Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu cơ sở lý luận hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non và quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm Luận văn đã bổ sung làm rõ thêm những vấn đề về lý luận của đề tài trên cơ sở làm rõ tổng quan nghiên cứu vấn đề, các khái niệm cơ bản; đặc biệt xem xét tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non và tầm quan trọng của quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non, việc thực hiện quản lý: nội dung, phương pháp, hình thức, các yêu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn đã khảo sát, đánh giá khách quan thực trạng hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non và quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non có tính ngẫu nhiên, phân tầng đối với 7 trường khác nhau về quy mô, hạng trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên các nội dung được xác định ở khung lý luận. Nghiên cứu đã chỉ ra những thực trạng, hạn chế như: Tập huấn cho đội ngũ sư phạm về kiến thức kỹ năng phát hiện, xử lý khi có dịch bệnh; Kinh phí trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị vệ sinh phòng dịch; Hình thức phối hợp với y tế, địa phương trong phòng, chống dịch bệnh; Công tác kiểm tra – đánh giá; Nhận thức của cha mẹ trẻ em về tầm quan trọng của công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non; Điều kiện của làm việc đối với độn ngũ sư phạm trong công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non trong địa bàn nghiên cứu.
Luận văn đã đề xuất được 06 biện pháp pháp quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Các giải pháp luận văn đề xuất dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp, tác động vào những khâu yếu đã phát hiện từ thực trạng và phát huy những điểm mạnh, có tính cấu trúc nhất quán (mục tiêu, nội dung, cách thức, điều kiện thực hiện); được khảo sát cho thấy có tình cần thiết và khả thi khi áp dụng vào thực tiễn. Luận văn có giá trị làm cơ sở chuyển giao thực hiện quản lý hoạt động phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; và các trường mầm non khác phân tích, đánh giá, lựa chọn biện pháp phù hợp để đem lại hiệu quả trong công tác này góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
DISSERTATION SUMMARY Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Research the theoretical basis of epidemic prevention and control activities for children in preschools and management of epidemic prevention and control activities for children in preschools. The thesis has further clarified theoretical issues of the topic on the basis of clarifying the overview of the problem study and basic concepts; especially considering the importance, objectives, contents, methods and forms of epidemic prevention and control activities for preschool children and the importance of management of prevention activities, anti-epidemic activities for children in preschools, the implementation of management: contents, methods, forms and factors affecting the management of epidemic prevention activities for children in preschools in Area 2, Thu Duc City, Ho Chi Minh City
The thesis surveyed and objectively assessed the current situation of epidemic prevention and control activities for children in preschools and the management of epidemic prevention and control activities for children in preschools both share randomness and stratification for 7 schools different in size and rank of preschools in Area 2, Thu Duc City, Ho Chi Minh City based on the contents defined in the theoretical framework. Research has shown current situations and limitations as: Training pedagogical staff on knowledge and skills to detect and handle epidemics; Funds for equipping sanitary facilities and equipment for epidemic prevention; Forms of coordination with health facilities and localities in epidemic prevention and control; Inspection and evaluation work; Awareness of children’s parents about the importance of epidemic prevention and control for children in preschool; Working conditions for pedagogical staff in the management of epidemic prevention and control activities for preschool children all pointed out factors affecting the management of epidemic prevention and control activities for preschool children in the area of study.
The thesis proposed 06 measures to manage epidemic prevention activities for children in preschools in Area 2, Thu Duc City, Ho Chi Minh City. The proposed thesis solutions are based on appropriate theoretical and practical basis, have an impact on the weak stages discovered from the current situation and promoting strengths and consistent structure (goals, contents, methods, conditions for implementation); surveyed solutions showed that they are necessary and feasible when applied in The thesis is valuable as a basis for transferring the management of epidemic prevention activities for children in preschools in Area 2, Thu Duc City, Ho Chi Minh City; Other preschools analyze, evaluate and select appropriate measures to bring efficiency in this work, contributing to improving the quality of education.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
“Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi” (Luật giáo dục, 2019). Nhiệm vụ chăm sóc giáo dục, bảo vệ sức khỏe trẻ mầm non (MN) luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, quy định rõ trong các văn bản pháp luật như: Luật Giáo dục 2019; Điều lệ trường mầm non; Thông tư số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT Quy định về công tác y tế trường học… Trường MN giữ vai trò quan trọng trong tổ chức hoạt động giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần góp phần hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị nền tảng để bước vào lớp một (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Đối với trẻ MN, các nhà chuyên môn đưa ra nhận định rằng: “Ở trẻ em, nhất là độ tuổi từ 1 – 5 tuổi, dễ mắc bệnh nhất vì sức đề kháng chưa được hoàn thiện. Do đó, cha mẹ cần phải chủ động tạo miễn dịch cho trẻ để góp phần làm giảm các bệnh lý” (suckhoedoisong.vn, 2022) các bệnh như tiêu chảy cấp; tay, chân, miệng; sởi; đau mắt đỏ; quai bị… luôn có nguy cơ xâm nhập, lây nhiễm trẻ hàng ngày. Thời gian trẻ tham gia hoạt động, sinh hoạt ở trường mầm non chiếm khá nhiều so với thời gian ở nhà, muốn chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh cho trẻ tốt đòi hỏi cán bộ quản lý (CBQL) trường mầm non phải có các biện pháp tác động phù hợp, khoa học đối với đội ngũ sư phạm để đội ngũ này có kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, đề phòng sự lây lan dịch bệnh, đảm bảo an toàn sức khỏe cho trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cấp thiết về phòng, chống dịch bệnh trong các cơ sở giáo dục mầm non.
Hiện nay, nước ta vẫn đang là một nước thuộc nhóm nước đang phát triển. Hàng năm, có khoảng 12 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị tử vong, trong đó tử vong trong giai đoạn sơ sinh khoảng 4 triệu trẻ, từ 1 đến 11 tháng là 4,11 triệu trẻ. Như vậy, 2/3 số trẻ tử vong dưới 5 tuổi xảy ra trong năm đầu. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn, trong đó đứng đầu là nhiễm khuẩn hô hấp cấp (25%), tiêu chảy (23%), uốn ván sơ sinh (5%), sốt rét (8%), sởi (9%). Mô hình bệnh tật của trẻ em nước ta đứng hàng đầu vẫn là các bệnh nhiễm khuẩn và thiếu dinh dưỡng. Trong các bệnh nhiễm khuẩn, đứng đầu là các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy cấp và một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, sốt xuất huyết, sởi, viêm gan do virus, viêm não (Nguyễn Thị Phong, 2012). Thực trạng này cho thấy rõ hơn vị trí vai trò to lớn của công tác phòng, chống dịch bệnh cũng như tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng của công tác phòng, chống dịch bệnh trong nhà trường nói chung và ở trường mầm non nói riêng hiện nay.
Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm về công tác y tế học đường, thông qua việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, bố trí nhân viên y tế cho trường mầm non để hỗ trợ cho công tác này. Tuy nhiên, trên thực tế tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non vẫn vô cùng cấp thiết; một số loại bệnh ở trẻ vẫn chưa có vắc xin phòng ngừa; dịch bệnh vẫn luôn là nguy cơ rình rập, gây hại cho trẻ.
Công tác phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non của khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu cũng đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, cần phải nỗ lực hơn nữa bởi vì đây là địa bàn có nhiều kênh rạch, dân nhập cư tập trung ở các khu nhà trọ để sinh sống, làm việc ở các khu công nghiệp nên dễ phát sinh mầm bệnh ở trẻ, Hằng năm, dich bệnh ở trẻ như: Tay,chân, miệng; Sốt xuất huyết; Tiêu chảy cấp vẫn xuất hiện và diễn biến phức tạp; hoạt động quản lý công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non vẫn còn khó khăn về: môi trường phòng bệnh cho trẻ, cơ sở vật chất, kinh phí, khả năng tầm soát phát hiện kịp thời để ngăn chặn mầm bệnh và lúng túng trong xử lý khi có dịch bệnh xuất hiện ở trường MN. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Với những đặc thù nêu trên, đòi hỏi cần có biện pháp khả thi trong quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức nhằm giúp công tác này đem lại hiệu quả cao, góp phần nâng chất lượng chăm sóc giáo dục (CSGD), giúp trẻ khỏe mạnh, phát triển toàn diện và đáp ứng sự mong đợi của xã hội.
Nhằm tìm hiểu thực trạng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non; khảo sát, phân tích, đánh giá khách quan thực trạng về quản lý hoạt động này tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn đề xuất biện pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh (PCDB) cho trẻ ở trường mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ tại địa bàn lựa chọn nghiên cứu.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, việc thực hiện các nội dung, chức năng quản lý chưa đáp ứng tốt yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non trong tình hình mới. Nếu hệ thống được các vấn đề lý luận cơ bản của quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ; khảo sát, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ đề xuất được các biện pháp khoa học, phù hợp thực tiễn quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ và góp phần nâng chất lượng giáo dục tại các trường mầm non.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ của chủ thể quản lý là hiệu trưởng các trường mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, không nghiên cứu công tác quản lý các hoạt động khác ở trường MN.
6.2. Giới hạn về địa bàn và thời gian nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu tại các trường mầm non công lập tại Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 6/2022 đến tháng 12/2022
6.3. Khách thể khảo sát
- 26 cán bộ quản lý.
- 62 giáo viên mầm
- 70 cha mẹ trẻ mầm
- 7 nhân viên y tế.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu.
- Cách thức thực hiện: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa tài liệu, văn bản pháp quy, các công trình khoa học liên quan đến đề tài nhằm xây dựng khung lý luận của đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích:
Thu thập thông tin nhằm phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non công lập khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đánh giá tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất.
