Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2020 của Việt Nam đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là tập trung đẩy mạnh phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa tiến tới: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện mục tiêu đó cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà. Một trong những giải pháp đột phá được xác định để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là giải pháp về quản lý giáo dục. Theo đó, việc nghiên cứu, vận dụng các mô hình quản lý giáo dục hiện đại vào quản lý giáo dục ở nước ta được đặc biệt quan tâm.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành GD&ĐT. GDMN có vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ là cơ sở để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đánh giá cao về bậc học mầm non nêu trên, đồng nghĩa với việc đề cao vai trò của đội ngũ giáo viên mầm non và tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ giáo viên này theo nhiều con đường khác nhau, trong đó có con đường đào tạo, bồi dưỡng.
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nhấn mạnh tại mục 7 điểm d: hoàn thiện phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cho các Bộ, Ngành, địa phương; thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo, dạy nghề một cách thống nhất và hiệu quả; rà soát, điều chỉnh, bổ sung cơ chế để các cơ quan quản lý giáo dục địa phương được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và các nguồn tài chính dành cho giáo dục. Như vậy, có thể khẳng định để đổi mới giáo dục cần đổi mới quản lý cơ sở giáo dục theo hướng phát huy dân chủ, tính sáng tạo, giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục trong tổ chức thực hiện các hoạt động của đơn vị mình. Đây chính là việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội trong mô hình quản lý dựa vào nhà trường – một trong những mô hình quản lý giáo dục hiện đại phù hợp với phân cấp quản lý giáo dục hiện nay.
Quán triệt Nghị quyết Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục mầm non, Phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm đã chú trọng hoạt động bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên đặc biệt bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường. Hiện nay, đội ngũ GVMN quận Hoàn Kiếm về phẩm chất và năng lực đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đáp ứng CNN, đã có nhiều cố gắng, đạt được nhiều thành tựu trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, được cha mẹ học sinh và nhân dân trong quận tin yêu. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận giáo viên còn yếu về CMNV, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, chưa đáp ứng yêu cầu phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, CMNV. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo các mô hình quản lý hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu CNN đất nước là việc làm cần thiết và cấp bách hiện nay.
Qua tìm hiểu thực tế về quản lý bồi dưỡng GVMN quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội theo MHQL dựa vào nhà trường, đối chiếu với những cơ sở lý luận, những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và quản lý chỉ đạo của ngành về là cơ sở để xây dựng, đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, bồi dưỡng GVMN ở các cơ sở đào tạo GVMN. Từ đó rút ra những mặt mạnh, mặt tồn tại của quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường nhằm đưa ra những bài học kinh nghiệm cho hoạt động quản lý, đồng thời đề xuất một số giải pháp mà tác giả cho rằng cần thiết và có thể thực hiện được nhằm giúp Hiệu trưởng các trường mầm non quận Hoàn Kiếm quan tâm, quản lý tốt tại trường. Mặt khác những biện pháp nêu ra cũng giúp GVMN có điều kiện để vừa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, vừa có cơ hội tham gia học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ cá nhân cả về CMNV và về trình độ tri thức đối với một GVMN trong thời kỳ mới.
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng giáo viên nói chung, bồi dưỡng giáo viên mầm non nói riêng đã được thực hiện tương đối phong phú. Có thể kể đến một số nghiên cứu dưới đây: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Tác giả Vương Thị Đào trong luận văn thạc sĩ: “Giải pháp quản lý bồi dưỡng đội ngũ GVMN thành phố Hải Phòng trong giai đoạn từ nay đến năm 2025”, đã đi sâu nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng GVMN từ năm 2013 của thành phố Hải Phòng. Từ đó kiến nghị một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ GVMN trên địa bàn thành phố Hải Phòng đến năm 2025.
Trong luận văn thạc sĩ: “Thực trạng công tác quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Hữu Lê Huyên đã chỉ ra thực trạng về trình độ chuyên môn của các GVMN được đào tạo chắp vá qua nhiều hệ, nhiều loại hình đào tạo nên năng lực thực tế chưa tương thích với trình độ đào tạo. Qua đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm cải tiến thực trạng công tác quản lý và bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả Trần Thị Hoàng Vy trong luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trường mầm non ngoài công lập quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”, đã nêu được tính cấp thiết của việc cần phải học tập, bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên môn đối với đội ngũ GVMN đáp ứng với yêu cầu đổi mới của ngành. Qua đó, tác giả cũng đã chỉ ra những bất cập và đề xuất những biện pháp trong công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trường mầm non ngoài công lập ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Trong luận văn thạc sĩ: “Biện pháp quản lý quy trình đánh giá GVMN đáp ứng CNN ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương”, tác giả Đặng Văn Giao đã đề cập tới mục tiêu của việc đánh giá GVMN theo CNN và thực trạng hiện nay của GDMN huyện Thanh Miện về quy trình đánh giá GVMN theo CNN. Qua đó tác giả đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý quy trình đánh giá GVMN theo CNN ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Xuân Liên: “Một số biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ năng lực quản lý chuyên môn cho hiệu trưởng trường mầm non quận 5 – thành phố Hồ Chí Minh”, đã chỉ ra nguyên nhân của yếu kém của năng lực quản lý của Hiệu trưởng các trường mầm non quận 5 – thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả Phạm Thị Thanh Thủy trong luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục: “Quản lý hoạt động đào tạo GVMN ở Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng”, đã đề cập đến những vấn đề: GVMN; hoạt động đào tạo GVMN và quản lý hoạt động đào tạo GVMN. Trên cơ sở của thực tiễn và lý luận đã nghiên cứu về đào tạo GVMN ở Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng, tác giả đã đề xuất 7 giải pháp quản lý hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng.
Trong luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục: “Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo CNN ở thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng” tác giả Nông Thị Thu Trang đã luận giải về CNN GVMN, và nội dung phát triển đội ngũ giáo viên theo CNN. Trên cơ sở phân tích các đặc điểm kinh tế xã hội, giáo dục tỉnh Cao Bằng và thực trạng phát triển ĐNGVMN theo CNN ở thành phố Cao Bằng tác giả đề xuất 6 biện pháp phát triển ĐNGVMN thành phố Cao Bằng theo CNN.
Luận văn thạc sĩ: “Quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVMN huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu” của tác giả Phan Thị Hán Huệ đã luận giải những vấn đề về GVMN, năng lực sư phạm của GVMN và bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVMN. Tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng quản lý năng lực sư phạm cho GVMN ở huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích, tác giả đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho GVMN huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các giải pháp này đề cập đến phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy chính quyền địa phương; xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động bồi dưỡng; phát huy tính tích cực của GVMN trong tự bồi dưỡng và thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng.
Trong lĩnh vực quân sự, đã có một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục và luận văn thạc sĩ giáo dục học nghiên cứu về tổ chức hoạt động bồi dưỡng và các biện pháp bồi dưỡng cho các đối tượng là giáo viên, học viên của các trường sĩ quan quân đội.
- Tiêu biểu có các công trình sau: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Quốc Nghị: “Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường quân sự Quân khu 4” đã luận giải những vấn đề về tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên và những vấn đề thực tiễn đặt ra cho tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường quân sự Quân khu 4. Tác giả đã đề xuất 4 biện pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường quân sự Quân khu 4. Đó là các biện pháp: Kế hoạch hóa hoạt động bồi dưỡng; tổ chức và điều hành các hoạt động bồi dưỡng; kiểm tra, giám sát và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bồi dưỡng.
Tác giả Nguyễn Xuân Sinh trong luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên trường Sĩ quan Chính trị hiện nay” đã phân tích phương pháp học tập, bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên Trường Sĩ quan Chính trị, đồng thời luận giải đặc điểm đào tạo và những yếu tố tác động đến bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên Trường Sĩ quan Chính trị. Tác giả đã đề xuất 5 biện pháp bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên. Đó là các biện pháp: Xây dựng động cơ, tâm thế học tập; đổi mới phương pháp học tập; xây dựng quy trình bồi dưỡng; cải tiến việc thi, kiểm tra và học viên tích cực tự bồi dưỡng.
