Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lí tổ chức dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về vị trí địa lí, dân số, tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội – giáo dục của thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.1 Một số đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã Tân Uyên

2.1.1.1 Về địa lý, dân số:

Thị xã Tân Uyên là một đô thị trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh.Thực hiện Nghị quyết 136/NQ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về chia tách địa giới hành chính của huyện Tân Uyên thành thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên và thị xã Tân Uyên chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2022. Thị xã Tân Uyên có diện tích 19.175,72 ha và 190.564 nhân khẩu (2021), nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Dương, với 12 xã – phường, bao gồm 06 phường: Uyên Hưng, Tân Phước Khánh, Thái Hòa, Thạnh Phước, Tân Hiệp, Khánh Bình và 06 xã: Hội Nghĩa, Vĩnh Tân, Phú Chánh, Tân Vĩnh Hiệp, Thạnh Hội, Bạch Đằng. Thị xã Tân Uyên nối liền với các huyện, thị, thành phố đang phát triển của tỉnh Bình Dương như Thuận An, Dĩ An, thành phố Thủ Dầu Một, Bắc Tân Uyên, Phú Giáo; tiếp giáp với huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai. Tài nguyên thiên nhiên không phong phú, đa dạng, nhưng với vị trí, địa lý đặc biệt, thị xã Tân Uyên trở thành địa bàn quan trọng của Tỉnh cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa, xã hội.

2.1.1.2 Về Kinh tế:

TX.Tân Uyên tập trung phát triển các ngành dich vụ chất lượng cao, có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị tăng cao gắn với phát triển công nghiệp đô thị theo hướng văn minh, hiện đại. Các mô hình nông nghiệp mới mang lại hiệu quả kinh tế khá, tạo thu nhập ổn định cho nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người đạt 49,4 triệu đồng/năm (2024). TX.Tân Uyên có 2 Khu công nghiệp và 3 cụm công nghiệp, tình hình hoạt động và triển khai của các dự án trong khu, cụm công nghiệp được duy trì ổn định. TX.Tân Uyên cũng thực hiện thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Trong năm 2024, đầu tư trong nước có 85 doanh nghiệp được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tổng số vốn đăng ký là 1.068 tỷ đồng.Về đầu tư nước ngoài, TX.Tân Uyên có thêm 99 doanh nghiệp đầu tư mới, tổng số vốn 606 triệu USD. Bên cạnh phát triển đô thị, TX. Tân Uyên tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, 6/6 xã tiếp tục giữ vững và nâng chất lượng các tiêu chí đạt được. Thủ tướng Chính phủ đã công nhận TX.Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2024.

2.1.1.3 Về văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Thị xã Tân Uyên có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với vùng đất miền Đông Nam bộ. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, bao thế hệ người Việt Nam trên mọi miền đất nước đã về đây khai hoang, lập ấp, dựng làng, mở mang đất đai để sinh sống và sản xuất; nhiều phong tục, tập quán đã được du nhập tạo nên nền văn hóa đa dạng.12/12 xã, phường đều đạt chuẩn phổ cập giáo dục các cấp. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tăng cường, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được thực hiện đạt kế hoạch đề ra.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thị xã Tân Uyên luôn bị tác động, tàn phá bởi các trận chiến diễn ra liên tục trong suốt 30 năm, là căn cứ quan trọng của miền Đông Nam bộ – Chiến khu Đ anh hùng. Những năm sau ngày giải phóng, kinh tế của Tân Uyên chủ yếu là thuần nông, lạc hậu. Tuy nhiên, với tinh thần vượt khó khăn, dám nghĩ, dám làm, cùng với quá trình đổi mới, thị xã Tân Uyên từng bước chuyển đổi nền kinh tế theo hướng công nghiệp – thương mại, dịch vụ – nông nghiệp và trở thành địa bàn quan trọng của tỉnh Bình Dương. Những năm gần đây, thị xã Tân Uyên có tốc độ tăng trưởng cao, thu hút nhiều dự án đầu tư trong nước và ngoài nước vào các khu, cụm công nghiệp; giá trị sản xuất công nghiệp và thu ngân sách đạt cao, ANQP ổn định.

Cùng hướng tới mục tiêu xây dựng thị xã Tân Uyên trở thành thị xã văn minh hiện đại và là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương vào năm 2028. Thị ủy, UBND thị xã đã đề nghị Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các công trình cơ bản, quy hoạch các khu chức năng để phát triển kinh tế của thị xã Tân Uyên.

  • Nhận xét chung:

Thị xã tân Uyên có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, kinh tế, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương… Đây là những yếu tố thuận lợi trong việc phát triển giáo dục của địa phương.

2.1.2 Khái quát về tình hình giáo dục của thị xã Tân Uyên

Giáo dục đào tạo Thị xã Tân Uyên tương đối ổn định, phát triển khá toàn diện với tốc độ nhanh. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng được các cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền quan tâm đầu tư về chủ trương, chính sách, CSVC và đội ngũ cán bộ giáo viên…công tác khuyến học được phát triển rất mạnh mẽ từ các gia đình đến các xã, thị trấn… Các chỉ số phát triển giáo dục về mạng lưới, quy mô, CSVC, đội ngũ nhà giáo, CBQL, chất lượng và hiệu quả giáo dục năm sau cao hơn năm trước.

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.3.1 Mạng lưới trường lớp Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Toàn thị xã có 16 trường Tiểu học với 485 lớp, 18538 học sinh. Trong đó có 06 trường (Uyên Hưng B, Tân Vĩnh Hiệp A, Thạnh Hội, Tân Hiệp, Bạch Đằng, Phú Chánh) tổ chức dạy 2 buổi/ngày và tổ chức học bán trú cho 140 lớp, 5321 học sinh. So năm trước, bậc học tăng 1 trường (TH Uyên Hưng B), tăng 46 lớp và 1281 học sinh; trong đó bán trú tăng 1 trường (TH Uyên Hưng B), số lớp học 2 buổi và bán trú tăng 27 lớp và 874 học sinh. Trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1có 9/16 tỷ lệ: 56,25%. Kiểm định chất lượng giáo dục có 02/16 trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3 (TH Tân Vĩnh Hiệp A, TH Bạch Đằng), tỷ lệ:12,5%.

Quy mô số lớp của các trường không đồng đều thường dao động từ 14 đến 44 lớp, nghĩa là có trường đạt chuẩn về số lớp, số HS/lớp…thuận lợi trong công tác quản lý. Tuy nhiên, có trường do HS tăng lên cơ học số lớp nhiều và sỉ số HS đông nên khó khăn cho công tác quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng.

2.1.3.2 Học sinh

Tính đến năm học 2024-2025, toàn thị xã có 18538 học sinh. Chất lượng đào tạo ổn định so năm học trước:

Số học sinh được lên lớp thẳng đạt 97,82% (18133/18538), còn lại 405 học sinh lưu ban (2,18%). So năm trước, tỷ lệ học sinh lên lớp tăng 0,02%.

Số học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành cấp Tiểu học đạt 100% (3109/ 3109).

2.1.3.3 Đội ngũ giáo viên

Toàn cấp học có 878 người (653 nữ), trong đó giáo viên dạy lớp 730 người. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn trở lên đạt 100%, trong đó đạt trình độ Trung cấp 151/730 (20,68%), Cao đẳng 245/730 (33,56%), Đại học 334/730 (45,75%). So với năm trước GV bậc học tăng 84 người.