Cách thực hiện: Chọn mẫu, khách thể khảo sát; xây dựng công cụ khảo sát (bảng hỏi, thang đo, thang đánh giá); thực hiện khảo sát; xử lý và đánh giá kết quả khảo sát.
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Là phương pháp nghiên cứu định tính cơ bản nhằm bổ sung, làm rõ những thông tin đã thu thập từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Cách thực hiện: Xác định đối tượng trả lời phỏng vấn; nội dung phỏng vấn.
7.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
- Mục đích: Quan sát hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở các trường mầm non
- Cách thực hiện: Quan sát hoạt động thực tiễn về cơ sở vật chất, công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, vệ sinh, phòng chống dịch, bệnh nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ và thực trạng quản lý hoạt động này tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Mục đích: Thu thập thông tin làm rõ thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức.
- Cách thực hiện: Nghiên cứu các loại hồ sơ, sổ sách liên quan nhằm tìm hiểu thực trạng hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ và thực trạng quản lý hoạt động này tại các trường mầm non khu vực 2, thành phố Thủ Đức.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
- Mục đích: Xử lý các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
- Cách thực hiện: Sử dụng các phần mềm thống kê toán học như phần mềm SPSS dùng để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn cũng như thực hiện các phép kiểm nghiệm sự khác biệt như ANOVA, T-Test của số liệu thu thập được.
8. Đóng góp mới của Luận văn
8.1. Về lý luận
Hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non; hình thành khung lý thuyết về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non.
8.2. Về thực tiễn
- Mô tả sát thực, cụ thể, toàn diện thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non công lập khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non công lập khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non trong Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ sức khỏe và hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ em là vấn đề được các nước trên thế giới quan tâm từ rất sớm và xem đó như một trong những biện pháp quan trọng, được thực hiện nghiêm túc bằng các biện pháp khác nhau nhằm chăm sóc sức khỏe con người khoa học, chất lượng, cụ thể tổ chức y tế thế giới định nghĩa:
- Sức khoẻ là một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải thuần tuý chỉ là tình trạng không có bệnh tật.
- Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là tổ chức chăm sóc trẻ ngay tại gia đình, trường mầm non và nơi nuôi dạy trẻ. Nhiệm vụ của chăm sóc sức khoẻ ban đầu là phòng bệnh hơn chữa bệnh, phát hiện bệnh sớm, xử lí kịp thời, giảm tỉ lệ mắc bệnh, giảm thiểu tình trạng bệnh nặng, giảm tỉ lệ chi phí và giảm tỷ lệ tử vong, giáo dục cộng đồng phòng chống bệnh tốt.
Vai trò của việc phòng bệnh được đề cập trong lời thề Hippocrates là: “Tôi sẽ tìm mọi cách để phòng bệnh bất cứ khi nào tôi có thể nhưng tôi sẽ luôn luôn tìm kiếm một phương hướng chữa cho tất cả các bệnh” (The Hippocratic Oath today)
Nghiên cứu của WHO The World Health Report 2008 đưa ra thông điệp: “Primary Health Care – Now More Than Ever”, Chăm sóc sức khỏe ban đầu “Bây giờ hơn bao giờ hết!”.
Mục đích của chăm sóc sức khỏe ban đầu hiện nay là làm cho sức khỏe của mọi người được tốt hơn, đặc biệt phải chú trọng hoạt động phòng bệnh, phải cải thiện mạng lưới y tế cơ sở; tổ chức hệ thống y tế gần dân, đáp ứng nhu cầu và mong đợi; giảm tối đa tình trạng dịch bệnh xảy ra, muốn phòng chống được dịch bệnh phải có mô hình hợp tác liên ngành với sự tham gia của nhiều tổ chức (William Fowler, 1980).
“Health Promotion and Disease Prevention in Children It’s Never Too Early” nêu rõ: tăng cường sức khỏe và phòng chống bệnh tật là không thể thiếu đối với tuổi thơ của trẻ. Thực hiện tốt việc tăng cường sức khỏe và phòng chống bệnh tật, thông qua việc quản lý chăm sóc, giáo dục trẻ, tiêm chủng phòng, chống dịch bệnh. (Jody W. Zylke, MD; Catherine D. DeAngelis, 2009)
Thông tin Y tế tại Hội nghị Alma – Ata 1978: Chăm sóc sức khỏe, y tế cho tất cả nhằm đạt mục tiêu: “Sức khỏe cho mọi người” (SKCMN) bao gồm 8 yếu tố như là: Giáo dục sức khỏe; Dinh dưỡng; Môi trường – nước sạch; sức khỏe bà mẹ và trẻ em – Kế hoạch hóa gia đình; Tiêm chủng mở rộng; Phòng chống bệnh dịch tại địa phương; Chữa bệnh và chấn thương thông thường; Thuốc thiết yếu (Hội nghị Alma Ata, 1978) Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Theo nghiên cứu của tác giả William Fowler vào năm 1980 trong tác phẩm: Curriculum and assessment guides for Infant and Child care đã chỉ ra các yếu tố cần thiết trong CSND trẻ là theo dõi sức khỏe, thực hiện tốt nhiệm vụ đề phòng lây lan dịch bệnh cho trẻ khi trẻ ở trong một môi trường tập trung đông như ở lớp học MN.
Năm 1978, Hội nghị chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Alma-Ata đã đề ra nhiều biện pháp chăm sóc sức khoẻ cho mọi người dân trên hành tinh này. Đến năm 2000, mọi người dân cần được chăm sóc sức khoẻ tốt cả về thể chất, tinh thần và xã hội, nhất là phòng bệnh đối với trẻ em. Theo nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực dịch tễ học thường quan tâm đến nguyên nhân (bệnh căn) của các bệnh lây nhiễm và công việc này có ý nghĩa quan trọng để xác định được các biện pháp phòng ngừa đồng thời cũng chỉ rõ “tiêm chủng là biện pháp hữu hiệu để phòng bệnh” (R Bonita, 2006).
Tháng 10 năm 2018, các nhà lãnh đạo y tế thế giới, các tổ chức xã hội dân sự và các bên liên quan khác tại Astana, Kazakhstan đã cam kết đổi mới chăm sóc sức khỏe ban đầu để không ai bị bỏ lại phía sau trong đó nêu rõ lý do: Thúc đẩy, phòng ngừa, giải quyết các yếu tố quyết định và phương pháp lấy con người làm trung tâm, chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh là phòng các yếu tố rủi ro cho sức khỏe, cũng như để xử lý những thách thức mới có thể đe dọa sức khỏe trong tương lai (WHO, 2018).
Bà Catherine Russell, Giám đốc Điều hành UNICEF đã chỉ ra rằng: Sởi không chỉ là một căn bệnh nguy hiểm “hậu quả sẽ được tính bằng mạng sống” và khuyến cáo các chính phủ và cơ quan y tế toàn thế giới: “Chúng ta cần bắt kịp tốc độ chủng ngừa cho hàng triệu trẻ còn thiếu các mũi tiêm; nếu không chắc chắn chúng ta sẽ chứng kiến nhiều đợt bùng phát dịch bệnh hơn, nhiều trẻ em bệnh hơn và áp lực lớn hơn đối với hệ thống y tế vốn đã căng thẳng”.
WHO, Tổ chức y tế thế giới xác định: những chương trình chăm sóc nuôi dưỡng tốt, phòng tránh được dịch bệnh, là chăm giáo dục trẻ có chất lượng cao sẽ giúp phát triển tốt thể chất và tình cảm – xã hội cho trẻ (WHO The World Health Report, 2008).
Theo Tổ chức Y tế thế giới, phòng, chống dịch bệnh là vấn đề cấp thiết đối với tất cả quốc gia. Bởi vì các dịch bệnh như: bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia. Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia, hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh, hàng năm có khoảng 390 triệu người nhiễm bệnh. Tại khu vực Đông Nam Á, có tới 7 trong số 10 nước bị sốt xuất huyết nặng nề, bệnh luôn là nguyên nhân hàng đầu của các trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em.
Ở Malaysia nói riêng và các nước trên thế giới nói chung, đang nỗ lực triển khai các kế hoạch phòng, chống dịch bệnh lây lan. Cụ thể, năm 2019, khi dịch bệnh sốt xuất huyết, tay- chân -miệng xảy ra ra đối với trẻ nhỏ, chính phủ Malaysia đã khẩn trương thúc đẩy vệ sinh cá nhân, tăng cường làm sạch môi trường xung quanh, khử trùng bề mặt bị ô nhiễm và nhanh chóng cách ly trẻ em ra khỏi bạn bè đồng trang lứa ngay khi có dấu hiệu mắc bệnh. Tuy nhiên, một trong những cách phòng chống bệnh hiệu quả nhất đơn giản chẩn đoán, phát hiện sớm, giữ bình tĩnh và giữ vệ sinh sạch sẽ (www. Who.int/Westempacific/heath -topics, dengue, 2019). Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Maria M. M. Nesti và Moisés Goldbaum (2007) trong nghiên cứu “Bệnh truyền nhiễm với nhà trẻ và giáo dục mầm non” đã mô tả nguy cơ gia tăng mắc các bệnh truyền nhiễm liên quan đến chăm sóc trẻ em ngoài gia đình, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch bệnh lây truyền tại nhà trẻ, mầm non, các trung tâm giáo dục. Nghiên cứu cho thấy trẻ em được chăm sóc tại nhà trẻ hoặc giáo dục mầm non có nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cao gấp hai đến ba lần, ảnh hưởng đến cả sức khỏe cá nhân và sự lan truyền bệnh tật trong cộng đồng. Trong số các yếu tố khác, rủi ro có liên quan đến đặc điểm của các trung tâm chăm sóc ban ngày và các biện pháp phòng ngừa đơn giản có hiệu quả để giảm lây truyền bệnh. Các biện pháp khuyến nghị bao gồm: rửa tay thích hợp sau khi tiếp xúc; sử dụng các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn; các thói quen tiêu chuẩn để thay và vứt bỏ tã lót đã sử dụng, vị trí và độ sạch của khu vực thay tã, làm sạch và khử trùng các khu vực bị ô nhiễm; sử dụng khăn giấy dùng một lần để xì mũi; nhân viên và khu vực xử lý thực phẩm riêng biệt; thông báo bệnh truyền nhiễm; đào tạo nhân viên và hướng dẫn cho phụ huynh.