Trong luận văn thạc sĩ giáo dục học: “Bồi dưỡng năng lực dạy học cho học viên sư phạm ở Học viện Chính trị hiện nay” tác giả Lã Hồng Phương đã luận giải những vấn đề về năng lực dạy học, bồi dưỡng năng lực dạy học, nội dung và các tiêu chí để bồi dưỡng năng lực dạy học cho học viên sư phạm ở Học viện Chính trị. Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng bồi dưỡng năng lực dạy học cho học viên sư phạm ở Học viện Chính trị, tác giả đã đề xuất 5 giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng năng lực dạy học cho học viên sư phạm. Các giải pháp này bao quát từ việc củng cố xu hướng, động cơ nghề nghiệp đến việc đổi mới nội dung hình thức bồi dưỡng và phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng trong quá trình bồi dưỡng.
- Qua tổng quan các công trình nghiên cứu đã trình bày ở trên, có thể rút ra một số kết luận sau:
Một là, các công trình đều nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực CMNV sư phạm cho đội ngũ giáo viên nói chung và GVMN nói riêng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Hai là, nhiều công trình đã đề cập đến vai trò của người GVMN, ý nghĩa của việc ban hành CNN GVMN và những vấn đề cấp thiết của việc phải bồi dưỡng cho ĐNGVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, đảm bảo cho họ hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Ba là, các công trình nghiên cứu đã phân tích những thực trạng về năng lực CMNV của giáo viên và GVMN, những ưu điểm, hạn chế về trình độ CMNV của GVMN và chỉ rõ những nguyên nhân của thực trạng để giúp các nhà quản lý trong việc tổng kết những kinh nghiệm, trong việc phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, trong xây dựng ĐNGVMN có phẩm chất và năng lực CMNV đáp ứng yêu cầu của bậc học mầm non trong giai đoạn hiện nay.
Bốn là, trên cơ sở luận giải lý luận và thực tiễn, các công trình đều đề xuất những biện pháp hoặc để nâng cao chất lượng quá trình bồi dưỡng, hoặc để quản lý quá trình bồi dưỡng năng lực CMNV cho ĐNGVMN.
Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN đều được tổ chức thực hiện ở những lĩnh vực cụ thể, trên địa bàn và không gian xác định. Những biện pháp bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng được đề xuất đều gắn với những địa danh, đối tượng cụ thể và chỉ phát huy hiệu quả cao khi được tổ chức thực hiện ở những nơi có những đặc điểm tương tự.
Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về bồi dưỡng ĐNGVMN dựa theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Điều này một lần nữa khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” là cấp thiết.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN theo tiếp cận quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường.
Khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
Đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý bồi dưỡng GVMN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp quản lý bồi dưỡng GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu quản lý bồi dưỡng GVMN theo ở các trường mầm non theo hướng tăng cường quyền tự chủ của trường mầm non dựa trên mô hình quản lý dựa vào nhà trường ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Các số liệu điều tra, khảo sát sử dụng để nghiên cứu trong phạm vi 5 năm từ năm 2021 đến 2025.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu quản lý bồi dưỡng GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường bằng cách: Nâng cao nhận thức của các cấp, các lực lượng về bồi dưỡng GVMN; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng; tạo điều kiện thuận lợi cho bồi dưỡng; phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của giáo viên trong tự bồi dưỡng; kiểm tra, đánh giá thường xuyên kết quả bồi dưỡng thì sẽ quản lý tốt việc bồi dưỡng GVMN hiện nay ở các trường Mầm non trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận chuyên ngành, liên ngành, các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực giáo dục đào tạo; các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu; các báo cáo, sơ kết, tổng kết của các trường mầm non về bồi dưỡng GVMN ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát sư phạm: tiến hành quan sát bồi dưỡng GVMN tại các trường mầm non công lập ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay và hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên nhà trường.
Tiến hành điều tra, khảo sát 3 CBQL giáo dục của phòng GD&ĐT quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; 30 CBQL (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và 50 giáo viên của các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội để đánh giá thực trạng bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN.
Nghiên cứu các sản phẩm bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN như chương trình, kế hoạch, báo cáo, thống kê, đăng ký kết quả bồi dưỡng của các trường.
Tọa đàm với đội ngũ CBQL, GVMN nhà trường để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
Tiến hành xin ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng GVMN theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường tại các trường mầm non ở quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội hiện nay.
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu nhằm đánh giá chính xác kết quả điều tra khảo sát thu được.
7. Kết cấu của đề tài
Cấu trúc của luận văn gồm: Mở đầu, 3 chương ;Kết luận và kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục.
Chương 1 NHỮNG VÂN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN MẦM NON THEO MÔ HÌNH QUẢN LÝ DỰA VÀO NHÀ TRƯỜNG
1.1. Khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Giáo viên là những người lao động trí óc, thực hiện nhiệm vụ dạy học trong các nhà trường phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp. Mục 1, Điều 70, Chương IV, Luật Giáo dục 2015 xác định: “Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở GDMN, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên” [7, tr 56]. Tại Điều 34 Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo văn bản số 05/VBHN-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành ngày 13/02/2024 định nghĩa GVMN là: “Giáo viên trong các cơ sở GDMN là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.”
- Nhiệm vụ của giáo viên mầm non
Giáo viên mầm non là lực lượng chủ yếu quyết định chăm sóc nuôi dạy trẻ ở trường mầm non. Nhiệm vụ của GVMN đã được quy định trong Quyết định số 55/QĐ/-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ký ngày 3/2/1990 quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trẻ – trường mẫu giáo như sau: Thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của nhà trẻ, trường mẫu giáo, thực hiện đầy đủ chương trình, kế hoạch giáo dục phù họp với điều kiện nhà trường; phối hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ để thống nhất việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ; làm đồ chơi, đồ dùng dạy học, bảo quản và sử dụng trang thiết bị, tài sản của nhóm lớp phụ trách; đoàn kết nhất trí và phấn đấu xây dựng nhóm, lớp, trường tiên tiến; phấn đấu tự rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt theo tiêu chuẩn quy định.
Ngoài ra trong Điều 35 Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo văn bản số 05/VBHN-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành ngày 13/02/2024 quy định nhiệm vụ của giáo viên là:
- Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình GDMN: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
- Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ.
Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.
- Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hóa; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
- Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng.
Tại Điều 34 Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo văn bản số 05/VBHN-BGDĐT của Bộ GD&ĐT ban hành ngày 13/02/2024 qui định: Trình độ chuẩn được đào tạo của GVMN là có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm mầm non.
Các nhiệm vụ của người GVMN có liên quan chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Và được tiến hành thống nhất trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ. Để hoàn thành sứ mệnh là người xây dựng nền móng ban đầu của nhân cách, GVMN cần phải đạt những tiêu chuẩn sau:
- Về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức khỏe và lý lịch bản thân rõ ràng. Yêu cầu cụ thể là:
GVMN phải có lập trường tư tưởng vững vàng, yêu nghề và thương yêu trẻ, tôn trọng và đối xử công bằng với trẻ.
GVMN cần có kiến thức văn hóa cơ bản, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc trẻ em theo mục tiêu giáo dục.
GVMN phải nhiệt tình, nhanh nhẹn, dịu dàng, cởi mở, dễ hòa nhập với trẻ, phải cẩn thận, chu đáo, tỉ mỉ và biết tự kiềm chế trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Về năng lực sư phạm của GVMN: GVMN phải thường xuyên nâng cao, cập nhật trình độ chuyên môn và kiến thức của mình để có thể đảm bảo sự phát triển toàn diện hài hòa tổng thể của trẻ, từng bước chuẩn bị cho trẻ sau này thích ứng với hoạt động của trường tiểu học.
