Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế- xã hội và giáo dục huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Huyện Phú Giáo nằm phía đông bắc của tỉnh Bình Dương, phía đông giáp huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Phía tây giáp huyện Bàu Bàng, phía nam giáp huyện Bắc Tân Uyên, phía Bắc giáp huyện Đồng Phú (tỉnh Bình Phước). Huyện Phú Giáo có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Phước Vĩnh (huyện lỵ) và 10 xã: An Bình, An Linh, An Long, An Thái, Phước Hòa, Phước Sang, Tam Lập, Tân Hiệp, Tân Long, Vĩnh Hòa. Dưới thời Pháp thuộc, huyện Phú Giáo ngày nay là một phần quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Năm 1959, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh Phước Thành từ phần đất của quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, và một phần  các tỉnh Bình Dương, Phước Long, Long Khánh. Tỉnh lỵ tỉnh Phước Thành đặt tại Phước Vĩnh. Lúc này Phú Giáo trở thành một quận của tỉnh Phước Thành, quận lỵ đặt tại Bố Lá (nay thuộc xã Phước Hòa). Năm 1965, tỉnh Phước Thành bị giải thể, quận Phú Giáo được sáp nhập vào tỉnh Bình Dương. Tháng 2 năm 1976, 3 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long hợp nhất thành tỉnh Sông Bé, huyện Phú Giáo thuộc tỉnh Sông Bé. Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Phú Giáo hợp nhất với huyện Đồng Xoài thành huyện Đồng Phú. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bình Dương được tái lập từ tỉnh Sông Bé. Đồng thời, thị trấn Phước Vĩnh và 5 xã: An Bình, An Linh, Phước Sang, Tân Hiệp, Vĩnh Hòa được chuyển từ huyện Đồng Phú về huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Phú Giáo được tái lập từ huyện Tân Uyên, gồm 8 xã: Vĩnh Hòa, An Bình, An Linh, Tân Hiệp, Phước Sang, Phước Hòa, An Long, Tân Long và thị trấn Phước Vĩnh.

Những ngày đầu tái lập huyện, Đảng bộ và nhân dân huyện Phú Giáo đối mặt với bộn bề khó khăn, thử thách: Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp, cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội lạc hậu, tổng thu mới ngân sách chỉ đạt 29 tỷ 026 triệu đồng/năm, thu nhập bình quân đầu người thấp, chỉ đạt 3,7 triệu đồng/năm. Năm 2000, trong cơ cấu kinh tế của huyện, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp chiếm 72,5%.Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân thiếu thốn, hộ nghèo chiếm tỉ lệ khá cao (8,58%)…Trong những năm qua, phát huy truyền thống anh dũng vùng đất Phước Thành xưa, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Phú Giáo đã chung sức, chung lòng nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách, phấn đấu xây dựng Phú Giáo từng bước phát triển và đạt được những thành tựu hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, đưa kinh tế huyện phát triển đúng hướng. Đến nay, cơ cấu kinh tế của huyện là: Nông nghiệp chiếm 39,7% (giảm 32,8% so với năm 1999), công nghiệp – tiểu thù công nghiệp chiếm 31,9%(tăng 17,2% so với năm 1999), thương mại – dịch vụ chiếm 28,4%(tăng 15,6% so với năm 1999). Hàng năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 12% trở lên. Lĩnh vực nông nghiệp của huyện tiếp tục phát triển toàn diện theo hướng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, hiện có 103 trang trại sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đến cuối năm 2025, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp đạt 3.991 tỷ đồng (tăng 24,69 lần so với năm 2000). Cơ cấu sản xuất giữa trồng trọt và chăn nuôi là 69,4% và 30,6% , trong đó, tổng diện tích cây lâu năm đạt 38.740,73 ha, tổng đàn heo là 215.639 con, đàn gia cầm đạt 1.336.040 con. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Hiện nay, 10/10 xã của huyện đã hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển ổn định. Năm 2000 huyện chỉ có 13 doanh nghiệp đến cuối 2025, huyện đã quy hoạch 5 cụm công nghiệp với tích 298,15 ha, đã có 1 cụm đi vào hoạt động và 1 khu công nghiệp diện tích 500 ha đang trong giai đoạn xúc tiến đầu tư. Toàn huyện có 516 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Thương mại – dịch vụ có bước phát triển đáng kể, năm 2000 huyện có 647 cơ sở kinh doanh, dịch vụ, đến cuối năm 2025, tổng số công ty, doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể là 4.815 cơ sở. Tổng thu mới ngân sách Nhà nước hàng năm tăng bình quân 23%, năm 2025 đạt 253,8 tỷ đồng, tổng chi ngân sách Nhà nước tăng bình quân là 23% và luôn đảm bảo ưu tiên chi cho đầu tư phát triển. Đến cuối 2025, tỷ lệ hộ sử dụng diện đạt 99,98%, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 100%.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của huyện đã được đầu tư đồng bộ và từng bước hoàn thiện. Thời kỳ đầu tái lập huyện, hệ thống quy mô giao thông có kết cấu kỹ thuật thấp, lạc hậu, nhỏ bé. Đến nay, mạng lưới giao thông được mở rộng, nâng cấp. 100% các tuyến đường từ trung tâm huyện đến 11 xã, thị trấn và kết nối với các huyện, thị, thành phố trong và ngoài tỉnh được nhựa hoá bảo đảm lưu thông thuận tiện.

Lĩnh vực văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Quy mô trường, lớp tiếp tục được cũng cố, phát triển ở tất cả các cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Huyện hiện có 36/37 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 97,3%.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Khái quát về đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 78 CBQL và GV (13 CBQL và 65 GV) đang công tác tại 4 trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Khái quát về đối tượng khảo sát

Về giới tính, do đặc trưng của hội đồng sư phạm của các trường học ở nước ta là nam CB-GV ít hơn nữ CB-GV nên đối tượng nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CB-GV. Cụ thể, nữ chiếm 60.3% và nam 39.7%.

Về thâm niên công tác, CB-GV có kinh nghiệm công tác dưới 5 năm là 20 (chiếm 25.6%), từ 5 đến 10 năm là 24 người (chiếm 30.8%). Có 15 CB-GV có kinh nghiệm từ 10 đến 15 năm, chiếm 19.2%. Kinh nghiệm giảng dạy từ 15 đến 20 năm có 19 người chiếm 24.4%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tác chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học.

Về trình độ chuyên môn, CB-GV có trình độ cử nhân chiếm 73 (93.6%), có 5 CB-GV có trình độ thạc sĩ (chiếm 6.4%) và không có CB-GV nào có trình độ Tiến sĩ.

Như vậy có thể thấy tỉ lệ mẫu được lựa chọn nghiên cứu đảm bảo tính khách quan cũng như các nguyên tắc chọn mẫu, đảm bao độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu.

