Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học giao thông Vận tải đến năm 2040 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2019-2040, một trong những nhiệm vụ và giải pháp được quy định trong Nghị quyết 14/2018/NQ-CP là “xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực hợp tác và sức cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam thực hiện các hiệp định và cam kết quốc tế” [4, trang 7]. Hiện nay, việc phát triển các chương trình, dự án đào tạo theo hướng hội nhập được các trường đại học nói chung và Trường Đại học Giao thông Vận tải (GTVT) nói riêng hết sức chú trọng. Các chương trình, dự án đào tạo đó không những giúp các trường nâng cao năng lực đào tạo mà còn phát triển thương hiệu của trường ở trong nước và ngoài nước.

Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lãnh đạo Trường Đại học Giao thông Vận tải sớm nhận thức rõ nhiệm vụ chính trị đặt ra là muốn phát triển giáo dục hội nhập cần phải cải tiến chương trình đào tạo theo hướng quốc tế hoá, thay đổi phương thức đào tạo, hiện đại hoá phương tiện dạy học, phòng thí nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý và ngoại ngữ cho đội ngũ giảng viên, đặc biệt là Anh ngữ. Để đạt được các mục tiêu này cần phải chú trọng ưu tiên phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo nhằm nhanh chóng tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến, tiếp thu những thành quả tinh hoa của nó.

Trong hai thập kỷ qua, nhiều dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, chương trình hợp tác song phương đã được Nhà trường triển khai. Thông qua các chương trình, dự án này, năng lực của nhà trường không ngừng được cải thiện, uy tín của trường không ngừng được nâng cao trong nước cũng như trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, hiệu quả do các dự án đào tạo quốc tế đem lại cũng chưa thực sự như mong muốn của nhà trường. Theo thống kê của Phòng Đối ngoại – đơn vị phụ trách hoạt động hợp tác quốc tế của trường thì từ năm 1995 đến nay chỉ khoảng 70% trong số các dự án đã xây dựng và ký kết được triển khai và chỉ có 60% trong số này đạt được các mục tiêu đề ra. Một trong những nguyên nhân của vấn đề này chính là số lượng các cán bộ quản lý dự án còn ít ỏi, lại là những giảng viên chuyên môn kiêm nhiệm, không được đào tạo chính qui về lĩnh vực quan hệ quốc tế và quản lý dự án cùng với việc mở rộng và gia tăng về số lượng các dự án trong trường. Bên cạnh đó, các phương hướng hoạt động hợp tác quốc tế chưa được Nhà trường dự báo cho khoảng thời gian dài, hầu hết mới chỉ dừng lại ở các phương hướng hoạt động trong một, hai năm học tiếp theo. Điều đó dẫn tới sự thiếu chủ động trong việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế và xây dựng các dự án/chương trình phối hợp đào tạo với nước ngoài. Thực trạng đó cho thấy Nhà trường cần phải xây dựng các biện pháp quản lý các dự án hợp tác đào tạo quốc tế mang tính chiến lược lâu dài.

Là một chuyên viên làm công tác quan hệ quốc tế tại Phòng Đối ngoại của Trường đại học Giao thông vận tải, tác giả mong muốn phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của nhà trường trong thời gian tới. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học giao thông Vận tải đến năm 2040” để nghiên cứu với mong muốn góp phần nhỏ của mình vào việc nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế của nhà trường.

2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Ở nước ta hiện nay, các đề tài đề cập đến hoạt động đào tạo quốc tế nói chung và quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo nói riêng còn khá mới mẻ. Một số nghiên cứu mới chỉ tập trung vào công tác đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế. Có thể kể đến các đề tài luận văn thạc sỹ như “Quản lý chương trình đào tạo liên kết do các trường nước ngoài cấp bằng tại Trường Đại học quốc tế Bắc Hà” của tác giả Nguyễn Xuân Quy; đề tài “Quản lý hoạt động đào tạo liên kết quốc tế trình độ thạc sỹ tại khoa Quản trị kinh doanh thuộc đại học quốc gia Hà Nội” của tác giả Phùng Thị Hương Thảo. Hai tác giả đã đề cập đến lý luận về hoạt động và chương trình đào tạo liên kết quốc tế, thực trạng các chương trình liên kết quốc tế của trường mình và đề xuất các giải pháp quản lý. An Thuỳ Linh với đề tài luận văn thạc sỹ: “Tổ chức công tác quan hệ quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập trong Đại học Quốc gia Hà Nội”. Luận văn tập trung nêu cơ sở lý luận về tổ chức công tác quan hệ quốc tế và bối cảnh chung của giáo dục đại học thế giới trong xu thế hội nhập toàn cầu. Nghiên cứu vai trò của công tác quan hệ quốc tế trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam nói chung và Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quan hệ quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội. Bùi Thị Hồng Lâm với đề tài luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hội nhập”.

Số lượng các đề tài làm về dự án hợp tác quốc tế về đào tạo còn rất hạn chế. Bùi Thị Giang với đề tài luận văn thạc sỹ: “Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại Trường Đại học GTVT trong giai đoạn hiện nay”. Luận văn đã đưa ra lý luận về quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các dự án HTQT về ĐT. Tuy nhiên, luận văn này được thực hiện khi số lượng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Nhà trường còn ít, đơn vị phụ trách các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tập trung vào một đơn vị chủ lực là phòng Đối ngoại dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu Nhà trường. Do vậy, các biện pháp quản lý mà tác giả đề xuất mới chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng quản lý cho một đơn vị quản lý dự án. Nhưng khi số lượng các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về đào tạo nhiều hơn, các đơn vị quản lý các dự án tăng lên và đặc biệt trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay thì cần phải có thêm các biện pháp quản lý để có thể phát triển hơn nữa hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo của Nhà trường.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn các vấn đề quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, đề xuất các biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học Giao thông Vận tải đến năm 2040, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo của Nhà trường. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Phân tích thực trạng quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học Giao thông Vận tải.

Đề xuất biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học Giao thông Vận tải đến năm 2040.

4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu

Quá trình quản lý đào tạo ở Trường Đại học Giao thông Vận tải.

  • Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải.

  • Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải từ năm 1994 đến nay và nghiên cứu biện pháp quản lý phát triển các dự án đến năm 2040.

5. Giả thuyết khoa học

Việc quản lý các chương trình, dự án đào tạo sẽ có hiệu quả khi các chủ thể quản lý thực hiện đúng các chức năng quản lý giáo dục. Nếu trong quá trình quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học GTVT từ nay đến năm 2040 thực hiện tốt việc kế hoạch hóa, xây dựng các văn bản pháp quy về quản lý dự án, tổ chức phối hợp chặt chẽ các lực lượng quản lý, đảm bảo các nguồn lực thực hiện dự án, đồng thời kiểm tra giám sát quá trình hình thành và thực hiện dự án một cách chặt chẽ thì việc quản lý sẽ đạt hiệu quả cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng giáo dục và quản lý giáo dục của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam. Đồng thời, vận dụng các quan điểm hệ thống – cấu trúc, lôgic – lịch sử và quản điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học để phân tích đánh giá, xem xét các vấn đề có liên quan.

  • Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp và khái quát hoá các tài liệu về lý luận quản lý giáo dục và quản lý dự án, các bản báo cáo tổng kết các dự án trong trường, và một số các tài liệu khác.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra: điều tra bằng phiếu hỏi đối với 120 cán bộ quản lý và giảng viên của Trường Đại học GTVT làm cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, đồng thời đề xuất biện pháp quản lý các dự án HTQT về đào tạo của trường.

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo và các cán bộ có kinh nghiệm quản lý và triển khai dự án trong trường.

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện các dự án thông qua các báo cáo hàng năm của các đơn vị quản lý dự án, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2021-2026 của Nhà trường.

Phương pháp dự báo: định hướng chiến lược phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo của trường, cụ thể về hình thức, nội dung, quy mô HTQT về ĐT.

7. Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công tác quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo ở trường đại học.

Luận văn đề xuất biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của trường Đại học GTVT đến năm 2040, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.

8. Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm phần mở đầu, 2 chương, 7 tiết, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

1.1. Các khái niệm cơ bản

1.1.1. Dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Theo Đại từ điển bách khoa toàn thư, từ “Project – dự án” được hiểu là “Điều có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”. Như vậy, dự án có khái niệm vừa là ý tưởng, ý đồ, nhu cầu vừa có ý năng động, chuyển động hành động. Chính vì lẽ đó có khá nhiều khái niệm về “dự án”, tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó:

Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà bạn mong muốn. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định.

Dự án là đối tượng của quản lý và là một nhiệm vụ mang tính chất một lần, có mục tiêu rõ ràng trong đó bao gồm chức năng, số lượng và tiêu chuẩn chất lượng, yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vượt quá dự toán.

  • Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của dự án như sau:

Có mục đích, mục tiêu và tính kế hoạch rõ ràng: Mỗi dự án là một hoặc một tập hợp nhiệm vụ cần được thực hiện để đạt tới một kết quả xác định nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Dự án, đến lượt mình, cũng là một hệ thống phức tạp nên có thể được chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lý và thực hiện nhưng cuối cùng vẫn phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và chất lượng.

Có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn: Nghĩa là dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc.

Bị hạn chế bởi các nguồn lực: Giữa các dự án luôn luôn có quan hệ chia nhau các nguồn lực khan hiếm của một hệ thống (một cá nhân, một doanh nghiệp, một quốc gia…) mà chúng phục vụ. Các nguồn lực đó có thể là tiền vốn, nhân lực, thiết bị…

Luôn có tính bất định và rủi ro: Một dự án bất kỳ nào cũng có thời điểm bắt đầu và kết thúc khác nhau, đôi khi là một khoảng cách khá lớn về thời gian. Mặt khác, việc thực hiện dự án luôn đòi hỏi việc tiêu tốn các nguồn lực. Hai vấn đề trên là nguyên nhân của những bất định và rủi ro của dự án.

Liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án: Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người thụ hưởng dự án, các nhà tư vấn, cộng tác viên, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất dự án mà các thành phần trên cũng khác nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.

Dự án đào tạo là một loại dự án đặc thù để phát triển nguồn nhân lực. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó là cá nhân hay tổ chức đã được nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo. Những dự án thuộc loại hình này bao gồm việc đào tạo giáo viên, đào tạo cán bộ quản lý, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ giáo viên đến việc nâng cao năng lực quản lý cụ thể như năng lực lập kế hoạch phát triển giáo dục, năng lực quản lý tài chính trong giáo dục, năng lực giám sát, đánh giá việc triển khai dự án, chương trình mục tiêu và năng lực đánh giá kết quả, thành tựu học tập của học sinh một cấp học, bậc học cụ thể. Các dự án về đào tạo thường có phạm vi tác động, ảnh hưởng rộng gồm nhiều địa chỉ và đối tượng thụ hưởng.

Đây là một trong những hình thức dự án đem lại hiệu quả thiết thực nhất, rõ nét nhất cho nguồn nhân lực của xã hội. Thời gian hoạt động của mỗi dự án về đào tạo tùy thuộc vào mục tiêu ban đầu của dự án, tính cấp thiết của dự án và chất lượng của dự án được công chúng công nhận. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Dự án hợp tác quốc tế về đào tạo được hiểu là một tập hợp kế hoạch, nhiệm vụ đào tạo quốc tế chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lý và thực hiện các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và chất lượng đào tạo của nhà trường đặt ra.

Đặc điểm chung cơ bản của các dự án này là sự tham gia của các đối tác nước ngoài trong quá trình đào tạo. Với hình thức này, người học đạt được mục tiêu quan trọng nhất là có “trình độ học vấn quốc tế ” qua việc được theo học một chương trình quốc tế với các giảng viên quốc tế và có thể cùng với sự hợp tác của các giảng viên trong nước và cuối cùng có một tấm bằng quốc tế, được công nhận quốc tế. Trình độ đạt được của sinh viên/học viên sau khi ra trường không chỉ dừng lại ở các nội dung chuyên môn, mà còn được thể hiện ở khả năng sử dụng ngôn ngữ chương trình đó và những lợi ích khác nữa.

Đối với các sinh viên/học viên theo học ở chương trình hợp tác quốc tế đào tạo tại chỗ, sinh viên có đầy đủ các yếu tố cơ bản của một sinh viên đi du học ở nước ngoài: theo học chương trình của nước ngoài, học bằng ngôn ngữ nước ngoài, được học tập và làm việc với các giảng viên nước ngoài, trong khi đó họ lại có lợi thế là chi phí thấp, tài chính thấp hơn cho cả khóa đào tạo, cho nên các chương trình này ngày càng được mở rộng và đã trở thành xu thế chung của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp nhưng có khát vọng vươn lên trong quá trình hội nhập quốc tế. Có thể nhìn thấy những bài học đó từ nền giáo dục của Thái lan, Malaysia…với rất nhiều trường có các chương trình liên thông liên kết với nước ngoài, từ đó tạo ra môi trường đào tạo mang tính quốc tế ngay trong nước, thu hút được các sinh viên nước ngoài đến học tập tại trường mình.

  • Yếu tố cấu thành dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Nguồn nhân lực đóng vai trò then chốt trong một dự án hợp tác quốc tế về đào tạo bao gồm: ban quản lý dự án, cán bộ hành chính, giảng viên và sinh viên/học viên.

