM cũng được sự quan tâm của người hiệu trưởng, các nội dung đề xuất đều được thực hiện ở mức thường xuyên. Cụ thể, Hiệu trưởng phân công cho khối trưởng tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDTM cho khối của mình (ĐTB là 3.95); Hiệu trưởng qui định sự phối hợp của GV với các lực lượng giáo dục trong trường ( Đội TNTP HCM, Đội Sao nhi đồng,…) để GDTM cho HS (ĐTB là 3.81). Đối với nội dung tổ chức Hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho GV về GDTM, tuy có ĐTB ở mức thực hiện thường xuyên (3.76) và ĐTB kết quả thực hiện ở mức đạt phần lớn (ĐTB là 3.59) nhưng cả về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của nội dung này so với tổng các nội dung có thứ hạng thấp nhất (hạng 5). Kết quả này cho thấy việc hiệu trưởng chỉ đạo cho phó hiệu trưởng tổ chức các hoạt động bồi dưỡng cho GV về GDTM là một công việc quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng GDTM nhưng chưa phát huy hết vai trò. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Khi được phỏng vấn để làm rõ hơn về công tác tổ chức HĐ GDTM, cụ thể việc phân công trong công tác này, QL2, QL4 có ý kiến: “HĐ GDTM được giao cho Phó hiệu trưởng lên kế hoạch và triển khai cho các tổ trưởng/ khối trưởng cùng các GV tổ chức thực hiện. Mỗi đối tượng đều có nhiệm vụ của riêng mình và chịu trách nhiệm khi được phân công”. Bên cạnh đó, GV3, GV9 có ý kiến: “GV là những người trực tiếp thực hiện việc GDTM cho HS qua các tiết dạy học trên lớp dưới sự nhắc nhở thường xuyên của tổ trưởng, khối trưởng”.

Từ kết quả phân tích và ĐTB chung, công tác tổ chức HĐ GDTM ở các trường tiểu học được thực hiện thường xuyên (ĐTB chung là 3.92) và kết quả thực hiện đạt phần lớn (ĐTB chung là 3.73). Kết quả này cho thấy công tác tổ chức là một trong những chức năng quản lý quan trọng, đối với tổ chức HĐ GDTM cũng được hiệu trưởng các trường quan tâm thực hiện và đạt được kết quả khả quan.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục thẩm mỹ

Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, hiệu trưởng cần thực hiện chức năng chỉ đạo để HĐ GDTM diễn ra theo đúng kế hoạch và mục tiêu đề ra. Sau đây là kết quả khảo sát về thực trạng chỉ đạo HĐ GDTM của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Bảng 2.11. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của thực trạng chỉ đạo HĐ GDTM

Từ kết quả khảo sát cho thấy nội dung chỉ đạo được thực hiện xếp vị trí thứ nhất là Hiệu trưởng giám sát phó hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM. ĐTB là 4.06, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.809. Điều này cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Hiệu trưởng giám sát phó hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM không chỉ thực hiện ở mức thường xuyên mà kết quả thực hiện cũng đạt phần với, với ĐTB là 3.65. ĐLC là 1.022. Mặc dù việc giám sát của hiệu trưởng đối với phó hiệu trưởng trong công việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM được thực hiện thường xuyên, đảm bảo cho quá trình thực hiện HĐ GDTM nhưng so với các nội dung khác trong công tác chỉ đạo, mặc dù đạt kết quả phần lớn nhưng đây lại là nội dung có thứ hạng xếp thấp nhất (hạng 6). Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Hiệu trưởng giám sát khối trưởng trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM là nội dung chỉ đạo có thứ hạng 2 ở mức độ thực hiện. ĐTB là 4.04, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.804, cho thấy đa số các ý kiến đồng ý rằng Hiệu trưởng giám sát khối trưởng trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM được thực hiện thường xuyên. Bên cạnh đó, ĐTB kết quả thực hiện là 4.1, ở mức đạt phần lớn. ĐLC là 0.851, cho thấy các ý kiến không có nhiều sự phân tán. Việc hiệu trưởng giám sát khối trưởng trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM không chỉ được hiệu trưởng thực hiện thường xuyên mà còn cho kết quả khả quan (xếp hạng 1 trong kết quả thực hiện).