Riêng đội ngũ GV dạy tiếng Anh tiểu học gồm 46 người (40 nữ), trong đó GV là tổ trưởng chuyên môn tiếng Anh gồm 10 người.

2.1.3.4 Đội ngũ cán bộ quản lý các trường thị xã Tân Uyên.

Theo số liệu điều tra của phòng giáo dục và đào tạo thị xã Tân Uyên như sau:

  • Bảng 2.1. Đội ngũ CBQL các trường tiểu học thị xã Tân Uyên năm học 2024 -2025

Biểu đồ 2.1. Đội ngũ CBQL các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương Từ Bảng 2.1. và biểu đồ 2.1 trên cho thấy toàn cấp học hiện có 40 CBQL( trong đó hiệu trưởng 16, phó hiệu trưởng 24 người ). Tất cả CBQL đều là đảng viên, được bồi dưỡng quản lý nhà nước. Về trình độ 100% CBQL đạt trình độ đại học, tin học A trở lên, ngoại ngữ chứng chỉ A trở lên.

2.1.3.5 Về cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy học:

Do số trẻ, số học sinh tăng cơ học nhanh, mặc dù Phòng giáo dục đào tạo thị xã tích cực tham mưu cấp trên để xây dựng mới phòng học bổ sung nhưng vẫn không đáp ứng kịp như cầu nên 5/9 trường tiểu học đã đạt chuẩn (Uyên Hưng, Thái Hòa A, Thạnh Phước, Tân Phước Khánh A, Vĩnh Tân) đều thiếu phòng học, phải xóa lớp học 2 buổi/ngày ảnh hưởng đến công tác kiểm tra xây dựng trường chuẩn. Còn 03 trường Tiểu học còn phải quản lý điểm trường phụ nên các trường này gặp khó khăn trong việc đầu tư xây dựng, bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

2.2.1 Mục đích nghiên cứu

  • Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.2 Nội dung nghiên cứu

  • Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Thực trạng quản lý quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.2.3.1 Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Khảo sát với 40 đối tượng là HT, Phó HT, TTCM của 16 trường TH thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Bảng 2.2. Cơ cấu đội ngũ CBQL theo chức vụ

Khảo sát với đối tượng là GVTA gồm 46 người trực tiếp giảng dạy. Cụ thể như sau:

Bảng 2.3. Giới tính, độ tuổi của GVTA

  • Thiết kế bảng hỏi

Để tìm hiểu thực trạng QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường TH thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi dựa trên cơ sở lý luận về hoạt động dạy học đã được xây dựng ở chương I.

  • Bảng hỏi dành cho CBQL (phụ lục 1) bao gồm 02 phần: Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Phần 1. Thực trạng quản lí hoạt động dạy môn tiếng Anh tiểu học (gồm 08 nội dung liên quan đến Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Anh văn.; Quản lí việc thực hiện hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV.; Quản lí việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của GV; Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV; Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS; Quản lý hoạt động tổ nhóm chuyên môn; Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh;Quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh).

Phần 2. Thực trạng quản lí hoạt động học môn tiếng Anh tiểu học (gồm 02 nội dung liên quan đến Quản lí hoạt động học trên lớp và Quản lí hoạt động tự học của HS.

  • Bảng hỏi dành cho GVTA (phụ lục 2) bao gồm 2 phần:

Phần I. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên gồm 03 câu hỏi câu hỏi liên quan về tầm quan trọng của hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tiểu học; Những khó khăn trong hoạt động dạy học Tiếng Anh tại các trường tiểu học thị xã Tân Uyên; Kết quả thực hiện nội dung hoạt động dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.

Phần II. Thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học gồm 02 câu hỏi về các hoạt động quản lí dạy học và môn Tiếng Anh tiểu học ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên liên quan về Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Anh văn.; Quản lí việc thực hiện hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV; Quản lí việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của GV; Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV; Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS; Quản lý hoạt động tổ nhóm chuyên môn; Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh; Quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh.

Bảng hỏi dành cho HS (phụ lục 1.3 Thực trạng Hoạt động học môn tiếng Anh của HS) bao gồm 02 câu hỏi liên quan đến việc học trên lớp mức độ thực hiện các hoạt động tự học của học sinh.

2.2.3.2 Đối với phương pháp phỏng vấn

  • Mẫu khảo sát

Thực hiện phỏng vấn trên nhóm đối tượng GVTA và CBQL. Mẫu khảo sát gồm 4 CBQL và 8 GVTA đã được chọn nghiên cứu.

  • Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn

Chúng tôi xây dựng bảng hỏi gồm:

Đối với GVTA có 4 câu hỏi với các nội dung là:

Việc thực hiện dạy học tiếng Anh theo phân phối chương trình ở trường có phù hợp chưa. Vì sao? Số tiết dạy/ tuần có vượt quá mức quy định hiện nay; Có thường xuyên phản ảnh những khó khăn trong hoạt động dạy học với CBQL ở trường không.Vì sao?; Có sinh hoạt với tổ chuyên môn tiếng Anh riêng hay sinh hoạt ghép với tổ chuyên khác (phụ lục 2.1).

Đối với CBQL có 2 câu hỏi với các nội dung là: Mức độ nắm bắt chương trình giảng dạy; có tham dự tập huấn về các chuyên đề liên quan dạy học môn tiếng Anh (phụ lục 2.2).

2.2.4 Thông tin khảo sát Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

2.2.4.1 Thông tin đặc điểm đội ngũ cán bộ quản lý

Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả thống kê độ tuổi, thâm niên đội ngũ CBQLGD trường TH Thị xã Tân Uyên (tính đến 11/2025) như sau:

Bảng 2.4. Bảng thống kê độ tuổi, thâm niên đội ngũ CBQLGD trường TH Thị xã Tân Uyên (tính đến 11/2025)

Số liệu từ bảng thống kê cho thấy, đội ngũ CBQL bậc TH thị xã Tân Uyên gồm 40 người.

  • Về độ tuổi:

Đội ngũ CBQLGD các trường TH thị xã Tân Uyên từ 50 đến dưới 60 tuổi chiếm tỉ lệ cao (67.5%). Đây cũng là thuận lợi trong kinh nghiệm quản lý nhưng sức bật, sự năng động, sáng tạo trong quản lý còn nhiều hạn chế. Còn một vài cán bộ quản lý các trường chưa thật chủ động trong công tác nên đôi khi những chủ trương, chỉ đạo của ngành thực hiện đạt hiệu quả chưa cao.

  • Về thâm niên công tác:

Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy thâm niên công tác của CBQL các trường TH không đồng đều, cụ thể:

Có những CBQL có thâm niên công tác trên 20 nhưng chỉ giữ cương vị Phó HT. Nguyên nhân bởi năng lực công tác chưa thật sự nổi trội, chưa có tính đột phá: Có những HT ở một đơn vị quá lâu, CBQLGD có thâm niên cao nhất là 28 năm, thấp nhất là 2 năm.