Ban quản lý dự án và cán bộ hành chính của các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo giúp các thành viên dự án làm rõ phương hướng đào tạo, tạo ra môi trường đào tạo, công nghệ đào tạo, nguồn vốn phục vụ đào tạo, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và chương trình đào tạo. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Phương hướng đào tạo: Mục tiêu đào tạo của chương trình hợp tác quốc tế là những gì mà sinh viên/học viên phải có được về : tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ đối với xã hội sau một quá trình đào tạo. Vì vậy việc xác định mục tiêu đào tạo có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học. Nội dung mục tiêu phương hướng đào tạo là nhằm đạt chất lượng và hiệu quả dạy học. Mục tiêu đào tạo được xác định bởi cả hai bên của dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Môi trường đào tạo: thích hợp với sinh viên nhằm tăng động lực học tập cho họ, kích thích các nhân tố tích cực nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Công nghệ đào tạo: là phương pháp đào tạo hợp lý cho “đầu vào” của sinh viên/học viên (người học). Thiết kế và giúp người học phương pháp nhận thức, phương pháp học sao cho phù hợp với tình hình thực tế của dự án về thời gian, không gian, tài chính, cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học.

Nguồn vốn phục vụ dự án: có thể được đối tác nước ngoài tài trợ hoàn toàn, một phần hay tự trang trải. Nguồn vốn dự án là một phần rất quan trọng trong dự án, quyết định sự thành công hay thất bại của dự án. Hiện nay, nguồn vốn trong các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo thường được lấy từ cả hai phía : đối tác nước ngoài và nguồn vốn tự tạo của dự án từ phía người học.

Cơ sở vật chất dự án hợp tác quốc tế về đào tạo: chủ yếu do phía các trường đại học Việt Nam cung cấp: giảng đường, bàn ghế, máy tính và các phương tiện dạy học khác trong dự án. Trong một số dự án, phía đối tác có cung cấp một số thiết bị nghe, nhìn và thiết bị phục vụ dạy học.

Chương trình đào tạo: được cung cấp bởi các đối tác nước ngoài của dự án. Đây là phần quan trọng nhất của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Chương trình mang lại vị thế cho người học về bằng cấp cũng như thực chất được đào tạo. Chương trình đào tạo chủ yếu được đối tác thiết kế phù hợp với yêu cầu thực tế của đầu vào và mục tiêu của đầu ra.

Mối quan hệ giữa dự án và chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo: Có thể dễ dàng nhận thấy rằng: “dự án” thường là giai đoạn phát triển ban đầu của hai đối tác hợp tác quốc tế về đào tạo và “chương trình ” thường là giai đoạn tiếp theo, khi dự án đã đi vào guồng hoạt động, dự án cần phát triển ở tầm cao hơn.

Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội kéo theo nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao, tiêu chuẩn quốc tế. Các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo hình thành là một tất yếu mang tính thời đại. Tuy nhiên, cũng chính vì sự hấp dẫn này mà một loạt các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo mở ra với nhiều cách thức hợp tác, gây khó khăn trong quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng.

1.1.2. Quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể (người QL, tổ chức kinh tế) lên khách thể (đối tượng QL) nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.

  • Quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:

Phải có ít nhất một chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị QL tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể QL tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể QL. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.

  • Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
  • Chủ thể phải thực hành việc tác động.
  • Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội).

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.

Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý toàn bộ hoạt động liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.

  • Đặc trưng cơ bản của quản lý dự án:

Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án (giám đốc, (hiệu trưởng), các chuyên viên ban quản lý dự án và các cơ quan chức năng có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện dự án.

Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án).

Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của cá nhân/đơn vị hưởng lợi dự án.

Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả. Mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện.

  • Mục tiêu quản lý dự án Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Mục tiêu quản lý dự án là hình thành các nhiệm vụ, các hoạt động và các chuỗi hoạt động, tiến tới hình thành các thành tố và mục tiêu của dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được phê duyệt và theo thời hạn quy định, với việc sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực…) một cách hợp lý nhất.

Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua chu trình quản lý dự án sau:

  • Phương pháp quản lý dự án

Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các phương pháp quản lý dự án là: (1) nhu cầu ngày càng tăng về những hàng hóa và dịch vụ sản xuất phức tạp, chất lượng cao trong khi khách hàng ngày càng “khó tính”; (2) kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật…) ngày càng tăng.

Có nhiều cách tiếp cận quản lý dự án, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng.

Cách tiếp cận quản lý độc lập– dự án được tổ chức riêng rẽ về mặt chức năng. Theo cách tiếp cận này, tất cả các thành viên dự án nằm dưới quyền chỉ huy của giám đốc điều hành.

  • Hình 1.2. Sơ đồ cách tiếp cận QL dự án độc lập

Tổ chức dự án theo cách này có hạn chế duy nhất là lãng phí nhiều chuyên gia vì trong nhiều trường hợp dự án không sử dụng hết công suất làm việc của họ do vậy có thể gây tốn kém.

Quản lý dự án theo chiều dọc– dự án là một bộ phận nằm trong một đơn vị của tổ chức. Theo cách tiếp cận này, mối quan hệ tuyến tính về trách nhiệm và quyền hạn rất rõ ràng.

  • Hình 1.3. Sơ đồ cách tiếp cận QL dự án theo chiều dọc

Nhược điểm của cách quản lý này là quyền lực chỉ tập trung vào một bộ phận chức năng và sự quản lý cồng kềnh sẽ không thích hợp cho việc ra quyết định, thực hiện công việc nhanh chóng và bảo đảm chất lượng cao.

Tiếp cận quản lý dự án theo chiều ngang– dự án trở thành đơn vị đặt cắt ngang qua nhiều bộ phận chức năng. Những người làm việc cho dự án vẫn còn là thành viên của các bộ phận trong tổ chức và được dự án giao cho những nhiệm vụ cụ thể.

Dự án có quyền chỉ đạo các cá nhân phải “làm gì” và giải thích “tại sao” phải làm như vậy. Trưởng các bộ phận chịu trách nhiệm chỉ đạo các cá nhân này “làm như thế nào”. Hạn chế của cách tiếp cận này là người điều hành dự án gặp nhiều khó khăn trong phối hợp công việc.

  • Hình 1.4. Sơ đồ cách tiếp cận QL dự án theo chiều ngang

Từ những phân tích trên, có thể hiểu quản lý dự án hợp tác quốc tế về đào tạo là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của các chủ thể quản lý tới toàn bộ hoạt động liên quan tới dự án hợp tác quốc tế từ việc thiết kế, phê duyệt dự án đến việc tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo với các đối tác quốc tế.

Trong đó, chủ thể quản lý dự án HTQT về ĐT có thể hiểu là Ban Giám hiệu, chuyên viên ban quản lý dự án và các phòng ban chức năng có liên quan và giảng viên. Khách thể quản lý dự án HTQT về ĐT là toàn bộ hoạt động của dự án.