Một số nội dung trong công tác chỉ đạo thực hiện HĐ GDTM được đề xuất trong bảng 2.8 đều đạt mức thực hiện thường xuyên. Cụ thể, Hiệu trưởng thông báo công khai kế hoạch HĐ GDTM (ĐTB là 3.92); Hiệu trưởng thông báo công khai các qui định về nhiệm vụ, quyền hạn của phó hiệu trưởng, khối trưởng, GV về HĐ GDTM (ĐTB là 3.82); Hiệu trưởng giám sát GV trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM (ĐTB là 3.75). Bên cạnh đó, kết quả thực hiện của các nội dung chỉ đạo này cũng có ĐTB ở mức đạt phần lớn.

Hiệu trưởng giám sát các lực lượng khác trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM là nội dung chỉ đạo mặc dù có số ĐTB ở mức thực hiện thường xuyên (ĐTB là 3.72) nhưng có thứ hạng thấp nhất trong các nội dung chỉ đạo. Nhưng kết quả thực hiện của nội dung này lại rất khả quan khi xếp thứ hạng 2, ĐTB là 3.99. ĐLC là 0.83, cho thấy đa số các ý kiến đều tán đồng rằng kết quả thực hiện của nội dung Hiệu trưởng giám sát các lực lượng khác trong việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM đạt phần lớn.

Từ những phân tích trên và ĐTB chung, kết quả cho thấy công tác chỉ đạo của hiệu trưởng các trường tiểu học đối với HĐ GDTM được thực hiện thường xuyên (ĐTB thực hiện là 3.89) và kết quả đạt phần lớn (ĐTB kết quả thực hiện là 3.84). Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần lượt là 0.952 và 0.921. Điều này cho thấy các số liệu đã thu thập có thể tin cậy được.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thẩm mỹ Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Để đối chiếu những gì đã làm trong HĐ GDTM mới mục tiêu đã đề ra ban đầu, người hiệu trưởng cần thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá. Bảng 2.12 sau đây là kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM.

  • Bảng 2.12. Đánh giá của GV về mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện của thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy Hiệu trưởng thực hiện phê bình, rút kinh nghiệm về việc GDTM cho HS là nội dung được đánh giá thực hiện thường xuyên nhất trong các nội dung kiểm tra, đánh giá của HĐ GDTM. ĐTB là 3.96, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC là 0.89. Điều này cho thấy không có nhiều sự phân tán trong các ý kiến trả lời. Bên cạnh đó, ĐTB kết quả thực hiện của việc phê bình, rút kinh nghiệm về việc GDTM cho HS là 3.58, ở mức đạt phần lớn. ĐLC là 0.882, cho thấy các ý kiến đều tán đồng răng nội dung này đạt phần lớn kết quả thực hiện. Tuy nhiên so sánh với các nội dung kiểm tra, đánh giá khác thì việc phê bình, rút kinh nghiệm về việc GDTM cho HS mặc dù được thực hiện thường xuyên nhất nhưng thứ hạng trong kết quả thực hiện là thấp nhất. Kết quả này cho thấy sự chú trọng thực hiện và kết quả có sự chênh lệch tương đối. Khi được phỏng vấn đề thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM, QL6 có ý kiến: “CBQL kiểm tra thường xuyên và định kỳ việc tổ chức thực hiện HĐ GDTM là điều không thể thiếu. Trong quá trình kiểm tra có sai phạm thì còn kịp thời điều chỉnh. Bên cạnh đó công tác phê bình, khen thưởng cuối năm cho các HĐ là không thể thiếu”.

Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá GV trong quá trình tổ chức các HĐ GD có lồng ghép nội dung GDTM có số ĐTB thực hiện là 3.89, ở mức thực hiện thường xuyên. ĐLC 0.901, cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán.. Bên cạnh đó, số ĐTB kết quả thực hiện là 3.89, ở mức đạt phần lớn, xếp thứ hạng 1. Kết quả này cho thấy kiểm tra, đánh giá GV trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục có lồng ghép nội dung GDTM là một nội dung quan trọng trong công tác kiểm tra đánh giá, không chỉ được thực hiện thường xuyên mà con đem lại kết quả thực hiện rất khả quan.