2.2.2. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu như: điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ đạo, phân tích hồ sơ, tài liệu, phỏng vấn là các phương pháp bổ trợ.

2.2.2.1. Về phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Thiết kế bảng hỏi dành cho nhóm đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên đang công tác tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương với mục đích khảo sát ý kiến đánh giá về thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT. Nội dung bảng hỏi bao gồm:

Phần A: Câu hỏi về thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tại các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ở các mặt: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; Năng lực dạy học; Năng lực giáo dục; Năng lực hoạt động chính trị, xã hội; Năng lực phát triển nghề nghiệp căn cứ vào những tiêu chí đánh giá theo Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên THPT.

Phần B: Câu hỏi về thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo về các mặt: Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên; Sử dụng giáo viên; Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; Kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên; Tạo động lực làm việc cho giáo viên.

Phần C: Câu hỏi về những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.2.2.2. Về phương pháp khảo sát bằng phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn một số CBQL, GV theo bảng phỏng vấn với câu hỏi đã chuẩn bị sẵn theo mục đích nghiên cứu. Có thể sử dụng thêm những câu hỏi phát sinh tùy theo vấn đề nảy sinh trong nội dung trả lời của khách thể.

2.2.3. Phương pháp xử lí số liệu khảo sát

Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS 20.0 để xử lý các dữ kiện thu được phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu. Thống kê mô tả: tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm…

Với bảng hỏi dành cho GV, CBQL, cách thức chấm điểm được quy định như sau: Dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 4 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) /n = (5-1)/5 = 0,8. Tất cả các câu hỏi ở phần nội dung đều thuộc dạng câu hỏi đánh giá trên 5 mức độ được gợi ý sẵn. Câu trả lời thấp nhất được cho 1 và cao nhất được 5 điểm. Trên cơ sở này, điểm trung bình được quy ra thành các mức độ thể hiện ở bảng 2.1 như sau:

  • Bảng 2.2. Cách quy điểm từng câu trong bảng hỏi chính thức

2.3. Thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

2.3.1. Thực trạng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống

  • Bảng 2.3. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo

Nghề giáo là một nghề đặc biệt của xã hội. Giáo viên muốn thực hiện tốt công việc của mình không chỉ phải sử dụng những công cụ, phương tiện thông thường mà sử dụng toàn bộ nhân cách của mình để giáo dục nhân cách cho HS. Chỉ khi có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống văn minh, lành mạnh giáo viên mới có đủ uy tín trước học sinh và phụ huynh học sinh. Do đó, yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống chính là yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất mà giáo viên cần phải đáp ứng để có thể tham gia vào hoạt động dạy học và giáo dục HS. Theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT, để đáp ứng yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, GV phải đạt được 12 tiêu chí cụ thể, trong đó có thể phân loại thành 5 nhóm tiêu chí bao gồm: Phẩm chất chính trị; Đạo đức nghề nghiệp; Ứng xử với học sinh; Ứng xử với đồng nghiệp và Lối sống, tác phong .

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 5 nhóm tiêu chí nghiên cứu, cả 5 nhóm đều được các GV, CBQL đánh giá đạt ở mức độ Tốt, là mức độ cao nhất với mức ĐTB từ 4,41 đến 4,56 . Kết quả này chứng tỏ các GV, CBQL tham gia khảo sát đánh giá rất cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của giáo viên. Xếp ở 3 vị trí đầu tiên với mức ĐTB cao nhất lần lượt là: Phẩm chất chính trị được thể hiện qua việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị – xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân (ĐTB = 4,56); Ứng xử với học sinh (Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với HS, giúp HS khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt) (ĐTB = 4,47); Lối sống, tác phong (Có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu mực, làm việc khoa học) (ĐTB = 4,44). Có thể nhận thấy, cả 3 nội dung này có ĐTB khá gần nhau và thể hiện cả 3 mặt trong phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của giáo viên: đối với xã hội, đối với HS và đối với chính bản thân mình. Đối với xã hội, đa số các giáo viên đã thực hiện tốt các yêu cầu của một công dân, đối với học sinh thì thương yêu, tôn trọng, đối với chính bản thân mình thì luôn có lối sống lành mạnh, văn minh, làm việc khoa học, mẫu mực. Kết quả phỏng vấn GV N.T.T.G (Trường THPT Phước Vĩnh), cũng cho biết: “Chất lượng đội ngũ GV của trường mình hiện nay đạt mức độ Khá, đặc biệt là về phẩm chất chính trị, đa số các thầy cô đều là những giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống tác phong chuẩn mực”. Thầy N.V.H (Trường THPT Phước Hòa) cũng cho biết thêm: “Đa số các thầy cô trường tôi đều là những người yêu nghề và tuân thủ đúng những yêu cầu về phẩm chất, đạo đức nghề giáo”.

Mặc dù các yếu tố này có ĐTB khá cao nhưng vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định giáo viên được đánh giá mới chỉ đạt ở mức độ trung bình (từ 6,4% đến 10,3%). Tỉ lệ này không phải quá cao nhưng cũng cần phải xem xét để nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ giáo viên THPT. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Thực trạng năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục Bảng 4. Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục của đội ngũ giáo viên trường THPT huyện Phú Giáo.

Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục giúp giáo viên cập nhật kịp thời tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương cũng như sự thay đổi trong nhu cầu, đặc điểm của học sinh, từ đó ứng dụng vào thiết kế các hoạt động giáo dục mang tính thực tiễn và thu hút được sự chú ý của học sinh. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy, với ĐTB lần lượt là 3,88 và 3,99 cả hai tiêu chí đều được đánh giá ở mức độ khá, hơn nữa ĐTB không phải quá cao cho thấy ở cả 2 tiêu chí, giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đều chưa đáp ứng được sự mong đợi. Xem xét kỹ hơn, vẫn có khoảng 20% (1/5 mẫu nghiên cứu) đánh giá giáo viên chỉ đạt mức độ trung bình ở cả 2 tiêu chí này, đặc biệt ở tiêu chí “Tìm hiểu môi trường giáo dục” (Thu thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục) có 2,6% giáo viên, CBQL đánh giá giáo viên chỉ đạt ở mức độ yếu. Đây là những số liệu rất đáng phải quan tâm, bởi nếu năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục của giáo viên không đáp ứng được yêu cầu sẽ khiến cho hoạt động dạy học và giáo dục của giáo viên xa rời thực tế và không bám sát nhu cầu của người học.

