Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên. Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu, đó là phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được những quả sau:
– Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên. Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu hoạt động hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên trên cơ sở các nội dung bao gồm: hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non theo 5 tiêu chuẩn với các nội dung bao gồm: phẩm chất nhà giáo; phát triển chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng môi trường giáo dục; phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng; sử dụng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin, thể hiện khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Bên cạnh đó còn có các hình thức bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non; phương pháp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non; thời gian bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non; nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non theo hướng tiếp cận nội dung quản lý bao gồm:
Đối với công tác quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động BDCM GVMN thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo các giai đoạn của một số trường thực hiện chưa tốt; chưa đề xuất các điều chỉnh cho sát tình hình thực tế.
Đối với với công tác quản lý việc phân công giáo viên tham gia các hoạt động BDCM thì chưa rõ ràng, chưa đồng bộ giữa các trường
Đối với công tác Quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn thì một số hiệu trưởng gặp khó trong công tác triển khai nội dung bồi dưỡng chuyên môn; chưa có kinh phí để mời chuyên gia chuyên về bồi dưỡng chuyên môn để bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên tại đơn vị. Bên cạnh đó việc khuyến khích, khen thưởng nhằm tạo động lực cho đội ngũ giáo viên cũng chưa được thực hiện tốt
Đối với công tác Quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động BDCM GVMN chưa đa dạng phong phú, gặp khó khăn trong việc xác định các nguồn lực thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đối với công tác Quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác BDCM GVMN thì Ban giám hiệu ít dự giờ sinh hoạt tổ chuyên môn.
Đối với công tác Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động BDCM GVMN thì chưa tự chủ trong việc nâng cấp, sửa chữa, thay mới các điều kiện phục vụ hoạt động BDCM mà còn chờ phê duyệt của Phòng, Sở Giáo dục và Đào tạo.
Từ nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, đề tài đã đề xuất 8 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non, đó là:
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GVMN về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
- Cải tiến công tác xây dựng kế hoạch, chương trình nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kế hoạch và chương trình bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
- Chỉ đạo, thực hiện việc phân công, phân nhiệm hợp lý trong quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
- Hỗ trợ, tạo động lực cho giáo viên mầm non tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
- Đổi mới hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non.
- Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện tốt sinh hoạt tổ khối chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Như vậy, với kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn trình bày ở trên, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và giả thuyết khoa học đã được chứng minh, kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết khoa học.
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Trong tục ngữ Hán Việt có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Bác Hồ đã khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, phải xây dựng đội ngũ những người thầy giáo tốt – Thầy giáo xứng đáng là thầy giáo. Đó là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu chăm sóc giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng”.
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế. Do đó, nguồn lực con người ngày càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực” với giải pháp cụ thể là “phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo” (Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Hội nghị lần thứ 8, 2020)
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Là nền tảng cơ bản thúc đẩy, quyết định nhân cách người học ở các bậc học tiếp theo. Điều 2 Luật Giáo dục 2012 (sửa đổi năm 2016) đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Luật Giáo dục, 2021) Bởi, mục tiêu của giáo dục Mầm non đặt ra là đảm bảo xây dựng được những cơ sở ban đầu của nhân cách con người công dân Việt Nam, hoàn thành phát triển toàn diện nhân cách trẻ về các mặt như phát triển về thể chất, ngôn ngữ, thẩm mỹ, nhận thức và tình cảm, xã hội. Trẻ em lứa tuổi mầm non học theo phương pháp “học bằng chơi, chơi mà học”, các cô giáo không áp đặt, gò bó trẻ mà lấy quan hệ tình cảm mẹ con, cô cháu, yêu thương và tôn trọng nhân cách trẻ là yếu tố quyết định.
Muốn đạt được mục tiêu giáo dục mầm non đề ra, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có kiến thức văn hóa cơ bản; được trang bị một hệ thống các kiến thức khoa học về chăm sóc giáo dục trẻ; có kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục, kỹ năng giao tiếp với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp, cộng đồng… Để có được những năng lực sư phạm này, người giáo viên mầm non phải không ngừng học tập, rèn luyện tại trường, tự học tập một cách nghiêm túc, thường xuyên.
Một thực trạng đáng quan tâm hiện nay của bậc học Giáo dục Mầm non Thị xã Tân Uyên đó là sự không đồng đều về chất lượng giáo dục giữa các trường, có sự chênh lệch về trình độ chuyên môn giữa giáo viên trong nhà trường, với các trường bạn và công tác chăm sóc, giáo dục trẻ ở một số trường chưa được quan tâm đúng mức. Thậm chí, có những trường nhiều năm liền không có giáo viên giỏi cấp tỉnh. Để dẫn đến tình trạng trên do rất nhiều nguyên nhân cả nguyên nhân chủ quan và khách quan như tình trạng quá tải về thời lượng và số lượng công việc của một giáo viên mầm non. Đại đa số giáo viên mầm non là nữ, ngoài thời gian sinh hoạt một ngày với trẻ ở trường (11 giờ), giáo viên cần phải chuẩn bị khá nhiều công tác khác nhằm phục vụ cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ vào thời gian ngoài giờ lên lớp và cả những công việc “không tên” trong gia đình, ngoài xã hội. Vì thế việc nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn gặp rất nhiều khó khăn. Bản thân từng có 9 năm là giáo viên mầm non và gần 5 năm là phó hiệu trưởng chuyên môn giáo dục của trường mầm non, là thành viên trong Ban hướng dẫn nghiệp vụ giáo dục mầm non của Phòng Giáo dục và Đào tạo Thị xã Tân Uyên nên tôi biết và hiểu được những khó khăn mà các giáo viên mầm non đang phải cố gắng vượt qua để thực hiện nhiệm vụ của mình. Chính vì vậy quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại các trường mầm non công lập sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo viên đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và khẳng định vai trò nòng cốt của các trường mầm non công lập.
Từ những vấn đề nêu trên, cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn, tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương” làm hướng nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Trên cơ sở tìm hiểu lý luận về HĐ BDCM GVMN và QL HĐ BDCM GVMN, đề tài tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
- Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
- Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương.
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương có thể đã đạt được một số kết quả trong QL mục tiêu; QL nội dung chương trình; QL hình thức, phương pháp; QL điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non. Tuy nhiên, công tác này có thể vẫn còn những hạn chế, bất cập, chưa có sự đồng bộ trong việc thực hiện từng nội dung QL. Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì người nghiên cứu có thể đề xuất một số biện pháp có tính cần thiết và khả thi cao nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐ BDCM GVMN.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HĐ BDCM GVMN và QL HĐ BDCM GVMN ở trường mầm non.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng HĐ BDCM GVMN và QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất và khảo nghiệm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐ BDCM GVMN ở các trường mầm non thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1 Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non công lập trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương. Chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non chủ yếu nói hoạt động quản lý của hiệu trưởng nhà trường.