2.2.4.2 Đội ngũ giáo viên dạy Tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên

Qua khảo sát Trình độ, năng lực ngoại ngữ theo chuẩn quy định của GV dạy tiếng Anh các trường TH được quy định trong Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016-2028” theo Quyết định số 1400/QĐ- TTg ngày 30/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ và đề án dạy học ngoại ngữ của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2020-2025, Phòng GD &ĐT thị xã Tân Uyên đã tiến hành theo kế hoạch bồi dưỡng năng lực giảng dạy cho GV tiếng Anh và đã đạt được một số kết quả như sau:

Bảng 2.5. Bảng thống kê Trình độ, năng lực ngoại ngữ theo chuẩn quy định của GV dạy tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên (Tính đến 1/2025) Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Từ bảng thống kê 2.5 cho thấy năng lực ngoại ngữ của GV dạy tiếng Anh các trường TH thị xã Tân Uyên (được quy định trong đề án ngoại ngữ quốc gia “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016-2028” của Tỉnh Bình Dương) chưa đảm bảo. GV đạt chuẩn theo đề án (Năng lực ngoại ngữ B2) đến 09/2024 là 14/46 (30.43%); GV chưa đạt chuẩn 32/46 chiếm tỉ lệ 69.6% (trong đó số GV đã tham gia khảo sát FCE nhưng chưa đạt 13/46 chiếm 28.26%; GV chưa tham gia kiểm tra năng lực 13). Như vậy, chúng ta thấy tỷ lệ GV chưa đạt chuẩn theo đề án là khá cao; GV vừa dạy,vừa tham gia bồi dưỡng là 13 GV chiếm 28,26%, số GV không được tham gia bồi dưỡng là 5/46 chiếm tỉ lệ 10.87 % nên trong thời gian tới phòng GD tiếp tục tạo điều kiện để GV chưa đạt chuẩn tiếp tục bồi dưỡng để thi lại đợt sau. Tạo điều kiện cho các GV đã đạt chuẩn tham gia các lớp học và các đợt tập huấn do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức.

Như vậy, cần có cơ chế tuyển dụng đạt chuẩn và qua kiểm tra thực tế đối với GV tiếng Anh ngay đầu vào, phải có sự cam kết về chất lượng đào tạo đối với số GV TA tham gia bồi dưỡng từ nguồn kinh phí nhà nước để tránh tình trạng lãng phí kinh phí.

2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên

2.3.1 Thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của giáo viên

2.3.1.1 Thực trạng việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy

Sau khi khảo sát ý kiến của GVTA về việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.6. Bảng kết quả về việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của GVTA

Từ kết quả bảng khảo sát trên cho thấy việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy của GVTA ở các nội dung 1.1; 1.2; 1.3; 1.4; 1.5 đạt ở mức độ khá tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có MinĐLC =0.853 cho thấy có sự tập trung trong các ý kiến của GV. Tuy nhiên, kết quả trên cũng phản ánh được thực trạng vẫn còn một bộ phận không ít GVTA còn gặp khó khăn trong việc nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý HS tiểu học, thời lượng dạy trên lớp chưa phù hợp… đây là những vấn đề mà nhà QL cần quan tâm trong việc bố trí số tiết dạy cho hợp lý hơn, trang bị các đầu sách nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí HS tiểu học… giúp GVTA trang bị kiến thức trong hoạt động dạy học môn tiếng Anh đối với lứa tuổi này.

2.3.1.2 Thực trạng việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học

Từ khảo việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GVTA chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2.7. Bảng kết quả về việc việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GVTA

Số liệu từ bảng khảo sát trên cho thấy việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GVTA ở các nội dung 1.1;2.2;2.3;2.4 đạt ở mức độ tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có MinĐLC =0.4 cho thấy có phân tán các ý kiến của GV ở hai nội dung 2.2 và 2.4. Qua trao đổi trực tiếp với CBQL thì chúng tôi được biết còn một số GV sử dụng CNTT rất tốt nhưng chưa biết cách kết hợp hài hòa giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học đa phần tập trung ở GVTA trẻ có ít kinh nghiệm và một số GVTA quen với phương pháp truyền thống còn sử dụng tiếng Việt nhiều trong các tiết dạy.

2.3.1.3 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học của GVTA Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Khảo sát ý kiến của GVTA về thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học, chúng tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.8. Bảng kết quả công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học của GVTA

Số liệu từ bảng khảo sát cho thấy thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học của GVTA ở các nội dung 3.1; 3.2; 3.3;3.4;3.4;3.5 đạt mức khá tốt. Tuy nhiên, so sánh với số liệu khảo sát ở Bảng 2.1. và Bảng 2.5 về trình độ, năng lực của GVTA trong thị xã là không đồng đều. Điều này sẽ dẫn đến việc ra đề thi cuối học kỳ ở mỗi trường sẽ không đồng đều vế chuẩn kiến thức, kỹ năng do năng lực GVTA ở mỗi trường khác nhau. Đây là thực trạng mà CBQL cần quan tâm.

2.3.1.4 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS

Sau khi khảo sát ý kiến của GVTA về CSVC và trang thiết bị dạy học , chúng tôi thu được kết quả:

  • Bảng 2.10. Bảng kết quả về việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tâp của HS

Số liệu từ bảng trên cho thấy các nội dung 4.1;4.2;4.3 đạt mức độ khá tốt. MinĐLC=1.051 cho thấy có sự tập trung ý kiến của GVTA cao.

2.3.1.5. Thực trạng những khó khăn chính của GV trong hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học

Biểu đồ 2.2. Đánh giá của GV về những khó khăn trong hoạt động dạy học môn tiếng Anh TH

Từ biểu đồ 22 trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề đối với nhóm những lí do khách quan: khó khăn nhất của GVTA đó là PHHS chưa quan tâm, hỗ trợ đến việc học của con em họ. chiếm tỷ lệ 69,6%, “Kinh phí chi cho các hoạt động bồi dưỡng HS năng khiếu môn tiếng Anh tham gia các hội thi còn hạn chế.” là khó khăn xếp thứ 2 của GVTA với tỷ lệ 67.4%, khó khăn tiếp theo là “Chưa tạo được môi trường cho HS được thực hành các kỹ năng nghe, nói tiếng Anh nhiều” gây cho GVTA gặp khó khăn trong công tác giảng dạy với tỷ lệ 63%. “Hình thức, nội dung kiểm tra đánh giá chưa phù hợp.” là khó khăn mà GVTA chiếm tỷ lệ 60.9%. “Chưa được tiếp cận các phương pháp dạy tiếng Anh tiểu học khi được đào tạo ở trường cao đẳng, đại học..” là vấn đề khó khăn của GVTA gặp phải, chiếm tỉ lệ 58%, hai nội dung “Số tiết dạy của GV nhiều so với quy định (23 tiết/tuần)” và “CSVC, thiết bị dạy học chưa đủ để phục vụ dạy theo yêu cầu nội dung chương trình SGK ” là những khó khăn tiếp theo đều chiếm tỉ lệ 52%, “Cán bộ quản lý chưa quan tâm đến bộ môn tiếng Anh.”là khó khăn khách quan sau cùng nhưng chiếm tỷ lệ không cao 34.8% và không có GVTA nào trình bày thêm khó khăn khác.