2.3.3. Thực trạng năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.5. Năng lực dạy học của đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Năng lực DH là khả năng thực hiện các hoạt động DH với chất lượng cao, được bộc lộ trong hoạt động DH và gắn liền với một số kĩ năng tương ứng. Năng lực dạy học là một trong hai thành phần của năng lực sư phạm và được biểu hiện cụ thể qua các năng lực thành phần như: Năng lực thiết kế dạy học; năng lực tiến hành dạy học, năng lực kiểm tra, đánh giá và năng lực quản lý dạy học  trong mỗi nhóm năng lực lại có nhiều năng lực thành phần khác. Theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ GD-ĐT ban hành quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông thì năng lực DH được đánh giá qua các tiêu chí sau: Xây dựng kế hoạch DH; Đảm bảo kiến thức môn học; Đảm bảo chương trình môn học; Vận dụng các phương pháp DH; Sử dụng các phương tiện DH; Xây dựng môi trường học tập; Quản lí hồ sơ DH; Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 8 tiêu chí về năng lực dạy học, có 3 tiêu chí đạt mức ĐTB từ 4,22 đến 4,28 tương ứng với mức đánh giá tốt. Cụ thể bao gồm: Đảm bảo chương trình môn học (ĐTB = 4,28); Quản lý hồ sơ dạy học (ĐTB = 4,23); Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (ĐTB = 4,22). Đây đều là những yêu cầu cơ bản trong năng lực dạy học của giáo viên, bất cứ giáo viên nào khi đã tham gia vào hoạt động dạy học đều phải đáp ứng được những yêu cầu này, chính vì vậy kết quả nghiên cứu này không quá bất ngờ. Tuy nhiên, mặc dù xếp ở những vị trí đầu tiên, nhưng ĐTB của những yếu tố này lại không quá cao, khá tiệm cận với mức đánh giá khá. Do đó, vẫn cần phải quan tâm nâng cao hơn nữa năng lực dạy học của giáo viên ở những tiêu chí này.

5 yếu tố còn lại đều được đánh giá ở mức độ Khá với ĐTB dao động từ 3,99 đến 4,16. ĐTB của các yếu tố này không có sự chênh lệch nhiều chứng tỏ các yếu tố này được GV, CBQL tham gia khảo sát đánh giá khá đồng đều. 3 yếu tố xếp ở vị trí cuối cùng bao gồm: Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng hiệu quả dạy học (ĐTB = 3,99); Xây dựng kế hoạch dạy học (ĐTB = 4,12); Xây dựng môi trường học tập (ĐTB = 4,14); Ba yếu tố này mặc dù vẫn được đánh giá ở mức độ Khá nhưng 2/3 yếu tố này vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định giáo viên đánh giá ở mức độ Yếu (2,6%). Có thể nói, xây dựng được môi trường học tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh là công việc khá khó khăn đối với GV, đặc biệt là giáo viên ở những vùng có tỉ lệ dân nhập cư cao như tỉnh Bình Dương. HS ở lứa tuổi THPT vốn dĩ có những mối quan tâm, ước mơ, lý tưởng riêng lại thêm sự khác biệt từ ngôn ngữ, lối sống, văn hóa khiến cho việc xây dựng được một môi trường học tập hợp tác, dân chủ trở nên khó khăn hơn. Thêm nữa, đây cũng là nội dung không được kiểm tra thường xuyên và rất khó đánh giá, do đó đây có thể coi là yếu tố thuộc nhóm yêu cầu cao trong năng lực dạy học của giáo viên, đòi hỏi giáo viên phải có năng lực chuyên môn sâu, vững vàng cũng như đủ uy tín, gương mẫu, linh hoạt, sáng tạo và thực sự tâm huyết mới có thể thực hiện được. Tuy là những yêu cầu cao, nhưng đây cũng là công việc rất cần phải thực hiện của giáo viên để đảm bảo hiệu quả của hoạt động dạy học, do đó rất cần thiết phải nâng cao hơn nữa năng lực dạy học của giáo viên ở tiêu chí này. Hai yếu tố còn lại trong nhóm 3 yếu tố xếp ở vị trí cuối cùng là “Sử dụng các phương tiện dạy học ” và “Xây dựng kế hoạch dạy học”. Đây là kết quả khá bất ngờ, bởi đây là yêu cầu cơ bản của giáo viên. Ý nghĩa của các phương tiện dạy học đối với hiệu quả dạy học cũng như khả năng kích thích hứng thú của học sinh đối với mỗi bài học cũng như ý nghĩa của kế hoạch dạy học là điều không thể chối cãi, do đó việc sử dụng các phương tiện dạy học và xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên chưa được đánh giá cao là điều rất cần phải xem xét.

2.3.4. Thực trạng năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Bảng 2.6. Năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Nhiệm vụ của giáo viên nói chung và giáo viên trường phổ thông nói riêng ngoài việc thực hiện các hoạt động dạy học theo chuyên môn của mình nhằm giúp HS hình thành hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo còn phải tiến hành các hoạt động giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, giá trị sống đảm bảo sự phát triển toàn diện về mặt nhân cách cho HS. Do đó, yêu cầu về năng lực giáo dục cũng quan trọng không kém, thậm chí cần phải được đánh giá cao hơn so với năng lực dạy học của giáo viên. Năng lực giáo dục được thể hiện ở chỗ giáo viên có khả năng lập kế hoạch, vạch ra con đường, định hướng cho sự phát triển đạo đức của học sinh phù hợp với sự phát triển của thời đại, tiến hành thực hiện các hoạt động nhằm rèn luyện cho HS theo con đường mà mình đã xây dựng đồng thời đánh giá quá trình rèn luyện của HS để kịp thời có sự điều chỉnh hợp lý.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 6 yếu tố được liệt kê căn cứ vào chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT nhằm đánh giá năng lực giáo dục, chỉ có 1 yếu tố duy nhất được các giáo viên THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đánh giá đạt được ở mức độ Tốt với ĐTB = 4,27, đó là yếu tố “Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh một cách chính xác, khách quan, công bằng và có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của học sinh”. Tuy nhiên, ĐTB của yếu tố này dù vẫn được xếp ở mức độ đánh giá tốt nhưng lại khá tiệm cận với ĐTB ở mức độ đánh giá Khá nên có thể nói đây vẫn chưa phải là kết quả đáp ứng được sự mong đợi.