6.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên tại các trường mầm non công lập trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương giai đoạn 2024 – 2025
6.3 Khách thể khảo sát
Nghiên cứu tập trung khảo sát các đối tượng sau: Trưởng, phó phòng GD&ĐT thị xã Tân Uyên, chuyên viên giáo dục Mầm non GD&ĐT thị xã Tân Uyên, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn và đại diện giáo viên 6 trường Mầm non công lập trên địa bàn Thị xã Tân Uyên.
- Trường Mầm non Huỳnh Thị Chấu
- Trường mầm non Hoa Hướng Dương
- Trường mầm non Hoa Huệ
- Trường Mầm non Hội Nghĩa
- Trường Mẫu giáo Hoa Mai
- Trường Mẫu giáo Vĩnh Tân
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm Phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu phân tích, tổng hợp và hệ thống các cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lí luận về quản lý quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn Thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương
Nội dung: Phân tích và tổng hợp các vấn đề có liên quan đến đề tài như: Các khái niệm công cụ của đề tài như: Khái niệm bồi dưỡng chuyên môn, quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, lí luận về mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non, lí luận về nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non.
7.2. Nhóm Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Để thực hiện phương pháp thực tiễn chúng tôi sử dụng phối hợp đồng bộ các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích: Phương pháp này được sử dụng nhằm giúp người nghiên cứu nắm được các số liệu liên quan đến hoạt động quản lí thông qua các văn bản, chính sách, chương trình, các kế hoạch của trường, chỉ đạo của phòng, sở, trường, tổ khối…, các sản phẩm liên quan hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non như nhật ký, sổ tay giáo viên, video, hình ảnh tổng hợp đến thực trạng nghiên cứu.
Nội dung: Phân tích, tổng hợp các số liệu liên quan đến thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn nghiên cứu để nắm được thực trạng việc quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non theo nội dung quản lý.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập thông tin về thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương. Từ đó, xử lý các số liệu thống kê, phân tích kết quả chứng minh cho giả thuyết của đề tài nghiên cứu.
Đối tượng điều tra gồm: Cán bộ quản lý trường: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ khối chuyên môn; giáo viên mầm non (GVMN).
Nội dung điều tra: Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non xét theo các chức năng quản lý, nội dung quản lý.
- Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại các trường mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bằng việc sử dụng phiếu phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn: Chuyên viên phòng giáo dục, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ khối chuyên môn, giáo viên mầm non. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Nội dung phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Phương pháp xử lý dữ liệu
- a. Mục đích
Phân tích số liệu thu thập được từ phiếu điều tra, khảo sát để đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại thị xã Tân Uyên, Bình Dương
- b. Nội dung
Sử dụng phương pháp xử lí số liệu toán học thông qua việc sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 20 để xử lí số liệu. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng các đại lượng thống kê, bao gồm:
Thống kê mô tả: Bảng phân bố tần số; tỉ lệ phần trăm; trị trung bình; số trung vị; mode; độ lệch chuẩn; biểu đồ để nhận định về thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non và quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại thị xã Tân Uyên, Bình Dương.
Kiểm định: Kiểm định trị trung bình (T-test) để đánh giá sự khác biệt về mặt ý nghĩa của hai hay nhiều đối tượng về một đại lượng nghiên cứu;
Xử lý dữ liệu từ phỏng vấn và quan sát bằng phương pháp phân tích nội dung.
8. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc luận văn gồm có ba phần chính, bao gồm:
- Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
- Phần thứ hai: NỘI DUNG: Luận văn gồm có ba chương, bao gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Biện pháp nâng cao công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Tổng quan về các nghiên cứu ở nước ngoài
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng dạy để phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Ở Ấn độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung tâm học tập trong cả nước nhằm tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm này đã mang lại hiệu quả rất thiết thực.
Hội nghị UNESCO tổ chức tại Nepal vào năm 1998 về tổ chức quản lý nhà trường đã khẳng định: “Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục”.
Đại đa số các trường sư phạm ở Úc, New Zeland, Canada … đã thành lập các cơ sở chuyên bồi dưỡng giáo viên để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tham gia học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Tại Pakistan, nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho đội ngũ giáo viên và quy định trong thời gian 3 tháng cần bồi dưỡng những nội dung gồm: giáo dục nghiệp vụ dạy học; cơ sở tâm lý giáo viên; phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét trẻ…đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm.
Ở Philippin, công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên không tiến hành tổ chức trong năm học mà tổ chức bồi dưỡng thành từng khóa học trong thời gian GV được nghỉ hè.
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm. Tùy theo thực tế của từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất định. Cụ thể là mỗi cơ sở giáo dục cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy học.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
1.1.2 Tổng quan về các nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu.
Trước năm 1975, vấn đề bồi dưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống.