1.2. Nội dung quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường đại học Giao thông vận tải Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

1.2.1. Quản lý việc thiết kế, xây dựng dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Thực chất, đây là một khâu quan trọng trong quy trình quản lý dự án HTQT về ĐT. Trong khâu này, chủ thể quản lý cần xác định được mục tiêu của dự án. Dự án được xây dựng để làm gì? Đáp ứng đối tượng nào? Kết quả dự kiến đạt được ra sao?…; Mục tiêu của dự án HTQT về ĐT được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của Nhà trường, nhu cầu đào tạo của ngành giao thông vận tải và thực tế đào tạo hiện nay.

Tiếp theo, căn cứ vào mục tiêu dự án để lựa chọn và thành lập một nhóm để xây dựng dự án; xây dựng quy chế hoạt động của bộ máy quản lý; tổ chức điều phối các nguồn lực thực hiện dự án; bố trí, sử dụng và phát huy vai trò của các lực lượng, phương pháp, phương tiện quản lý để đạt được hiệu quả tối ưu trong tổ chức thực hiện dự án. Ngoài ra, Nhà trường cần phải chú trọng tìm hiểu và cập nhật những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và của các nước đối tác, nghiên cứu thế mạnh của các trường đối tác để lựa chọn đối tác cho phù hợp với từng dự án.

Khi xây dựng dự án HTQT về ĐT, phải dựa vào quan điểm, chủ trường của Đảng, Nhà nước về giáo dục – đào tạo, Luật giáo dục và các văn bản dưới luật; các nghị quyết, thông tư của Bộ Giáo dục – đào tạo; và một yếu tố không thể thiếu là nguồn tài chính. Đối với các chương trình được tài trợ, vấn đề quản lý đặt ra đối với chương trình thường bó gọn trong mục tiêu là làm sao tạo ra và duy trì một môi trường học tập hỗ trợ cho người học một cách tốt nhất, tạo điều kiện cho giảng viên và học viên thực hiện công việc giảng dạy và học tập một cách tốt nhất, nhờ đó đạt mục tiêu dự án. Công tác quản lý chỉ chịu áp lực về việc triển khai dự án thành công, đạt được mục tiêu đặt ra. Đối với các chương trình liên kết đào tạo tự trang trải học phí, một phần hoặc toàn phần, áp lực về tài chính là một điểm hết sức quan trọng và ảnh hưởng mật thiết đến các áp lực về tiến độ và chất lượng. Các yêu cầu quản lý đặt ra sát sao và nhiều vấn đề hơn so với các chương trình được tài trợ. Lúc này, yêu cầu đặt ra cấp thiết là chương trình đào tạo phải làm sao vừa đảm bảo trang trải được về tài chính vừa duy trì chất lượng theo đúng yêu cầu.

1.2.2. Quản lý quá trình thực hiện dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Sau khi dự án được xây dựng và phê duyệt, Hiệu trưởng Nhà trường và các đơn vị chức năng có nhiệm vụ tổ chức và triển khai thực hiện dự án HTQT về ĐT. Để triển khai dự án HTQT về ĐT, Nhà trường cần thực hiện một số công việc như sau:

Thành lập một ban quản lý dự án với nhiệm vụ điều hành, theo dõi, kiểm tra các hoạt động trong khuôn khổ của dự án; xây dựng kế hoạch thực hiện dự án; điều phối nguồn kinh phí của dự án; điều phối giảng viên giảng dạy cho dự án,…

Thường xuyên trao đổi thông tin và phối hợp công việc với các đối tác nước ngoài tham gia vào dự án HTQT về ĐT của trường; đàm phán để có những điều chỉnh phù hợp với yêu cầu và điều kiện thực tế.

Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý và giảng viên tham gia dự án.

1.2.3. Quản lý tiềm lực của dự án hợp tác quốc tế về đào tạo Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Tiềm lực của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải là các nguồn lực hiện có được huy động để phục vụ cho việc triển khai thực hiện các dự án, bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực và các điều kiện đảm bảo khác. Quản lý tiềm lực của dự án HTQT về ĐT là quản lý toàn bộ các yếu tố hợp thành tiềm lực, trong đó quản lý nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu và là yếu tố quan trọng nhất.

Quản lý nhân lực của dự án hợp tác quốc tế về đào tạo bao gồm các nội dung như: xây dựng, kiện toàn, phát triển đội ngũ giảng viên; xây dựng, củng cố, nâng cao trình độ chuyên môn và trách nhiệm của giảng viên tham gia giảng dạy cho các dự án; thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện trình độ ngoại ngữ và chuyên môn cho các giảng viên và cán bộ quản lý dự án; tổ chức lựa chọn sinh viên tham gia dự án theo các tiêu chí của từng dự án, đồng thời theo dõi sát sao hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên.

Quản lý tài lực, vật lực và các điều kiện đảm bảo khác chính là quản lý nguồn tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị – phương tiện dạy học, không gian, thời gian,…phục vụ việc triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Có những dự án được tài trợ nguồn kinh phí để trang bị các trang thiết bị – phương tiện dạy học và cơ sở vật chất theo yêu cầu của dự án như Dự án Đào tạo tiên tiến xây dựng công trình giao thông, Dự án Cầu đường Pháp, Dự án Việt – Nga,… Bên cạnh đó, cũng có những dự án phải khai thác và sử dụng cơ sở vật chất hiện có của Nhà trường như Dự án đào tạo tiến sỹ hai giai đoạn Việt – Đức, Dự án đào tạo kỹ sư ngành xây dựng công trình giao thông Việt – Nhật. Quản lý tài lực, vật lực và các điều kiện đảm bảo khác bao gồm toàn bộ hoạt động cung ứng, khai thác, phát huy tác dụng, hiệu quả của cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; hợp lý hóa việc sử dụng, phân bổ nguồn tài chính của dự án; tăng cường tìm kiếm các nguồn kinh phí; tạo điều kiện tốt nhất về không gian và thời gian cho các giảng viên và sinh viên tham gia dự án.