Joyce Hy Chan và các cộng sự (2017) trong nghiên cứu “tổng quan hệ thống: Thực hành tốt nhất để ngăn ngừa lây truyền và kiểm soát bùng phát bệnh tay chân miệng tại các cơ sở chăm sóc trẻ em” được thực hiện để đề xuất chính sách về các biện pháp ứng phó và can thiệp hiệu quả nhất ở Hồng Kông nhằm giảm thiểu và ngăn chặn hiệu quả sự lây lan của dịch bệnh trong các cơ sở chăm sóc trẻ em. Kết quả nghiên cứu cho thấy thông tin liên lạc giữa các bên liên quan chính về xác nhận ổ dịch, đánh giá rủi ro và giám sát cần được cải thiện. Giao tiếp hiệu quả tạo điều kiện thông báo kịp thời (trong vòng 24 giờ) về các đợt bùng phát theo cụm cho Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh địa phương. Việc triển khai kịp thời phản ứng kiểm soát có hiệu quả trong việc giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh và thời gian bùng phát dịch bệnh tại các cơ sở chăm sóc trẻ em. Chính phủ nên khuyến khích các cơ sở chăm sóc trẻ em đào tạo các chuyên gia kiểm soát lây nhiễm, những người có thể đóng vai trò là đầu mối tiếp xúc, cung cấp kiến thức và liên lạc đầu tiên, cũng như tạo điều kiện trao đổi thông tin và cung cấp hỗ trợ giữa các bên liên quan trong thời gian xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm.
Dong Hee Kim và Jung Ha Park (2016) trong nghiên cứu “Khảo sát phụ huynh và giáo viên mẫu giáo về nhu cầu giáo dục của họ về phòng chống bệnh truyền nhiễm ở trẻ em” được thực hiện tại Hàn Quốc với mẫu khảo sát là 280 phụ huynh và 147 giáo viên mẫu giáo đã xem xét tình trạng giáo dục và nhu cầu của cả phụ huynh và giáo viên mẫu giáo liên quan đến việc phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm ở trẻ em. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 16,7% phụ huynh được giáo dục về bệnh truyền nhiễm. Nguồn giáo dục của họ là các phương tiện truyền thông đại chúng và phương pháp giáo dục ưa thích của họ là internet. Cha mẹ cho biết bệnh nhiễm trùng ở trẻ em mà họ nên được giáo dục là bệnh cúm (30,4%), sau đó là bệnh tay chân miệng (13,9%), ngộ độc thực phẩm (6,4%)… Khoảng 27,2% giáo viên mẫu giáo đã được giáo dục về các bệnh truyền nhiễm, và nguồn giáo dục chính của họ là đào tạo bồi dưỡng. Phương pháp giáo dục ưa thích của giáo viên là internet. Giáo viên mong muốn được giáo dục về bệnh cúm (22,4%), tay chân miệng (20,4%), ngộ độc thực phẩm (20,4%).
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Ở trong nước đã có nhiều cơ sở nghiên cứu và nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ em, công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non, cụ thể như:
Một nhóm tác giả trong đó có Phạm Mai Chi và Lê Minh Hà đã nghiên cứu quản lý về hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho trẻ em tại các trường mầm non. Các tác giả đã nêu rõ nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh trẻ em. Ngoài ra, cũng nêu rõ những nội dung, vai trò cụ thể của CBQL trong công tác này (Phạm Mai Chi, Lê Minh Hà, 2002).
Trong sách giáo khoa “Nhi khoa đông y” chỉ ra rằng: cơ thể trẻ em có đặc điểm là âm dương đều non kém và sức đề kháng của cơ thể còn non yếu nên rất dễ bị mắc bệnh. Vì vậy người thầy thuốc nhi khoa, người chăm sóc trẻ cần nắm và biết tình hình sức khỏe của trẻ để bảo vệ sức khỏe cho trẻ được tốt trước khi trẻ chưa mắc bệnh (Trần Văn Kỳ, 2012).
Trẻ nhỏ cần phải được chăm sóc nuôi dưỡng tốt từ lúc sơ sinh, từng giai đoạn, để trẻ khỏe mạnh, phát triển bình thường, phải đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng tốt, kiểm tra sức khỏe, tiêm phòng theo kế hoạch để phòng chống bệnh truyền nhiễm và biết cách chẩn đoán, chữa trị kịp thời và hiệu quả cho các bệnh mà con trẻ thường gặp phải nhằm tránh gây ảnh hưởng xấu đến trẻ (Trương Xuân Cải, 2013).
Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại gia đình, ở trường MN là phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu vô cùng cần thiết, cụ thể đối với các loại bệnh truyền nhiễm có khả năng lây lan nhanh chóng, cần phổ biến rộng rãi làm thế nào để mỗi bà mẹ trực tiếp nuôi con nhỏ, biết cách tự bảo vệ sức khoẻ của mình, riêng đối với việc nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, người mẹ, giáo viên MN biết cách phát hiện bệnh, biết điều trị một số bệnh cho con tại nhà và biết nuôi con đúng kỹ thuật… Để hạ thấp tỷ lệ tử vong ở trẻ, bên cạnh việc phát hiện sớm, điều trị kịp thời, đầy đủ, công tác phòng bệnh rất quan trọng và có tác dụng rất lớn. Muốn thực hiện công tác phòng bệnh cho trẻ, phải có sự tham gia của các bà mẹ, giáo viên MN. Vì vậy giáo dục kiến thức cho các bà mẹ, giáo viên MN là cần thiết, nhanh chóng và phổ biến rộng rãi. Muốn được như vậy phải có sự hỗ trợ của Y tế, Ban giám hiệu nhà trường, giáo viên, đoàn thể, phụ nữ, thanh niên, phụ huynh… (Phạm Thị Nhuận, 2014).
Theo bản tin của Cục Y tế dự phòng năm 2016, PGS.TS. Trần Đắc Phu đã nêu: “Trước hết, phòng chống dịch phải chủ động, kịp thời, kiên quyết để đạt được hiệu quả cao. Chủ động là thể hiện dự phòng một cách tích cực. Không để chờ dịch xảy ra rồi mới chống, phải đầu tư cho công tác phòng bệnh ngay từ đầu chứ không để dịch xảy ra mới cấp kinh phí”. Ông cũng chỉ ra rằng phải chủ động từ khâu giám sát nguy cơ dịch bệnh để “phát hiện ca bệnh sớm để tổ chức bao vây dập dịch một cách nhanh gọn không để dịch lây lan là hết sức quan trọng. Giám sát ngay tại cửa khẩu kể cả khi dịch chưa xâm nhập vào nước ta. Chủ động ở đây còn là thực hiện các biện pháp phòng bệnh một cách phù hợp trên cơ sở khoa học và thực tiễn để hạn chế dịch xảy ra”.
Trong tài liệu “Thực hiện tiêm chủng cho trẻ em”, bác sĩ Đinh Thạc nêu rõ ý nghĩa của việc tiêm chủng cho trẻ là nhằm “nhắc lại miễn dịch trong cơ thể đang giảm, nỗ lực làm giảm bệnh tật ở trẻ; để có sự bảo vệ đặc hiệu và bền lâu”. (Đinh Thạc, 2017).
Trong “Các bệnh thường gặp ở trẻ” Bác sĩ Trương Hữu Khanh chỉ ra rằng: Trẻ nhỏ, thường rất dễ mắc bệnh do sức đề kháng yếu, khả năng thích ứng trước những thay đổi của môi trường, thời tiết, trẻ chưa ý thức được vấn đề về bệnh tật và chưa biết cách bảo vệ phòng tránh vì vậy phụ huynh, nhà trường phải chú ý các biện pháp phòng bệnh cho trẻ (Trương Hữu Khanh, 2016).
Trong Giáo trình Phương pháp Chăm sóc vệ sinh trẻ em chỉ ra rằng: Muốn phòng bệnh, khắc phục những ảnh hưởng xấu đến trẻ cần phải có chế độ dinh dưỡng, sự chăm sóc sức khoẻ, điều kiện giáo dục, vui chơi, giải trí, sinh hoạt và vệ sinh cá nhân trẻ (Hoàng Thị Phương, 2016). Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
“Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu rộng; xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ; phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh” (Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam” (Lê Thị Lan Hương, 2018).
Trẻ nhỏ rất dễ bị virus tấn công bé dẫn tới bệnh và lây lan, để tránh các bệnh truyền nhiễm như: tay chân miệng, sốt xuất huyết, sởi, quai bị, tiêu chảy, cúm ở trẻ cần phải tạo môi trường vệ sinh tốt cho trẻ. Để phòng bệnh ở trẻ, người mẹ cần đặc biệt chú ý phòng các nguồn lây cho trẻ. Ngoài ra, còn phải chú ý tăng khả năng phòng vệ tự nhiên và chủ động cho bé: Mẹ rửa tay cho con, sử dụng khẩu trang, cách ly nguồn bệnh khi xung quanh có nguồn lây (người bị bệnh), khói bụi chất độc; tiêm vaccine đúng lịch để tạo miễn dịch chủ động cho bé (Đỗ Hồng Ngọc, 2018).