Sau năm 1975, các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, đặc biệt là Đại hội VI với đường lối đổi mới, đã mở ra một giai đoạn mới cho qua trình phát triển của sự nghiệp giáo dục. Đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học, các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành ngày càng nhiều. Nhưng vấn đề lý luận về bồi dưỡng GV chưa được nghiên cứu sâu và có hệ thống. Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như:
Phạm Minh Hạc, Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB Giáo dục (Phạm Minh Hạc, 1986)
Nguyễn Kỳ, Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34. (Nguyễn Kỳ, 1987)
Ngô Công Hoàn với cuốn sách “Giao tiếp và ứng xử của cô giáo với trẻ em” trình bày các vấn đề cơ bản về phương thức giao tiếp với trẻ em, ứng xử của cô giáo mầm non, người lớn, xã hội đối với quá trình hình thành “nhân cách gốc” ở trẻ em tuổi mầm non. (Nguyễn Công Hoàn, 1995)
Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học quản lý giáo dục đã nghiên cứu về vấn đề quản lý GV như:
Tác giả Nguyễn Hữu Lê Duyên với đề tài “Thực trạng hoạt động quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GV ở một số trường MN tại TP Hồ Chí Minh”. Đề tài đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, BD, quy hoạch, QL, phát triển đội ngũ GV, đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang hoạt động để từng bước củng cố, đào tạo, BD đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục. (Nguyễn Hữu Lê Duyên, 2018)
Đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của hiệu trưởng trường MN công lập quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” của tác giả Vũ Thị Thanh Uyên (Vũ Thị Thanh Uyên, 2016) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của hiệu trưởng trường MN công lập những mặt mạnh như: hiệu trưởng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề của giáo viên trong hoạt động chuyên môn dần được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu đổi mới, giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn cao, số giáo viên dạy giỏi các cấp ngày càng nhiều. Bên cạnh những mặt mạnh, còn có những hạn chế như: Hiệu trưởng còn lúng túng, bị động trong việc xây dựng kế hoạch và thực hiện hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trước yêu cầu đổi mới của ngành học; Mỗi đợt bồi dưỡng hay chu kỳ bồi dưỡng, sau khi kết thúc các trường chưa có kế hoạch tổ chức kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm kịp thời, chất lượng bồi dưỡng hạn chế, việc tổ chức thực hành còn qua loa, đại khái; Đề tài cũng đề xuất được 6 biện pháp cần thiết và có tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên MN công lập Quận Lê Chân, đáp ứng với yêu cầu đổi mới của Giáo dục – Đào tạo nói chung, giáo dục MN nói riêng. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuý với đề tài “Biện pháp quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học của hiệu trưởng trong các trường Mẫu giáo Quận Hai Bà Trưng –Hà Nội” (Nguyễn Thị Thanh Thúy, 2014). Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học của hiệu trưởng trường MN, đồng thời đánh giá được thực trạng quản lý việc sử dụng phương tiện dạy học của hiệu trưởng trong các trường Mẫu giáo Quận Hai Bà Trưng –Hà Nội. Từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Ngoài ra còn có một số đề tài có liên quan đển mảng này như đề tài “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của Hiệu trưởng các trường MN quận 3 – Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt (Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 2013). Đề tài “Quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực sư phạm cho GV MN thành phố Thái Nguyên”, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục (Lưu Thị Kim Phượng, 2016)
“Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên MN trên địa bàn tỉnh Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”của tác giả Vũ Đức Đạm (Vũ Đức Đạm, 2012) đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng quy hoạch quản lý phát triên đội ngũ giảng viên đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà tác giả đang công tác để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu lực trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục.
Những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng chuyên môn GVMN, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non trên địa bàn thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương”. Tuy nhiên qua việc tìm hiểu những nghiên cứu có liên quan ở trên thuộc hướng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, đề tài luận văn này sẽ đưa ra thực trạng hoạt động quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong hoạt động quản lý BD CM GVMN nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay.
1.2 Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Có rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ QL với những góc nhìn khác nhau. Vì vậy, định nghĩa về QL rất đa dang, phong phú.
Theo Từ điển Giáo dục học: “QL là HĐ hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Vǎn Tảo, Bùi Hiền, 2001, tr.326).
Mary Parker Follett đã đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý: “QL là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” (Nguyễn Lộc, 2017, tr.12). Và một định nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi khác về quản lý xét dưới góc độ chức năng:“QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức” (Nguyễn Lộc, 2017, tr.12). Một số tác giả cho rằng:“QL là tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả” (Nguyễn Lộc, 2017, tr.13).
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” (Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2019, tr.9).
Như vậy, mặc dù khái niệm QL được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau nên có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều có những điểm chung và được nhiều giáo trình, nhà nghiên cứu sử dụng, đó là:
QL được xem là quá trình tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) để đạt được những mục tiêu của tổ chức. (Trần Thị Hương, 2023) Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Tiếp cận theo chức năng QL, thì Quản lý được xem là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực có sẵn của tổ chức để đạt được những mục tiêu của tổ chức. Các chức năng QL cơ bản được tác giả Nguyễn Lộc (2017) nghiên cứu cụ thể như sau:
Chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng đầu tiên của hoạt động QL để xác định giai đoạn cho các chức năng tiếp theo. Đó là quá trình quyết định một cách chính xác những gì ta muốn thực hiện và các thức tốt nhất để đạt được mục tiêu (Nguyễn Lộc, 2017, tr.72)
Chức năng tổ chức: Tổ chức là một chức năng cơ bản của QL. Đó là quá trình sắp xếp con người và các nguồn lực để cùng nhau làm việc nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể. Quá trình này liên quan đến việc tạo ra sự phân công lao động thực hiện các nhiệm vụ và việc điều phối các kết quả nhằm đạt được mục tiêu chung. (Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2022, tr.125).
Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): Hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển. Là quá trình khích lệ mọi người cùng cố gắng làm việc để hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng thông qua việc nhà QL đề ra các chủ trương, đường lối, nguyên tắc hoạt động và vận hành các hoạt động của nhà trường. (Nguyễn Lộc, 2017, tr.155).
Chức năng kiểm tra: Đó là quá trình đo lường việc thực hện và hành động để đảm bảo những kết quả mong muốn. Mục đích của kiểm tra là minh bạch – để đảm bảo các kế hoạch được thực hiện đầy đủ và việc thực hiện đó đáp ứng hoặc vượt các mục tiêu. Nền tảng của kiểm tra là thông tin. (Nguyễn Lộc, 2017, tr.189).
Bốn chức năng QL trên đây có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau, khi thực hiện chức năng này thường cũng có mặt các chức năng khác ở các mức độ khác nhau.
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
- Về thuật ngữ “Quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học – giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2019, tr.16).
Theo Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” (Đặng Quốc Bảo, 1997, tr.31). Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989, tr.7).
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, đồng thời là một dạng lao động đặc biệt, mà nét đặc trưng của nó là tính tích cực sáng tạo, năng lực vận dụng những tri thức đã có để đạt mục đích đặt ra một cách có kết quả, là sự cải biến hiện thực” (Trần Kiểm, 2015, tr.18).
Xét về cấp độ QL, tác giả Trần Kiểm cho rằng: QLGD thường được đề cập với 2 cấp độ QL đó là: QL cấp vi mô và QL cấp vĩ mô.
QLGD ở cấp vĩ mô được hiểu là tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội (Trần Kiểm, 2015, tr.10).
QLGD ở cấp vi mô là QL các hoạt động trong nhà trường bao gồm hệ thống các tác động có tính hướng đích của HT đến các hoạt động GD, đến con người (CB-GV-NV và HS), đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin, v.v…), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật GD, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v…) nhằm đạt mục tiêu GD (Trần Kiểm, 2015, tr.11).
Kết hợp với chức năng QL, trong đề tài này, chúng tôi tiếp cận khái niệm QLGD theo chức năng QL, cụ thể: QLGD là quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra một cách tự giác của chủ thể quản lý giáo dục đến khách thể quản lý giáo dục nhằm làm cho hệ thống GD vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục.