1.1.2. Bồi dưỡng và hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Thuật ngữ bồi dưỡng còn được gọi là đào tạo lại hoặc tái đào tạo.
- Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn” [40, tr.191].
- Tuy nhiên, khái niệm bồi dưỡng có những cách hiểu khác nhau.
Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo nhằm hình thành năng lực và phẩm chất nhân cách theo mục tiêu xác định. Như vậy, bồi dưỡng bao hàm cả quá trình GD&ĐT nhằm trang bị tri thức, năng lực, CMNV và những phẩm chất nhân cách. Quá trình bồi dưỡng, được hiểu theo nghĩa rộng diễn ra cả trong nhà trường và trong đời sống xã hội, có nhiệm vụ không những chỉ trang bị những kiến thức, năng lực chuyên môn cho người học trong nhà trường mà còn tiếp tục bổ sung, phát triển, cập nhật nhằm hoàn thiện phẩm chất và năng lực cho họ sau khi đã kết thúc quá trình học tập.
Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là quá trình bổ sung, phát triển, hoàn thiện nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn và những phẩm chất, nhân cách.
Hoạt động này diễn ra sau quá trình người học kết thúc chương trình giáo dục đào tạo ở nhà trường. Như vậy, theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là một bộ phận của quá trình giáo dục đào tạo, là khâu tiếp nối giáo dục đào tạo con người khi họ đã có những tri thức, năng lực chuyên môn và phẩm chất nhân cách nhất định được hình thành trong quá trình đào tạo của nhà trường.
Như vậy, có thể hiểu bồi dưỡng là quá trình bổ sung sự thiếu hụt về tri thức, năng lực chuyên môn, cập nhật những cái mới để hoàn thiện hệ thống tri thức, năng lực CMNV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Bồi dưỡng là một khâu tiếp nối quá trình đào tạo.
Từ cách tiếp cận trên, có thể đưa ra quan niệm: Hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường là những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý tới GVMN để bổ sung, cập nhật kiến thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp nhà giáo, đáp ứng yêu cầu của GVMN trong thời kỳ mới.
Mục đích bồi dưỡng: là nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện phẩm chất, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của người GVMN, góp phần phát triển đội ngũ GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường.
Chủ thể bồi dưỡng: tổ chức Đảng; Ban giám hiệu các trường mầm non; cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục cơ quan cấp trên và giáo viên được phân công làm nhiệm vụ bồi dưỡng. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Đối tượng bồi dưỡng: là giáo viên các trường mầm non, họ vừa là đối tượng bồi dưỡng, vừa là chủ thể của quá trình bồi dưỡng. Quá trình bồi dưỡng chỉ thực sự đạt hiệu quả khi người giáo viên biến quá trình bồi dưỡng thành tự bồi dưỡng.
Nội dung bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường hết sức phong phú và đa dạng, có tính toàn diện, từ những tri thức cơ bản và tri thức chuyên môn nghiệp vụ; kỹ năng kỹ xảo sư phạm; các hệ giá trị nghề nghiệp; các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhà giáo… Có thể tập trung vào bồi dưỡng những nội dung cơ bản sau:
- Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, tình cảm, thái độ và lý tưởng nghề nghiệp của nhà giáo.
- Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm.
- Bồi dưỡng nghệ thuật giao tiếp sư phạm và ứng xử các tình huống sư phạm.
- Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động chính trị xã hội.
- Các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
- Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước.
- Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động.
- Có đạo đức, nhân cách và lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo; có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp.
- Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ.
Về phương pháp bồi dưỡng: Cần đổi mới cách thức quản lý, chỉ đạo học tập bồi dưỡng theo hướng tích cực tương tác, thiết thực, hiệu quả. Coi trọng tự học, tự bồi dưỡng kết hợp với trao đổi, thảo luận, giải đáp thắc mắc trên cơ sở mỗi người đều có tài liệu học tập, kết hợp bồi dưỡng về nội dung và phương pháp dạy học, sử dụng thiết bị dạy học.
Phương pháp bồi dưỡng cần phù hợp với nội dung, đảm bảo yêu cầu nghiêm túc, hấp dẫn, thiết thực hiệu quả. Ngoài việc tổ chức nghe giảng, cần phát triển các hình thức: thảo luận, đối thoại, thực hành thao giảng, tham quan thực tế, thực hành soạn bài, sử dụng các thiết bị dạy học, thiết kế kiểm tra đánh giá theo hướng đổi mới.
Quản lý, chỉ đạo học tập bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường cần theo hướng thiết thực, hiệu quả. Chú trọng hơn tới hình thức tự học tập theo tổ, nhóm chuyên môn.
Tổ chức quản lý tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ GVMN theo đơn vị nhà trường.
- Về hình thức bồi dưỡng: Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Sử dụng đa dạng các loại hình bồi dưỡng, tuy nhiên tập trung chủ yếu các hình thức bồi dưỡng sau:
- Bồi dưỡng thông qua các lớp tập huấn.
- Bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn.
- Bồi dưỡng thông qua việc tự học của cán bộ giáo viên.
- Tự học, tự nghiên cứu tài liệu là hình thức bồi dưỡng chính và kết hợp với các hình thức học tập khác trên cơ sở tài liệu và sự hỗ trợ của hướng dẫn viên, các cá nhân, nhóm đồng nghiệp.
- Bồi dưỡng từ xa qua các phương tiện thông tin đại chúng, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, các hình thức bổ trợ của băng hình, băng tiếng.
1.1.3. Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non
F.W.Taylor (1856-1915), được coi là cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học đã định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [24, tr.19].
H.Fayol (1841-1925), tác giả của Thuyết quản lý tổng quát, định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [24, tr.17].
Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [2, tr.11].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [34, tr.87]
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với qui luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý.
Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý để tạo ra một sự chuyển biến toàn bộ hệ thống nhằm đạt đến một mục đích nhất định.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”.[2, tr.89] Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song khái niệm quản lý đã được lột tả qua một số nội dung sau đây: Quản lý là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người hay một tổ chức xã hội nào đó. Bản chất của hoạt động quản lý, là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các chức năng quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giúp cho hệ thống ổn định, thích ứng, tăng trưởng và phát triển.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN là những tác động có mục đích, có hệ thống của chủ thể quản lý đến quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ bồi dưỡng, đánh giá kết quả bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường đã ban hành đối với GVMN.
Quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, là một nội dung quan trọng, cơ bản trong hoạt động quản lý giáo viên.
Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, là tạo dựng môi trường và những điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GVMN.
Chủ thể quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN gồm chủ thể trực tiếp và chủ thể gián tiếp. Chủ thể trực tiếp là tổ trưởng tổ chuyên môn, ban giám hiệu các trường mầm non, chuyên viên phụ trách GDMN, các CBQL thuộc phòng GD&ĐT quận, Sở GD&ĐT thành phố. Chủ thể gián tiếp quản lý bồi dưỡng GVMN là các cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở có chức năng và quyền hạn quản lý giáo dục ở bậc học mầm non.
Đối tượng quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN là các hoạt động của chủ thể bồi dưỡng và hoạt động của các đối tượng được bồi dưỡng.
Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường gồm những vấn đề cơ bản sau: Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch, quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng, quản lý chủ thể và đối tượng bồi dưỡng, quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bồi dưỡng, quản lý tự bồi dưỡng của giáo viên, quản lý kiểm tra và đánh giá kết quả bồi dưỡng.
1.1.4. Quản lý dựa vào nhà trường
Quản lý dựa vào nhà trường (School Based Management, viết tắt là SBM) là một mô hình quản lý trường học hướng đến việc đem lại cho người dân và các thành viên trong nhà trường quyền được tham gia vào quản lý các hoạt động của nhà trường.