Bên cạnh các nội dung kiểm tra đánh giá trên, các nội dung được đề xuất còn lại đều đạt mức thực hiện thường xuyên. Như Hiệu trưởng phổ biến các tiêu chí đánh giá trong việc GDTM cho HS (ĐTB là 3.85); Hiệu trưởng kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất việc GDTM (ĐTB là 3.77); Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá phó hiệu trưởng và khối trưởng trong HĐGDTM (ĐTB là 3.77). Các nội dung này đều đạt mức thực hiện thường xuyên, có ĐTB không quá chênh lệch. Bên cạnh đó ĐTB kết quả thực hiện cũng ở mức đạt phần lớn với ĐLC thấp. Trong đó, nội dung kiểm tra đánh giá HĐ GDTM Hiệu trưởng thực hiện khen thưởng về việc GDTM cho HS tuy có ĐTB thực hiện ở mức thường xuyên (ĐTB là 3.56) và ĐTB kết quả thực hiện ở mức đạt phần lớn (ĐTB là 3.81) nhưng so về thứ hạng với các nội dung khác thì việc khen thưởng cho công tác GDTM có thứ hạng cuối và gần cuối. Đây là một nội dung quan trọng, góp phần động viên thúc đẩy cho HĐ GDTM mặc dù được quan tâm nhưng vẫn còn chưa phát huy hài hòa so với những nội dung công việc khác. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Từ những phân tích trên và ĐTB chung, kết quả nghiên cứu cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá HĐ GDTM được thực hiện thường xuyên và đạt kết quả phần lớn với đồng ĐTB là 3.8. Độ tin cậy của thang đo (Cronbach’s Alpha) lần lượt là 0.985 và 0.97, các con số này cho thấy các số liệu thu thập trong phạm vi chấp nhận được.

2.5. Thực trạng của các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.5.1. Thực trạng của các yếu tố khách quan

Sau đây là kết quả khảo sát về thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến QL HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên.

  • Bảng 2.13. Đánh giá của GV về mức độ cản trở và thúc đẩy của thực trạng của các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến QL HĐ GDTM

Trong các yếu tố khách quan trên, các yếu tố được đánh giá là không cản trở và ở mức độ thúc đẩy được đánh giá phân vân là Các chính sách và chủ trương về giáo dục của nước ta (ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.33, ĐTB mức độ cản trở là 2.38); Sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan, ban ngành tại địa phương về HĐGDTM (ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.23, ĐTB mức độ cản trở là 2.37). Tuy đây là hai yếu tố ít nhiều có ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐ GDTM nhưng lại không được quá chú tâm.

Đa số các yếu tố khách quan được đề xuất mặc dù ĐTB mức độ cản trở ở mức phân vân nhưng đều được đánh giá thúc đẩy cho công tác QL HĐ GDTM. Cụ thể, Nhận thức của cha mẹ HS về GDTM với ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.52. Kết quả cho thấy ý nghĩa của gia đình đối với HĐ GDTM. Bên cạnh yếu tố về gia đình thì vai trò của người GV cũng hết sức quan trọng. Các yếu tố như Năng lực của GV trong việc GDTM cho HS (ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.29); Lời nói, điệu bộ, cử chỉ và cách ứng xử của GV là những yếu tố thúc đẩy công tác quản lý HĐ GDTM (ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.56). Năng lực tiếp nhận GDTM của HS cũng là một yếu tố được đánh giá là thúc đẩy đối với QL HĐ GDTM, ĐTB thúc đẩy của yếu tố này là 2.47.