Năm 2018, Việt Nam có 1.177 ca nhiễm sởi, cao hơn gấp đôi so với năm 2017. Phần lớn các ca nhiễm sởi liên quan đến việc trẻ em chưa được tiêm vắc xin đầy đủ do cha mẹ quyết định trì hoãn việc tiêm vắc xin cho con mình. Cuối năm 2018, Bộ Y tế đã tiến hành tiêm bổ sung vắc xin sởi – rubella cho 4,2 triệu trẻ em từ 1 đến 5 tuổi tại 57 tỉnh thành trên cả nước. UNICEF đã kêu gọi các bậc cha mẹ hãy nỗ lực hơn nữa, tư vấn với các nhân viên y tế nhằm đảm bảo con em mình được tiêm phòng vắc xin đầy đủ theo đúng lịch, giúp phòng bệnh cho trẻ em. UNICEF cũng đã vận động các cơ quan y tế đầu tư lâu dài nhằm củng cố niềm tin trong người dân vào tiêm chủng và tập trung nỗ lực để vươn tới những cộng đồng nghèo nhất và thiệt thòi nhất, trong đó có nhóm người dân di cư trong nước (Sức khỏe và đời sống, 2018).
Đối với bệnh sốt xuất huyết ở trẻ tại Việt Nam giai đoạn từ 2000 -2015 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm so với những năm trước vì vậy hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ là cần thiết hơn bao giờ hết, chỉ khi ngăn chặn được sự lây lan của dịch bệnh mới hạn chế được những rủi ro, ngăn ngừa tỷ lệ tử vong ở trẻ nhỏ (Sức khỏe và đời sống, 2018).
Luận án Tiến sĩ Y học “Thực trạng hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội và hiệu quả một số biện pháp can thiệp” nêu mục tiêu giám sát bệnh truyền nhiễm là thu thập đầy đủ nhanh, chính xác số mắc, chết do bệnh truyền nhiễm ở cộng đồng dân cư; phân tích được đặc điểm về nguyên nhân, sự phân bố dịch tễ theo thời gian, không gian và con người, hướng tới trách nhiệm giám sát, kiểm soát và phòng chống dịch cho cộng đồng; hỗ trợ xây dựng kế hoạch phòng chống dịch và ra quyết định đáp ứng phòng chống dịch chính xác, kịp thời và hiệu quả (Nguyễn Minh Hải, 2019).
Luận án Tiến sĩ “Thực trạng và hiệu quả giải pháp nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hành tư vấn chăm sóc sức khỏe của nhân viên y tế tuyến cơ sở tỉnh Long An” nêu: cần thực hiện biện pháp dự phòng, loại bỏ tận gốc nguyên nhân gây bệnh, trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu phải coi phòng bệnh và tăng cường sức khỏe như là phương tiện thích hợp để đối phó với các vấn đề sức khỏe. Giải pháp hữu hiệu là huy động các nguồn lực từ cộng đồng, xã hội, tăng cường ngân sách cho y tế dự phòng, chia sẻ thông tin y tế là điều cần thiết trong việc phòng ngừa sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm cũng như phối hợp trong trao đổi kiến thức trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng ngừa sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm là vô cùng cần thiết (Trần An Chung, 2018). Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
“Sổ tay hướng dẫn phòng, chống dịch bệnh Covid-19 tại cộng đồng trong trạng thái bình thường mới” đã đề cập những nội dung cụ thể, dễ thực hiện trong phòng, chống dịch Covid-19 khi tham gia các hoạt động thường ngày trong cộng đồng. Cuốn Sổ tay này sẽ tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và cập nhật thêm một số lĩnh vực phù hợp với diễn biến dịch trong thời gian tới (Bộ Y tế, 2020).
Công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN là một trong những nhiệm vụ không thể thiếu trong chương trình CSGD trẻ. CBQL trường mầm non giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong chỉ đạo, điều hành đội ngũ sư phạm thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, Hiệu trưởng phải xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, phải triển khai nghiêm túc bằng các biện pháp khoa học để phòng dịch bệnh cho trẻ hiệu quả, góp phần cho trẻ phát triển toàn diện, hoàn thành mục tiêu xây dựng trường học an toàn, hạnh phúc.
Lê Thị Phượng Huỳnh (2019) với nghiên cứu “Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non trên địa bàn thị xã bến cát,tỉnh Bình Dương” đã chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục trong quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN như: Các trường còn hạn chế trong thực hiện nội dung, hình thức hoạt động phòng ngừa bệnh sởi, bệnh quai bị, tiêu chảy, cảm cúm và viêm đường hô hấp; hạn chế trong tăng cường kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại các ổ dịch cũ, vùng trọng điểm; kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học còn hạn chế; các trường chưa xây dựng hiệu quả kế hoạch bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên, nhân viên biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo mùa; công tác kiểm tra thực hiện tốt kế hoạch, giao nhiệm vụ cũng như trong kiểm tra chế độ báo cáo kịp thời khi phát hiện trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh cho các cơ quan địa phương liên quan còn hạn chế trong quá trình thực hiện…Qua đó, tác giả đã đề xuất được 5 biện pháp mang tính khả thi và cần thiết khi vận dụng vào trong thực tế, góp phần nâng cao kết quả trong quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương, cụ thể: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về mục tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non; xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế – vệ sinh trường học; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên y tế nhằm đáp ứng tốt yêu cầu trong phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non; phối hợp đồng bộ các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non; tăng cường công tác kiểm tra phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN Đậu Minh Long và Trần Thị Ngọc Đào (2020) với nghiên cứu “Thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường Mầm non Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra được bảy vấn đề phải thực hiện và lưu ý như sau:
Phải xây dựng kế hoạch và phương án phòng, chống dịch bệnh cho trẻ cụ thể ở tại các trường Mầm non phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi trường. 2. Tổ chức tuyên truyền, trao đổi, tập huấn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác PCDB cho CBQL, GV, NV, phụ huynh và cho trẻ. 3. Quản lý sâu sát đến hoạt động đổi mới các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho trẻ để luôn đạt hiệu quả. 4. Tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình và xã hội trong việc thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non. 5. Đẩy mạnh công tác quản lý các điều kiện hỗ trợ phục vụ cho hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non. 6. Luôn chú trọng đến chất lượng bữa ăn của trẻ để cơ thể trẻ luôn được khỏe mạnh phòng, chống bệnh tật. 7. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá các hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
Từ những nghiên cứu trong và ngoài nước về phòng, chống dịch bệnh và vai trò, nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh đối với giáo dục mầm non (GDMN) là vô cùng quan trọng. Từ đó cho thấy, công tác quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN cần phải phải đặc biệt quan tâm thực hiện nhất là trong bối cảnh hiện nay. Qua khái lượt về một số công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nước đã có những nghiên cứu về hoạt động CS-ND và cách phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. Tuy nhiên trên thực tế, chưa có công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non Khu vực 2, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay vẫn chưa được đề cập, tình hình dịch bệnh vẫn còn là mối nguy hiểm, đe dọa sự an toàn của trẻ. Vì vậy, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi 20 trường MN công lập trên địa bàn Khu vực 2, thành phố Thủ Đức với mong muốn đề xuất các biện pháp khả thi, phù hợp khoa học với tình hình thực tiễn nhằm thực hiện hiệu quả quản lý công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN nhằm góp phần cùng các nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ theo quy định.
1.2. Các khái niệm cơ bản trong nghiên cứu của Luận văn Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
1.2.1. Trường mầm non
Luật Giáo dục 2019 quy định: Trường mầm non là cơ sở kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
Trường mầm non là cơ sở giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Theo Thông tư 52/2020-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường Mầm non thì trường mầm non là nơi tổ chức có hệ thống lớp học để tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến 72 tháng tuổi theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Hoạt động phòng, chống dịch bệnh
Hoạt động: theo tâm lí học Mácxit, cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau, là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội. Hoạt động có những đặc điểm sau đây: 1/ Chủ thể của hoạt động – tức là người thực hiện các hành động – làm việc theo kế hoạch, ý đồ nhất định. Trong quá trình hoạt động, con người biết cách tổ chức các hành động tạo thành hệ thống (tổ hợp), lựa chọn, điều khiển linh hoạt các hoạt động phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh, tình huống. 2/ Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng của nó. Đối tượng của hoạt động là sự vật, tri thức, … Con người thông qua hoạt động để tạo tác, chiếm lĩnh, sử dụng nó (đối tượng) nhằm thỏa mãn nhu cầu. 3/ Hoạt động có tính mục đích. Đây là nét đặc trưng thể hiện trình độ, năng lực người trong việc chiếm lĩnh đối tượng. Con người sử dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm, phương tiện để phát hiện, khám phá đối tượng chuyển thành ý thức, năng lực của chính mình (chủ thể hóa khách thể). Tính mục đích định hướng cho chủ thể hoạt động, hướng tới chiếm lĩnh đối tượng. Như vậy, nói đến hoạt động bao giờ cũng có sự gắn kết giữa chủ thể, đối tượng và mục đích hoạt động.
Dịch bệnh (tiếng Anh: epidemic, trong tiếng Hy Lạp, từ dịch bệnh có nghĩa là ἐπί epi “upon or above” và δῆμος demos “people”) là sự lây lan nhanh chóng của một bệnh truyền nhiễm với số lượng lớn những người bị nhiễm trong một cộng đồng hoặc một khu vực trong vòng một thời gian ngắn, thường là hai tuần hoặc ít hơn. Một dịch bệnh có thể được giới hạn trong một không gian. Tuy nhiên, nếu nó lây lan sang các quốc gia hoặc châu lục khác và ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân mắc bệnh, nó có thể được gọi là một đại dịch (Theo từ điển Y học, năm 2020).