Quản lý dựa vào nhà trường có bản chất là phát huy dân chủ và tiềm năng của tất cả các thành viên trong và ngoài nhà trường để quá trình quản lý của nhà trường được minh bạch hơn nhờ đó giảm thiểu các nguy cơ gây cản trở cho sự phát triển của nhà trường (đặc biệt là nguy cơ tham nhũng); đồng thời cũng mang lại cho cha mẹ học sinh và các bên liên đới cơ hội tăng cường kỹ năng quản lý, vì thế họ có thể trở thành những thành viên có năng lực trong quá trình thực hiện quản lý nhà trường, đồng thời họ cũng chính là người hưởng lợi từ các hoạt động này.
1.2. Quản lý trường mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
1.2.1. Khái quát về mô hình quản lý dựa vào nhà trường
- Bối cảnh ra đời của mô hình quản lý dựa vào nhà trường
Vào những năm 1960, những dấu hiệu của sự khủng hoảng đối với mô hình quản lý tập trung quyền lực đã bộc lộ một cách rõ nét. Dấu hiệu nổi bật đó là:
- Thứ nhất, sự yếu kém trong kiểm soát chi tiêu công cũng như tính hiệu quả thấp của tổ chức;
- Thứ hai, sự phụ thuộc của người dân vào bộ máy có tính thứ bậc làm giảm sự chủ động và sáng tạo của người lao động trong các tổ chức đã gây nguy hại đến năng lực và khả năng hoạt động hiệu quả để đạt đến mục tiêu của tổ chức.
Trong lĩnh vực giáo dục, hai yếu tố ảnh hưởng đến tính tập trung quyền lực cũng xuất hiện.
- Thứ nhất, giáo dục phải đối mặt với sự phức tạp của tổ chức;
- Thứ hai, nhà nước không đủ khả năng để đảm bảo một cách hiệu quả cho chất lượng giáo dục và bằng chứng là nhà trường gặp nhiều thất bại trong việc rút ngắn khoảng cách giáo dục giữa các nhóm dân cư khác nhau như nhóm sắc tộc, nhóm xã hội khác nhau.
Tiếp theo đó là cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1970 và 1980 đã ảnh hưởng sâu sắc lên hệ thống giáo dục. Ở thập kỷ 80, khi khoa học quản lý hiện đại đã được ứng dụng thành công trong các tổ chức công, thương nghiệp thì một xu hướng mới đã xuất hiện trong lĩnh vực giáo dục. Nhiều người tin rằng, chất lượng giáo dục sẽ có những bước phát triển mới khi cuộc cải cách tái cấu trúc hệ thống giáo dục và phương thức quản lý giáo dục. Những nội dung cần cải cách theo xu thế mới này gồm hệ thống tổ chức và phương thức quản lý. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Các phương án cải cách tập trung vào cải thiện một chức năng nào đó của nhà trường. Ví dụ như: quan hệ giữa người với người, quan hệ giữa tổ chức nhà trường với các đối tượng có liên quan trong công việc dạy học, phương thức quản lý, lãnh đạo .v.v. Kết quả nghiên cứu về xu hướng này đã thông kê được 10 phương án cải cách phổ biến trong giáo dục, chủ yếu hướng tới phi tập trung hóa hay tăng việc phân cấp quản lý tới cấp độ nhà trường tự chủ.
Những dạng khác nhau tiêu biểu của xu thế trên có thể kể đến gồm: phong trào nhà trường hiệu quả tìm kiếm đặc trưng của nhà trường hiệu quả và phổ biến chúng; phong trào tự chủ tài chính trong nhà trường nhấn mạnh tự chủ sử dụng tài nguyên của nhà trường. Tư tưởng cốt lõi của chủ trương này là chính quyền trung ương nên chuyển giao quyền lực cho chính quyền địa phương, cho cấp dưới bằng việc cụ thể hóa thông qua nhiều hoạt động của nhà trường như: trao quyền tự chủ trong phát triển chương trình đào tạo, tự chủ trong phát triển đội ngũ nhân sự nhà trường, quản lý trường học dựa vào trường học.
Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là khi quyền lực được trao tới cấp độ nhà trường mà thiếu giám sát thì không thể đảm bảo nhà trường có thể sử dụng quyền lực một cách hữu hiệu để nâng cao chất lượng giáo dục hay không. Do đó, cần phải có cơ chế quản lý song hành, đó là lãnh đạo nhà trường và những người được thụ hưởng dịch vụ giáo dục đều có quyền tham gia vào quá trình ban hành các quyết sách ở cấp độ nhà trường.
Quan điểm nêu trên đã dấy lên phong trào phát huy vai trò của cộng đồng trong quá trình ra quyết định ở cấp độ nhà trường. Đó chính là yếu tố cốt lõi dẫn đến sự ra đời của mô hình quản lý dựa vào nhà trường.
- Những vấn đề cốt lõi của mô hình quản lý dựa vào nhà trường
Trong bối cảnh các quốc gia phát triển, ý tưỡng cốt lõi về quản lý dựa vào nhà trường là những người làm việc trong nhà trường cần có nhiều quyền điều hành, quản lý hơn trong chính nhà trường của họ. Đối với các nước phát triển, ý tưởng về quản lý dựa vào nhà trường không được tham vọng cao như vậy mà chủ yếu tập trung vào lôi cuốn sự tham gia của cộng đồng và cha mẹ học sinh vào tiến trình đưa ra quyết định của nhà trường hơn là việc đặt họ vào vị trí đã xếp đặt sẵn để điều hành. Tuy nhiên, trong cả hai bối cảnh trên, chính quyền trung ương luôn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực giáo dục. Xác định rõ được vai trò của chính quyền trung ương ảnh hưởng tới quan niệm và phương thức thực hiện các hoạt động của mô hình quản lý dựa vào nhà trường. Theo Carldwell (1998), quản lý dựa vào nhà tường là sự phân cấp sự chuyển giao quyền lực từ chính quyền trung ương đến cấp độ nhà trường.
Về mặt thuật ngữ, quản lý dựa vào nhà trường được hiểu là sự thay đổi chính thức của các cấu trúc điều hành như là một dạng của phân cấp quản lý, trong đó xác định vai trò của đơn vị nhà trường như một bộ phận cơ bản của quá trình cải tiến và dựa vào sự phân công lại quyền đưa ra quyết định là phương tiện chủ yếu qua đó mà sự cải tiến được thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Theo cách hiểu trên về quản lý dựa vào nhà trường, trách nhiệm và quyền đưa ra quyết định, hoạt động của nhà trường được chuyển giao đến cán bộ quản lý nhà trường, giáo viên, cha mẹ học sinh và đôi khi tới cả học sinh và các thành viên cộng đồng khác nơi trường đóng. Tuy nhiên, các nhân tố quản lý ở cấp độ nhà trường này phải thích ứng với hoạt động trong khuôn khổ các chính sách do chính quyền trung ương ban hành.
Cũng về mặt thuật ngữ, quản lý dựa vào nhà trường, theo lý giải của một số tác giả khác được hiểu là sự thay đổi chính thức của các cấu trúc điều hành, như là một dạng của phân cấp, trong đó xác định vai trò của đơn vị nhà trường như là một bộ phận cơ bản của quá trình cải tiến và dựa vào sự phân công lại quyền đưa ra quyết định là phương tiện chủ yếu qua đó mà sự cải tiến được thúc đẩy, duy trì bởi sự bền vững.
Trên thực tiễn, mô hình quản lý dựa vào nhà trường có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và ở các cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung nhất và nổi bật nhất có thể nhận thấy ở mô hình này là việc thực hiện chuyển giao quyền lực cho cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường, khuyến khích những thành phần khác ngoài nhà trường (những người được ủy nhiệm của địa phương nơi trường đóng, đại diện cha mẹ học sinh…) tham gia vào các ban điều hành của nhà trường, hoặc Hội đồng trường, hoặc các ban quản lý nhà trường, Nhìn chung, các chương trình quản lý dựa vào nhà trường chuyển giao quyền lực đối với một hoặc một số hoạt động sau:
- Phân bổ ngân sách;
- Tuyển dụng, sử dụng giáo viên và đội ngũ nhân viên nhà trường;
- Phát triển chương trình giáo dục;
- Cải tiến cơ sở vật chất, phương tiện thiết bị giáo dục và dạy học;
- Giám sát, đánh giá hoạt động giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh.