Cả 5 yếu tố còn lại có ĐTB dao động từ 3,96 đến 4,05 chứng tỏ các CBQL và GV tham gia khảo sát đánh giá mức độ đáp ứng của GV các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo rơi vào mức độ Khá. Trong đó, 3 yếu tố được xếp ở thứ hạng cuối cùng lần lượt là: Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục học sinh vào tình huống sư phạm cụ thể, phù hợp đối tượng và môi trường giáo dục, đáp ứng mục tiêu giáo dục đề ra (ĐTB = 4,03); Thực hiện nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua việc giảng dạy môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác trong các hoạt động chính khoá và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng (ĐTB = 3,99); Thực hiện nhiệm vụ giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng như: lao động công ích, hoạt động xã hội… theo kế hoạch đã xây dựng (ĐTB = 3,96). Điều đáng nói là cả 3 yếu tố này đều là những nội dung trọng tâm nhằm đánh giá năng lực giáo dục của giáo viên, nó thể hiện năng lực thực hiện hành động, góp phần hiện thức hóa năng lực giáo dục của giáo viên nhưng những yếu tố này lại là những yếu tố được đánh giá ở thứ hạng thấp nhất. Cá biệt, ở 2/3 nội dung này còn tồn tại tỉ lệ nhất định một số GV đánh giá ở mức độ Yếu (với tỉ lệ 1,3% và 2,6%). Tuy tỉ lệ này không cao, nhưng cũng cho thấy một bộ phận giáo viên chưa có khả năng thực hiện nhiệm vụ giáo dục, chưa biết cách tích hợp nội dung giáo dục vào môn học của mình trong các hoạt động ngoại khóa cũng như chính khóa, chưa biết cách tổ chức các tình huống sư phạm nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho HS. Thực tế hiện nay cho thấy vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ giáo viên chưa nhận thức được nhiệm vụ giáo dục của mình, đùn đẩy trách nhiệm giáo dục đạo đức cho học sinh về cho GV chủ nhiệm và cho rằng bản thân mình chỉ cần làm tốt công việc dạy học là đủ. Do đó, họ lơ là trong việc tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh cũng như không tìm tòi để tích hợp các nội dung giáo dục trong môn học mà mình giảng dạy.

2.3.5. Thực trạng năng lực hoạt động chính trị, xã hội của đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.7. Năng lực hoạt động chính trị, xã hội của đội ngũ giáo viên trường THPT trên địa bàn huyện

Năng lực hoạt động chính trị xã hội của giáo viên được đánh giá ở 2 tiêu chí: Phối hợp với gia đình và cộng đồng trong hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường và Tham gia các hoạt động chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm phát triển nhà trường và cộng đồng, xây dựng xã hội học tập. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 2 tiêu chí đều có ĐTB = 4,09 đồng nghĩa với việc các khách thể tham gia khảo sát đánh giá giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có năng lực hoạt động chính trị xã hội đạt mức độ Khá. Tuy nhiên, xem xét kĩ tỉ lệ các mức độ đánh giá, có thể nhận thấy ở cả 2 yếu tố tỉ lệ đánh giá mức độ Tốt chỉ dừng lại ở khoảng dưới 30% (cụ thể là 29,5% và 26,9%). Cá biệt, vẫn còn tỉ lệ khách thể đánh giá GV đạt ở mức độ yếu ở cả 2 nội dung này (lần lượt là 2,6% và 3,8%). Năng lực hoạt động chính trị, xã hội có vai trò đặc biệt trong hệ thống phẩm chất năng lực của giáo viên. Nhà trường là một bộ phận không thể tách rời khỏi hệ thống chính trị xã hội, nó được hình thành từ xã hội và để phục vụ xã hội, do đó việc tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội cũng như phối hợp với các lực lượng khác bên ngoài nhà trường của giáo viên, một mặt nhằm phát triển đời sống chính trị xã hội của giáo viên, mặt khác sẽ giúp giáo viên thể hiện trách nhiệm với nhà trường trong việc huy động mọi nguồn lực trong cộng đồng nhằm phát triển nhà trường, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại bộ phận giáo viên chưa ý thức được vai trò của những hoạt động này và chưa tích cực tham gia. Điều đó được thể hiện rõ trong kết quả nghiên cúu này, và đó cũng là bài toán cho các CBQL nhà trường trong việc nâng cao hơn nữa năng lực hoạt động chính trị xã hội của giáo viên.

2.3.6. Thực trạng năng lực phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.8. Năng lực phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Năng lực phát triển nghề nghiệp của giáo viên hay có thể hiểu một cách đơn giản, đó chính là khả năng tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên. Với đặc thù lao động sư phạm đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo không ngừng của giáo viên thì năng lực tự học của giáo viên là điều kiện tiên quyết bảo đảm chất lượng dạy và học. Không những thế, một môi trường nhà trường giàu tinh thần tự học của giáo viên sẽ mang lại ý nghĩa lớn. Môi trường ấy có khả năng tạo nên những xung động, có sức lan tỏa và cộng hưởng mạnh mẽ đến việc học tập của học sinh, đến sự phát triển của cộng đồng sư phạm và sự phát triển của nhà trường, xã hội.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 2 tiêu chí được đưa ra để đánh giá năng lực phát triển nghề nghiệp cúa giáo viên, yếu tố “Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục” được đánh giá ở mức độ Tốt với ĐTB = 4,27 và yếu tố còn lại “Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục” được đánh giá ở mức độ Khá với ĐTB = 4,05. Điều này cho thấy, khách thể nghiên cứu đánh giá khá cao về năng lực phát triển nghề nghiệp của giáo viên THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, vẫn còn tỉ lệ khá cao khách thể nghiên cứu cho rằng giáo viên mới chỉ đáp ứng nội dung này ở mức độ Trung bình (lần lượt là 14,1% và 16,7%). Thực tế cũng cho thấy bên cạnh một số giáo viên giác ngộ được vấn đề tự học để nâng cấp bản thân phục vụ cho đòi hỏi giảng dạy thì một bộ phận không nhỏ giáo viên lại tự hài lòng với khả năng kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn của mình nên lơi lỏng và bỏ ngỏ việc tự học, tự bồi dưỡng kiến thức bản thân. Mặt khác, nhiều giáo viên vịn cớ đời sống giáo viên vất vả, chưa sống được bằng tiền lương nên thời gian rảnh phải bươn chải làm thêm nghề khác nhau để tăng thêm thu nhập. Còn với một số giáo viên có điều kiện về kinh tế nhưng bản thân thiếu tâm huyết, ngại đổi mới nâng cấp tri thức nên cũng không mặn mà, quan tâm tới việc bồi dưỡng kiến thức cho bản thân. Và lâu dần hình thành sức ỳ, sự bằng lòng khó thay đổi. Vì vậy họ đang rơi vào tình trạng tụt hậu nghiêm trọng cả kiến thức lẫn kĩ năng chuyên môn nghề nghiệp. Họ đã và đang đáp ứng một cách bị động, thiếu chất lượng trước mỗi giờ trên lớp.

2.4. Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

2.4.1. Thực trạng lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.9. Thực trạng lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên

Lập kế hoạch là quá trình thiết lập, dự tính một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, phương pháp, trình tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin…) để triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu của tổ chức.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cả 3 nội dung có ĐTB khá gần nhau, từ 4,22 đến 4,23 tương ứng với mức đánh giá Tốt, cho thấy khách thể nghiên cứu đánh giá khá cao hoạt động lập kế hoạch của CBQL các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy những ý kiến đánh giá cao hoạt động này. Cô N.T.H (Trường THPT Nguyễn Huệ) cho biết: “Công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên hiện nay thực hiện tốt nhất ở nội dung lập kế hoạch. Nhà trường mỗi năm đều lên kế hoạch tuyển dụng hoặc nâng cao trình độ cho những giáo viên trong trường”.