Một yếu tố được đánh giá là vừa thúc đẩy vừa gây cản trở trong công tác QL HĐ GDTM là Sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan niệm sống và định hướng giá trị sống trong tình hình hiện nay. ĐTB mức độ thúc đẩy là 2.49, ĐTB mức độ cản trở là 1.43. Sự đa dạng và phức tạp của các quan niệm sống và định hướng trong xã hội hiện nay là yếu tố khách quan khó làm chủ và nắm bắt. Kết quả phỏng vấn, GV6 và QL5 có cùng ý kiến: “công tác GDTM ở trường học cho dù được thực hiện rất cố gắng nhưng ngoài phạm vi nhà trường các em HS bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác cũng gây cản trở cho công tác GDTM. Trong đó, việc sử dụng điện thoại thông minh có kết nối internet mà không có sự kiểm soát về nội dung và thời gian không chỉ ảnh hưởng đến GDTM và còn ảnh hưởng đến việc học tập chung của HS.”

Kinh phí, thời gian và trang thiết bị tài liệu, cơ sở vật chất còn thiếu là một yếu tố gây cản trở cho QL HĐ GDTM, ĐTB mức độ cản trở là 1.6. Trùng hợp khi được phỏng vấn QL3, QL4 có ý kiến: “Để tổ chức cho HS thật nhiều HĐ hay và ý nghĩa có tính GDTM cao thì rất khó khăn vì nhà trường không có sẵn kinh phí. Trường học trên địa bàn chưa được tự chủ về tài chính và cũng không được phép vận động thu tiền một cách tùy tiện”. Kết quả này hết sức dễ hiểu, bất kỳ một HĐ nào chứ không riêng đối với HĐ GDTM thì kinh phí, thời gian và trang thiết bị tài liệu, cơ sở vật chất là công cụ để tiến hành quá trình tổ chức thực hiện, góp phần quan trọng cho sự thành công của HĐ GDTM. Việc thiếu thốn Kinh phí, thời gian và trang thiết bị tài liệu, cơ sở vật chất ít nhiều sẽ gây cản trở cho HĐ GDTM. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Nhìn chung các yếu tố khách quan có thể gây cản trở hoặc thúc đẩy cho công tác quản lý HĐ GDTM. Đôi khi những yếu tố còn vướng mắc nhiều phân vân nhưng người quản lý biết phát huy điểm mạnh của các yếu tố thì mỗi yếu tố sẽ là một phần thúc đẩy cho HĐ GDTM của trường mình.

2.5.2. Thực trạng của các yếu tố chủ quan

Bảng 2.14. Đánh giá của GV về mức độ cản trở và thúc đẩy của thực trạng của các yếu tố chủ quan quan ảnh hưởng đến quản lý HĐ GDTM

Hầu hết các yếu tố chủ quan được nêu trên đều được đánh giá ở mức thúc đẩy cho công tác quản lý HĐ GDTM, đối với mức độ cản trở đa số các ý kiến đều ở mức phân vân. Cụ thể:

Yếu tố Nhận thức của Hiệu trưởng về HĐ GDTM và quản lý HĐ GDTM được xem là yếu tố thúc đẩy đối với công tác quản lý HĐ GDTM. ĐTB là 2.16, ĐLC là 0.827. Đối với mức độ cản trở, yếu tố này có ĐTB là 1.99, đạt mức phân vân. Nhận thức của Hiệu trưởng về HĐ GDTM và quản lý HĐ GDTM có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác quản lý HĐ GDTM. Nếu người hiệu trưởng nhận thức đúng đắn, có tầm chiến lược thì sẽ phát triển HĐ GDTM tại đơn vị của mình.Ngược lại nhận thức sai hoặc không đầy đủ sẽ dẫn đến quá trình thực hiện có nhiều sai sót.

Tương tự, yếu tố về Năng lực của Hiệu trưởng trong việc tổ chức HĐ GDTM cũng được đánh giá là một yếu tố thúc đẩy (ĐTB là 2.6). Bên cạnh đó đây có phải là một yếu tố cản trở hay không được đa số các ý kiến phân vân (ĐTB là 1.67). ĐLC thấp, lần lượt là 0.585 và 0.764 cho thấy các ý kiến trả lời không có nhiều sự phân tán. Một yếu tố khác có ĐTB đạt mức thúc đẩy bằng với yếu tố về Năng lực của Hiệu trưởng trong việc tổ chức HĐ GDTM là yếu tố Lối sống và hành vi ứng xử của Hiệu trưởng ảnh hưởng đến HĐ GDTM (ĐTB là 2.6). Kết quả này cho thấy năng lực và phẩm chất của người hiệu trưởng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nói chung là chất lượng HĐ GDTM nói riêng.