Đối với nhóm những lí do khách quan: Khó khăn nhất của GVTA đó là “Chưa đánh giá việc tự học tiếng Anh ở nhà của HS”, chiếm tỉ lệ 47.8%, “Năng lực ra đề kiểm tra, đề thi theo chuẩn KTKN của thông tư mới”và “Chưa nắm bắt nhiều về đặc điểm tâm lý của HS bậc tiểu học.”chiếm tỉ lệ không đáng kể, tỉ lệ lần lượt là 37% và 26.1%.

Với số liệu phân tích ở trên, để tháo gỡ những khó khăn cho GVTA, HT cần tham mưu các cấp QL trong việc hỗ trợ kinh phí trong việc bồi dưỡng HS tham gia các hội thi phong trào tiếng Anh cấp TH, HT xem xét về sự phối hợp môi trường dạy học giữa nhà trường và gia đình, HT cần xem xét sự nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn có theo hướng đổi mới sinh hoạt theo chuyên đề để GVTA chia sẽ, trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn, tâm lý HS cấp TH…nhằm cải thiện chất lượng dạy học môn tiếng Anh.

2.3.2 Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Anh cuả HS Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

2.3.2.1. Thực trạng việc học tập trên lớp của HS

  • Biểu đồ 2.3. Đánh giá kết quả các kỹ năng học môn tiếng Anh HS đạt được

Qua kết quả khảo sát ở các kỹ năng, ta thấy các em tốt ở kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng viết nhưng không mạnh về các kỹ năng nghe, nói. Do đó, việc phát triển các kỹ năng học tiếng Anh của HS TH đặc biệt là kỹ năng nghe và nói phải hết sức được chú trọng vì cấp TH là cấp học bắt chước và tiếp thu ngôn ngữ rất nhanh. Đây là lứa tuổi hình thành và phát triển ngôn ngữ nên chúng ta phải có những phương pháp, hoạt động nhằm phát triển các kỹ năng quan trọng này của HS.

2.3.2.2 Thực trạng hoạt động tự học của HS

Qua khảo sát chúng tôi thu được kết quả mức độ thực hiện các nội dung thể hiện ý thức tự học tiếng Anh của một số HS ở các trường TH ở thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  • Biểu đồ 2.4. Biểu đồ đánh giá mức độ việc thực hiện các nội dung tự học tiếng Anh của học sinh.

Qua kết quả khảo sát trên có thể thấy rõ ràng là các em HS chưa có ý thức cao trong việc tự học. Điều này phản ảnh các em chưa được hướng dẫn hay tư vấn, định hướng trong quá trình học ngoại ngữ của mình tốt, cụ thể ở đây là học tiếng Anh. Các em chưa nhận thấy được hữu ích của môn học để từ đó có kế hoạch và sự đầu tư thoả đáng để đạt kết quả cao. Bên cạnh đó, các em HS chưa có thời gian biểu cụ thể cho việc tự học tiếng Anh cũng như chưa được hướng dẫn sử dụng nhiều phương tiện hiện đại để hỗ trợ việc học tiếng Anh. Đây là một thực tế không mấy tích cực và cần được chú ý khắc phục, chấn chỉnh trong thời gian tới trong các nhà trường TH thị xã Tân Uyên và các GV giảng dạy bộ môn này.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

2.4.1 Quản lý hoạt động dạy của GVTA

2.4.1.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của GV Anh Văn.

Để đánh giá mức độ kết quả thực hiện đạt được của GVTA hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường TH, chúng tôi đã tiến hành khảo sát CBQL và kết quả như sau:

  • Bảng 2.13. Ý kiến của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của GVTA

Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (1.1), (1.2) với kết quả của 2 nội dung đều khá tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có MinĐLC =0.516 cho thấy có sự tập trung trong ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Qua đó thấy rằng GVTA rất quan quan tâm đến việc việc xây dựng kế hoạch cá nhân, kế hoạch giảng dạy …

Tất cả các trường TH thuộc Thị xã Tân Uyên đều chỉ đạo cán bộ, giáo viên lập kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy năm. Thông qua 86 phiếu hỏi ý kiến của CBQL, tổ trưởng chuyên môn và giáo viên của các trường nghiên cứu khảo sát thực trạng cho thấy việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Tiếng Anh nghiêm túc, chất lượng xây dựng kế hoạch cũng như chất lượng văn bản kế hoạch. Vì vậy, CBQL ở các trường TH thị xã Tân Uyên nên duy trì và phát huy hơn nữa công tác quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Anh văn trong thời gian tới.

2.4.1.2 Quản lí việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV

Để đánh giá kết quả đạt được của GVTA trong việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy chúng tôi tiến hành thống kê phân phối chương trình tiết dạy tiếng Anh Đại trà và tăng cường ở các trường TH thị xã Tân Uyên, sau đó khảo sát ý kiến cùa CBQL về việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GVTA. Kết quả thu được như sau: Đối với Tiếng Anh Đại trà

Bảng 2.14. Bảng thống kê phân phối chương trình tiết dạy tiếng Anh Đại trà các trường TH thị xã Tân Uyên.

  • Đối với Tiếng Anh tăng cường:

Bảng 2.15. Bảng thống kê phân phối chương trình tiết dạy tiếng Anh tăng cường các trường TH thị xã Tân Uyên.

  • Theo kết quả thống kê từ các bảng 2,7.2.8 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Ở mỗi trường có sự chênh lệch về số tiết dạy ở các khối lớp/tuần ở cả các lớp dạy tiếng Anh đại trà và tăng cường.

Qua khảo sát ý kiến CBQL về việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GVTA chúng tôi thu được kết quả:

Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL về kết quả đạt được về việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GVTA

Qua bảng bảng phân tích số liệu 2.16 trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (2.1), (2.2) là tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 0.427 cho thấy có sự tập trung trong ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Qua đó thấy rằng GVTA chấp hành tốt việc giảng dạy theo thời khóa biểu, lịch báo giảng, giảng dạy theo đúng chương trình quy định…

Qua so sánh kết quả giữa 2 bảng thống kê 2.7,2.8 và 2.9 cho thấy GVTA chấp hành tốt số tiết dạy theo kế hoạch và phân phối chương trình giảng dạy ở mỗi trường. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về số tiết dạy/tuần ở các trường tiểu học trong thị xã.

Từ đó chúng tôi tiến hành phỏng vấn GVTA và CBQL để biết được vì sao lại có sự phân bổ số tiết dạy khác nhau và để biết có sự ảnh hưởng gì nếu có sự chênh lệch về số tiết dạy thì 4 GVTA cho biết rằng: “Không dám đề xuất ý kiến vì trường phân công như thế nào thì thực hiện như thế ấy; Do dạy lượng kiến thức trong một bài nhiều và số lượng học sinh đông nên cả thầy lẫn trò đều mệt mỏi, thực sự việc dạy- học chưa có hiệu quả.”. Nhưng dưới góc độ nhà QL, khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn thì CBQL 1, CBQL 2, CBQL 3 đã đánh giá mức độ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của GVTA như sau: “Không nghe GV tiếng Anh phản ảnh khó khăn trong việc dạy theo phân phối chương trình nên cứ chỉ đạo thực hiện theo phân phối chương trình như trước đây vẫn thực hiện; Trường không có đủ GV Anh văn nên phải giảm số tiết tối thiểu theo quy định; chưa nắm bắt kịp thời chương trình đổi mới, nên chưa lên kế hoạch hợp đồng giáo viên dạy tiếng Anh vì vậy GV phụ trách dạy môn Tiếng Anh ở trường phải đảm nhận nhiều số tiết: Không tham gia những lớp tập huấn phổ biến về chuyên môn tiếng Anh tiểu học