1.2.4. Kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Việc kiểm tra, giám sát kết quả dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của

Trường Đại học Giao thông Vận tải được thực hiện dựa trên mục tiêu của từng dự án và hình thức của dự án, bao gồm việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, phân công nhiệm vụ cho các đơn vị chức năng có liên quan; áp dụng các hình thức, phương pháp kiểm tra phù hợp với mục tiêu của từng dự án; tổ chức các hoạt động kiểm tra theo trình tự; tiến hành rút kinh nghiệm sau mỗi đợt kiểm tra. Có những dự án được chia làm hai giai đoạn như Dự án đào tạo kỹ sư hai giai đoạn Việt – Nga, Dự án đào tạo tiến sỹ hai giai đoạn Việt – Đức. Đối với các dự án này, yêu cầu đặt ra là phải kiểm tra, đánh giá kết quả của từng giai đoạn và tổng thể dự án. Sau khi kiểm tra, đánh giá một giai đoạn của dự án, cần tiến hành rút kinh nghiệm ngay và có sự điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên, với đặc thù của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo là có sự tham gia của các đối tác quốc tế nên trước khi điều chỉnh phải thương lượng đàm phán với đối tác. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Đánh giá kết quả thực hiện dự án HTQT về ĐT ở trường Đại học GTVT cũng được thực hiện căn cứ vào mục tiêu của từng dự án và hình thức của dự án. Có những dự án đòi hỏi người quản lý phải tiến hành đánh giá từng giai đoạn của dự án để rút ra các ưu điểm và nhược điểm của quá trình thực hiện để có những điều chỉnh phù hợp cho giai đoạn tiếp theo.

Để đánh giá kết quả thực hiện dự án HTQT về ĐT, nhà trường và trường đối tác cần xác định các tiêu chí đánh giá; xây dựng kế hoạch đánh giá; lựa chọn thành viên và thành lập hội đồng tham gia đánh giá; tổ chức các hoạt động đánh giá theo yêu cầu của từng dự án.

1.2.5. Quản lý việc khai thác nguồn lợi từ các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo sau khi dự án kết thúc

Tất cả các dự án đào tạo nói chung và các dự án HTQT về ĐT của trường Đại học GTVT nói riêng đều được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi dự án kết thúc, việc khai thác nguồn lợi từ các dự án luôn được lãnh đạo Nhà trường và các cán bộ quản lý quan tâm.

Quản lý việc khai thác nguồn lợi từ các dự án bao gồm quản lý việc tổ chức áp dụng các chương trình đào tạo, công nghệ đào tạo của nước ngoài; việc khai thác sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; quản lý việc duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài tham gia thực hiện dự án; tiếp tục bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý. Quá trình này bao gồm các hoạt động: xây dựng kế hoạch; phân công nhiệm vụ cho các đơn vị chức năng quản lý việc áp dụng các chương trình đào tạo, sử dụng cơ sở vật chất; kiểm tra, đánh giá kết quả khai thác nguồn lợi từ các dự án.

1.3. Những yếu tố tác động đến quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải

1.3.1 Yếu tố khách quan

  • Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Thế giới trong thế kỷ XXI tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.” (Theo Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay – Bộ Ngoại giao) Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, trong đó ưu tiên cho việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, với các nước và trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với nhiều nước trong và ngoài khu vực những khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện cho thế kỷ 21. Các mối quan hệ song phương và đa phương đó đã góp phần không nhỏ vào việc không ngừng củng cố môi trường hoà bình, ổn định và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và góp phần phát triển lĩnh vực văn hóa, giáo dục nói riêng.

Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhà nước kéo theo sự phát triển quan hệ hợp tác quốc tế của các trường đại học, trong đó có Trường Đại học GTVT. Do đó, Nhà trường tập trung đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội và từng bước hội nhập quốc tế bằng nhiều hình thức, tập trung vào thực hiện các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thay đổi trong quy định về hợp tác quốc tế của các trường đại học theo Điều lệ trường đại học ban hành năm 2023

  • Nhiệm vụ hợp tác quốc tế

Phát triển HTQT của trường đại học phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đảm bảo phát triển nhà trường bền vững.

Khai thác các khả năng hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để phục vụ có hiệu quả sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp giáo dục và góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Hợp tác quốc tế về giáo dục của trường đại học phải bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học; làm cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam và hệ thống giáo dục Việt Nam; đáp ứng nhu cầu hợp tác của đối tác nước ngoài theo khả năng của nhà trường trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi.

  • Nội dung hợp tác quốc tế

Liên kết đào tạo; Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, hợp tác tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học;

Tư vấn, tài trợ, đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ và các hoạt động giáo dục khác trong trường;

Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, nghiên cứu viên và cán bộ quản lý của trường; Trao đổi giảng viên, nghiên cứu viên, người học;

Liên kết thư viện, trao đổi thông tin phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ; trao đổi các ấn phẩm, tài liệu và kết quả hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ.

  • Phương thức hợp tác quốc tế

Hợp tác về đào tạo, khoa học và công nghệ với các tổ chức, các trường đại học và cá nhân nước ngoài;

Hợp tác với các tổ chức quốc tế liên quan đến giáo dục, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; thực hiện các hoạt động quốc tế theo chương trình, kế hoạch của nhà trường.

Tham gia các chương trình hợp tác quốc tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì.

  • Nội dung quản lý hợp tác quốc tế

Xây dựng kế hoạch, chương trình hợp tác quốc tế hàng năm và dài hạn của nhà trường.

Chuẩn bị, ký kết và triển khai các thỏa thuận song phương, đa phương. Quản lý các dự án sử dụng ngân sách của Chính phủ, kinh phí của Bộ

Giáo dục và Đào tạo và nguồn vốn ODA theo quy định của Chính phủ.

Quản lý hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học phù hợp với các quy định của pháp luật.

Tổ chức bộ phận chuyên trách quản lý hoạt động hợp tác quốc tế của nhà trường.

  • Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2040

Đến năm 2040, hệ thống giao thông vận tải nước ta cơ bản đáp ứng được nhu cầu về vận tải hàng hoá và hành khách với chất lượng tốt và giá cả hợp lý, bảo đảm an toàn, thuận lợi, kiềm chế tiến tới giảm tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường.

Hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa các phương thức vận tải, phát triển một cách đồng bộ, từng bước tiến tới hiện đại nhằm góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2040.

Đến năm 2040, tổng khối lượng vận chuyển hành khách là 6.240 triệu hành khách, trong đó đường bộ đảm nhận 86,0÷90,0%; đường sắt 1,0÷2,0%; đường thủy nội địa 4,5÷7,5% và hàng không 1,0÷1,7%. Tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa là 2.090 triệu tấn, trong đó đường bộ đảm nhận 65,0÷70,0%; đường sắt 1,0÷3,0%; đường thủy nội địa 17,0÷20,0%; đường biển 9,0÷14,0% và hàng không 0,1÷0,2%.