Bệnh truyền nhiễm là “loại bệnh nhiễm trùng có khả năng lây lan từ người này sang người khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua môi trường trung gian (như thức ăn, đường hô hấp, dùng chung đồ dùng, máu, da, niêm mạc…) và có khả năng phát triển thành bệnh dịch”. (Theo từ điển Y học, 2020) Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Bệnh truyền nhiễm: là“bệnh nhiễm trùng có khả năng lây truyền sang nhiều người xung quanh hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp qua các môi giới trung gian (nước, thức ăn, vật dụng, côn trùng,…). Qua đó chúng ta thấy biểu hiện của bệnh truyền nhiễm phụ thuộc vào ba yếu tố: tác nhân gây bệnh, cơ thể con người và ngoại môi (hoàn cảnh thiên nhiên, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sinh hoạt), ba yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau”. (BS. Lê Thị Mai Hoa, 2016)
Theo Từ điển Tiếng Việt, phòng: có nghĩa là phòng ngừa, là phòng bị trước, sẵn sàng chống lại để ngăn không cho diễn ra, vậy phòng, chống dịch bệnh là đề phòng, ngăn chặn để không cho dịch bệnh xảy ra.
Theo tác giả Oliver W. Holmes (1809 – 1894) thì: “Đề phòng tốt hơn chữa trị; tấm mộc tuyệt hảo hơn cái giáo”; Philip D.Sloane và Melissa M. Hicks nêu rằng “phòng bệnh là quá trình tránh các bệnh thông qua những can thiệp đặc biệt”.
Philip D.Sloane và Melissa M.Hicks quan niệm: “Phòng bệnh là quá trình tránh các bệnh thông qua những can thiệp đặc biệt”. Nói đến phòng bệnh phải kể đến: chủng ngừa (vaccinations) để ngăn ngừa những bệnh truyền nhiễm như: bệnh sởi (measles), bệnh bại liệt trẻ em (polio); Chương trình kiểm tra tìm bệnh (screening programs); dùng thuốc để ngừa bệnh; tư vấn giúp người ta biết chọn cách sống lành mạnh để phòng dịch bệnh.
Phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN là các hoạt động có chủ định nhằm ngăn ngừa bệnh tật, giữ gìn và tăng cường sức khỏe cho trẻ ở trường MN (du-phong-tong- quan-974.html). “Phòng ngừa bệnh là tổ chức và thực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng, luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường” (Lê Thị Mai Hoa, 2016).
Tóm lại, hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN là chuỗi hoạt động có chủ định nhằm mục tiêu không để dịch bệnh truyền nhiễm lây lan rộng; chủ động ngăn ngừa, bảo vệ cơ thể trẻ, phát hiện sớm trẻ mắc bệnh và nghi mắc bệnh truyền nhiễm, không để dịch bệnh lây lan trong nhà trường khi nó còn chưa xuất hiện nhằm giảm thiểu những nguy hiểm, biến chứng, sự tàn phế và tình trạng đe dọa tính mạng và bảo vệ sức khỏe cho trẻ MN.
1.2.3. Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
- Khái niệm quản lý
H.Koonts cho rằng:“Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc,vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harold Koontz & Harold Koontz và nhóm tác giả, 1994).
- Theo Từ điển tiếng Việt:“Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: quản lý (QL) là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc các giới khác nhau (sinh học, kỹ thuật, xã hội), bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và bảo đảm thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình”.
Quản lý còn có thể được mô tả như là một chương trình của các hoạt động mà người QL thực hiện để đảm bảo những mục tiêu đề ra.
Về góc độ chức năng, QL là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong một tổ chức nhằm đạt mục tiêu do tổ chức đó đề ra. “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức” (Phùng Thúy Hoa, 2018).
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng lứa tuổi. Ngoài ra, “Trường MN quản lý hoạt động nuôi dưỡng nhằm chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn” (Bộ Giáo dục – Đào tạo, 2016).
Từ những khái niệm trên cho thấy: quản lý trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đội ngũ sư phạm nhằm triển khai, vận hành hiệu quả quá trình CS-ND, GD và các hoạt động khác trong nhà trường nhằm hoàn thành mục tiêu chăm sóc và giáo dục trẻ theo từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học mầm non.
- Quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Thông tư 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT về công tác y tế học đường nêu rõ: quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN là nhiệm vụ của CBQL trường mầm non để thực hiện nghiêm túc những nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý như bố trí nhân lực, tạo môi trường vệ sinh an toàn, triển khai nghiêm túc phương án, kế hoạch CS-ND, chăm sóc y tế, thực hiện quy định tiêm ngừa, phòng dịch bệnh, kiểm tra, giám sát tình hình dịch bệnh cho trẻ nhằm đảm bảo hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ trong nhà trường (Bộ Y tế và Bộ Giáo dục-Đào tạo, 2016). Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Từ cơ sở trên, quản lý hoạt động PCDB ở trường mầm non được hiểu là một dạng của quản lý xã hội, là những hoạt động chỉ đạo, điều hành của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý: giáo viên, công nhân viên làm cho đội ngũ này thực hiện nhiệm vụ phòng chống dịch, bệnh trong nhà trường nhằm kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh và đảm bảo an toàn về sức khỏe cho trẻ ở trường mầm non.
Qua các khái niệm trên có thể nói: quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường mầm non là quá trình chủ thể quản lý căn cứ vào các chức năng, nội dung quản lý để tác động có mục tiêu, kế hoạch đề ra các biện pháp tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra lên đối tượng quản lý nhằm đạt hiệu quả mục tiêu đề phòng, ngăn ngừa dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe, an toàn cho trẻ để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh cho trẻ ở trường MN.
1.3. Lý luận về hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
1.3.1. Tầm quan trọng của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2021).
Môi trường lớp học MN là nơi tập trung đông, trẻ chịu ảnh hưởng bởi các tác động khác nhau ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển thể chất của trẻ là: chế độ dinh dưỡng, sự chăm sóc sức khoẻ, điều kiện giáo dục, vui chơi, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân… Nếu không quan tâm chăm sóc sức khỏe, dịch bệnh tất yếu sẽ xảy ra, gây tổn hại cho trẻ (Hoàng Thị Phương, 2011).
Vì vậy, hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non giữ vai trò quan trọng, luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu, nhờ hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ được triển khai đã giúp phòng ngừa, hạn chế lây lan của vi rút, giúp phát hiện sớm, khống chế, ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh truyền nhiễm, phòng nguy cơ biến chứng nguy hiểm, tổn thương ở trẻ gây ảnh hưởng xấu đến nhà trường, giúp trường CSND trẻ khỏe mạnh, an toàn, tạo niềm tin cho cha mẹ trẻ em về uy tín chất lượng nuôi dạy trẻ của trường MN.
1.3.2. Mục tiêu của hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Trường MN phải đặc biệt chú trọng, nâng cao hiệu quả hoạt động y tế chăm sóc sức khỏe ban đầu, đảm bảo mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ (Bộ Y tế – Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016). Vì “Trẻ em mầm non và học sinh trong các cơ sở giáo dục là nhóm đặc biệt quan trọng. Công tác dự phòng là một hoạt động cần thiết để ngăn ngừa vi rút lây lan trong môi trường trường học” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020).
“Phòng chống các dịch bệnh, bệnh truyền nhiễm nhằm ngăn chặn, không lây lan trong nhà trường. Giúp tập thể cán bộ giáo viên nhân viên ý thức trách nhiệm thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh trong nhà trường. Nhằm đảm bảo sức khoẻ cho trẻ phát triển tốt khi được nuôi dưỡng chăm sóc tại trường và để tạo niềm tin vững chắc cho phụ huynh khi gởi con vào học tại trường” (Lê Thị Phượng Huỳnh, 2019).
Chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non song song với việc tạo môi trường an toàn cho trẻ học tập, vui chơi, sinh hoạt trong đó có ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ để chăm sóc, phòng các nguy cơ xảy ra dịch bệnh giúp trẻ khoẻ mạnh, có sức đề kháng cao để phòng bệnh tật và phát triển toàn diện là đáp ứng mục tiêu Điều lệ trường mầm non.
Vì vậy, mục tiêu hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non nhằm đảm bảo tốt các quy định về phòng, chống để dịch bệnh không xảy ra, lây lan ở trường MN, giúp trẻ thích nghi với chế độ sinh hoạt, thực hiện được các kỹ năng về bảo vệ sức khỏe và giữ gìn vệ sinh cá nhân để phòng, chống dịch bệnh, luôn khỏe mạnh, an toàn giúp cha mẹ trẻ em và xã hội an tâm đối với trường mầm non.
1.3.3. Nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN là những việc mà trường mầm non cần phải đáp ứng nhằm ngăn ngừa các loại bệnh truyền nhiễm thường gặp hiện nay ở Việt Nam như bệnh sởi, bệnh lao, bệnh ho gà, bệnh bạch cầu, bệnh bại liệt, bệnh viên gan do virut, bệnh sốt xuất huyết, bệnh uốn ván, bệnh viên não Nhật Bản B, bệnh AIDS, bệnh quai bị, bệnh cúm, bệnh thủy đậu (Lê Thị Mai Hoa,2016).
Điều lệ trường mầm non năm 2020, Chương trình GDMN và Thông tư 13/2016/TT-BYT-BGD&ĐT quy định rõ việc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh cụ thể với các nội dung như sau:
Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, thiết bị của phòng y tế để phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh theo quy định. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Đảm bảo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về chăm sóc nuôi dưỡng, thuần thục các kỹ năng nhận biết đường lây truyền, biểu hiện, xử trí đối với một số thường gặp ở trẻ như:
- Bảng 1.1. Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở trẻ em
Đảm bảo tốt môi trường vệ sinh (trong và ngoài lớp) phòng dịch, bệnh Chăm sóc theo dõi sức khỏe trẻ, quản lý lịch tiêm chủng và hồ sơ theo dõi sức khỏe, nhật ký bệnh của trẻ
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng ngộ độc thực phẩm để đạt chất lượng bữa ăn giúp trẻ khỏe mạnh, có sức đề kháng phòng bệnh tốt.