Liên quan đến chuyển giao quyền lực hay ra các quyết định (hay quyết sách) ở cấp độ nhà trường luôn được yêu cầu đi kèm với các chế độ quản lý dưới dạng các quyết định được đưa ra có tính chất tập thể, điều này chính là cơ sở làm tăng sự minh bạch của tiến trình quản lý nhà trường. Nhiều quốc gia thực hiện mô hình này cũng hướng tới mục đích làm tăng trách nhiệm và tăng sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng vào trong tiến trình đưa ra quyết định. Thành tích học tập của học sinh và những kết quả khác sẽ được cải tiến khi các bên liên quan trong quản lý nhà trường có thể giám sát các vấn đề cơ bản ảnh hưởng tới kết quả quản lý nhà trường như: nhân sự, tài chính và đánh giá học sinh. Việc này cũng hướng tới giúp đảm bảo có sự phù hợp giữa nhu cầu và các chính sách. Sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả. Vấn đề này cũng được nhấn mạnh trong các báo cáo về các cải cách quản lý trong nhà trường của tổ chức World Bank như là cách thức để tăng cường sức mạnh cho mối quan hệ trách nhiệm giữa khách hảng (cha mẹ và học sinh) và người cung cấp dịch vụ giáo dục (hiệu trưởng, giáo viên và chính quyền). Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Các nghiên cứu đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank) đối với khoảng hơn 20 nước trên thế giới ở các châu lục khác nhau năm 2017 đã xác định 5 mức độ thực hiện quản lý dựa vào nhà trường như sau:
- Rất mạnh: các Hội đồng, Ban đại diện cha mẹ học sinh hoặc các bộ phận nhà trường điều hành toàn bộ hoặc gần như toàn bộ hoạt động của nhà trường.
- Mạnh: mức độ cao của sự chuyển giao quyền lực cho các Hội đồng nhà trường qua ngân sách, đội ngũ và điều hành qua ngân sách. Chẳng hạn, nhà trường nhận được một nguồn tài chính hoặc tài trợ.
- Tương đối mạnh: các Hội đồng được quyền tuyển dụng, sử dụng giáo viên, hiệu trưởng và chương trình giáo dục nhưng bị hạn chế quyền lực đối với vấn đề tài chính và điều hành các nguồn lực khác.
- Trung bình: các Hội đồng nhà trường được thành lập những đóng vai trò tư vấn là chủ yếu hoặc có rất ít quyền tự chủ đối với việc lập kế hoạch và các mục tiêu chiến lược.
- Yếu: hệ thống các trường công được phân cấp quản lý tới cấp tỉnh/thành phố hoặc vùng (gồm ít nhất 2 tỉnh/thành phố trở lên). Tuy nhiên, các trường học hiển nhiên không được chuyển giao đối với bất kỳ quyết định nào về hành chính và chương trình giáo dục.
Như vậy, về bản chất, quản lý dựa vào nhà trường có khả năng đảm bảo trách nhiệm của những người đưa ra quyết định ở cấp độ nhà trường cho chính các thành viên của họ. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc xây dựng năng lực cho các thành viên cộng đồng, giáo viên và hiệu trưởng để tạo ra hoặc tăng thêm văn hóa trách nhiệm là yêu cầu quan trọng để quản lý dựa vào nhà trường.
1.2.2. Quản lý trường mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường
Nghiên cứu mô hình quản lý dựa vào nhà trường của các nước trên thế giới giúp cho việc thực hành quản lý trường mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường được thuận lợi.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam, nội dung quản lý dựa vào nhà trường đã được thực hiện thông qua quá trình phân cấp quản lý giáo dục. Luật Giáo dục nước ta đã nêu (Điều 14): Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.
Từ định hướng trên, quản lý trường mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường có các nội dung cơ bản sau:
- Trường mầm non thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ;
- Trường mầm non thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và nhân sự;
- Trường mầm non thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính;
1.3. Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
1.3.1. Những vấn đề lý luận chung về bồi dưỡng giáo viên mầm non
- Đổi mới giáo dục mầm non và những yêu cầu đặt ra với giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay
GDMN là cơ sở ban đầu cho giáo dục phổ thông, là cấp học đầu tiên cung cấp những tiên đề phát triển thể chất và trí tuệ hết sức quan trọng để trẻ có thể tiếp tục học tập các cấp học cao hơn. Do đó, việc nuôi dạy trẻ có một vai trò cực kì quan trọng. vai trò này thuộc về đội ngũ GVMN. Để những “cây non” của đất nước “sau này càng lên tốt” thì người trồng cây phải biết cách chăm sóc, nuôi dạy và nâng niu. Trẻ em ở mỗi thời kỳ có những thay đổi và phát triển về trí tuệ khác nhau. Vì vậy, người GV luôn được đòi hỏi cao để đáp ứng với nhu cầu của phụ huynh và xã hội. Theo Hồ Chí Minh “làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy phải bền bỉ chịu khó mới dạy được các cháu” và “Dạy trẻ như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này càng lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt nhất thì sau này các cháu thành người tốt”, hay “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình”.
- Những yêu cầu đặt ra đối với GVMN trong giai đoạn đổi mới GDMN hiện nay gồm:
Ngoài các tiêu chí của các yêu cầu được quy định trong CNN GVMN, người GVMN cần phải có một số năng lực và phẩm chất sau:
- Người GVMN phải thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, yêu mến trẻ, tôn trọng trẻ, là tấm gương hằng ngày đối với chúng. Lòng yêu nghề và động lực giúp cho người GV gắn bó với trẻ biểu hiện ở tấm lòng nhân hậu, vị tha, công bằng, tế nhị và chu đáo với trẻ. Đây là yếu tố quyết định đối với hoạt động sư phạm của người GVMN.
- Người GVMN cần có ý chí cao, tính tình cởi mở, cứng rắn nhưng lai kiên nhẫn và biết tự kiềm chế.
- Người GVMN cần có tinh thần trách nhiệm cao thể hiện sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục trẻ và thường xuyên có ý thức học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ và hoàn thiện bản thân.
- Người GVMN cần có năng lực tổ chức cuộc sống và các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, sáng tạo.
- Người GVMN phải có khả năng khéo léo trong sử lý sư phạm.
- Người GVMN phải có một số năng lực sư phạm riêng biệt như múa, hát, đọc và kể diễn cảm, ứng dụng công nghệ thông tin trong soạn bài và tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với khả năng của trẻ ….
- Người GVMN phải có năng lực kết hợp việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở gia đình và xã hội vì lợi ích sự nghiệp GDMN.
- Người GVMN cần có khả năng tự kiểm tra hoạt động giáo dục của mình và đồng nghiệp để rút kinh nghiệm và học tập nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, nuôi dưỡng, GDMN.
- Người GVMN cần có sức khỏe tốt, có ngoại hình dễ nhìn, lịch sự trong cách ăn mặc, đầu tóc, trang điểm .
Quá trình bồi dưỡng giáo viên mầm non
- Mục đích và các mục tiêu bồi dưỡng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Mục đích bồi dưỡng GVMN là một hoạt động sư phạm, là quá trình cung cấp những tri thức về chuyên môn, về nghiệp vụ quản lý, nhằm vun đắp, bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho đội ngũ GV trên cơ sở những kiến thức, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ họ đã có, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ về thể chất và tinh thần.