1.3.2 Yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Về quan hệ hợp tác quốc tế của Trường Đại học GTVT

Cho đến nay, Trường Đại học GTVT đã có quan hệ hợp tác quốc tế chính thức với hơn 60 tổ chức, trường đại học quốc tế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có những trường nổi tiếng thế giới và khu vực như Trường cầu đường Paris (Pháp), Đại học Leeds (Anh quốc), Đại học kỹ thuật Darmstadt, Dresden (CHLB Đức), Đại học giao thông Tây Nam (Trung quốc), Đại học kỹ thuật đường sắt Matxcova (CHLB Nga), Đại học Tokyo, Kyoto, Waseda (Nhật Bản)…Trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi bên, nhiều dự án quốc tế, chương trình hợp tác song phương được thực hiện trên các lĩnh vực hoạt động: thực hiện các đề án phối hợp đào tạo, đề tài NCKH với các trường đại học nước ngoài, các tổ chức quốc tế bằng nguồn kinh phí của Chính phủ Việt Nam và các nguồn kinh phí khác; Tổ chức và đồng tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học quốc tế quan trọng; Trao đổi giảng viên và sinh viên và đào tạo đại học, thạc sỹ, tiến sỹ. Các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tuy có nhiều lên về số lượng nhưng chất lượng và hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong muốn của nhà trường.

  • Về quy mô đào tạo của Trường Đại học GTVT

Nhiệm vụ trọng tâm của Trường Đại học GTVT là nâng cao chất lượng đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường xác định phát triển quy mô đào tạo một cách hợp lý, tiếp tục đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Do đó, bắt đầu từ năm học 2024-2025, theo chủ trương của Bộ giao quyền tự chủ cho các Trường trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh các bậc học (Thông tư 57/2024/TT-BGDĐT), Hội đồng khoa học – đào tạo trường đã xem xét, xác định chỉ tiêu phù hợp với năng lực của Nhà trường, giữ vững quy mô và tập trung cho việc nâng cao chất lượng đào tạo bằng việc tăng cường triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao, các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo. Điều đó được thể hiện qua bảng số liệu bên dưới:

  • Bảng 1.1. Quy mô đào tạo của Trường Đại học GTVT từ 2021 đến 2026

1.3.3 Về cơ cấu tổ chức của Trường Đại học GTVT

Theo Luật giáo dục 2018 và Điều lệ trường Đại học Việt Nam, cơ cấu tổ chức đào tạo của Trường Đại học GTVT được tổ chức theo mô hình ba cấp: Trường => Khoa/Viện => Bộ môn. Hội đồng trường là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà trường, Ban Giám hiệu là cơ quan điều hành toàn bộ các hoạt động của nhà trường.

Trong nhiệm kỳ 2021-2026 vừa qua, Nhà trường tập trung xây dựng đội ngũ và đổi mới công tác quản lý, phát triển đội ngũ đủ về số lượng và mạnh về chất lượng.

  • Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học GTVT

1.3.4 Về cơ sở vật chất của Trường Đại học GTVT

Trước yêu cầu đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, trong những năm vừa qua, Nhà trường đã đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất theo hướng đồng bộ và hiện đại để đáp ứng nhu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đặc biệt từ khi Nhà trường chuyển hình thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ. Bên cạnh đó, một số lớp học đã được sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị theo chuẩn đào tạo quốc tế để phục vụ cho các dự án HTQT về đào tạo và các chương trình đào tạo chất lượng cao.

1.4. Thực trạng quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

1.4.1. Vài nét về đặc thù đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải

Hiện nay các ngành và chuyên ngành đào tạo của trường chủ yếu là ở dạng phân ngành như xây dựng công trình giao thông, cơ khí chuyên dùng, kinh tế vận tải… và các chuyên ngành đào tạo theo diện hẹp và sâu trong lĩnh vực giao thông vận tải như chuyên ngành đường bộ, chuyên ngành cầu hầm, chuyên ngành máy xây dựng, chuyên ngành kinh tế vận tải ô tô,… Đây chính là một đặc thù quan trọng về ngành nghề đào tạo của trường.

Ưu điểm của phương thức đào tạo này là đảm bảo cho kỹ sư có khả năng nắm vững kiến thức chuyên môn rất sâu, có khả năng thực hành tốt về chuyên ngành được đào tạo, giúp cho kỹ sư ra trường có khả năng thích ứng nhanh với thực tế công việc. Tuy nhiên, chương trình đào tạo theo phân ngành và chuyên ngành hẹp không phù hợp với mô hình chung trong khu vực và trên thế giới đồng thời giảm cơ hội tham gia thị trường lao động chung của kỹ sư ra trường.

Song song với các chương trình đào tạo thông thường bằng tiếng Việt, nhà trường đã và đang tổ chức đào tạo các chương trình kỹ sư bằng tiếng Anh, Pháp và Nga cho các chuyên ngành xây dựng cầu đường và cơ khí chuyên dùng, vật liệu và công nghệ,…Đây chính là một trong những điều kiện rất thuận lợi để kỹ sư tốt nghiệp có thể tiếp tục học tập và nghiên cứu ở nước ngoài cũng như tham gia công tác trong môi trường làm việc quốc tế. Nhưng với đặc thù đào tạo là kỹ thuật chuyên ngành hẹp trong lĩnh vực giao thông vận tải nên số lượng các đối tác quốc tế của trường còn hạn chế, dẫn tới số lượng các dự án/chương trình HTQT về ĐT của trường chưa nhiều, hình thức chưa đa dạng.

1.4.2 Thực trạng các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông vận tải

  • Giới thiệu các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển hợp tác quốc tế chung của ngành giáo dục, quan hệ hợp tác quốc tế của Trường Đại học Giao thông Vận tải cũng đạt được những bước phát triển đáng kể, trong đó số lượng các dự án/chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo ngày một tăng lên.

Các dự án HTQT về ĐT của trường tập trung vào các chuyên ngành khoa học kỹ thuật đang phát triển ở Việt Nam, trong đó có chuyên ngành xây dựng công trình. Có thể kể đến một số dự án điển hình như: Dự án nâng cao trình độ giảng viên ngành tin học xây dựng (phối hợp với Trường Đại học tổng hợp kỹ thuật Darmstadt, CHLB Đức), Dự án đào tạo chương trình tiên tiến ngành xây dựng công trình giao thông (phối hợp với Đại học Leeds – Anh quốc), Chương trình đào tạo kỹ sư công trình giao thông Việt-Nhật (phối hợp với Viện kỹ thuật Shimizu – Nhật Bản), Đề án du học tự túc nước ngoài, Dự án đào tạo kỹ sư Cầu – Đường bằng tiếng Pháp (phối hợp với các trường đại học Pháp),… Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thông qua các dự án HTQT về ĐT kể trên, hàng chục cán bộ, giảng viên và hàng trăm sinh viên của trường được cử đi đào tạo đại học, thạc sỹ, tiến sỹ và đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn ở nước ngoài (xem phụ lục 1), đồng thời mở thêm một số chuyên ngành đào tạo mới như: chuyên ngành tự động hóa thiết kế cầu đường do dự án đào tạo tin học trong xây dựng mang lại; chuyên ngành xây dựng cảng hàng không; chuyên ngành tính toán thiết kế kết cấu xây dựng do dự án đào tạo chuyên ngành kết cấu xây dựng mang lại.