Như vậy, bên cạnh những việc đã làm được, công tác quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy của giáo viên vẫn còn những tồn tại, như sau:

  • Ở mỗi trường có sự chênh lệch về số tiết dạy ở các khối lớp/tuần do điều kiện về đội ngũ GV dạy tiếng Anh còn thiếu, do đó chất lượng giáo dục giữa các trường có sự chênh lệch.
  • Một số trường CBQL chưa nắm bắt kịp thời chương trình đổi mới, nên chưa lên kế hoạch hợp đồng giáo viên dạy tiếng Anh vì vậy GV phụ trách dạy môn Tiếng Anh ở trường phải đảm nhận nhiều số tiết, dạy dồn ép chương trình dẫn đến chất lượng tiết học chưa đạt hiệu quả.
  • Công tác phối hợp giữa TCM với Phó hiệu trưởng, hiệu trưởng ở một số trường chưa tốt.

2.4.1.3 Quản lí việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của GV Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Qua khảo sát ý kiến của CBQL về việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của GVTA kết qủa thu được như sau:

  • Bảng 2.17. Ý kiến của CBQL về kết quả quản lí việc chuẩn bị bài trước khi lên lớp của GV.

Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (3.1), (3.2), (3.3) đều đạt khá. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 0.506 cho thấy có tập trung trong ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Qua đây cho thấy thực trạng việc soạn bài lên lớp của giáo viên ở các trường đã thực hiện khá nghiêm túc: Soạn bài đầy đủ trước một tuần khi lên lớp, các bài soạn đều theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và phù hợp yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa. Các bài soạn có đủ các bước lên lớp, thể hiện được các hoạt của thầy và trò, phù hợp với nội dung bài học và khả năng tư duy của học sinh. Các bài soạn của giáo viên đều bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng qui định của chương trình, không tự ý cắt xén nội dung bài dạy, tăng cường sử dụng thiết bị, phát huy trí thông minh sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, việc soạn bài lên lớp của giáo viên còn một số hạn chế nhất định: Hệ thống câu hỏi chưa lô gíc, chưa thật sự sát đối tượng học sinh, chưa thể hiện đổi mới phương pháp giảng dạy; một số giáo án soạn quá sơ sài chưa thể hiện hình thức tổ chức hoạt động, chưa phát huy được tính sáng tạo, sự vận dụng thực tế các kiến thức được học, chưa có nội dung củng cố từng phần, chốt vấn đề làm nổi bật trọng tâm của bài giảng…chưa có phương án hướng dẫn học sinh tự đọc, tự học, tự tìm hiểu chủ động tiếp thu kiến thức.

Bên cạnh đó, khâu đánh giá chất lượng giáo án chưa được thực hiện nghiêm túc, phần lớn tổ trưởng chuyên môn, CBQL khi kiểm tra đều không có đánh giá xếp loại về chất lượng giáo án và lời nhận xét để giáo viên phát huy hoặc điều chỉnh về hình thức hoặc nội dung .

Năng lực chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn còn hạn chế hoặc tổ trưởng chuyên môn không phải là GV Anh văn nên việc đánh giá hình thức, nội dung, chất lượng soạn giảng của GV Tiếng Anh chưa cao. Trong thời gian tời CBQL cần quản lý tốt hơn các nội dung này.

2.4.1.4 Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV.

Theo quy định thì các nhà trường cần sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp nhằm hình thành và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh thông qua 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng 2 kĩ năng nghe và nói. Tạo cho học sinh có kiến thức cơ bản và tối thiểu về ngôn ngữ tiếng Anh bao gồm từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, và thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các nước nói tiếng Anh.

Ngoài ra phương pháp dạy học cần xây dựng thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh, từ đó tăng thêm sự hiểu biết và tình cảm trân trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc mình. Hình thành các chiến lược học tiếng Anh một cách có hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngữ khác trong tương lai. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Để đảm bảo được các mục tiêu trên nhà trường cần tổ chức, tạo điều kiện để GVBM tiếng Anh có thể sử dụng các công cụ khác nhau, bài giảng hay sinh động để thực hiện công tác dạy học trên lớp nhằm truyền đạt một cách tốt nhất đến học sinh như tạo môi trường giao tiếp đa dạng, phong phú với các hoạt động tương tác như trò chơi, bài hát, đóng vai, kể chuyện, câu đố, vẽ tranh… và sử dụng các hình thức hoạt động cá nhân, theo cặp và theo nhóm qua đó học sinh sẽ được tham gia hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và có ý thức dưới sự hướng dẫn của GVBM.

Để quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV hầu hết CBQL nhà trường lập kế hoạch dự giờ thường xuyên, đột xuất và tổ chức dự giờ định kỳ, đột xuất kiểm tra chuyên môn để đánh giá trực tiếp chất lượng dạy và học của GV và HS. Qua đây, CBQL cũng đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng PPDH tích cực cùng với việc ứng dụng CNTT vào dạy học của GV.

Để đánh giá việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GVTA, chúng tôi thu thập ý kiến CBQL về nội dung này. Kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.18. Ý kiến của CBQL về kết quả QL việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV.

Kết quả khảo sát bảng 2.18 cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (4.1), (4.2), (4.3 đạt kết quả khá. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 0.632 cho thấy có sự tập trung ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này.

Qua đây cho thấy thực trạng việc soạn bài lên lớp của giáo viên ở các trường đã thực hiện khá nghiêm túc: Soạn bài đầy đủ trước một tuần khi lên lớp, các bài soạn đều theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và phù quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV có những ưu điểm và hạn chế như sau:

  • Ưu điểm:

Hầu hết các hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo phó hiệu trưởng chuyên môn, tổ trưởng bộ môn Anh văn lập kế hoạch và tổ chức dự giờ định kỳ, đột xuất đạt tỉ lệ ở tất cả các trường, CBQL đều rất quan tâm và thực hiện việc sử dụng phương pháp tích cực cùng với việc ứng dụng CNTT vào dạy học của GV, thông qua công tác dự giờ, sổ theo dõi số lượt sử dụng phương tiện dạy học của tổ trưởng, cán bộ thiết bị để từ đó có nhân rộng điển hình hoặc có chỉ đạo điều chỉnh thích hợp.

  • Hạn chế

Tuy nhiên kết quả thực hiện còn nhiều hạn chế:

Một số trường vẫn chưa chỉ đạo lập kế hoạch cũng như tổ chức kiểm tra việc dự giờ thường xuyên, đột xuất theo để theo dõi tình hình dạy học của GV và HS. Nguyên nhân do CBQL chưa thật sự quan tâm đến bộ môn Tiếng Anh tại đơn vị hoặc CBQL chưa nắm bắt về các phương pháp đặc trưng giảng dạy môn tiếng Anh nên việc dự giờ để tư vấn, thúc đẩy còn nặng về hình thức chưa xoáy sâu về chuyên môn do đó Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Do quan niệm và cách hiểu chưa đầy đủ ở một bộ phận giáo viên nên việc áp dụng CNTT chạy theo hình thức dẫn đến lạm dụng trình chiếu, chưa kết hợp hài hòa giữa các phương pháp tích cực vớí CNTT dẫn đến hiệu quả giờ học chưa cao.