Tùy theo từng đối tượng, từng yêu cầu mà hoạt động bồi dưỡng đề ra những mục tiêu phù hợp. hiện nay, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, GVMN nhằm đạt các mục tiêu như sau:
- Đào tạo chuẩn hóa trình độ.
- Đào tạo nâng cao trình độ trên chuẩn
- Bồi dưỡng đổi mới chương trình, dạy theo chương trình mới, sách mới (bồi dưỡng thay sách).
- BD trình độ chính trị, kiến thức, kỹ năng sư phạm đáp ứng
Nội dung bồi dưỡng GVMN
- Bồi dưỡng kiến thức:
Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về GVMN; về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi MN; các kiến thức cơ sở chuyên ngành; Các kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội liên quan đến giáo dục MN.
- Bồi dưỡng những kỹ năng về chăm sóc – giáo dục trẻ:
Bồi dưỡng về kỹ năng lập kế hoạch chăm sóc- giáo dục trẻ theo năm học, tháng, tuần, lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ thực hiện các mục tiêu chăm sóc – giáo dục trẻ.
Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ chức bữa ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục trẻ: tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ, môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào công việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và các phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ phù hợp.
Bồi dưỡng kỹ năng quản lý lớp học, đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ; Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc- giáo dục; Quản lý và sử dụng hiệu quả hồ sơ cá nhân, nhóm, lớp.
Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng sử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mỏ, thẳng thắn, gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp ứng xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác.
- Bồi dưỡng thực hiện chuyên đề
Chuyên đề được hiểu là những vấn đề chuyên môn được đi sâu chỉ đạo trong một thời gian nhất định, nhằm tạo ra sự chuyển biến chất lượng về vấn đề đó, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ. Chính vì vậy, các cấp QLGD cần có kế hoạch chỉ đạo chuyên sâu từng chuyên đề và tập trung vào những vấn đề khó, vấn đề còn hạn chế của nhiều GV hoặc vấn đề mới theo chỉ đạo của ngành, giúp cho GV nắm vững những vấn đề lý luận và có kỹ năng thực hành chuyên đề tốt.
- Chủ thể và đối tượng tham gia bồi dưỡng
Chủ thể bồi dưỡng giáo viên là các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và đội ngũ báo cáo viên tại các lớp bồi dưỡng giáo viên.
Đối tượng bồi dưỡng giáo viên là đội ngũ giáo viên có nhu cầu và nhiệm vụ phải thực hiện một chương trình bồi dưỡng nào đó do các cấp quản lí có thầm quyền hoạch định.
Hình thức, phương pháp bồi dưỡng GVMN
- Hình thức bồi dưỡng Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Bồi dưỡng thường xuyên: Là bồi dưỡng theo chu kỳ cho GVMN để họ được bổ sung các kiến thức thiếu hụt và cập nhật kiến thức mới về chủ trương, đường lối giáo dục, về nội dung trương trình, phương pháp giáo dục trẻ. Việc bồi dưỡng, thường xuyên trau dồi kiến thức, nếu không sẽ khó có thể dạy tốt trương trình mới.
Bồi dưỡng thay sách: Là hình thức bồi dưỡng được tiến hành khi có những thay đổi về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trẻ. Loại bồi dưỡng này chủ yếu giúp giáo viên có kiến thức mới, cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ năng sư phạm giúp cho đội ngũ giáo viên mầm non có thể dạy tốt chương trình mới. Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong dịp hè trước khi năm học mới bắt đầu.
Bồi dưỡng tại chỗ: Là tổ chức bồi dưỡng ngay tại địa phương nơi giáo viên hoạt đông, thông qua sinh hoạt nhóm, tổ chuyên môn, tổ chức hội thảo theo từng trường hoặc cụm trường… Có nhiều hoạt động phong phú để bồi dưỡng giáo viên theo hướng này:
- Tổ chức cho giáo viên dự giờ, thăm lớp lẫn
- Tổ chức chuyên đề về phương pháp chăm sóc- giáo dục trẻ.
- Tổ chức rút kinh nghiệm sau mỗi học kỳ, mỗi năm học.
- Các giáo viên trong trường có thể giúp đỡ lẫn nhau, làm việc theo cặp hoặc theo tổ. Giáo viên giỏi giúp giáo viên còn yếu về chuyên môn, giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy giúp giáo viên mới ra trường.
- Tổ chức cho giáo viên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm.
- Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các hội thảo,
Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu với các yêu cầu như: Phát huy hình thức tự bồi dưỡng, kết hợp nghe giảng, trao đổi thảo luận; tăng cường thực hành, rút kinh nghiệm, chia sẻ cùng đồng nghiệp; Chú trọng sử dụng các thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học. Bồi dưỡng là loại hình của hoạt động dạy và học. Yếu tố nội lực trong bồi dưỡng là tự bồi dưỡng. Trong bồi dưỡng, việc tự bồi dưỡng sẽ phát huy hiệu quả tối ưu khi có sự định hướng của quản lý hợp lý và phải dựa trên cơ sở ý thức tự giác và tự bồi dưỡng của người học.
- Phương pháp bồi dưỡng
Phương pháp bồi dưỡng là cách làm, cách tiến hành triển khai hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên. Quản lý phương pháp bồi dưỡng nghĩa là nhà quản lý phải năm được phương pháp, cách thức sẽ tiến hành trong hoạt động bồi dưỡng, từ đó sẽ biết được phương pháp tiến hành bồi dưỡng đã phù hợp chưa, đã lạc hậu chưa và có sáng tạo đổi mới gì trong phương pháp đổi mới gì trong phương pháp tổ chức bồi dưỡng hay không, các phương pháp đó có giúp đạt được mục tiêu mong muốn cũng như đáp ứng các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp không? Nội dung các phương pháp bồi dưỡng gồm có:
- Nêu vấn đề, thảo luận theo nhóm
- Nêu tình huống, tổ chức giải quyết theo nhóm
- Nêu vấn đề, cá nhân nghiên cứu tài liệu, trình bày báo cáo
- Tọa đàm, trao đổi
- Thuyết trình kết hợp minh họa bằng hình ảnh
- Thuyết trình kết hợp luyện tập, thực hành
- Phối hợp các phương pháp
1.3.2. Nội dung quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
- Quản lý xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Trong các hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường thì việc tự xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất và mang tính định hướng cho mọi hoạt động. Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì các chức năng khác đều phải dựa vào nó để hướng vào thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, cần dựa trên những cơ sở sau:
Phân tích thực trạng bồi dưỡng GVMN theo MHQl dựa vào nhà trường ở thời điểm trước thông qua thực tế công việc và tổng kết tình hình bồi dưỡng trong năm. Từ đó rút ra những ưu điểm và khuyết điểm, sắp xếp từng vấn đề để giải quyết.
Tìm hiểu nhận thức về MHQL dựa vào nhà trường của GVMN, hành động giáo dục, từ đó có kế hoạch điều chỉnh.
Kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở khảo sát tình hình đội ngũ GVMN. Khảo sát đội ngũ để phân loại thành các nhóm khác nhau nhằm định hướng các nội dung và hình thức bồi dưỡng cho mỗi nhóm. Có thể tổ chức việc khảo sát và phân loại theo các cách tiếp cận sau:
Phân loại theo nội dung bồi dưỡng: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; bồi dưỡng năng lực; các lĩnh vực chính trị, văn hóa, chuyên môn, kỹ năng…
Phân loại theo mục tiêu bồi dưỡng: Bồi dưỡng nâng cao; bồi dưỡng hoàn chỉnh (kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ).
Phân loại theo đối tượng bồi dưỡng: Bồi dưỡng GVMN mới ra trường, bồi dưỡng GVMN lâu năm, bồi dưỡng GVMN nâng chuẩn…
Phân loại theo tính chất và quy mô: Bồi dưỡng GVMN giỏi, bồi dưỡng GVMN cốt cán, bồi dưỡng đại trà,…
Phân loại theo kế hoạch thời gian: bồi dưỡng dài hạn; ngắn hạn; bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ; bồi dưỡng theo chuyên đề,… Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Kế hoạch bồi dưỡng phải xác định mục tiêu của hoạt động bồi dưỡng theo chuẩn nghề nghiệp.
Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng nhằm vào đối tượng nào, bồi dưỡng để người tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng và có thái độ như thế nào. Nói cụ thể hơn là sau bồi dưỡng thì đội ngũ GVMN đạt được mức độ như thế nào so với các yêu cầu.
Mục tiêu bồi dưỡng là nhằm trang bị cho GVMN phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; kiến thức và kỹ năng sư phạm phương pháp thực hiện nhiệm vụ, góp phần nâng cao chất lượng GDMN.
Bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường không chỉ nhằm khắc phục những yếu kém, hẫng hụt mà còn phục vụ các mục tiêu nâng cao năng lực GVMN.
Kế hoạch bồi dưỡng phải dự kiến các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động bồi dưỡng.
Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng lựa giảng viên, nguồn kinh phí cho mọi hoạt động bồi dưỡng, tài liệu và phương tiện vật chất khác (như hội trường, máy móc thiết bị, tài liệu …), thời lượng để thực hiện chương trình bồi dưỡng và thời điểm tổ chức bồi dưỡng.
Dự kiến các biện pháp và hình thức tổ chức là việc làm cũng không kém phần quan trọng. Việc này được thực hiện trong tiến trình bồi dưỡng. Kế hoạch phải thể hiện việc tổ chức bồi dưỡng tập trung cả thời gian, hay tập trung từng giai đoạn, tổ chức thành lớp hay theo nhóm, ở tại quận hay tổ chức kết hợp với tham quan thực tế,… và cuối cùng là biện pháp đánh giá như thế nào (thi, viết bài thu hoạch,…).
Muốn kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả cần phải đầu tư để hoạch định từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể.
Trong tổ chức thực hiện kế hoạch, trước hết cần phải xây dựng quy chế hoạt động của bộ máy bồi dưỡng, tổ chức điều phối các lực lượng, phát huy vai trò của các lực lượng, các công cụ phương tiện quản lý để bồi dưỡng đạt hiệu quả cao và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của GVMN trong bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
- Tổ chức thực hiện mục tiêu, nội dung, chỉ đạo đổi mới phương pháp và hình thức bồi dưỡng
Việc xây dựng mục tiêu bồi dưỡng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Mục tiêu bồi dưỡng là một phần của mục tiêu xây dựng người GVMN ttheo MHQL dựa vào nhà trường của Bộ GD&ĐT đã ban hành. Do vậy, mục tiêu bồi dưỡng GVMN chính là góp phần xây dựng đội ngũ GVMN vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm. Quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường phải xây dựng được mục tiêu cụ thể của từng đợt bồi dưỡng và tổ chức thực hiện mục tiêu bồi dưỡng đã xác định. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Trên cơ sở mục tiêu bồi dưỡng đã xác định, cần xây dựng, lựa chọn các nội dung bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng chính là hệ thống các kiến thức về chính trị xã hội, về CMNV của GDMN, về tay nghề (kĩ năng, kĩ xảo), mà người học cần phải được lĩnh hội để đạt được mục tiêu bồi dưỡng. Xét theo cấu trúc của nội dung bồi dưỡng, quản lý nội dung bồi dưỡng là quá trình hoạch định và triển khai trên thực tiễn những nội dung phục vụ cho mục tiêu bồi dưỡng. Các nội dung này được xác định theo 2 nhóm chính như sau:
- Nhóm nội dung chính trị xã hội: Gồm triết học, chính trị học, giáo dục công dân, dân số, môi trường, pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với GDMN… góp phần chủ yếu vào đáp ứng yêu cầu GVMN giai đoạn hiện nay.
- Nhóm nội dung kiến thức, kỹ năng…
Phương pháp và hình thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, phải hết sức linh hoạt, phù hợp với nội dung, với trình độ của giáo viên, lôi cuốn, hấp dẫn GVMN, để họ tích cực tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng.
Tổ chức hoạt đông thực hiện mục tiêu, chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng được tiến hành trong suốt quá trình bồi dưỡng, thông qua việc quản lý hoạt động dạy và hoạt động học sao cho các kế hoạch, nội dung chương trình bồi dưỡng được triển khai một cách đầy đủ, đúng về nội dung và tiến độ thời gian nhằm đạt được các yêu cầu của mục tiêu bồi dưỡng đã xác định.
- Quản lý hoạt động của chủ thể và đối tượng bồi dưỡng
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp bồi dưỡng cho GVMN thì việc quản lý hoạt động của các lực lượng tham gia bồi dưỡng là một trong những điều kiện quyết định đến chất lượng bồi dưỡng. Trong quá trình bồi dưỡng, lực lượng tham gia bồi dưỡng với tư cách là chủ thể, giữ vai trò trung tâm của quá trình bồi dưỡng.
Lực lượng tham gia bồi dưỡng là những cán bộ có trách nhiệm, có năng lực kiến thức chuyên môn nghiệp vụ trong ban giám hiệu các trường mầm non và một số giáo viên giỏi. Căn cứ vào nội dung, yêu cầu bồi dưỡng, các cơ quan quản lý GD&ĐT thành phố và quận, ban giám hiệu các trường mầm non mời những cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt của các ban ngành chức năng của thành phố và của quận, các nhà khoa học, các giảng viên của các trường Đại học, Cao đẳng tham gia bồi dưỡng.
Quản lý chủ thể bồi dưỡng bao gồm: Quản lý về số lượng, quản lý về trình độ nhận thức, kỹ năng, quản lý các hoạt động của chủ thể bồi dưỡng, với mục đích phát huy tối đa vai trò của các chủ thể trong bồi dưỡng ĐNGV.
Quản lý lực lượng tham gia bồi dưỡng phải quản lý ý thức trách nhiệm, phẩm chất năng lực đảm bảo cho lực lượng bồi dưỡng hoàn thành tốt nhiệm vụ bồi dưỡng. Đồng thời theo dõi, đôn đốc thực hiện, đánh giá được kết quả thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ giảng viên và của từng giảng viên. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Đối tượng bồi dưỡng là những GVMN tại các trường mầm non trong quận. Quản lý đối tượng bồi dưỡng là quản lý về số lượng, quản lý về chất lượng, quản lý các hoạt động của đối tượng, với mục tiêu phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của ĐNGV. Nội dung cụ thể là:
- Theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá được kết quả thực hiện việc học tập. Bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên và của từng GVMN .
- Nắm được các ưu điểm, khuyết điểm, đánh giá được sự tiến bộ về các mặt chính trị, tư tưởng, phẩm chất đạo đức của từng GVMN.
- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích GVMN phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập rèn luyện ngày càng cao.
Quản lý hoạt động học của giáo viên tham gia bồi dưỡng là quản lý việc tổ chức các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của họ trong quá trình bồi dưỡng. Khuyến khích, lôi cuốn sự tham gia tự giác, tích cực của họ, chú trọng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp một cách lành mạnh, phong phú, hấp dẫn.
- Quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bồi dưỡng
Quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất phục vụ bồi dưỡng là khai thác, sử dụng tốt điều kiện cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính và các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng.
Đây là nội dung đảm bảo cho hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường có thể được thực hiện và thực hiện một cách có kết quả.
Người hiệu trưởng phải quan tâm đặc biệt đến đời sống, sức khỏe và sự trưởng thành nghề nghiệp của giáo viên, cố gắng đưa ra những nhận xét khen chê kịp thời đối với giáo viên nhằm khuyến khích hoạt động nhiệt tình của họ. Đồng thời tạo những điều kiện, những cơ hội cho ĐNGV tham gia vào xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng giáo viên tham gia các hội thảo chuyên môn, dự các lớp tập huấn, tham gia các hội nghị sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về giáo dục mầm non, hỗ trợ kinh phí, phương tiện và thời gian để giáo viên có thể tham gia các hình thức bồi dưỡng, không chỉ ở trong trường mình mà còn ở các trường mầm non ở ngoài quận, ngoài thành phố…
Xây dựng chế độ, chính sách động viên khuyến khích GVMN tham gia bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường, giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, thống nhất các loại hồ sơ, sổ sách của tổ, nhóm, của giáo viên.