Một yếu tố vừa được đánh giá là thúc đẩy (ĐTB là 2.52), vừa được đánh giá là cản trở ( ĐTB là 1.43) đối với HĐ GDTM là Sự phối hợp giữa hiệu trưởng với các LLGD khác trong và ngoài nhà trường trong HĐ GDTM. Kết quả này cho thấy công tác phối hợp trong HĐ GDTM rất quan trọng, nếu phối hợp tốt giữa hiệu trưởng và các LLGD khác thì đây là một yếu tố thúc đẩy đến HĐ GDTM. Ngược lại công tác phối hợp không tốt sẽ cản trở quá trình tổ chức thực hiện HĐ GDTM. Khi điều tra về thực trạng phối hợp, QL1, QL2, QL5 cùng ý kiến: “GD cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều LLGD khác nhau. Đôi khi GV và nhà trường rất cố gắng trong việc GDTM cho các em HS nhưng gia đình lại thiếu quan tâm và hỗ trợ. Đa số các phụ huynh là công nhân, họ có rất ít thời gian quan tâm con em mình nên gây khó khăn trong công tác phối hợp của nhà trường”.

Bên cạnh các yếu tố trên, Hiệu trưởng xây dựng các văn bản quy định, hướng dẫn về tổ chức HĐ GDTM được cho là không cản trở đến HĐ GDTM. ĐTB mức cản trở là 2.39. Tuy nhiên, đối với mức độ thúc đẩy thì yếu tố này được đánh giá ở mức phân vân.

Từ kết quả phân tích trên, các yếu chủ quan này có thể là yếu tố thúc đẩy hoặc có thể là yếu tố cản trở. Đôi khi một yếu tố lại có hai mặt, có thể vừa thúc đẩy vừa cản trở đối với công tác quản lý HĐ GDTM.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

2.6.1. Những ưu điểm

HĐ GDTM được hậu thuẫn bởi các chính sách GD của nước ta. Bên cạnh đó, HĐ GDTM ở địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương được sự quan tâm của các ban ngành địa phương và các LLGD khác nhau.

Hiệu trưởng của các trường là những người có tư tưởng chính trị vững vàng, giàu kinh nghiệm trong quản lý, có sự quyết đoán và nhạy bén trong điều hành công việc, phát huy hết vai trò của người đi đầu đưa nhà trường phát triển ngày càng ổn định và vững mạnh.

Với sự quan tâm thường xuyên của ban lãnh đạo nhà trường, công tác quản lý HĐ GDTM còn diễn ra thuận lợi khi có sự hỗ trợ đầy đủ về nguồn thông tin, các tài liệu và cơ sơ vật chất cho công tác tổ chức thực hiện HĐ GDTM.

Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ và thường xuyên các chức năng quản lý trong công tác quản lý HĐ GDTM. Việc lên kế hoạch được tiến hành một cách khoa học, có xác định mục tiêu rõ ràng cho HĐ GDTM. Hiệu trưởng có sự phân công, qui định rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn đối với phó hiệu trưởng, các tổ trưởng/ khối trưởng và GV. Bên cạnh đó thực hiện chỉ đạo thường xuyên và hiệu quả đối với từng HĐ và đối tượng, có sự kiểm tra và giám sát thường xuyên trong HĐ GDTM.

Đội ngũ GV của các trường tiểu học trên đại bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là những người yêu nghề, đủ năng lực và phẩm chất để tổ chức HĐ GDTM. Chính họ là những người góp phần cho công tác quản lý HĐ GDTM diễn ra thuận lợi và gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp.