1.2.1.3. Quản lý nhà trường
Theo tác giả Trần Kiểm: “QL nhà trường về bản chất là quản lý con người. Trong nhà trường, GV và HS vừa là đối tượng QL, vừa là chủ thể QL. Với tư cách là đối tượng QL, họ là đối tượng tác động của chủ thể QL. Với tư cách là chủ thể QL, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào HĐ QL chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý. QL con người trong nhà trường là tổ chức một cách hợp lý lao động của GV và HS, là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người.” (Trần Kiểm, 2015, tr.20) Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Theo tác giả Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền, “QL nhà trường là tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể QL (đứng đầu là HT nhà trường) đến các đối tượng QL (CB-GV-NV-HS, các bên liên quan…) và huy động, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống GD-ĐT, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu GD đã xác định trong một môi trường luôn luôn biến động” (Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền, 2022, tr.31).
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ” (Phạm Minh Hạc, 1986).
Theo Nguyễn Ngọc Quang “Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý nhà trường nhất thiết phải vừa có tính nhà nước, vừa có tính xã hội (Nhà nước và xã hội cộng đồng và hợp tác trong việc quản lý nhà trường” (Nguyễn Ngọc Quang, 1989).
Như vậy, mỗi tác giả nghiên cứu tiếp cận khái niệm QL nhà trường theo một cách khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu của các tác giả nêu trên, ta có thể hiểu: QL nhà trường là tác động tự giác của chủ thể QL nhà trường đến các đối tượng QL trong nhà trường và huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực GD nhằm thực hiện mục tiêu GD của nhà trường. Các chức năng QL nhà trường bao gồm kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra quá trình sư phạm diễn ra trong nhà trường.
Trong đề tài này, QL nhà trường được xem xét dưới góc độ QL quá trình dạy học với các thành tố: Mục đích, nhiệm vụ dạy học; Nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Hình thức tổ chức dạy học và Phương pháp KTĐG. QL nhà trường về bản chất là QL con người. Người dạy và người học vừa là đối tượng, vừa là chủ thể QL. Họ chịu tác động của chủ thể QL, đồng thời họ là những người tham gia chủ động, tích cực vào HĐ QL chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý.
1.2.1.4. Quản lý trường mầm non
Theo điều 4, Luật giáo dục 2012 (Luật Giáo dục 2012, 2021) thì cấp học mầm non thuộc cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường mầm non là tổ chức chuyên thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Vậy trường mầm non đã được quy định rõ trong luật giáo dục là “cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi”.
Quản lý trường mầm non là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của QLGD nói chung. Mục tiêu của giáo dục mầm non là “giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”. Chính vì thế mọi khía cạnh quản lý nhà trường đều phải đảm bảo các mục tiêu trên được thực hiện đúng, đủ.
Quản lý trường mầm non có nhiều cấp như quản lý cấp bộ (Bộ GD&ĐT), quản lý cấp vụ (Vụ mầm non), quản lý cấp sở (Sở GD&ĐT), quản lý cấp phòng (Phòng GD&ĐT) và quản lý cấp cơ sở (các cơ sở trường mầm non). Các cấp quản lý này có nhiệm vụ khác nhau trong quản lý các hoạt động của các trường mầm non về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến quản lý cấp cơ sở tại các nhà trường.
Từ các khái niệm đã nêu về quản lý, quản lý trường học, mục tiêu của trường mầm non và phạm vi nghiên cứu tác giả rút ra khái niệm về quản lý trường mầm non: Quản lý trường mầm non chính là “việc thực hiện các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, cán bộ quản lý) đến tập thể GV, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường mầm non nhằm hoàn thành mục tiêu giúp trẻ mầm non phát triển về toàn diện về các mặc thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ”.
1.2.2 Khái niệm bồi dưỡng, hoạt động bồi dưỡng, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.2.2.1 Khái niệm bồi dưỡng
Theo từ điển giáo dục, bồi dưỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm những kiến thức, thái độ, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
Bồi dưỡng (nghĩa rộng) là quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hướng mục đích đã chọn (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh và Vũ Văn Tảo, 2018).
Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục, làm cho đối tượng được bồi dưỡng tăng thêm năng lực, phẩm chất và phát triển theo chiều hướng tốt hơn. (Hoàng Phê, 1994)
Bồi dưỡng là một hoạt động có chủ đích nhằm cập nhật những kiến thức mới tiến bộ, hoặc nâng cao trình độ GV để tăng thêm năng lực, phẩm chất theo yêu cầu của ngành học. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản từ trước. Hoạt động bồi dưỡng là việc làm thường xuyên, liên tục cho mỗi GV, cấp học, ngành học, không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế xã hội. Nội dung bồi dưỡng được triến khai ở các mức độ khác nhau, phù hợp cho từng đối tượng cụ thể. (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh và Vũ Văn Tảo, 2018) Bồi dưỡng là quá trình giáo dục có kế hoạch nhằm tăng giá trị cho con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một hoạt động hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc. Sau khi được bồi dưỡng, năng lực cá nhân được gia tăng, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại và trong tương lai của tổ chức. (Hoàng Phê, 1998)
1.2.2.2. Chuyên môn Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển Bách Khoa Việt Nam, 1995) thì “chuyên môn là tổ hợp các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành mà con người tiếp thu được qua đào tạo để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành nghề nhất định theo phân công của xã hội”.
Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 1994) thì “Chuyên môn là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học, kỹ thuật”.
Đối với GVMN, ở góc độ chuyên môn, GVMN là người hiểu rõ về công việc chăm sóc – giáo dục trẻ mà mình phụ trách ở trường MN, yêu trẻ, yêu nghề, có kỹ năng lựa chọn những phương pháp giảng dạy, chăm sóc có hiệu quả. Ngoài ra, GVMN còn biết quan tâm đến những vấn đề mà ngành học của mình đang cố gắng giải quyết. Ớ góc độ khoa học giáo dục, GV tốt là người có hiểu biết về tâm lý học, giáo dục học, hiểu và ý thức được rằng nếu không có những tri thức khoa học về giáo dục thì sẽ không thể cộng tác được với học sinh. GV tốt là người nắm vững các kỹ năng đến mức hoàn thiện trong một lĩnh vực hoạt động lao động nào đó, là người “lão luyện” trong công việc của mình (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh và Vũ Văn Tảo, 2018). Những GV như vậy, ngoài hiệu quả đào tạo của nhà trường sư phạm và tự bồi dưỡng, rèn luyện bản thân, còn phụ thuộc không ít vào vai trò quản lý trường học của Hiệu trưởng trong việc chú ý bồi dưỡng chuyên môn cho GV.
Vậy chuyên môn là một nội dung bao quát rất rộng liên quan đến lĩnh vực kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành riêng của một ngành khoa học, kỹ thuật, giáo dục. Trong nghiên cứu này đề cập đến chuyên môn trong lĩnh vực sư phạm. Vậy khái niệm chuyên môn có thể được hiểu là những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thực hành ngành sư phạm của các GVMN trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non.