Một yếu tố hạn chế hoạt động bồi dưỡng là thiếu cơ sở vật chất. Để bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường cần có đầy đủ phòng học, tài liệu, trang thiết bị hỗ trợ… Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Để đảm bảo quản lý bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường thì trong cơ chế quản lý cần giải quyết hợp lý các đề xuất, kiến nghị từ giáo viên. Xây dựng bầu không khí tâm lý sư phạm lành mạnh, phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, làm cho mọi người tin tưởng vào sự phát triển của nhà trường để đem hết nhiệt huyết cống hiến cho sự phát triển chung của nhà trường.
- Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng
Theo lý thuyết hệ thống, kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược trong quản lý. Kiểm tra trong quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người Hiệu trưởng có được thông tin để đánh giá thành tựu công việc, uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở của những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng hiệu quả công việc.
Để lượng hóa kết quả hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường phải căn cứ tiêu chí đánh giá kết quả chất lượng của GVMN, đánh giá về tự bồi dưỡng, về xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức thực hiện kế hoạch, về đội ngũ giáo viên…
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp hiệu quả hoạt động bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường chính là đánh giá ĐNGV qua trình độ của ĐNGV được thể hiện trong quá trình bồi dưỡng năng lực giảng dạy, kiến thức chuyên môn, phẩm chất chính trị, lối sống dựa trên quy định của Bộ GD&ĐT đã đề ra các về trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, lối sống, kỹ năng chuyên môn, năng lực sư phạm…
Bản lĩnh và uy tín khoa học của người giáo viên được coi là một trong những thước đo quan trọng khi đánh giá, phân loại giáo viên. Cơ sở đánh giá năng lực giáo viên phải dựa vào kiến thức, năng lực sư phạm, phẩm chất chính trị, lối sống….
Kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng giáo viên phải được tiến hành một cách khách quan, công bằng và công khai. Việc quản lý chặt chẽ kết quả bồi dưỡng sẽ là cơ sở để tiếp tục xác định kế hoạch, chương trình nội dung của các đợt bồi dưỡng tiếp theo, đồng thời giúp các chủ thể quản lý ra những quyết định điều chỉnh chính xác, góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng.
1.4. Những yếu tố tác động đến quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non theo mô hình quản lý dựa vào nhà trường
1.4.1. Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp GD&ĐT, trên cơ sở coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, đã chỉ đạo xây dựng, ban hành CNN của GVMN, giáo viên tiểu học và giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông, từ đó có định hướng, chỉ thị, quyết định, …để bồi dưỡng nhà giáo. Đây là căn cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đây cũng là cơ sở để các chủ thể quản lý giáo dục, hiệu trưởng các trường mầm non hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về bồi dưỡng GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường cho phù hợp với yêu cầu phát triển GD&ĐT trong thời kỳ mới.
Để bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường mang lại hiệu quả cao. Ngoài sự đầu tư của Nhà nước, thành phố và quận đã quan tâm đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động này về CSVC, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiện các giải pháp bồi dưỡng,… Đây là những thuận lợi để thực hiện mục tiêu mà nhà quản lý mong đợi.
Bồi dưỡng GVMN là một trong những vấn đề rất quan trọng trong chiến lược phát triển nói chung của mỗi trường mầm non. Chính vì vậy, trong “Chiến lược phát triển GD&ĐT Thủ Đô đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2020,” các mục tiêu cụ thể về bồi dưỡng đội ngũ GVMN theo MHQL dựa vào nhà trường cũng được đề cập đến. Chính những mục tiêu cụ thể trong bồi dưỡng đã có những tác động đến công việc của nhà trường hằng năm về những vấn đề như:
Xây dựng đội ngũ GVMN đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao.
Xây dựng và phát triển đội ngũ GVMN về quy mô và cơ cấu, có đủ năng lực để xây dựng một tổ chức tiên tiến. Dự báo số lượng cán bộ đến năm 2020 của nhà trường. Dự báo đội ngũ nhân lực có học vị thạc sỹ, cử nhân. Bên cạnh đó các trường cũng đưa ra giải pháp cụ thể để bồi dưỡng đội ngũ trong đó bồi dưỡng giáo viên mầm non theo MHQL dựa vào nhà trường là cách thức vừa phát triển đội ngũ, vừa nâng cao chất lượng ĐNGVMN.
Trên cơ sở đó, các trường mầm non có chính sách, chế độ định kỳ bồi dưỡng trình độ CMNV cho GVMN, thúc đẩy mỗi giáo viên tinh thần, ý thức tự học, tự bồi dưỡng, nỗ lực tự hoàn thiện phẩm chất và năng lực chuyên môn.
Những vấn đề trên đã tác động mạnh đến các chủ thể quản lý, đòi hỏi hoạt động quản lý phải không ngừng đổi mới, phải có những giải pháp quyết liệt để làm chuyển biến hoạt động bồi dưỡng về phẩm chất và năng lực cho GVMN trong giai đoạn mới.
1.4.2. Yếu tố chủ quan
Giáo viên mầm non có chức năng, nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Phẩm chất, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của GVMN là những nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả GD&ĐT của các trường mầm non. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Thực tiễn cho thấy, nếu GVMN, có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, yêu người, yêu nghề, có năng lực chuyên môn tốt sẽ là một yếu tố cơ bản nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ở các trường mầm non.
Quá trình bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN phải được xây dựng trên cơ sở đánh giá đúng chất lượng đội ngũ GVMN. Chất lượng đội ngũ GVMN chính là căn cứ khoa học để xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng. Chính vì vậy, quá trình bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN chịu sự tác động của trình độ, năng lực, phẩm chất đội ngũ GVMN, đòi hỏi quá trình bồi dưỡng phải có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời trang bị cho GVMN những kiến thức, kỹ năng cần thiết nhất đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng của họ.
Trong hoạt động bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN, có thể coi các yếu tố chủ quan như là nội lực, các yếu tố khách quan là ngoại lực. Như vậy, nội lực là nhân tố quyết định, còn ngoại lực là điều kiện hỗ trợ, song chúng không hề tách rời, mà luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Trong hoạt động, nhà quản lý cần phải biết vận dụng, kết hợp tốt, tạo nên sự giao thoa giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan thì hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng CNN sẽ đạt được kết quả như mong đợi.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là bậc khởi đầu quan trọng có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi. Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1. Để thực hiện mục tiêu này, đòi hỏi ĐNGVMN phải có phẩm chất và nhân cách hoàn thiện, theo đó cần phải tăng cường chất lượng hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non.
Mô hình quản lý dựa vào nhà trường có bản chất là tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục và gia tăng cơ hội để các thành viên của cơ sở giáo dục và cha mẹ học sinh cũng như các thành viên khác thuộc cộng đồng tham gia vào các hoạt động, đặc biệt là việc ra các quyết định, quyết sách của cơ sở giáo dục. Mô hình này phù hợp với phân cấp quản lý giáo dục hiện nay ở Việt Nam.
Vận dụng mô hình quản lý dựa vào nhà trường để quản lý trường mầm non, quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non là quá trình gia tăng quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non. Theo đó, các chức năng quản lý hoạt động bồi dưỡng GVMN sẽ có phải được thiết kế theo đúng bản chất của quản lý dựa vào nhà trường. Luận văn: Quản lý bồi dưỡng giáo viên mầm non quận Hoàn Kiếm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực tiễn bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Q.Hoàn Kiếm

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