Tuy nhiên ĐTB này khá tiệm cận với mức độ đánh giá Khá, chứng tỏ công tác lập kế hoạch trong quản lý phát triển đội ngũ tai các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo đã được các nhà quản lý quan tâm nhưng kết quả thực hiện vẫn cần phải được nâng cao hơn nữa để đáp ứng được nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên trên địa bàn.

2.4.2. Thực trạng sử dụng giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.10. Thực trạng hoạt động sử dụng giáo viên Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Sử dụng giáo viên một cách phù hợp là công việc quan trọng của người quản lý trường học. Bởi sử dụng giáo viên tức là dùng người. Thực tế đã chứng minh rằng sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hai chữ “dùng người”. Vì vậy bố trí sử dụng giáo viên là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, do đó phải căn cứ vào yêu cầu công tác và bản thân người giáo viên. Song song với việc quy hoạch, đào tạo là việc sử dụng sao cho đúng và hợp lý để sử dụng đúng năng lực – đúng sở trường – phù hợp với hoàn cảnh là điều hết sức cần thiết. Điều này không chỉ giúp GV phát huy được hết năng lực sở trường của mình, mặt khác cũng giúp họ an tâm, toàn tâm toàn lực cho công tác mà mình được phân công.

Trên thực tế, công tác sử dụng GV tại các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương của các nhà quản lý trường học được đánh giá khá hiệu quả. Điều này được thể hiện rõ trong số liệu ở bảng 2.10 khi ĐTB của các tiêu chí dao động từ 4,19 đến 4,33 nằm trong mức đánh giá từ khá đến tốt. Cụ thể như sau:

Có 4/5 nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt với ĐTB từ 4,28 đến 4,33 bao gồm: Phân công giáo viên giảng dạy phù hợp năng lực chuyên môn và nguyện vọng; Phân công giáo viên hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên tập sự; Tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho giáo viên; Phát huy vai trò tích cực, chủ động của GV trong công việc. Điều này cho thấy, các CBQL trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo đã cơ bản thực hiện đúng các yêu cầu trong công tác sử dụng giáo viên, phân công giáo viên đúng năng lực, có quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của giáo viên và tạo điều kiện cho giáo viên trong quá trình công tác. Đây sẽ là tiền đề quan trọng thúc đẩy chất lượng đội ngũ giáo viên và hiệu quả giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, quan sát kĩ hơn ở số liệu tỉ lệ lựa chọn giữa các mức độ, có thể nhận thấy ở cả 4 yếu tố này, mức độ đánh giá được lựa chọn chủ yếu vẫn là mức „khá” và vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định (trên dưới 10%) những người tham gia khảo sát đánh giá hiệu quả của các nội dung này ở mức trung bình. Như đã trình này ở trên, việc sử dụng giáo viên có ý nghĩa rất lớn đối với thành công hay thất bại của một nhà trường. Khi giáo viên được phân công nhiệm vụ không đúng với năng lực sở trường hay nguyện vọng của bản thân, không được quan tâm tạo điều kiện cho quá trình làm việc sẽ không phát huy hết được năng lực làm việc, lâu dần sẽ thui chột đi tinh thần cố gắng, phấn đấu. Do đó, cần phải quan tâm để giảm thiểu tới mức tối đa tỉ lệ này trong công tác quản lý đội ngũ tại trường THPT. Kết quả phỏng vấn cô T.T.T (Trường THPT Tây Sơn) cho biết: “Tốt nhất ở trường tôi chính là việc phân công công việc cho GV, về cơ bản tôi thấy sự phân công khá hợp lý, đúng trình độ chuyên môn cũng như khả năng, nhu cầu của GV”.

Yếu tố duy nhất trong 5 nội dung được đánh giá ở mức độ khá và xếp ở vị trí cuối cùng là Theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch giáo dục của giáo viên (ĐTB = 4,19). Đây cũng là yếu tố có tỉ lệ lựa chọn mức đánh giá trung bình cao nhất trong cả 5 yếu tố (14,1%). Việc theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch của giáo viên một mặt thúc đẩy tính tích cực của giáo viên trong công việc, mặt khác có thể tạo ra sự hỗ trợ chuyên môn giữa các GV. Sự hỗ trợ chuyên môn giữa các GV theo từng khối lớp có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh yêu cầu dạy học tích hợp như hiện nay, giúp GV có cơ hội trao đổi kỹ năng nghề nghiệp, học hỏi lẫn nhau để nâng cao hiệu quả công tác. Có thể nói, đây cũng là cách thức đơn giản và hiệu quả, có thể thực hiện thường xuyên trong nhà trường để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Do đó, cán bộ quản lý trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo cần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý này nhằm đảm bảo hiệu quả chất lượng đội ngũ giáo viên trong nhà trường.

2.4.3. Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Bảng 2.11. Thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng giáo viên

Song song với công tác sử dụng giáo viên, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên là công việc hết sức quan trọng của người quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó đảm bảo hiệu quả giáo dục trong nhà trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 10 nội dung được liệt kê có 5 nội dung được khách thể nghiên cứu đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt với ĐTB từ 4,31 đến 4,58. Cụ thể như sau:

Xếp ở thứ hạng đầu tiên với ĐTB = 4,58 là nội dung Khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao trình độ (ThS. TS). Nâng cao trình độ là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi giáo viên. Bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng giảng dạy bằng việc tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, trong thực tế những năm vừa qua, các trường THPT và chính bản thân giáo viên công tác tại trường THPT cũng có ý thức nâng cao trình độ bằng cách tham gia các khóa học Thạc sĩ, Tiến sĩ. Điều này cũng được thể hiện rõ trong kết quả nghiên cứu khi nội dung này được đánh giá ở mức độ cao nhất trong tất cả các nội dung. Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy điều này. Cô L.T.K.T (Trường THPT Phước Vĩnh) cho rằng “Trường mình GV rất được khuyến khích học tập nâng cao trình độ. GV được tham dự các lớp tập huấn đầy đủ cũng như thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm giữa các GV”. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét cẩn thận việc các giáo viên tham gia học Thạc sĩ, Tiến sĩ có thực sự phù hợp với chuyên môn giảng dạy, có cần thiết với định hướng chiến lược phát triển của nhà trường, tránh để việc học theo trào lưu gây lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc của nhà trường cũng như của chính giáo viên.