Việc đánh giá các hình thức dạy học tích cực như các trò chơi trong quá trình dạy hay để học sinh là trung tâm trong buổi học hay sử Tiếng Anh dụng hầu hết thời lượng tiết học chưa được thực hiện tốt đồng bộ tại các trường.

2.4.1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS

Qua khảo sát ý kiến của CBQL về hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS của GVTA kết qủa thu được như sau:

  • Bảng 2.19. Ý kiến của CBQL về kết quả quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS

Theo kết quả bảng 2.19. đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (5.1), (5.2) đạt kết quả tốt (TTB lần lượt là 4.05 và 3.85). Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 0.54 cho thấy có tập trung trong ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này.

Hiệu trưởng cùng với ban giám hiệu các trường thông qua tổ trưởng chuyên môn thống nhất tới giáo viên bộ môn các quy định về nội dung, hình thức, quy trình đánh giá, quy trình biên soạn đề thi theo Thông tư số 22/2024/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điềucủa quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 30/2022/TT-BGDĐTngày 28 tháng 8 năm 2022 của Bộ giáo dục & đào tạo. Quy định cho giáo viên đánh giá thường xuyên bằng nhận xét vào vở, sách bài tập hoặc dùng lời nói. Đánh giá định kỳ được quy định vào cuối học kỳ 1 và cuối năm bằng điểm số kết hợp nhận xét. Các bài thi được ra đề theo hai phương pháp là tự luận và trắc nghiệm, theo hướng kiểm tra những kiến thức có trong bài và một phần mở rộng để kiểm tra kiến thức của các em học sinh. Cách ra đề kiểm tra hướng người học phải hiểu bài, biết vận dụng kiến thức, hạn chế ghi nhớ máy móc, loại bỏ hiện tượng quay cóp, gian lận khi học sinh làm bài kiểm tra, nội dung tập trung vào các kỹ năng Nghe – Đọc hiểu và Viết. Việc đánh giá thường xuyên của giáo viên có tác dụng thiết thực giúp đỡ học sinh học tập, có tác dụng giáo dục. Hiệu trưởng các trường đều coi việc đánh giá chất lượng học sinh là một biện pháp giáo dục quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Các bài thi sẽ được chấm bài đúng quy chế, minh bạch bằng hình thức cho đáp án trước. Thông qua các bài kiểm tra có thể đánh giá chất lượng dạy – học môn học. Từ đó, học sinh và cả giáo viên nhận biết được năng lực của bản thân, qua đó phấn đấu để có được những kết quả dạy – học tốt hơn.

Về quản lý việc đánh giá, rút kinh nghiệm về đề thi cuối học kỳ, cuối năm: Phần lớn các trường có chỉ đạo thực hiện đánh giá đánh giá, rút kinh nghiệm để có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình HS. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay hầu hết các trường chỉ tập trung đánh giá đề thi môn Tiếng Anh cuối năm theo yêu cầu của Sở Giáo dục đào tạo mà chưa tự đánh đề thi cuối học kỳ một tại đơn vị. Do đó, GV chưa đánh giá được những ưu điểm cũng như hạn chế để có những điều chỉnh phù hợp với tình hình HS ở trường. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Việc thực hiện quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS ở các trường TH Thị xã Tân Uyên có những ưu điểm, hạn chế sau:

  • Ưu điểm:

Việc thực hiện đánh giá thường xuyên, ra đề thi cuối học kỳ một và cuối năm đa số giáo viên thực hiện nghiêm túc, đúng quy định.

Việc tổ chức coi chấm bài đã ngày càng đi vào nền nếp, đảm bảo công bằng, khách quan và kỷ cương trường học.

  • Hạn chế:

Hình thức, nội dung đề kiểm tra đã tuy có nhiều thay đổi tích cực theo yêu cầu đổi mới việc đánh giá. Tuy nhiên, đề thi vẫn chưa đánh giá toàn diện các kỹ năng của HS, đặc biệt là kỹ năng nói. Phần lớn GV dạy Tiếng Anh tại các trường TH trong Thị xã Tân Uyên (60.9%) cho rằng hình thức, nội dung kiểm tra đánh giá chất lượng hiện nay là chưa phù hợp.

Theo kết quả điều tra có đến 37% trong tổng số GV còn lúng túng trong việc nắm bắt, vận dụng quy trình và kỹ thuật biên soạn đề kiểm tra, đề thi do việc thay đổi về cách đánh giá theo thông tư mới (30/2022/TT-BGDĐT và tiếp đến là thông tư 22/2024/TT-BDGĐT sửa đổi đánh giá HS tiểu học)

Đề thi cuối năm các trường ra chỉ mang tính chất tham khảo do đó GV ở nhiều trường chưa đầu tư về hình thức lẫn nội dung. Đề thi do Sở Giáo dục đào tạo quyết định nên còn mang tính chủ quan, kiến thức chưa thật phù hợp với đối tượng HS ở các địa phương trong cả Tỉnh.

  • Chưa có ngân hàng đề thi, kiểm tra dẫn đến tính minh bạch thấp.
  • Ở một số trường biên chế học sinh lớp học đông nên khó đảm bảo tính nghiêm túc trong khi làm bài.

2.4.1.6 Quản lý hoạt động tổ nhóm chuyên môn

Theo quy định, tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất 2 kỳ/ tháng trong đó sinh hoạt nhóm chuyên môn được quan tâm đặc biệt: Ngoài việc kiểm điểm việc thực hiện quy chế chuyên môn, giáo viên bộ môn trong nhóm trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy, thống nhất nội dung và phương pháp dạy các tiết trong tuần, xác định trọng tâm bài dạy, tổ chức rút kinh nghiệm các tiết thao giảng… Đặc biệt là tổ chuyên môn phải lập kế hoạch và thực hiện các chuyên đề trong suốt năm học để tháo gỡ, thống nhất các vấn đề mới, các vấn đề khó thường gặp trong quá trình giảng dạy các bộ môn. Thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, Hiệu trưởng quản lý thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, công tác soạn giảng, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá cho điểm học sinh, thao giảng xếp loại tay nghề GV.

Qua khảo sát ý kiến của CBQL về hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục của HS của GVTA kết qủa thu được như sau: Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

  • Bảng 2.20. Ý kiến của CBQL về quản lý hoạt động tổ, nhóm chuyên môn

Theo kết quả bảng 2.20. đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (6.1), (6.2 và (6.3) đạt kết quả khá. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 1.083 cho CBQL có sự tập trung ý kiến ở nội dung khảo sát này.

Tất cả các trường CBQL đều thực hiện chỉ đạo tổ trưởng lập kế hoạch sinh hoạt tổ định kỳ, tham dự sinh hoạt cùng tổ chuyên môn (đột xuất). Ở một số trường TH thuộc thị xã Tân Uyên, nền nếp hoạt động tổ chuyên môn Anh văn được duy trì khá tốt, thực sự có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học.

CBQL các trường đều có chỉ đạo việc đánh giá hoạt động sinh hoạt tổ CM cuối học kỳ, cuối năm nhằm đúc kết kinh nghiệm chuyên môn để khắc phục những điểm hạn chế nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ.