Hình thành cho trẻ thói quen, kỹ năng vệ sinh cá nhân để phòng bệnh thông qua các hoạt động của trẻ tại trường nhằm giúp trẻ có sức đề kháng phòng dịch bệnh.
1.3.4. Phương pháp tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Căn cứ các quy định và nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non xác định phương pháp tổ chức hoạt động này như sau:
Tập huấn, thực hành các kỹ năng phòng bệnh dịch ở trẻ, tầm soát phát hiện dịch bệnh, cách xử trí hợp lý, kịp thời, cách ly trẻ bệnh theo đúng quy định nhằm đề phòng lây lan bệnh trong nhà trường.
Theo dõi bệnh, giám sát tình hình nghỉ phép, nghỉ bệnh; thực hiện khám sức khỏe định kỳ, lịch tiêm ngừa, giám sát hoạt động theo dõi sức khỏe cho tất cả trẻ trong nhà trường.
Hình thành cho trẻ thói quen, thao tác vệ sinh, dạy trẻ biết giữ vệ sinh cá nhân: không nghịch bẩn, không ngậm mút tay, rửa tay thường xuyên, sử dụng đúng đồ dùng cá nhân; giữ vệ sinh chung theo yêu cầu độ tuổi để tự bảo vệ bản thân khỏi dịch bệnh thông qua giờ học, giờ sinh hoạt và hoạt động khác ở trường.
Thực hiện lịch vệ sinh, khử khuẩn môi trường, phát quang bụi rậm, nạo vét cống rãnh, vệ sinh toàn bộ bề mặt trong và ngoài lớp học theo định kỳ ngày, tuần, tháng và đột xuất tăng cường khi có dịch, bệnh xảy ra. Ngoài ra, chú trọng lịch vệ sinh nhà bếp, các phòng chức năng, các khu vực xung quanh trường nhằm đảm bảo môi trường hoạt động vệ sinh, thông thoáng, ngăn ngừa mầm bệnh phát sinh từ môi trường. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Thông tin với cha mẹ trẻ em về kết quả khám sức khỏe, lịch tiêm ngừa, tình hình sức khỏe của trẻ ở lớp.
Truyền thông qua nhiều kênh thông tin (bản tin, website, zalo, fanpage) về tình hình dịch bệnh, về nội dung, cách thức, cách phòng, xử trí các loại bệnh thường gặp ở trẻ MN: Tay, chân, miệng; Sốt xuất huyết; Sởi; Thủy đậu; Đau mắt đỏ…
Trao đổi, tư vấn trực tiếp với cha mẹ trẻ em (CMTE) về biện pháp đề phòng dịch bệnh cho trẻ, cách phát hiện và cách xử trí khi trẻ có bệnh hoặc các bệnh thường gặp ở trẻ MN.
1.3.5. Hình thức tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non
Căn cứ yêu cầu thực tiễn, phạm vi hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non để lựa chọn các hình thức cho phù hợp nội dung, phương pháp đó là:
- Phát huy nội lực nhà trường:
Toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cùng tham gia thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh cho trẻ phù hợp từng chức năng, nhiệm vụ như: cùng học – hiểu về phòng, chống dịch bệnh ở trẻ nhỏ, phối hợp nhau để chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt, thực hiện vệ sinh phòng dịch, theo dõi sức khỏe, dạy trẻ vệ sinh phòng bệnh, theo dõi bệnh ở trẻ phòng bệnh lây lan trong nhà trường.
Các bộ phận trong nhà trường cùng kết hợp tham gia các phong trào phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường như: Tháng phòng bệnh sốt xuất huyết; Môi trường sạch vì sức khỏe mọi người; Tháng hành động vì sức khỏe trẻ.
- Huy động tổng lực bên trong và ngoài nhà trường như:
Giáo viên với cha mẹ trẻ phối hợp nắm bắt các thông tin về dịch bệnh ở trẻ, tư vấn với cha mẹ trẻ về cách chăm sóc nuôi dưỡng, chăm sóc, giữ vệ sinh để trẻ khỏe mạnh, đủ đề kháng phòng chống nguy cơ dịch bệnh đối với trẻ.
Đối với địa phương: thực hiện vệ sinh phòng dịch, theo dõi, phát hiện, ngăn chặn các nguy cơ lây lan dịch bệnh cho trẻ.
Đối với Trạm y tế: về tiêm phòng, truyền thông cách phòng chống bệnh dịch, tiêm ngừa, vệ sinh môi trường, phun xịt muỗi… để phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường mầm non Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
1.4.1. Tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Giáo dục mầm non có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế hệ trẻ. Trong đó, nhiệm vụ quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường MN nhằm đảm bảo sức khỏe, an toàn cho trẻ đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non (Bộ Giáo dục – Đào tạo, 2016) góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2021).
Hiệu trưởng trường MN phải chủ động trong quản lý phòng, chống dịch bệnh nhằm kiểm soát, ngăn ngừa được mầm dịch bệnh tại trường, góp phần đảm bảo an toàn cho trẻ. Bởi vì, trẻ MN sức đề kháng yếu dễ mắc bệnh, nếu trường MN quản lý không tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, không kiểm soát các mầm bệnh của các bệnh lây nhiễm sẽ lây lan trong trẻ thành dịch bệnh, làm tổn hại đến trẻ, ảnh hưởng tiêu cực đến nhà trường, cộng đồng.
Quản lý tốt hoạt động phòng, chống dịch bệnh ở trường mầm non sẽ giúp nhà trường chủ động trong triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh; huy động được các nguồn lực trong nhà trường, y tế, địa phương để tạo sự cộng hưởng tích cực tham gia thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh cho trẻ, ngăn chặn nguy cơ gây hại cho trẻ, ứng phó và giải quyết hiệu quả đối với dịch bệnh ở trẻ MN, góp đảm bảo an toàn cho trẻ, tạo niềm tin của cha mẹ trẻ và xã hội đối với trường mầm non.
Từ những cơ sở trên đã xác định rõ trách nhiệm quản lý PCDB cho trẻ MN giữ vai trò cực kỳ quan trọng, được xem là nhiệm vụ hàng đầu đòi hỏi CBQL trường MN phải chỉ đạo, triển khai nghiêm túc toàn bộ các hoạt động của trẻ tại trường một cách hợp lý, khoa học, góp phần đem lại hiệu quả cao trong QL hoạt động PCDB cho trẻ tại trường MN.
1.4.2. Quản lý việc thực hiện mục tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại các trường mầm non Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Căn cứ nhiệm vụ năm học, Thông tư 13/TT-BGDĐT-BYT; Bộ tiêu chí đánh giá an toàn trường học quy định về ngăn ngừa, đề phòng ngừa dịch bệnh xảy ra trong trường MN; mục tiêu Chương trình GDMN, Hiệu trưởng tiến hành:
- Xây dựng kế hoạch xác định mục tiêu cần đạt
Xác định mục tiêu, chỉ tiêu PCDB cần đạt vào kế hoạch năm học như: 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên chủ động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ; đảm bảo thực hiện tốt quy định phòng, chống dịch bệnh cho trẻ; không để bệnh lây nhiễm thành dịch.
- Tổ chức thực hiện
Thông qua Hội nghị triển khai nhiệm vụ đầu năm học, Hiệu trưởng quán triệt mục tiêu, chỉ tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ nhằm khơi gợi tinh thần trách nhiệm đội ngũ nhằm đảm bảo yêu cầu của bảng tiêu chí an toàn trường học, quy định của công tác y tế học đường phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN. Thúc đẩy toàn trường cùng hướng tâm phấn đấu đạt chỉ tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ đạt mục tiêu đề ra
- Chỉ đạo triển khai thực hiện mục tiêu
Hiệu trưởng thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh, phân công Phó hiệu trưởng bán trú, nhân viên y tế căn cứ mục tiêu của trường đề ra chỉ tiêu PCDB vào kế hoạch của bộ phận, quán triệt thực hiện mục tiêu này trong các buổi họp bán trú
Giáo viên lớp cụ thể hóa chỉ tiêu phòng, chống dịch bệnh của trường vào hoạt động của lớp với nội dung, biện pháp phù hợp điều kiện cụ thể theo từng tháng/năm.
- Kiểm tra đánh giá việc quản lý mục tiêu
Ban giám hiệu và nhân viên y tế tiến hành tự kiểm tra và kiểm tra định kỳ/tháng, đột xuất đối với từng bộ phận, lớp việc triển khai thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu PCDB để điều chỉnh kịp thời cách thực hiện, nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Định kỳ hằng tháng, học kỳ, hiệu trưởng đánh giá kết quả đầu ra so với mục tiêu đề ra mục tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ nhằm rút kinh nghiệm, điều chỉnh cho mục tiêu nhiệm vụ này đạt hiệu quả cao.
1.4.3. Quản lý việc thực hiện nội dung hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non
Căn cứ nhiệm vụ năm học và Thông tư 13/TT-BGDĐT-BYT và bộ tiêu chí đánh giá an toàn trường học về phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non, Hiệu trưởng tiến hành:
- Xây dựng kế hoạch định hướng các nội dung hoạt động PCDB/năm học: Nhân sự phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng, chống dịch bệnh đáp ứng yêu cầu PCDB Giáo dục trẻ thao tác vệ sinh phòng bệnh
- Công tác vệ sinh phòng dịch bệnh
- Đảm bảo vệ sinh an toàn, phòng ngộ độc thực phẩm Chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh cho trẻ
- Tổ chức thực hiện nội dung hoạt động PCDB
Hiệu trưởng phân công, bố trí nhân sự đáp ứng đủ về số lượng, đúng về nghiệp vụ vào từng vị trí phù hợp chức danh, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân nhằm đảm bảo phân công, điều hành thực hiện đủ các nội dung phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non theo quy định.