Với ĐTB = 4,38, nội dung Chú trọng nội dung bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sư phạm được xếp ở vị trí thứ hai. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là nội dung rất được quan tâm của các Sở giáo dục Đào tạo cũng như Ban giám hiệu các trường phổ thông, chính vì vậy đây là chuyên đề bồi dưỡng hàng năm của các Sở giáo dục. Do đó, nội dung này được đánh giá mức độ thực hiện cao cũng là điều không khó để lý giải.

Có ĐTB khá gần với hai nội dung trên, được xếp ở vị trí thứ ba là nội dung “Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên theo từng giai đoạn và theo nội dung” (ĐTB = 4,36). Đây là kết quả khá khả quan, bởi việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cần phải được lập kế hoạch cụ thể theo từng giai đoạn và theo nội dung để đảm bảo có thời gian lựa chọn những người có năng lực phù hợp vào các vị trí công việc cũng như đảm bảo việc bồi dưỡng, đào tạo không rơi vào tình trạng ồ ạt, lãng phí.

Hai nội dung còn lại tuy không được xếp ở thứ hạng cao nhưng vẫn được đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt bao gồm: Giám sát việc tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng của giáo viên; Chú trọng bồi dưỡng đổi mới phướng pháp dạy học theo hướng đổi mới.

5 nội dung còn lại có ĐTB dao động từ 3,82 đến 4,19 được đánh giá ở mức độ thực hiện Khá, trong đó có 2 nội dung được đánh giá ở mức độ thấp nhất bao gồm: Tổ chức trao đổi, chia sẽ những kinh nghiệm trong giảng dạy giữa các giáo viên trong trường (ĐTB = 4,05); Lựa chọn đúng giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng, nâng cao trình độ (ĐTB = 3,82). Đặc biệt ở cả 2 nội dung này đều tồn tại tỉ lệ nhất định được đánh giá ở mức độ thực hiện Yếu (lần lượt là 2,6%; 1,3%; 6,4%). Đây là kết quả rất đáng phải ghi nhận bởi tất cả các nội dung này đều là những nội dung khiến công tác quản lý đi vào chiều sâu, đảm bảo cho đội ngũ được phát triển một cách ổn định, bền vững, thực chất. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên đã được các cán bộ quản lý ở các trường THPT quan tâm thực hiện, tuy vậy vẫn còn tồn tại một vài điểm cần phải được quan tâm hơn để công tác quản lý đội ngũ giáo viên thực sự đi vào chiều sâu như: tạo điều kiện thuận lợi cho GV học tập chủ động, sáng tạo, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên trong trường, bầu chọn giáo viên tham gia các khóa học một cách công bằng, khách quan…

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.12. Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên

Kiểm tra đánh giá là quá trình thông tin cho những thành viên trong đội ngũ biết về kết quả công tác của họ. Việc đánh giá có những tác dụng: làm cho mọi người trong nhà trường biết được những thành tích mà họ đạt được, những gì chưa đạt được so với yêu cầu của công việc; cho thấy được kết quả công việc của nhà trường so với kế hoạch; những gì cần phải làm để đạt được kế hoạch đã đề ra Kết quả nghiên cứu trên bảng 2.12 cho thấy, có 3/9 nội dung được đánh giá mức độ thực hiện tốt và cũng là 3 nội dung được xếp lần lượt ở 3 vị trí đầu tiên, bao gồm: Kiểm tra giảng dạy theo thời khóa biểu (ĐTB = 4,36); Có kế hoạch kiểm tra định kỳ về hồ sơ chuyên môn của giáo viên theo quy định: giáo án, sổ điểm, sổ chủ nhiệm… (ĐTB =4,33); Kiểm tra chất lượng giảng dạy của giáo viên thông qua dự giờ trên lớp (ĐTB = 4,24). Kết quả này không quá bất ngờ và không khó lý giải bởi kiểm tra theo thời khóa biểu, hồ sơ chuyên môn và kiểm tra chất lượng giảng dạy của giáo viên thông qua dự giờ trên lớp là những phương pháp, cách thức truyền thống mà các cán bộ trường THPT vẫn thực hiện nhằm kiểm tra, đánh giá đội ngũ. Đây cũng là những nội dung cơ bản trong nội dung kiểm tra, đánh giá giáo viên của công tác quản lý đội ngũ.

Sáu nội dung còn lại có ĐTB từ 4,00 đến 4,18 được đánh giá ở mức độ thực hiện khá, trong đó có 3 nội dung có ĐTB thấp nhất và xếp ở thứ hạng cuối cùng, bao gồm: Báo cáo kết quả xếp loại đội ngũ giáo viên của trường với cơ quan quản lý cấp trên (ĐTB = 4,05); Tổ chức kiểm tra hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (ĐTB = 4,01); Tổ chức thực hiện đánh giá giáo viên công bằng, công khai, minh bạch trong toàn hội đồng sư phạm (ĐTB = 4,00). Điều này có nghĩa là các khách thể nghiên cứu vẫn chưa thực sự đánh giá cao tính dân chủ, công bằng trong công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên. Trong khi đó, dân chủ, công bằng là một trong những yêu cầu quan trọng để đảm bảo hiệu quả cho công tác kiểm tra, đánh giá. Kiểm tra đánh giá mà thiếu đi sự cân bằng, dân chủ không những không có hiệu quả mà ngược lại có thể gây mất niềm tin của đội ngũ giáo viên vào công tác quản lý của nhà trường. Thực tế cũng cho thấy, mặc dù rất quan tâm tới công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên ở mỗi năm học nhưng kết quả kiểm tra, đánh giá ở các cơ sở giáo dục vẫn chưa thực sự đáng tin cậy, chưa có tác dụng thúc đẩy sự cố gắng phấn đấu của đội ngũ giáo viên.

Xem xét kĩ hơn ở số liệu tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá có thể thấy, có 7/9 nội dung tồn tại tỉ lệ đánh giá ở mức độ Yếu. Mặc dù các tỉ lệ này không quá cao (1,3 đến 3,8%) nhưng kết quả này cũng cho thấy, công tác kiểm tra đánh giá giáo viên vẫn thực sự còn nhiều vướng mắc, chưa thực sự đi vào chiều sâu đảm bảo hiệu quả cần có của công tác quản lý đội ngũ giáo viên.