2.6.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Một số GV vẫn chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của GDTM đối với HS tiểu học. Mục tiêu GDTM vẫn có một số ít GV không biết hoặc biết ít.

Các nội dung GDTM rất phong phú nhưng một số nội dung thực hiện vẫn chưa đem lại kết quả tương đồng với công sức các GV đã bỏ ra.

Hình thức tổ chức HĐ GDTM rất đa dạng, trong đó hình thức tổ chức theo chuyên đề vẫn còn hạn chế, chưa phát huy được hết ưu thế.

Việc phối hợp các nguồn lực trong HĐ GDTM tuy được quan tâm nhưng chưa thực hiện tốt như mong đợi.

Trong công tác lập kế hoạch, việc tìm hiểu nhu cầu GDTM rất quan trọng nhưng chưa được đánh giá cao.

Hiệu trưởng thực hiện khen thưởng và phê bình trong việc GDTM cho HS được thực hiện thường xuyên nhưng thiếu sự đồng bộ.

Kinh phí, thời gian và trang thiết bị tài liệu, cơ sở vật chất còn thiếu, gây cản trở cho công tác QL HĐ GDTM.

2.6.3. Những nguyên nhân của hạn chế

  • Nguyên nhân của ưu điểm:

Cấp tiểu học nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát từ các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương. Lãnh đạo nhà trường là những người ảnh hưởng rất nhiều đối với những thành tựu của tập thể, chính nhờ sự định hướng đúng đắn của họ đã không ngừng đưa chất lượng GDTM đi lên.

Sự quan tâm kịp thời và hỗ trợ hết mình của lãnh đạo nhà trường góp phần cho HĐ GDTM diễn ra thuận lợi hơn.

GV không ngừng cố gắng vươn lên. Họ đủ tự tin về năng lực và phẩm chất để hoàn thành nhiệm vụ trong công tác GDTM cho HS. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

  • Nguyên nhân của hạn chế:

Tuy được sự quan tâm chỉ đạo từ cấp trên nhưng việc quản lý theo cơ chế cũ, phân nhiều cấp bậc như hiện nay, nhà trường không thể chủ động trong việc thay đổi nội dung, thời lượng để tăng cường GDTM cho HS cũng như hạn chế trong vấn đề kinh phí để tổ chức các HĐ GDTM.

Một số GV chưa nhận thức đúng vai trò của GDTM và vai trò của chính bản thân mình trong việc tổ chức thực hiện GDTM cho HS. Điều này dẫn tới HĐ GDTM tuy quan trọng nhưng không được chú trọng.

Tiểu kết chương 2

Từ kết quả nghiên cứu tài liệu, các báo cáo công tác giáo dục của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Tân Uyên, khảo sát thực tế từ các CBQL, GV của các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, tác giả đã đưa ra sự phân tích dựa trên những thông tin thu thập được về thực trạng của HĐ GDTM đối với học sinh tiểu học và thực trạng công tác QL HĐ GDTM cho HS.

Qua các phân tích về thực trạng, một số trường tiểu học trên đại bàn thị xã Tân Uyên đã đạt được các thành tựu đáng khích lệ như: có sự quan tâm đến mục tiêu GDTM; xác định được nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức cho HĐ GDTM. Bên cạnh đó, HĐ GDTM được lên kế hoạch một cách khoa học, có sự chỉ đạo bài bản, phân công nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng. Công tác kiểm tra, đánh giá cũng được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên. Tuy nhiên, những ghi nhận cũng cho thấy còn những vấn đề hạn chế như: một số GV vẫn chưa nhận thức đúng đắn về công tác quản lý HĐ GDTM, một số nội dung trong công tác QL GDTM vẫn chưa phát huy hết ưu thế, sự phối hợp giữa các LLGD trong HĐ GDTM vẫn chưa đủ chặt chẽ, nguồn lực và kinh phí cho HĐ GDTM vẫn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.

Phần cuối cùng trong nội dung thực trạng về quản lý HĐ GDTM cho HS ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương là các nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, những hạn chế còn mắc phải. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra nhận định về các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, nhằm tạo cơ sở để đề xuất một số biện pháp.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537