- Chỉ đạo triển khai thực hiện Đối với các phó hiệu trưởng:
Chỉ đạo triển khai giáo viên thực hiện lồng ghép kế hoạch CSND và GD nhằm thực hiện những nội dung phòng, chống dịch cho trẻ MN hợp lý trong từng tháng, giai đoạn trong năm để phòng tránh các loại bệnh thường gặp hoặc các bệnh theo mùa trong năm đối với trẻ. Triển khai thực hiện kế hoạch dạy trẻ thao tác, kỹ năng vệ sinh, cách phòng bệnh đơn giản phù hợp độ tuổi thông qua các hoạt động: học tập, vui chơi (trong và ngoài lớp), sinh hoạt, sự kiện, lễ hội… nhằm góp phần PCDB ở trẻ hiệu quả.
Quản lý nội dung chăm sóc nuôi dưỡng trẻ để phòng dịch bệnh: giám sát chặt chẽ hoạt động của bếp ăn đảm bảo quy định vệ sinh an toàn thực phẩm; đảm bảo chất lượng bữa ăn nhằm để phòng ngộ độc thực phẩm và đảm bảo dinh dưỡng để trẻ có sức đề kháng, phòng vi khuẩn xâm nhập cơ thể. Đảm bảo tốt bữa ăn, giấc ngủ cho trẻ theo quy định của chương trình giáo dục; vệ sinh môi trường lớp, bộ phận (bếp, phục vụ); đảm bảo thao tác vệ sinh của cô và trẻ.
- Đối với nhân viên y tế:
Hướng dẫn GV, NVYT thực hiện theo dõi sức khỏe đầu vào của trẻ; cân đo, khám sức khỏe định kỳ; Thực hiện lịch tiêm chủng, triển khai thực hiện theo dõi phép bênh ở trẻ nhằm theo dõi, quản lý tốt nhật ký sức khỏe, phòng bệnh ở trẻ.
- Đối với giáo viên:
Phân công thực hiện các nội dung tư vấn với cha mẹ trẻ như: chăm sóc sức khỏe, nội dung các tài liệu về phòng các bệnh thường gặp ở trẻ; nội dung tiêm ngừa, khám sàng lọc và theo dõi sức khỏe trẻ trên bản tin y tế và giáo viên ở lớp báo về với CMTE. Triển khai thực hiện lịch vệ sinh, khử khuẩn đồ dùng, vật dụng, đồ chơi; khử khuẩn toàn bộ bề mặt các phòng, khu vực trong, ngoài lớp, các phòng chức năng, nhà bếp… đặc biệt chú trọng tăng cường khi có những tình huống bất thường.
- Kiểm tra, đánh giá
Thực hiện kế hoạch kiểm tra theo định kỳ (tháng, giai đoạn, đột xuất) đối với tất cả nội dung hoạt động PCDB đã nêu trên theo kế hoạch đã phân công cụ thể đối với từng bộ phận, giáo viên, nhân viên về nhiệm vụ PCDB cho trẻ tại trường.
Sau kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm định kỳ, khơi gợi đội ngũ chủ động đề xuất các nội dung có ích về PCDB cho trẻ để triển khai nhằm đáp ứng các yêu cầu về ngăn ngừa mầm dịch bệnh phát sinh, góp phần nâng hiệu quả của công tác CSND trẻ.
1.4.4. Quản lý việc thực hiện phương pháp tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Căn cứ Thông tư 13/TT-BGDĐT-BYT và việc quản lý nội dung hoạt động PCDB cho trẻ tại trường, Hiệu trưởng thực hiện việc quản lý phương pháp tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh tại trường như sau:
- Xây dựng kế hoạch:
Mời chuyên gia, bác sĩ tuyên truyền, tập huấn kỹ năng tầm soát, ngăn ngừa, phát hiện và xử trí khi có ca bệnh ở trẻ.
Theo dõi tình hình phép bệnh ở trẻ để kiểm soát nguồn lây nhiễm. Tổ chức tuyên truyền các nội dung phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. Thực hiện lịch vệ sinh khử khuẩn để phòng dịch bệnh.
Tổ chức bữa ăn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Tổ chức triển khai kế hoạch:
Phân công từng phần việc, nội dung công việc cho từng bộ phận; khối tổ, từng thành viên phù hợp chức năng, nhiệm vụ theo vị trí việc làm trong nhà trường.
Phân công cụ thể theo từng thời điểm đã nêu trong kế hoạch, theo lịch từng tháng, tuần và hằng ngày phù hợp với từng đầu công việc.
- Chỉ đạo triển khai thực hiện Đối với các Phó Hiệu trưởng
Triển khai phân công, điều động khối tổ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường thường xuyên, nghiêm túc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN theo từng tháng, từng giai đoạn, mùa, theo từng loại bệnh với những việc làm cụ thể được xác định trong kế hoạch để ngăn ngừa dịch bệnh như:
Định kỳ tham mưu Hiệu trưởng mời chuyên gia, bác sĩ tuyên truyền các chuyên đề bồi dưỡng cho đội ngũ GV, nhân viên y tế về: kiến thức, kỹ năng tầm soát, phát hiện bệnh và cách xử trí khi có dịch bệnh ở trẻ tại trường. Ngoài ra, đặc biệt quan tâm tổ chức tập huấn, bồi dưỡng thông qua internet và cho giao lưu, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm về phòng, chống dịch bệnh cho giáo viên trong trường và trường bạn để vận dụng tại trường hiệu quả.
Phân công, điều động các giáo viên, nhân viên y tế, thực hiện kiểm soát nguồn lây nhiễm, cách phòng chống, cảnh giác, ứng phó với các loại dịch bệnh có thể xảy ra ở trường theo mùa như: sốt xuất huyết ở mùa mưa; viêm hô hấp ở mùa lạnh; tiêu chảy cấp, đau mắt đỏ, bệnh tả ở mùa nắng; hoặc các bệnh: tay, chân, miệng, Rubella, Covid-19 có thể xảy ra ở trẻ khi khu vực địa bàn có nhiều ca mắc, có khả năng lây lan thành dịch. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Quản lý việc tổ chức bếp ăn một chiều, đảm bảo tốt quy định vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng ngộ độc thực phẩm, đảm bảo chất lượng bữa ăn giúp cho trẻ có đề kháng nhằm phòng, chống bệnh tốt.
- Giáo viên và nhân viên
Nhân viên y tế tổ chức cho đội ngũ diễn tập các phương án, kịch bản để ứng phó, xử lý tình huống khi có dịch bệnh xảy ra và có nguy cơ thành dịch trên địa bàn và nhà trường một cách cụ thể với các tình huống giả định về các loại bệnh như: tay-chân- miệng, sốt xuất huyết; Covid-19… nhằm đảm bảo phòng chống sự lây lan dịch bệnh ở trẻ tại trường.
Giáo viên thực hiện lịch vệ sinh, khử khuẩn trong, ngoài lớp học, đồ dùng, đồ chơi, vật dụng của trẻ… chú trọng vệ sinh nhà bếp, thiết bị, vật dụng nhà bếp để đảm bảo vệ sinh an toàn trong chế biến, phòng ngộ độc thực phẩm ở trẻ.
Thực hiện công tác vệ sinh, thông thoáng môi trường sư phạm của trẻ hằng ngày; định kỳ hằng tuần, tháng vệ sinh môi trường phát quang bụi rậm, khai thông cống rãnh, sân vườn và khu vực quanh trường để ngăn ngừa rác, nước ứ động, phát sinh côn trùng, vi khuẩn gây mầm bệnh dịch.
Chỉ đạo y tế, giáo viên tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, thực hiện bản tin, tờ bướm, tranh ảnh, băng rôn, Slogan, hoặc tuyên truyền thông qua trang fanpage, nhóm zalo với phụ huynh/lớp…
- b) Kiểm tra, đánh giá
Để thực hiện tốt việc quản lý phương pháp tổ chức hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN hiệu quả đòi hỏi Hiệu trưởng trong suốt quá trình triển khai kế hoạch, phân công, điều phối nhiệm vụ phải thực hiện kiểm tra thường xuyên, đột xuất; lắng nghe ý kiến phản hồi và đồng hành với đội ngũ trong từng nhiệm vụ để điều chỉnh, hỗ trợ kịp thời, tạo điều kiện để công tác này ở trường mầm non hoàn thiện và đạt hiệu quả.
Định kỳ mỗi năm học tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng, khích lệ đối với các cá nhân đã đề xuất cách làm hay, sáng tạo, đem lại hiệu quả cao cho công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
1.4.5. Quản lý việc thực hiện hình thức tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ
Đầu năm học, Hiệu trưởng căn cứ quy định của Thông tư 13/TTLT-BYT- BGDĐT quy định về hình thức phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN; Căn cứ quy chế, phạm vi hoạt động của nhà trường, Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch triển khai các hình thức phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường MN. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
- Xây dựng kế hoạch nhằm xác định các nội dung cần thực hiện
Đầu năm học, hiệu trưởng định hướng nhiệm vụ trong năm theo mùa, từng tháng, có thể gây dịch bệnh ở trẻ. Lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ quản lý các hình thức tổ chức hoạt động phòng, chống dịch bệnh tại trường.
Kế hoạch phối hợp giữa các bộ phận: đoàn thể với chuyên môn; khối tổ trong nhà trường: giáo viên với giáo viên, giáo viên với nhân viên.
Kế hoạch huy dộng, phối hợp các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường.
- Tổ chức thực hiện
Quán triệt nhiệm vụ phòng chống dịch trong phạm vi toàn trường, đó là toàn thể CB, GV, NV; phân công rõ ràng từng phần việc phù hợp từng bộ phận, thành viên theo chức năng, nhiệm vụ.
Phối hợp với tất cả các đoàn thể cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
Triển khai kế hoạch phối hợp hoạt động theo nhóm, tổ chuyên môn với đoàn thể phát động các phong trào truyền thông, vệ sinh môi trường.