  • Mặc dù vậy, hoạt động tổ chuyên môn ở một số trường vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, đó là:

Một số trường chưa thành lập tổ chuyên môn Tiếng Anh riêng, các GV dạy Tiếng Anh được bố trí sinh hoạt ghép với các tổ chủ nhiệm hoặc với các tổ bộ môn khác nên hiệu quả việc dự giờ, đúc kết kinh nghiệm hoặc thực hiện chuyên đề chưa đem lại hiệu quả thiết thực cho GV dạy Tiếng Anh.

Nội dung các buổi sinh hoạt chuyên môn còn nặng về các vấn đề hành chính chưa tập trung vào các vấn đề chuyên môn như thực hiện các chuyên đề để chia sẻ, học tập các kinh nghiệm giảng dạy, phương pháp mới, nguồn học liệu hay việc ứng dụng CNTT vào dạy học như thế nào cho hiệu quả…

Thời gian sinh hoạt tổ đặc biệt là nhóm chuyên môn còn eo hẹp vì một số trường phải học 2 ca hoặc trùng với nhiều hoạt động khác trong nhà trường.

Năng lực của một số tổ trưởng, tổ phó còn hạn chế chưa phát huy hết vai trò tác dụng trong công tác.

Công tác quản lý HĐDH của hiệu trưởng chưa tạo điều kiện, chưa động viên được tổ chuyên môn thực hiện hết chức năng nhiệm vụ đặc biệt là việc giúp hiệu trưởng quản lý nâng cao chất lượng dạy học.

Thực tế cho thấy, ở đơn vị nào cơ cấu được tổ chuyên môn tiếng Anh riêng, có đội ngũ tổ trưởng chuyên môn tiếng Anh có năng lực, có tâm huyết với nghề, duy trì nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, thường xuyên tổ chức chuyên đề thì ở đó có chất lượng dạy học, có đội ngũ giáo viên dạy giỏi, HSG tương xứng. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

  • Biểu đồ 2.5 . So sánh chất lượng, thành tích chuyên môn của Gv các trường tiểu học thị xã Tân Uyên trong 03 năm học từ 2022-2023, 2023-2024 và -2024-2025 
  • Biểu đồ 2.6. So sánh chất lượng, thành tích phong trào của HS các trường tiểu học thị xã Tân Uyên trong 03 năm học từ 2022-2023, 2023-2024 và -2024-2025

2.4.1.7 Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh

Các nhà trường TH trong Thị xã cũng chú trọng công tác bồi dưỡng giáo viên, coi đó là động lực để nâng cao chất lượng dạy học. Vào trước mỗi năm học, các trường đều lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên gồm bồi dưỡng thường xuyên (theo chu kỳ, nâng chuẩn…), bồi dưỡng tại chỗ (thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chức các chuyên đề, hội thảo…), hoạt động nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm…Đồng thời, khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về giảng dạy.

  • Kết quả thực hiện như sau:

Biểu đồ 2.7. Trình độ, năng lực ngoại ngữ của GV Tiếng Anh các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên các năm từ 2022 -2025

  • Theo biểu đồ trên cho thấy :

Các nhà trường quan tâm tạo điều kiện việc cho GV tham gia học tập bồi dưỡng nâng chuẩn cho giáo viên, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn tăng dần qua các năm.

Việc triển khai các nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên, tổ chức thảo luận khá thường xuyên tích cực đã giải quyết kịp thời các khó khăn trong giảng dạy ở mỗi đơn vị.

Phong trào viết và phổ biến các kinh nghiệm sáng kiến, báo cáo chuyên đề của giáo viên được thực hiện rất nền nếp.Theo quy định của các nhà trường, mỗi giáo viên có một sáng kiến kinh nghiệm trong năm học, các trường đánh giá xếp loại nghiêm túc. Các kinh nghiệm có giá trị được báo cáo trước toàn tổ và được gửi lên cấp trên để xếp loại.

Đa số giáo viên nhất là GV trẻ có ý thức học hỏi đồng nghiệp qua dự giờ thăm lớp. Đồng thời cũng rất tích cực tự đọc, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm thông tin qua mạng Internet để phục vụ cho chuyên môn của mình. Đây chính là hoạt động bồi dưỡng quan trọng nhất để nâng cao trình độ, năng lực GV. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Việc thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề của tổ cũng giúp Gv đặc biệt là GV trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm được học tập và nâng cao chuyên môn.

Việc bồi dưỡng giáo viên đặc biệt là giáo viên trẻ trở thành giáo viên dạy giỏi cấp Thị và cấp tỉnh được các nhà trường rất quan tâm vì đó là tiêu chí để đánh giá thi đua các nhà trường. Các giáo viên đăng ký dự thi giáo dạy giỏi cấp Thị xã được tổ chuyên môn tập trung góp ý xây dựng bài, được tạo điều kiện tối đa về các TBDH…Kết quả cho thấy trường nào tổ chuyên môn tập trung hỗ trợ giáo viên dự thi trong quá trình chuẩn bị thì trường đó có kết quả tốt. Kiểm tra giám sát việc thực hiện việc tự bồi dưỡng của GV.

  • Tuy vậy, công tác bồi dưỡng phát triển đội ngũ vẫn còn những hạn chế, đó là:

Ở một số trường, lực lượng giáo viên dạy Tiếng Anh trẻ, ít kinh nghiệm nên thiếu những giáo viên vững vàng về chuyên môn, là hạt nhân của phong trào dẫn đến chưa tạo ra môi trường thuận lợi để giáo viên giao lưu trao đổi chuyên môn.

Các chuyên đề được tổ chức ở cấp trường chất lượng chưa cao, do khả năng của giáo viên có hạn, do các trường chưa động viên xứng đáng, chưa huy động sức mạnh tập thể cùng tham gia.

Một bộ phận giáo viên trong đó có cả giáo viên trẻ có tâm lý ỷ lại, không có ý thức phấn đấu tự học tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề.

2.4.1.8 Quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh

  • Bảng 2.21. Ý kiến của CBQL về CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh.

Theo kết quả bảng 2.21. đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (8.1), (8.2 và (8.3) đạt kết quả khá tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có ĐLC nhỏ nhất là 0.797 cho thấy ý kiến đánh giá của CBQL có sự tập trung ở nội dung khảo sát này.

Hầu hết các trường TH trong thị xã trước khi bắt đầu năm học mới, hiệu trưởng các trường TH đều có sự rà soát lại các điều kiện CSVC, trang TBDH của trường để có kế hoạch mua sắm, sửa chữa đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập nói chung và bộ môn Tiếng Anh nói riêng. Để đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên, các trường thường để giáo viên tự kê khai những TBDH thiếu hoặc bị hỏng ở môn mình dạy, những sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cần thiết cho từng giáo viên, từng môn. Căn cứ vào đó, nhà trường lập kế hoạch mua sắm, sửa chữa và dự trù kinh phí cần thiết. Các trường đã sử dụng tối đa nguồn ngân sách cho phép để mua sắm, sửa chữa TBDH, tài liệu tham khảo, CSVC. Vì nguồn kinh phí Nhà nước cấp rất eo hẹp, nên hầu hết các nhà trường đã huy động sự ủng hộ từ chính quyền địa phương, từ các nhà hảo tâm, các tổ chức, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn và từ phụ huynh học sinh để có thể đáp ứng được nhu cầu trước mắt là đảm bảo điều kiện dạy học và lâu dài là xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

  • Ưu điểm :

Với cách làm này, việc xây thêm các phòng học và các phòng bộ môn cũng tăng dần theo từng năm học, hệ thống các phòng học cấp 4 đã dần dần được xoá bỏ để thay thế vào đó các phòng học kiên cố . Hầu hết các nhà trường còn phát động giáo viên tự làm thêm đồ dùng dạy học và duy trì việc tổ chức thi đồ dùng dạy học tự làm ở cấp trường hàng năm theo chỉ đạo của Phòng GD&ĐT.