2.4.5. Thực trạng tạo động lực làm việc cho giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

  • Bảng 2.13. Thực trạng hoạt động tạo động lực làm việc cho giáo viên

Bên cạnh vấn đề tạo điều kiện phát huy năng lực giảng dạy của giáo viên, nhà quản lý giáo dục cần tạo động lực lao động cho đội ngũ các nhà giáo. Động lực lao động được hiểu là những nhân tố bên trong, kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Tạo động lực lao động giúp cho người cán bộ, giáo viên có thể tự hoàn thiện mình.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 10 nội dung được liệt kê trong công tác tạo động lực cho giáo viên có ĐTB khá gần nhau, trải dài từ 3,73 đến 4,29 được đánh giá ở mức độ từ Khá đến Tốt. Tuy vậy, có 4/10 nội dung còn tỉ lệ lựa chọn mức độ đánh giá yếu và ĐTB cao nhất ở nội dung này là 4,29 khá tiệm cận với mức độ Khá, cho thấy nội dung tạo động lực làm việc cho giáo viên chưa thực sự được các khách thể nghiên cứu đánh giá cao. Mặc dù vậy, có 5/10 nội dung được đánh giá ở mức độ Tốt bao gồm: Bố trí nhà công vụ cho giáo viên ở xa đến công tác và các chế độ hỗ trợ thuê nhà hàng tháng theo quy định; Triển khai cụ thể các kế hoạch thi đua, khen thưởng, kỉ luật trong đơn vị; Thực hiện chế độ nâng lương trước thời hạn cho giáo viên có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ; Tổ chức các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao; Chế độ khen thưởng cho những giáo viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Như vậy, có thể thấy những nội dung cơ bản trong công tác tạo động lực cho giáo viên đã được các cán bộ quản lý trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương quan tâm thực hiện.

Ở 5 nội dung còn lại với ĐTB từ 3,73 đến 4,17 được đánh giá ở mức độ Khá như: Thực hiện chế độ thăm, hỏi,… kịp thời; Động viên, giúp đỡ kịp thời đối với giáo viên có hoàn cảnh khó khăn về vật chất lẫn tinh thần; Hàng năm tổ chức cho giáo viên tham quan học tập trong và ngoài tỉnh; Công tác tham quan học tập kinh nghiệm… Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với các kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy công tác chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên chưa thực sự được thực hiện hiệu quả như mong đợi ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo. Có tới hơn 30% khách thể đánh giá hiệu quả quản lý ở hai nội dung chỉ đạt mức yếu đến trung bình. Đây thực sự là con số rất đáng được các nhà quản lý giáo dục quan tâm nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở nhà trường.

2.5. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.14. Những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo

  • Yếu tố thuận lợi Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 yếu tố thuận lợi mà đề tài đã liệt kê có ĐTB từ 3,19 đến 4,12 đồng nghĩa với việc các khách thể tham gia nghiên cứu đánh giá các yếu tố này có mức độ ảnh hưởng từ trung bình đến khá đến thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Yếu tố được đánh giá là ảnh hưởng thuận lợi nhất là “Thái độ tích cực, nhiệt tình của 1 số GV của trường” (ĐTB = 4,12). Có tới 82,0% GV tham gia khảo sát cho rằng yếu tố này ảnh hưởng nhiều và rất nhiều đến kết quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên. Như vậy, có thể kết luận khách thể nghiên cứu đánh giá khá cao thái độ tích cực, nhiệt tình của GV các trường THPT huyện Phú Giáo. Đây là kết quả khá đáng mừng, bởi thái độ tích cực của giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Khi có thái độ tích cực đối với nghề giáo, đối với học sinh, giáo viên mới có thể vượt qua tất cả những khó khăn đến từ các yếu tố khách quan như cơ sở vật chất, đời sống giáo viên khó khăn, thiếu thốn để có thể tiếp tục làm nghề một cách tốt nhất. Đặc biệt, thái độ tích cực cũng là yếu tố giúp giáo viên chủ động hơn trong công việc, tự kiểm tra, đánh giá hiệu quả công việc của bản thân từ đó ý thức hơn trong việc rèn luyện, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng giảng dạy.

Với ĐTB = 3,73 được xếp ở vị trí thứ hai là yếu tố “Sự tác động của văn hóa nhà trường”. Văn hóa nhà trường là yếu tố quan trọng “giúp định hình các giá trị văn hóa cốt lõi trong nhà trường, đồng thời xác định và xây dựng các giá trị văn hóa phù hợp phục vụ cho sự phát triển chung của nhà trường; góp phần phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực, đoàn kết nội bộ được duy trì, sức mạnh tập thể được phát huy, chất lượng các mặt được nâng cao; khuyên khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các giáo viên; tạo bầu không khí tin cậy thúc đẩy giáo viên quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy, học tập; tạo ra một môi trường học tập thân thiện với học sinh, học sinh cảm thấy gắn bó với trường, lớp; góp phần hình thành nên những nét phẩm chất, tính cách riêng, phù hợp và có giá trị cho học sinh của nhà trường” (Nguyễn Thị Ngọc Phương, Đỗ Đình Thái (2025), Một số vấn đề lí luận về phát triển văn hóa nhà trường, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 8/2025, tr.74). Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố này được khách thể nghiên cứu đánh giá là ảnh hưởng khá thuận lợi đến hiệu quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo. Kết quả này cũng có thể đưa đến kết luận, hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Giáo đã thực hiện khá tốt việc xây dựng văn hóa nhà trường, bởi chỉ khi môi trường văn hóa nhà trường lành mạnh mới có thể ảnh hưởng thuận lợi đến sự phát triển đội ngũ giáo viên.

“Các chỉ đạo, hỗ trợ chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể địa phương” và “Kinh nghiệm thâm niên công tác của Hiệu trưởng nhà trường” là hai yếu tố xếp ở vị trí thứ 3 và thứ 4 với ĐTB lần lượt là 3,72 và 3,54. Cả hai yếu tố này đều được đánh giá ảnh hưởng khá thuận lợi đến kết quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT huyện Phú Giáo. Đây cũng là một tín hiệu tích cực cho thấy kinh nghiệm quản lý của Hiệu trưởng cũng như các chỉ đạo, hỗ trợ của các ban ngành, đoàn thể địa phương đang đi đúng hướng và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Yếu tố xếp ở vị trí cuối cùng và là yếu tố duy nhất được đánh giá ở mức độ ảnh hưởng trung bình là “Nguồn tài lực, vật lực và tin lực trong nhà trường được Hiệu trưởng khai thác hiệu quả” (ĐTB = 3,19). Đây là yếu tố rất cần được quan tâm bởi nó chứng minh Hiệu trưởng chưa thực sự khai thác tốt tất cả những tiềm lực mà nhà trường đang có, điều này không chỉ ảnh hưởng tới hiệu quả công tác quản lý mà còn gây lãng phí cho nhà trường, nhà nước.