1.2.2.3 Bồi dưỡng chuyên môn
Là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; kỹ năng tay nghề; kiến thức, kỹ năng thực tiễn. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho giáo viên, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc của người giáo viên. Bồi dưỡng chuyên môn về bản chất là quá trình tự học, tự bồi dưỡng hoặc có sự giúp đỡ về mặt chuyên môn nào đó từ các chủ thể giáo dục, có thể thông quan hai hình thức là học tập chính thức và học tập không chính thức. Học tập chính thức là hình thức tổ chức các lớp như khóa huấn luyện, tập huấn và các chương trình học tập trực tuyến; học tập không chính thức là quá trình tự bồi dưỡng chuyên môn, quá trình tích lũy học hỏi qua trải nghiệm, qua dự giờ, qua cập nhật các thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng.
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đối với mọi giáo viên là thường xuyên, liên tục. Hoạt động bồi dưỡng nhằm tạo điều kiện cho người giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có cơ hội củng cố và mở rộng một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hoặc quản lý giáo dục sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn; mặt khác cũng qua bồi dưỡng người học biết chọn lọc, tiếp thu phát huy các mặt mạnh, khắc phục bổ sung những mặt còn hạn chế, bồi dưỡng kịp thời, động viên họ làm việc tự giác với tinh thần trách nhiệm đạt hiệu suất cao.
1.2.3 Khái niệm quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Từ khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non và hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, có thể nêu khái niệm quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non như sau:
Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể cán bộ giáo viên để họ trang bị thêm kiến thức chuyên môn; kỹ năng tay nghề; kiến thức, kỹ năng thực tiễn. Từ đó, tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu của bậc học.
1.3 Lý luận về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
1.3.1 Vị trí, nhiệm vụ của giáo dục mầm non và yêu cầu đối với giáo viên mầm non
Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT năm 2022 đã quy định: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2022)
Vị trí trường mầm non
- Trường mầm non là đơn vị cơ sở của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước CHXHCN Việt Nam do ngành giáo dục quản lý. Trường mầm non đảm nhận việc nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em nhằm giúp trẻ em hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuấn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông sau này.
- Trường mầm non có tư cách và con dấu riêng.
- Tính chất của trường mầm non: Trường mầm non nước CHXHCN Việt Nam có 3 tính chất sau:
- Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục nhằm hình thành nhân cách trẻ em một cách toàn diện.
- Chăm sóc – giáo dục trẻ em mang tính chất giáo dục gia đình giữa cô và trẻ là quan hệ tình cảm mẹ- con, trẻ học thông qua “Học bằng chơi – Chơi mà học”.
- Nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính tự nguyện, Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo.
Nhiệm vụ
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi.
- Tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em theo chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật.
- Chủ động kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ em, kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội nhằm tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em cho gia đình và cộng đồng.
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của trường tham gia các hoạt động trong phạm vi cộng đồng.
- Giúp đỡ các cơ sở giáo dục mầm non khác trong địa bàn.
Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Tóm lại, công tác quản lý trường mầm non là quản lý quá trình chăm sóc giáo dục trẻ, đảm bảo cho quá trình đó vận hành thuận lợi và có hiệu quả. Quá trình chăm sóc giáo dục trẻ gồm các nhân tố tạo thành sau: mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo viên (Lực lượng giáo dục), trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi (Đối tượng giáo dục), kết quả chăm sóc giáo dục trẻ.
1.3.2 Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Bồi dưỡng là quá trình diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân để đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Hay bồi dưỡng là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ.
Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung tri thức và kỹ năng còn thiếu hụt, hoặc đã lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn, dưới một hình thức phù hợp. Bồi dưỡng chuyên môn thể hiện quan điểm giáo dục hiện đại đó là: “Đào tạo liên tục và học tập suốt đời”.
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non là một hoạt động sư phạm, là quá trình cung cấp những tri thức về chuyên môn, về nghiệp vụ quản lý, nhằm vun đắp, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng và kinh nghiêm cho đội ngũ giáo viên trên cơ sở những kiến thức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ họ đã có, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất và tinh thần.
1.3.3 Chương trình, nội dung bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Mỗi GVMN đều có trình độ chuyên môn nhất định bên cạnh đó xu hướng xã hội ngày càng thay đổi theo chiều hướng mới vì thế GVMN cần phải có trình độ chuyên môn vững chắc và sâu rộng để cập nhật những phương pháp giảng dạy mới, kết hợp nhuần nhuyễn các kỹ năng sư phạm để cải tiến phương pháp dạy học hoàn thiện. Chính vì thể bồi dưỡng chuyên môn là rất cần thiết và không thể thiếu của người GVMN trong suốt quá trình công tác.
Theo thông tư số 26/2025/TT-BGDĐT ban hành cách đánh gía chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non theo 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Vì thế nội dung chương trình bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tập trung vào 5 tiêu chuẩn như sau:
- Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất nhà giáo Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị (yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, chấp hành luật pháp nhà nước, quy định của ngành, thực hiện nhiệm vụ chức năng của người GVMN; yêu nghề, thương yêu tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ; có tinh thần trách nhiệm trong công tác, có ý thức tổ chức kỷ luật, có đạo đức, lối sống lành mạnh, có tinh thần hợp tác; có tinh thần tự học, phấn đấu nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ.
- Tiêu chuẩn 2: Phát triển chuyên môn nghiệp vụ
Bồi dưỡng chuyên môn những kiến thức về cơ bản về giáo dục MN, về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi MN; giúp GVMN nắm vững chuyên môn nghiệp vụ sư phạm mầm non; thường xuyên cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, tổ chức hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phát triển toàn diện trẻ em theo Chương trình giáo dục mầm non.
- Bồi dưỡng kiến thức
- Bồi dưỡng các kiến thức cơ sở chuyên ngành; Các kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục MN.
- Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động giáo dục chăm sóc – giáo dục trẻ theo năm học, tháng, tuần
Bồi dưỡng kỹ năng tố chức hoạt động giáo dục trẻ: tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ, môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và có phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ phù hợp.
Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ chức bữa ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ.
- Bồi dưỡng thực hiện chuyên đề
Chuyên đề được hiểu là những vấn đề chuyên môn được đi sâu chỉ đạo trong một thời gian nhất định, nhằm tạo ra sự chuyển biến chất lượng về vấn đề đó, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ. Chính vì vậy, Hiệu trưởng cần có kế hoạch chỉ đạo chuyên sâu từng vấn đề và tập trung vào những vấn đề khó, vấn đề còn hạn chế của nhiều GV hoặc vấn đề mới theo chỉ đạo của ngành, giúp cho giáo viên nắm vững những vấn đề lý luận và có kỹ năng thực hành chuyên đề tốt.