Các dự án HTQT về ĐT của trường được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và bằng các nguồn kinh phí khác nhau (xem phụ lục 2). Các dự án/chương trình hợp tác đào tạo tại chỗ hàng năm thu hút gần 200 sinh viên vào học tạo một môi trường học tập tốt và kích thích phong trào học tập ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp cho sinh viên.

Với mục tiêu tăng cường đào tạo giảng viên có trình độ tiến sỹ cho trường, năm 2017 nhà trường đã xây dựng “Dự án phối hợp đào tạo tiến sỹ hai giai đoạn” hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Kỹ thuật Darmstadt, CHLB Đức bằng nguồn kinh phí Nhà nước theo phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Quyết định số 61/QĐ-BGD&ĐT-VP ngày 05/01/2017. Theo nội dung chương trình các nghiên cứu sinh khi tham gia phải qua kỳ thi tuyển và phải đảm bảo các điều kiện về ngoại ngữ cũng như về chuyên môn theo qui định, sau đó học một năm trong nước và ba năm ở CHLB Đức để hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ. Trường Đại học GTVT trực tiếp quản lý, theo dõi mọi hoạt động của dự án và liên hệ với đối tác tìm giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh. Tính đến hết năm 2022, Nhà trường đã cử 8 giảng viên đi học tại CHLB Đức. Hiện nay, 06 giảng viên đã hoàn thành chương trình học và quay về công tác tại trường.

Theo chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo về việc cải tiến chương trình đào tạo theo hướng quốc tế hóa, thay đổi phương thức đào tạo theo tín chỉ, hiện đại hóa phương tiện dạy học, phòng thí nghiệm, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên cả về chuyên môn và ngoại ngữ, đặc biệt là Anh ngữ, năm 2020 nhà trường đã xây dựng Dự án “Chương trình đào tạo tiên tiến ngành xây dựng công trình giao thông” hợp tác với Đại học Leeds, Anh quốc bằng nguồn kinh phí Nhà nước.

Chương trình được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt tại Quyết định số 7581/QĐ-BGDĐT ngày 29/11/2020. Đây là chương trình hợp tác đào tạo thí điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho một số trường đại học, sử dụng nguồn kinh phí Nhà nước. Hiện nay tổng số sinh viên theo học chương trình là 265 sinh viên, trong đó năm học 2025-2026 có 99 sinh viên của hai khóa 49 và 50 đã tốt nghiệp. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Bảng 1.2. Một số dự án HTQT về ĐT điển hình của Trường Đại học GTVT giai đoạn 2016 – 2026

  • Đặc điểm của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Đặc điểm nổi bật của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo là có sự tham gia của các đối tác quốc tế trong và ngoài nước. Trong quá trình triển khai dự án sẽ có sự phối hợp giữa trường đại học trong nước với các đối tác, giữa giáo viên Việt Nam và giáo viên nước ngoài, giữa cán bộ quản lý Việt Nam và cán bộ quản lý nước ngoài. Chúng ta cùng xem xét hai dự án sau làm ví dụ:

  • Bảng 1.3. Dự án phối hợp đào tạo tiến sỹ hai giai đoạn Việt – Đức
  • Bảng 1.4. Dự án phối hợp đào tạo kỹ sư hai giai đoạn Việt – Nga

Thông qua hai dự án điển hình trên có thể rút ra một số đặc điểm chung của các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo như sau:

  • Về mục tiêu

Đối với các đối tác nước ngoài: trong những năm trước đây, mục tiêu của hầu hết các đối tác nước ngoài là phát triển tầm ảnh hưởng và thương hiệu của mình trên thế giới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các đối tác nước ngoài bắt đầu quan tâm tới mục tiêu tài chính.

Đối với các đối tác Việt Nam: mục tiêu chủ yếu là học hỏi kinh nghiệm đào tạo, tiếp nhận các công nghệ giáo dục và nghiên cứu khoa học hiện đại từ các đối tác nước ngoài, nâng cao năng lực cán bộ và hội nhập các chương trình đào tạo có chất lượng cao.

  • Về đối tượng

Đối tượng tham gia các dự án này hầu hết là sinh viên và giảng viên của nhà trường.

  • Về nội dung

Đào tạo phối hợp chủ yếu trên lĩnh vực khoa học công nghệ GTVT.

  • Về cách thức tổ chức đào tạo

Ở giai đoạn đầu, phần lớn các dự án đều nhận được tài trợ từ phía các đối tác nước ngoài hoặc đối tác thứ ba như Bộ GD và ĐT, các tổ chức quốc tế khác. Đây là một yếu tố quan trọng mang lại sự thành công cho các dự án của trường. Tuy nhiên, hiện nay số lượng các dự án có tài trợ hoàn toàn hoặc một phần ngày càng giảm.

Tham gia phối hợp quản lý và tổ chức giảng dạy cho các dự án là các cán bộ, giảng viên của Trường ĐH GTVT và các trường đại học đối tác nước ngoài. Tùy theo đặc điểm của từng chương trình mà sự tham gia của các giảng viên Trường ĐH GTVT khác nhau. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Về kết quả đạt được

Hầu hết các dự án HTQT về ĐT được thực hiện nghiêm túc, tuân theo đầy đủ các quy định của Bộ GD và ĐT và đã đạt được kết quả tương đối tốt.

  • Quá trình hình thành và triển khai các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Để triển khai được các dự án HTQT về ĐT, các trường đại học nói chung và trường Đại học Giao thông Vận tải nói riêng phải trải qua các bước: tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp tác, triển khai chương trình, tìm kiếm hướng phát triển.

Quá trình tìm kiếm đối tác và đàm phán ký kết: trong giai đoạn này, vấn đề quan trọng cần lưu tâm là xem xét đến mục tiêu của các đối tác trong chương trình. Mục tiêu đào tạo phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng sử dụng giảng viên Việt Nam ngày càng nhiều trong chương trình. Lưu ý các hoạt động bồi dưỡng giảng viên chỉ có thể thực hiện tốt khi đối tác Việt Nam đặt vấn đề và đàm phán ngay từ khi ký kết thỏa thuận về chương trình. Các mục tiêu của các đối tác có tính bổ trợ lẫn nhau càng dễ đi đến các thỏa thuận và làm cho chương trình được tiến hành một cách hiệu quả hơn.

Quá trình triển khai chương trình: cần chú ý quản lý chất lượng đào tạo của dự án, bao gồm chất lượng sinh viên/học viên, chất lượng đội ngũ giảng viên Việt Nam và nước ngoài. Đồng thời vấn đề tài chính là một ràng buộc có ảnh hưởng mật thiết đến việc duy trì chất lượng của dự án. Mối quan hệ giữa chất lượng và tài chính trong triển khai dự án là mối quan hệ phức tạp, đặc biệt là đối với các dự án tự trang trải kinh phí.