Các phòng học, phòng thực hành bộ môn của nhà trường đã được khai thác, sử dụng thường xuyên.

  • Hạn chế:

Các trường chưa có đủ cán bộ chuyên trách công tác thư viện, thiết bị nên phải phân công giáo viên làm công tác kiêm nhiệm hoặc có cán bộ chuyên trách nhưng nghiệp vụ còn hạn chế nên việc sắp xếp, bảo quản, hướng dẫn, tạo điều kiện cho giáo viên sử dụng còn chưa tốt.

Công tác quản lý giám sát việc thực hiện của giáo viên chưa sâu sát nên vẫn còn hiện tượng “dạy chay” khi có đủ điều kiện thực hành.

Ở một số trường, công tác tham mưu với chính quyền địa phương và huy động các nguồn lực của xã hội còn chưa tốt nên CSVC chậm được đầu tư nâng cấp.

2.4.2 Quản lý hoạt động học môn Tiếng Anh của HS

2.4.2.1 Quản lí hoạt động học trên lớp

Để đánh giá mức độ kết quả thực hiện của GVTA trong quản lý hoạt động học môn tiếng Anh của HS ở các trường TH, chúng tôi đã tiến hành khảo sát CBQL và kết quả như sau:

  • Bảng 2.11. Bảng kết quả đánh giá công tác QL hoạt động học trên lớp của HS

Kết quả từ bảng 2.11. cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (1.1), (1.2), (1.3) với kết quả của 3 nội dung đạt mức độ khá trở lên, Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có MinĐLC =0.516 cho thấy có sự tập trung trong các ý kiến.

Qua các nội dung trên cho thấy CBQL đã thực hiện khá tốt các nội dung quản lý hoạt động học tập trên lớp và cấn phát huy hơn nữa trong thời gian tới.

2.4.2.2 Quản lý hoạt động tự học của

  • Bảng 2.12. Bảng kết quả đánh giá công tác QL hoạt động học tự học của HS

Kết quả từ bảng 2.12. cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá kết quả thực hiện của nội dung (2.1), (2.2), (2.3) với kết quả của 3 nội dung đạt mức độ khá tốt. Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có MinĐLC =0.518 cho thấy có sự tập trung trong các ý kiến. MinĐLC =0.543.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý HĐDH ở các trường TH Thị xã Tân Uyên.

2.5.1 Những mặt mạnh. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

Đội ngũ CBQL các trường TH thị xã Tân Uyên đã thực hiện tốt các nội dung Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của GV Anh Văn và Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Anh văn thực hiện tốt ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Kế hoạch dạy học được xây dựng ngay từ đầu năm học và được thảo luận dân chủ trong hội đồng trường, giáo viên được phân công giảng dạy phù hợp, đúng khả năng. Hiệu trưởng các trường chỉ đạo tổ chuyên môn, các cán bộ giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể sát với tình hình thực tế và kiểm tra, tư vấn, điều chỉnh việc thực hiện trong từng học kỳ và cả năm học.

Việc tổ chức cho GV học tập nâng cao trình độ chính trị, trình độ nghiệp vụ sư phạm, đổi mới phương pháp giảng dạy và triển khai các phương pháp quản lý học sinh học tập trên lớp và tự học được đẩy mạnh qua từng năm học.

Tổ chức nghiêm túc các kỳ kiểm tra để đánh giá sát, đúng các đối tượng học sinh, phân tích xử lý các số liệu để kịp thời điều chỉnh HĐDH .

Các nhà trường cũng đã tập trung trang bị khai thác và sử dụng có hiệu quả phòng học bộ môn, các phương tiện CNTT cũng như các trang TBDH khác trong nhà trường. Hàng năm các trường đã chủ động lập và thực hiện kế hoạch về việc sử dụng tài chính, tăng cường huy động các nguồn lực để mua sắm, sửa chữa, bổ sung CSVC, TBDH của nhà trường đáp ứng yêu cầu HĐDH.

2.5.2 Những hạn chế.

2.5.2.1 Đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.

  • Đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh trình độ, năng lực chưa đồng đều.
  • Việc kết hợp phương pháp và phương tiện dạy học ở một số GVTA chưa tạo hiệu quả tốt trong việc dạy học theo hướng đổi mới. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.
  • GVTA chưa có môi trường thuận lợi để giao lưu học tập kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ.

2.5.2.2 Về công tác quản lý đội ngũ giáo viên dạy tiếng Anh các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.

Chưa có sự đồng bộ về tổ chuyên môn tiếng Anh. Một số trường không có tổ chuyên môn tiếng Anh riêng phải sinh hoạt cùng các tổ chuyên môn khác gây ảnh hưởng đến chuyên môn GVTA.

Chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn ở một số trường chưa cao. Nhiều tổ chuyên môn chưa thực hiện hết vai trò, chức năng trong hoạt động, chưa chủ động trong các hoạt động chuyên môn của tổ mà chủ yếu thực hiện các công việc hành chính.

Việc nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm đã được phát động nhưng kết quả còn thấp, giáo viên ít đầu tư nghiên cứu nên chưa có những đề tài có giá trị.

Từ những bất cập trên gây ảnh hưởng đến kết quả giáo dục, thành tích phong trào của HS.

2.5.2.3 Về kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học

Việc kiểm tra, đánh giá ở các trường chưa đồng đều do năng lực GV chưa đồng đều. Việc ra đề thi giữa kỳ, cuối kỳ do TCM ở mỗi trường thực hiện nên chưa có sự thống nhât chung về kiến thức, kỹ năng khi kiểm tra, đánh giá giữa các trường TH ở thị xã Tân Uyên.

Kết quả học tập tiếng Anh của HS chưa phản ảnh đúng năng lực thực tế.

Tiểu kết chương 2

Trên cơ sở khái quát về tình hình kinh tế – xã hội, GD-ĐT của thị xã Tân Uyên, luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh và thực trạng QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ rõ, trong thời gian qua, HT các trường tiểu học thị xã Tân Uyên đã sử dụng các biện pháp QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, của nhà trường, nhìn chung đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và mức độ tác dụng của các biện pháp còn ở mức độ thấp hơn so với mức độ nhận thức, việc sử dụng các biện pháp QL chưa đồng bộ nên hiệu quả QL còn chưa cao.

Nghiên cứu lý luận QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường tiểu học và kết quả điều tra, phân tích thực trạng là cơ sở gợi mở cho việc đề xuất, hoàn thiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên trong chương 3 của đề tài này. Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537