  • Yếu tố khó khăn

Tương ứng với 5 yếu tố thuận lợi, đề tài cũng liệt kê 5 yếu tố gây khó khăn cho hiệu quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo. Kết quả cho thấy, trong 5 yếu tố được liệt kê, có 2 yếu tố được đánh giá khá gây khó khăn cho công tác quản lý đội ngũ là “Thái độ tiêu cực của 1 số GV của trường” (ĐTB = 3,90) và “Chế độ lương, thưởng cho giáo viên chưa thỏa đáng, chưa kịp thời” (ĐTB = 3,62). Điều khá bất ngờ là thái độ của GV vừa là yếu tố thuận lợi đồng thời cũng là yếu tố gây khó khăn cho hiệu quả công tác quản lý phát triển đội ngũ của Hiệu trưởng các trường THPT. Điều này cho thấy bên cạnh những GV có thái độ tích cực vẫn còn tồn tại những GV có thái độ tiêu cực với nghề. Như đã phân tích ở trên, thái độ của GV có ý nghĩa rất lớn với công tác phát triển đội ngũ, do đó việc còn tồn tại những GV có thái độ tiêu cực là điều rất cần phải được quan tâm. Có thể nói, một trong những nguyên nhân khiến GV còn có thái độ tiêu cực đối với nghề là do “Chế độ lương, thưởng cho giáo viên chưa thỏa đáng, chưa kịp thời”. Nội dung này cũng được giáo viên đánh giá ở mức ảnh hưởng nhiều khi tổng ba mức rất nhiều, nhiều và trung bình đến 83.3% (26,9% rất nhiều, 26,9% nhiều và 29,5% trung bình). Kết quả phỏng vấn cô N.T.P (Trường THPT Phước Vĩnh) cho biết: “Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất chính là mức sống của giáo viên còn khó khăn. Điều này khiến nhiều GV chưa chuyên tâm vào công việc vì có nhiều GV phải làm thêm công việc khác để kiếm tiền”. Thầy T.Đ.C (Trường THPT Nguyễn Huệ) cũng đồng ý kiến: “Chế độ lương thưởng hiện nay cho GV còn thấp, ảnh hưởng tới việc lựa chọn được những người giỏi vào ngành”. Điều này làm rõ hơn tầm quan trọng của việc cải thiện chế độ làm việc, chính sách dành cho giáo viên. Khi giáo viên có thể sống yên tâm bằng đồng lương, khẳng định được giá trị bản thân trong công việc họ sẽ chủ động phấn đấu hoàn thiện năng lực chuyên môn của bản thân. Cũng cần lưu ý hơn 74% giáo viên lựa chọn nội dung ảnh hưởng “Đời sống vật chất, đời sống tinh thần của đội ngũ giáo viên còn thấp” với ĐTB là 3,33, xếp ở thứ hạng thứ 3.

Hai yếu tố xếp ở vị trí sau cùng và được đánh giá gây khó khăn ở mức trung bình đối với hiệu quả quản lý phát triển đội ngũ GV là “Hoàn cảnh sống xa nhà của các giáo viên là người ở tỉnh” (ĐTB = 3,31) và “Năng lực quản lí còn yếu kém của Hiệu trưởng” (ĐTB = 3,24). Kết quả này khá tương đồng với kết quả đánh giá những yếu tố thuận lợi, các GV tham gia khảo sát đánh giá khá cao năng lực quản lý của hiệu trưởng và không cho rằng hoàn cảnh sống xa nhà của giáo viên là người ở tỉnh không gây khó khăn nhiều cho công tác quản lý phát triển đội ngũ GV.

Tóm lại, theo đánh giá của khách thể tham gia khảo sát, yếu tố ảnh hưởng thuận lợi đến kết quả quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương là sự tác động của văn hóa nhà trường và thái độ tích cực, nhiệt tình của 1 số GV của trường; yếu tố gây khó khăn bao gồm thái độ tiêu cực của 1 số GV của trường và chế độ lương, thưởng cho giáo viên chưa thỏa đáng, chưa kịp thời.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

Kết quả khảo sát thực trạng chất lượng đội ngũ GV các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, GV, CBQL tham gia khảo sát đánh giá giáo viên THPT đạt ở mức độ Tốt, đặc biệt là các tiêu chí “Chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia các hoạt động chính trị – xã hội; thực hiện nghĩa vụ công dân”; “Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với HS, giúp HS khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt”. GV đã thực hiện tốt những yêu cầu cơ bản trong năng lực dạy học của giáo viên, bao gồm: Nắm vững mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình sách giáo khoa của các môn học được phân công giảng dạy; Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được quy định trong chương trình môn học; Xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học theo quy định… Một số yếu tố thuộc nhóm yêu cầu cao trong năng lực dạy học, một số GV vẫn chưa đáp ứng được như: “Có khả năng hướng dẫn đồng nghiệp một số kiến thức chuyên sâu về môn học” và “Có khả năng bồi dưỡng học sinh giỏi hoặc giúp đỡ học sinh yếu hay học sinh còn nhiều hạn chế trở nên tiến bộ”. Năng lực giáo dục của giáo viên được đánh giá ở mức độ Khá. Giáo viên các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có năng lực hoạt động chính trị xã hội đạt mức độ Khá. Năng lực phát triển nghề nghiệp của giáo viên THPT được đánh giá ở mức độ khá.

Kết quả khảo sát thực trạng quản lí phát triển đội ngũ GV các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy, công tác lập kế hoạch trong quản lý phát triển đội ngũ tai các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo đã được các nhà quản lý quan tâm và thực hiện ở mức độ Tốt. Công tác sử dụng GV tại các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương của các nhà quản lý trường học được đánh giá khá hiệu quả. Công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên đã được các cán bộ quản lý ở các trường THPT quan tâm thực hiện, tuy vậy vẫn còn tồn tại một vài điểm cần phải được quan tâm hơn để công tác quản lý đội ngũ giáo viên thực sự đi vào chiều sâu như: tạo điều kiện thuận lợi cho GV học tập chủ động, sáng tạo, chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên trong trường, bầu chọn giáo viên tham gia các khóa học một cách công bằng, khách quan… Công tác kiểm tra đánh giá giáo viên được đánh giá khá tốt, tuy nhiên các khách thể nghiên cứu vẫn chưa thực sự đánh giá cao tính dân chủ, công bằng trong công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên. Công tác tạo động lực cho giáo viên có ĐTB trải dài từ 3,73 đến 4,29 được đánh giá ở mức độ từ Khá đến Tốt, tuy nhiên, công tác chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên chưa thực sự được thực hiện hiệu quả như mong đợi (Có tới hơn 30% khách thể đánh giá hiệu quả quản lý ở nội dung này chỉ đạt mức yếu đến trung bình).

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo theo đánh giá của khách thể tham gia khảo sát, yếu tố ảnh hưởng thuận lợi là sự tác động của văn hóa nhà trường và thái độ tích cực, nhiệt tình của 1 số GV của trường; yếu tố gây khó khăn bao gồm thái độ tiêu cực của 1 số GV của trường và chế độ lương, thưởng cho giáo viên chưa thỏa đáng, chưa kịp thời. Đây là những yếu tố cần có giải pháp để giải quyết kịp thời. Luận văn: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537