- Tiêu chuẩn 3: Xây dựng môi trường giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; thực hiện quyền dân chủ trong nhà trường.
Bồi dưỡng kỹ năng quản lý lớp học, đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ; sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc – giáo dục; Quản lý và sử dụng hiệu quả hồ sơ cá nhân, nhóm, lớp.
Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thắng thắn.
- Tiêu chuẩn 4: Phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
Lập kế hoạch xây dựng mối quan hệ gần gũi, tôn trọng, hợp tác với cha, mẹ phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chăm sóc – giáo dục trẻ.
Bồi dưỡng nội dung để GVMN có thể chia sẻ, hỗ trợ kiến thức, kỹ năng thực hiện các quy định về quyền trẻ em cho cha, mẹ
Bồi dưỡng cho GVMN tham gia tổ chức, thực hiện việc xây dựng, phát triển mối quan hệ hợp tác với cha, mẹ hoặc người giám hộ trẻ em và cộng đồng để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em.
Bồi dưỡng các kỹ năng gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp, ứng xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác.
- Tiêu chuẩn 5: Sử dụng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin, thể hiện khả năng nghệ thuật trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
Bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy, giúp GVMN có thể tìm ra các phương pháp giảng dạy thu hút trẻ, giúp trẻ có thể tiếp thu nội dung nhanh nhất và thực tiễn nhất, tạo sự hứng thú cho tré
1.3.4 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Tùy theo nội dung và các điều kiện hiện có, các trường MN thường có các hình thức bồi dưỡng sau:
Bồi dưỡng tại chỗ: Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại trường, nơi GV công tác, thông qua sinh hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc cụm trường… Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng GV theo hướng này:
- Tổ chức cho GV dự giờ, thăm lớp lẫn Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
- Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ.
- Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kì, mỗi năm học.
- Các GV trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc theo tổ. GV giỏi giúp GV còn yếu về chuyên môn, GV có kinh nghiệm giảng dạy giúp GV mới ra trường.
- Tổ chức cho GV giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
- Tạo điều kiện cho GV tham dự các hội thảo,
Bồi dưỡng thường xuyên: Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để họ được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ trương, đường lối giáo dục, về nội dung chương trình, phương pháp giáo dục trẻ. Việc bồi dưỡng này rất thiết thực, đòi hỏi mỗi GV phải có ý thức tự bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt chương trình mới.
Bồi dưỡng thay sách: Là hình thức bồi dưỡng được tiến hành khi có những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ. Loại bồi dưỡng này chủ yếu giúp GV có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ năng sư phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới. Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong hè trước khi năm học mới bắt đầu.
Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu: Với các yêu cầu như: Phát huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp nghe giảng, trao đổi, thảo luận; Tăng cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; Chú trọng sử dụng các thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học. Bồi dưỡng là loại hình của hoạt động dạy và học. Yếu tố nội lực trong dạy học là tự học; yếu tố nội lực trong bồi dưỡng là tự bồi dưỡng. Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự định hướng của người hướng dẫn của tổ chức và có sự tác động đúng hướng của quản lý. Bồi dưỡng tập trung chỉ có hiệu quả khi được quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự bồi dưỡng của người học.
1.3.5 Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Phương pháp bồi dưỡng GV là khâu đột phá có tính chất quyết định đến chất lượng và hiệu quả bồi dưỡng. Cần đổi mới cách thức quản lý, chỉ đạo học tập bồi dưỡng theo hướng tích cực tương tác, thiết thực, hiệu quả. Coi trọng tự học, tự bồi dưỡng kết hợp với trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc trên cơ sở mỗi người đều có tài liệu học tập, kết hợp bồi dưỡng về nội dung và phương pháp dạy học sử dụng thiết bị dạy học.
Phương pháp bồi dưỡng cần phù hợp với nội dung, đảm bảo yêu cầu nghiêm túc, hấp dẫn, thiết thực hiệu quả. Ngoài việc tổ chức nghe giảng, cần phát triển các hình thức: thảo luận, đối thoại, thực hành thao giảng, tham quan thực tế, thực hành soạn bài, sử dụng các thiết bị dạy học, thiết kế kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới.
Đổi mới phương thức học tập của các GV trong các chương trình bồi dưỡng theo hướng tập trung vào hoạt động của GV với phương châm lấy tự học, tự bồi dưỡng là chính. Lôi cuốn, hướng dẫn cho GV tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập với sự trợ giúp của tài liệu và phương tiện nghe nhìn, luôn phát hiện, tìm tòi, không cứng nhắc, gò bó, rập khuôn theo những gì đã có trong tài liệu.
Tăng cường tổ chức theo nhóm môn học trong từng tập thể sư phạm, nêu thắc mắc, tự giải đáp ở tổ, nhóm, có chuyên gia giải đáp… Tạo điều kiện cho GV được đóng góp kinh nghiệm bản thân vào xây dựng nội dung chương trình, đối mới phương pháp dạy học- giáo dục.
Do vậy, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên MN cần chú trọng đến:
- Thuyết trình của báo cáo viên;
- Thuyết trình kêt hợp luyện tập, thực hành;
- Nêu vấn đề kết hợp thảo luận theo nhóm;
- Nêu vấn để, giáo viên nghiên cứu tài liệu, trình bày báo cáo;
- Kết hợp thuyết trình với hoạt động trải nghiệm thực tế cho GVMN;
- Phối hợp các phương pháp khác.
1.3.6 Thời gian bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Căn cứ vào kế hoạch hoạt động của năm học hoặc nhu cầu, đặc điểm riêng của mỗi nhà trường mà có thể tổ chức, sắp xếp thời gian bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non theo một trong những thời điểm sau đây:
- Ngay sau khi kết thúc năm học;
- Trước khi vào năm học mới;
- Trong hè;
- Tổ chức thường xuyên trong năm học;
- Tổ chức định kì tập trung theo chuyên đề;
- Do GV tự sắp xếp.
1.4 Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.4.1 Hiệu trưởng trường mầm non
Luật Giáo dục 2012 khoản 1, Điều 54 ghi rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận với nhiệm kỳ 5 năm. (Luật Giáo dục 2012, 2021)
Hiệu trưởng phải có trình độ từ cao đẳng sư phạm trở lên và có thời gian công tác giáo dục mầm non ít nhất là 5 năm, được tín nhiệm về chính trị, đạo đức, chuyên môn, có năng lực tổ chức và quản lý trường học (Luật Giáo dục 2012, 2021). Hiệu trưởng là chủ thể quản lý, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trường. Trong công tác điều hành, hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm chỉ đạo tập trung và thống nhất mọi công việc trong nhà trường nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm học, cũng như kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn đã vạch ra.