Tổ chức ký kết và triển khai các kế hoạch phối hợp giữa lực lượng bên trong và ngoài nhà trường: cha mẹ trẻ em, trạm y tế, khu phố để giám sát tình hình dịch bệnh, tuyên truyền, vận động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
- Chỉ đạo triển khai thực hiện Đối với trong toàn trường
Triển khai quán triệt đến toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường về nhiệm vụ tham gia, thực hiện các quy định về phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, để toàn đơn vị nhận thức đúng, hành động trách nhiệm đối với công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, để tất cả giáo viên, công nhân viên cùng phối hợp nhau để chăm sóc nuôi dưỡng và thực hiện nhiệm vụ vệ sinh môi trường, phòng dịch bệnh cho trẻ.
- Đối với bộ phận và đoàn thể Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Triển khai chương trình phối kết hợp giữa công đoàn, chi đoàn với các khối tổ chuyên môn trong nhà trường để các bộ phận này lồng ghép công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ vào Chương trình hành động nhằm phát huy sự phong phú, đa dạng trong tuyên truyền, vận động, thực hiện các phong trào với nhiều hình thức như: phát thanh tuyên truyền phòng bệnh, gửi tờ bướm tuyên truyền phòng bệnh cho trẻ, triển khai phong trào Ngày thứ bảy tình nguyện, Ngày chủ nhật xanh để vệ sinh môi trường, tổ chức: Tháng phòng bệnh sốt xuất huyết; Môi trường sạch vì sức khỏe mọi người; Tháng hành động vì sức khỏe trẻ em; Tháng vệ sinh môi trường vì sức khỏe. Đặc biệt quan tâm khen thưởng các thành viên, bộ phận tích cực, có thành tích tốt trong quá trình thực hiện phong trào, hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
- Phối hợp các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường
Triển khai kế hoạch, chương trình phối kết hợp chặt chẽ với cha mẹ trẻ để thực hiện vận động tuyên truyền về việc dạy trẻ biết giữ vệ sinh, phòng ngừa, cách phát hiện cũng như xử trí đối với các loại bệnh thường gặp ở trẻ: Tay, chân, miệng; Sốt xuất huyết; Sởi, Tả, Đậu mùa, Covid-19… Tổ chức gặp gỡ trao đổi, trực tiếp gặp gỡ tư vấn về cách chăm sóc nuôi dưỡng, giữ vệ sinh cá nhân, môi trường để trẻ khỏe mạnh, có đủ đề kháng phòng chống nguy cơ dịch bệnh hiệu quả.
Tham mưu, phối hợp với các lực lượng bên ngoài nhà trường như: chính quyền địa phương, tổ dân phố, hỗ trợ nhân sự tuyên truyền; Trạm y tế, cơ sở y tế trên địa bàn hỗ trợ nhà trường: thuốc, dung dịch khử khuẩn, y sĩ tư vấn và phối hợp thực hiện việc theo dõi, phát hiện các nguy cơ lây lan dịch bệnh ở trẻ, định kỳ hằng tháng thực hiện truyền thông cách phòng chống bệnh dịch cho trẻ, ngừa các bệnh theo mùa ở trẻ, tiêm ngừa, vệ sinh môi trường, phun xịt muỗi… để phòng, phòng, chống dịch bệnh cho trẻ.
- Kiểm tra – đánh giá
Định kỳ hằng tháng, giai đoạn CBQL phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh cho trẻ của từng bộ phận, nhóm tổ đối với từng nhiệm vụ được phân công.
Kiểm tra tiến độ triển khai thực hiện những hình mà kế hoạch đã đề ra để có sự tác động, điều chỉnh kịp thời nếu có sự lệch hướng.
Kiểm tra – đánh giá tiến độ, mức độ đạt được đối với từng hình thức đã đề ra trong kế hoạch. Từ đó làm cơ sở để cán bộ quản lý trường MN rút kinh nghiệm,điều chỉnh cho các hình thức đề ra trong quản lý phòng, chống dịch bệnh cho trẻ hoàn thiện hơn, hiệu quả cao hơn. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
1.4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non
- Bên ngoài nhà trường
- Tác động từ điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước và địa phương
Điều kiện kinh tế xã hội sẽ có tác động đến công tác phòng, chống dịch bệnh đó là: sự quan tâm đầu tư nguồn kinh phí phục vụ cho công tác phòng, chống dịch bệnh cho giáo dục. Nếu kinh tế – xã hội phát triển tốt thì các nguồn lực của quốc gia, địa phương đó phục vụ cho phòng, chống dịch bệnh sẽ tốt và góp phần cho hoạt động này hiệu quả cao hơn.
Nếu xã hội phát triển, điều kiện sống, nhận thức của người dân trên địa bàn nói chung, phụ huynh nói riêng được nâng cao thì ý thức về phòng, chống dịch bệnh cho trẻ cũng sẽ được quan tâm thực hiện tốt.
Nếu được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo từ cấp trên, chính quyền địa phương và được sự phối hợp, hỗ trợ tốt từ địa phương, Trạm y tế trên địa bàn sẽ góp phần thuận lợi, thúc đẩy công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở tại trường MN đạt hiệu quả.
- Từ cha mẹ trẻ em
CMTE của trường nếu có nhận thức đúng sẽ đưa đến ý thức tốt về công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. CMTE có sự quan tâm đến thông tin, biết chăm sóc nuôi dưỡng, phòng ngừa, xử trí khi trẻ có bệnh, thể hiện sự quan tâm, phối hợp với giáo viên, nhà trường dạy trẻ giữ vệ sinh để phòng bệnh, cùng dạy trẻ biết đề phòng bệnh phù hợp độ tuổi thì sẽ góp phần thúc đẩy cho công tác phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường MN đạt hiệu quả.
- Trong nhà trường
- Nhận thức, năng lực của cán bộ quản lý
Nếu mỗi CBQL có được sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác phòng, chống dịch bệnh thì sẽ định hướng kế hoạch, triển khai thực hiện, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị y tế và chăm sóc nuôi dưỡng tốt, chỉ đạo thực hiện, lựa chọn các phương pháp, hình thức phù hợp với nhà trường, phối kết hợp trong cán bộ, giáo viên, công nhân viên (CB-GV-CNV) quản lý, thực hiện hoạt động PCDB cho trẻ MN. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Nếu CBQL thực hiện các kỹ năng, chức năng quản lý tốt; thể hiện tốt các mối quan hệ trong quản lý sẽ quy tụ được các lực lượng để phối hợp, phân công, điều phối nhân sự cho hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non đạt hiệu quả cao. Vì thế, năng lực của CBQL là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ MN.
- Nhận thức, năng lực của giáo viên, nhân viên trường mầm non
Nếu giáo viên đáp ứng trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, có nhận thức tốt về mục tiêu phòng, chống dịch bệnh cho trẻ, được tập huấn, bồi dưỡng tốt các kỹ năng theo dõi, tầm soát và phát hiện bệnh ở trẻ thì đội ngũ giáo viên sẽ thực hiện tốt được các nội dung, phương pháp, hình thức phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non
Nếu trẻ có tâm sinh lý phát triển bình thường, có thói quen, điều kiện sống, sinh hoạt vui chơi và tham gia các hoạt động vui vẻ; không bị suy dinh dưỡng, hay dư cân – béo phì, cơ thể phát triển hài hòa cân đối, tham gia tốt, đầy đủ các hoạt động vệ sinh, sinh hoạt thì sẽ giúp tăng sức đề kháng và góp phần tích cực vào việc phòng bệnh dịch cho bản thân và cho các bạn.
- Cơ sở vật chất trường mầm non
Cơ sở vật chất của trường mầm non là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác PCDB. Nếu cơ sở vật chất của trường mầm non đáp ứng yêu cầu phòng dịch: thoáng đãng, đầy đủ trang thiết bị PCDB, đảm bảo vệ sinh, an toàn trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt sẽ góp phần thuận lợi trong phòng, chống dịch bệnh cho trẻ. Ngược lại, cơ sở vật chất kém, xuống cấp, không đáp ứng yêu cầu về vệ sinh, sinh hoạt của trẻ sẽ là khó khăn và sẽ là nguy cơ tiềm ẩn, là khả năng gây mầm dịch bệnh cho trẻ tại trường mầm non.
Kết luận Chương 1 Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
Chương 1 đã làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, hệ thống bốn nội dung cơ bản: Lịch sử nghiên cứu vấn đề; những khái niệm cơ bản; lý luận về hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ mầm non; lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở các trường MN. Cụ thể như sau:
- Làm rõ các hướng nghiên cứu trên thế giới và trong nước về chăm sóc sức khỏe, phòng, chống dịch bệnh của trẻ mầm non.
- Làm rõ ba khái niệm cơ bản: Trường mầm non; hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN; quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN.
- Hệ thống những vấn đề lý luận về hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN: Tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và điều kiện hỗ trợ hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN.
- Khái quát lý luận về quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở trường MN: Tầm quan trọng, quản lý về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức PCDB cho trẻ ở trường mầm non.
Bên cạnh đó, Luận văn cũng xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng (yếu tố bên trong, bên ngoài nhà trường) có liên quan đến công tác quản lý hoạt động phòng, chống dịch bệnh cho trẻ ở trường mầm non.
Các vấn đề lý luận nêu trên là cơ sở khoa học cho việc tiến hành khảo sát thực trạng quản lý hoạt động PCDB cho trẻ ở các trường MN công lập tại địa bàn lựa chọn nghiên cứu và đề xuất các biện pháp khắc phục hạn chế của thực trạng, nâng cao hiệu quả quản lý công tác CSGD trẻ nói chung và quản lý hoạt động PCDB cho trẻ MN nói riêng trong các chương tiếp theo. Luận văn: Quản lý phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho trẻ ở trường MN

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