1.4.1.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Theo điều 18 của Điều lệ trường mầm non quy định: (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016). Hiệu trưởng trường mầm non là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của trường.
Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học
- Điều hành các hoạt động của trường: thành lập và cử tổ trưởng các tổ khối chuyên môn, tổ hành chính quản trị; thành lập các hội đồng trong trường.
- Phân công, quản lý, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị khen thưởng, kỷ luật và đảm bảo các quyền lợi của giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước;
- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản nhà trường;
- Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường;
- Quản lý trẻ em và các hoạt động của trẻ do trường tổ chức; nhận trẻ do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;
- Theo học các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lý trường và được hưởng các quyền lợi của hiệu trưởng theo quy định;
- Đề xuất với cấp ủy và chính quyền địa phương hoặc lãnh đạo cơ quan, doanh nghiệp chủ quản trường; phối hợp với các lực lượng xã hội trong địa bàn nhằm huy động mọi nguồn lực phục vụ cho việc chăm sóc – giáo dục trẻ của trường.
1.4.1.2 Vai trò của hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người có quyền hạn cao nhất trong trường mầm non và có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường. Bản thân người hiệu trưởng phải có những quyết định phù hợp và đúng quy định của ngảnh, nhà nước. Bên cạnh đó người hiệu trưởng phải luôn nâng cao trình độ nhận thức của giáo viên về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, hỗ trợ phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan đến nhà trường hiểu đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước đối với giáo dục mầm non, hiểu về tình hình thực tế của trường, thu hút sự quan tâm của các ngành, các cấp đối với nhà trường.
1.4.1.3 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giúp cho GVMN có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, bồi dưỡng những nội dung mang tính cấp thiết nhất để trang bị cho GVMN nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Vì vậy, quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN cần tạo điều kiện về không gian, thời gian để GVMN thực hiện bồi dưỡng chuyên môn được thuận lợi và hiệu quả. Bên cạnh đó, quản lý hoạt động chuyên môn đạt hiệu quả sẽ động viên, hỗ trợ và tạo động lực cho GVMN trong việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn.
Trong quá trình quản lý HT sẽ tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình QL từ đó người HT có các biện pháp nhắc nhở, động viên, hỗ trợ, thúc đẩy GVMN khắc phục, giải quyết các tồn tại nhằm hoàn thiện, đồng bộ trong quá trình hoạt động bồi dưỡng góp phần thúc đẩy việc cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng công tác quản lý.
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
Trên cơ sở nghiên cứu của tác giả Trần Thị Tuyết Mai (Trần Thị Tuyết Mai và cộng sự, 2020), chúng tôi xây dựng cơ sở lý luận về các nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non như sau:
1.4.2.1 Quản lý thực hiện mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên
Mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn được xem là kết quả lĩnh hội kiến thức của GV. Những kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV được hoạch định cụ thể trong mục tiêu bồi dưỡng. Mục tiêu là tiền đề cho việc xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng. Do đó, mục tiêu phải mang tính cụ thể hóa, định lượng hóa, tiêu chuẩn hóa và tính dự báo kết quả cao. Mục tiêu càng cụ thể, càng thiết thực, càng phù hợp thì càng có nhiều khả năng biến thành hiện thực và việc xây dựng chương trình bồi dưỡng càng có cơ sở thực hiện.
Để quản lý mục tiêu hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non cần phải thực hiện các nội dung như sau:
- Xác định thực trạng các nguồn lực về CBQL, GVMN; các điều kiện đảm bảo cho thực hiện mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn. Chẳng hạn: cơ sở vật chất, trang thiết bị.
- Xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về bồi dưỡng chuyên môn tại đơn vị.
- Các văn bản chỉ đạo thực hiện bồi dưỡng chuyên môn trong năm học, định mức chỉ tiêu cần đạt được.
- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn theo các giai đoạn: bồi dưỡng cơ bản, bồi dưỡng nâng cao, bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng dài hạn.
- Thành lập ban chỉ đạo thực hiện mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn
- Phân công, phân nhiệm các nguồn lực thực hiện mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn.
- Hiệu trưởng chỉ đạo phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ khối chuyên môn thực hiện mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường và triển khai đến toàn thể GVMN để nắm vững.
- Theo dõi, giám sát tiến trình công việc;
- Đánh giá tính sát thực của mục tiêu ;
- Phát hiện những lệch lạc, sai sót trong quá trình hiện bồi dưỡng chuyên môn GVMN;
- Đề xuất các điều chỉnh cho sát với tình hình thực tế.
1.4.2.2 Quản lý việc phân công giáo viên mầm non tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
Công tác phân công lao động sư phạm hợp lý sẽ giúp cho GVMN phát huy tốt năng lực, sở trường của mình. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục mầm non thì GVMN phải hội tụ đủ các yếu tố, phải có đủ tâm, đủ tầm; phải có ý thức tích cực trau dồi, tích lũy chuyên môn, đọc nhiều, hiểu sâu vấn đề chuyên môn, phải có tấm lòng yêu thương trẻ, biết làm nhiều đồ dùng dạy học,… Bên cạnh đó, đặc thù bên giáo dục mầm non thì GVMN phải trông trẻ từ sáng sớm cho tới chiều, rất khó sắp xếp thời gian hợp lý cho GVMN tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Do đó, để QL tốt việc phân công giáo viên tham gia tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, HT cần đảm bảo thực hiện hiệu quả các nội dung sau:
- Lựa chọn các hình thức phân công.
- Định ra các tiêu chí phân công GV tham gia
- Tuân thủ quy trình phân công với các bước thực hiện như sau:
- Phối hợp với Tổ trưởng tổ khối chuyên môn để lập dự kiến phân công GV tham gia bồi dưỡng chuyên môn.
- Triển khai dự kiến phân công GVMN đến tổ trưởng tổ khối để lấy ý kiến phản hồi từ các tổ trưởng tổ khối và GV
- Điều chỉnh phân công GVMN tham gia bồi dưỡng chuyên môn
- Ra quyết định phân công GVMN tham gia bồi dưỡng chuyên môn
1.4.2.3 Quản lý thực hiện nội dung chương trình hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Hiệu trưởng cần quản lý tốt hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non qua việc thực hiện các nội dung sau:
- Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn GVMN
- Hiệu trưởng phân công, phân nhiệm các bộ phận phụ trách công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN.
- Hiệu trưởng phân công GVMN tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn do Phòng, Sở giáo dục và đào tạo tổ chức.
- Tổ chức thực hiện hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN: mời chuyên gia, GVMN có kinh nghiệm; tổ chức hội nghị để trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
- Tạo điều kiện, động viên khuyến khích GVMN thực hiện tự bồi dưỡng chuyên môn.
- Kiểm tra quá trình GVMN tham gia hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
1.4.2.4 Quản lý thực hiện hình thức, phương pháp hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Đối với việc bồi dưỡng chuyên môn GVMN, có thể vận dụng các hình thức như:
- Căn cứ vào số lượng GVMN tham gia học bồi dưỡng: Bồi dưỡng cá nhân (tự nghiên cứu tài liệu, soạn giáo án, tập dạy,…), bồi dưỡng theo nhóm (Thảo luận một nội dung nào đó, dự giờ,…), tập trung nghe chuyên đề.
- Căn cứ vào địa bàn bồi dưỡng: Bồi dưỡng tại chỗ (Sinh hoạt tổ chuyên môn, chuyên đề cấp tổ khối…)
- Căn cứ vào nội dung bồi dưỡng: Bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng theo chuyên đề.
Việc hiện thực hóa được mục tiêu và nội dung bồi dưỡng có vai trò quan trọng của phương pháp bồi dưỡng. Quản lý phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN là thực hiện quản lý tới các hoạt động qua lại giữa giảng viên và GV nhằm giúp họ nắm vững hệ thống kiến thức, kĩ năng, từ đó góp phần hình thành phẩm chất, năng lực nghề nghiệp đúng đắn. Để thực hiện việc quản lý phương pháp bồi dưỡng các nhà quản lý phải thực hiện các hoạt động sau:
- Xây dựng kế hoạch đổi mới PP bồi dưỡng
- Hướng dẫn việc xác định mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng hướng tới bồi dưỡng chuyên môn cho GV đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN
- Yêu cầu xác định các giải pháp thực hiện mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng: Đánh giá thực trạng sử dụng PP bồi dưỡng hiện thời, định hướng cho giảng viên về sử dụng các PP bồi dưỡng
- Xác định các nguồn lực cho thực hiện mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch đổi mới PP bồi dưỡng nhằm đạt được mục tiêu bồi dưỡng đã xác định.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đổi mới PP bồi dưỡng: Các cấp quản lý căn cứ vào mục tiêu đổi mới PP bồi dưỡng để kiểm tra, đánh giá. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
1.4.2.5 Quản lý hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn về công tác bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Quá trình quản lý hoạt động dạy học của HT luôn gắn chặt với việc chỉ đạo hoạt động của TCM. TCM là nơi tổ chức các hoạt động chuyên môn, trong đó có hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non. Vì vậy, để nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non, HT cần quản lý tốt hoạt động sinh hoạt TCM về công tác bồi dưỡng chuyên môn thông qua việc thực hiện các nội dung sau:
- Hiệu trưởng chỉ đạo các TCM xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn về bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
- TTCM lập kế hoạch sinh hoạt chuyên môn về bồi dưỡng chuyên môn theo hướng dẫn của Sở, Phòng, Trường
- Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng dự giờ các buổi sinh hoạt TCM về bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
- Hiệu trưởng khen thưởng các TCM có nội dung sinh hoạt về bồi dưỡng chuyên môn phong phú, hiệu quả.
1.4.2.6 Quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non
Cơ sở vật chất – thiết bị dạy học của trung tâm được xem như là phương tiện lao động sư phạm trong một nhà trường. Nó bao gồm: lớp học, các thiết bị dạy học và các thiết bị phục vụ cho các hoạt động sư phạm khác của trường. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy học, bồi dưỡng.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phải phù hợp với mục tiêu bồi dưỡng, phù hợp với nội dung, phương pháp bồi dưỡng. Do vậy cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháp bồi dưỡng thì cũng cần bố trí đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Do đó, hiệu trưởng cần:
Chuẩn bị trụ sở nơi bồi dưỡng (phòng học, phòng hoặc bãi tập, máy móc và thiết bị dạy học, điện nước, tổ chức nơi ở, chỗ ăn, phương tiện giao thông, …).
Chuẩn bị nguồn kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng (tiền soạn thảo chương trình, giáo trình, tiền phụ cấp giảng cho giảng viên, tiền văn phòng phẩm, tiền thuê các thiết bị, …) và các khoản chi phí khác để phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng.
- Xây dựng kế hoạch quản lý điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
- Tổ chức thực hiện quản lý chặt chẽ việc sử dụng, bảo quản các trang thiết bị nhằm tận dụng tối đa hiệu quả của chúng và giảm thiểu các chi phí trong quá trình tổ chức hoạt động bồi dưỡng.
- Tổ chức họp rút kinh nghiệm trong công tác quản lý điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
- Chỉ đạo phó hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất báo cáo tình hình trang thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn để kịp thời sửa chữa, thay thế.
- Kiểm tra việc thực hiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
1.5.1 Yếu tố khách quan
- Các văn bản, kế hoạch về chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn (của Bộ GDĐT, Sở GDĐT, Phòng GDĐT).
- Sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo
- Điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị trường học phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
- Kinh phí phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
1.5.2 Yếu tố chủ quan
- Nhận thức của Hiệu trưởng về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN.
- Nhận thức của giáo viên mầm non về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
- Năng lực quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
- Tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn của giáo viên đối với hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã giải quyết các vấn đề cơ bản của cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, đồng thời khẳng định tính đúng đắn về hướng nghiên cứu của đề tài. Các vấn đề được giải quyết trong chương, bao gồm:
Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề nước ngoài và trong nước thì trong nước, chúng tôi nhận thấy trước năm 1975 chưa có nhiều công trình nghiên cứu công tác bồi dưỡng chuyên môn GVMN, sau năm 1975 đã được các nhà khoa học trong nước nghiên cứu và học viên cao học đề cập tới nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên mầm non tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã hệ thống hóa một số khái niệm liên quan đến đề tài trong đó đã làm rõ các khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, khái niệm bồi dưỡng, khái niệm chuyên môn, bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non, xác định nội hàm của quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lí công tác bồi dưỡng chuyên môn thì Hiệu trưởng ở các trường mầm non tại thị xã Tân Uyên phải nắm vững các nhiệm vụ, mục tiêu, chức năng quản lí nhà trường. Đồng thời nắm vững nội dung quản lý như quản lý mục tiêu; quản lý nội dung chương trình hoạt động; quản lý hình thức, phương pháp; quản lý tổ chuyên môn bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN; quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng chuyên môn GVMN; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên mầm non… Từ đó phân tích và chỉ rõ những yêu cầu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non trước yêu cầu đổi mới giáo dục.
Những căn cứ lý luận nêu trên là cơ sở để tác giả khảo sát thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn giáo viên MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