Tìm kiếm các hướng phát triển: các chương trình HTQT về đào tạo thường tồn tại ở dạng dự án. Đối với các chương trình được tài trợ, vấn đề duy trì tính bền vững các thành quả của dự án là duy trì được chương trình theo hướng tự trang trải kinh phí, bên cạnh việc duy trì sự phát triển bền vững của các chương trình, làm phong phú thêm môi trường đào tạo trong nước, một trong những mục tiêu của các chương trình HTQT về ĐT là chuyển giao chương trình và công nghệ đào tạo cho phía Việt Nam. Các chương trình HTQT về ĐT cần luôn mang tính tiên phong để đem vào Việt Nam những chương trình mới, mang tính chiến lược cho các giai đoạn phát triển của nền giáo dục Việt Nam.

  • Vai trò của các đối tác trong các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Vai trò các đối tác trong dự án thường được đánh giá bằng khả năng chuyển giao công nghệ đào tạo của phía đối tác nước ngoài và mức độ tiếp thu công nghệ đào tạo của chủ nhà. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thông thường, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, phòng học, trang thiết bị,…do phía Việt Nam cung cấp hoặc được kế thừa từ các dự án khác. Chương trình đào tạo và các tài liệu học tập do phía đối tác cung cấp.

Ban đầu, các chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo chủ yếu ở bậc sau đại học, hướng tới các giảng viên của trường ĐH GTVT. Hình thức này ở bậc trên đại học tỏ ra rất hiệu quả và thu hút được nhiều giảng viên tham gia. Riêng đối với hình thức khóa đào tạo ngắn hạn nâng cao nghiệp vụ thì đặc biệt thu hút các cán bộ đang làm việc trong lĩnh vực GTVT. Người học có thể theo học các chương trình quốc tế với mức chi phí tài chính hợp lý mà không phải bỏ công việc hiện tại của mình. Đối với bậc đại học, việc tổ chức các dự án HTQT về ĐT khó khăn hơn do chương trình học đòi hỏi nhiều thời gian hơn, nhiều môn học hơn và một điểm quan trọng là sinh viên không thể học cuốn chiếu như đối với các học viên trong các chương trình cao học.

Trong quá trình triển khai các hoạt động của dự án, đối tác Việt Nam và đối tác nước ngoài làm việc cùng nhau và chính trong quá trình tương tác đó, các đối tác học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với nhau. Quá trình chuyển giao công nghệ đào tạo diễn ra theo hướng dịch chuyển dần vai trò, trách nhiệm từ phía đối tác nước ngoài sang đối tác Việt Nam. Đó chính là quá trình vươn lên đạt tới các chuẩn mực quốc tế của các giảng viên và cán bộ quản lý Việt Nam.

Chúng ta cùng nhìn nhận cụ thể qua bảng dưới đây:

Bảng 1.5. Vai trò của Trường ĐH GTVT trong các dự án HTQT về ĐT

  • Đánh giá các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Các dự án HTQT về ĐT của Trường ĐH GTVT đã đạt được một số thành tựu như sau:

Góp phần đào tạo một lực lượng lớn nguồn nhân lực có trình độ cao và đặc biệt là góp phần rất quan trọng vào việc nâng cao năng lực chuyên môn của Trường ĐH GTVT.

Góp phần nâng cao năng lực cho các cán bộ quản lý như nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, các kỹ năng bổ trợ cho công việc, thay đổi theo chiều hướng tích cực thái độ, tác phong làm việc.

Thông qua các dự án HTQT về ĐT, cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường cũng được nâng cấp, hiện đại hóa, từng bước đáp ứng cách thức dạy và học hiện đại, từng bước chuyển giao công nghệ dạy và học hiện đại cho nhà trường.

Chương trình đào tạo được cải tiến, một số chuyên ngành đào tạo mới được xây dựng thông qua các dự án HTQT về ĐT.

Những thành quả mà các dự án mang lại thật đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước dành cho các trường đại học còn hạn hẹp, mức thu nhập của giảng viên còn thấp, trình độ ngoại ngữ hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai thực hiện các dự án đào tạo. Do đó, hiệu quả của các dự án HTQT về ĐT cũng không đạt được mục tiêu đề ra. Có thể kể đến một số tồn tại như sau:

Thiếu tính chủ động do thiếu nguồn kinh phí đầu tư. Các trường đại học Việt Nam nói chung và Trường Đại học GTVT nói riêng gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp vốn đối ứng để triển khai các dự án HTQT về ĐT: các trường chưa có một nguồn vốn riêng để hoạt động mà thường được trích một phần rất nhỏ từ kinh phí sự nghiệp vốn đã rất hạn hẹp.

Trình độ ngoại ngữ của giảng viên còn thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình và hiệu quả thực hiện các dự án.

1.4.3 Thực trạng quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo của Trường Đại học Giao thông Vận tải Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Đánh giá thực trạng quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Việc quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo được xem xét trên nhiều góc độ: quản lý nhà nước đối với các dự án và các cơ sở thực hiện dự án, bao gồm việc quản lý cấp phép cho các dự án và giám sát chất lượng của dự án trong quá trình thực hiện. Tùy vào nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của các dự án HTQT về đào tạo mà mỗi trường đại học, mỗi cơ sở đào tạo có cách quản lý khác nhau.

Tại Trường Đại học GTVT, công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT trong những năm vừa qua đã đạt được một số thành tựu và tồn tại sau:

Một là, nhận thức và vai trò của chủ thể quản lý các dự án HTQT về ĐT

Chất lượng, hiệu quả công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT ở Trường ĐH GTVT nói riêng và ở các trường ĐH nói chung trước hết phụ thuộc vào sự nhận thức và vai trò của các thành viên trong nhà trường đối với hoạt động HTQT và quản lý các dự án HTQT về ĐT của trường.

  • Đối với Ban Giám hiệu Nhà trường

Trong tư duy quản lý của mình, Ban Giám hiệu Nhà trường luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế; đồng thời thể hiện đúng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo, điều hành, chịu trách nhiệm về mọi mặt đối với việc phát triển HTQT nói chung và các dự án HTQT về ĐT nói riêng.

Kể từ những ngày đầu mới thành lập, Ban Giám hiệu Trường Đại học Giao thông Vận tải luôn chú trọng xây dựng và phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế. Toàn bộ giai đoạn hợp tác và quan hệ quốc tế của Trường Đại học GTVT cho đến nay có thể chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ đầu từ lúc thành lập trường đến cuối những năm 80 và thời kỳ thứ hai từ đầu những năm 90 đến nay.

Đặc trưng chung của công tác hợp tác quốc tế trong giai đoạn đầu là:

Các nước XHCN là đối tác duy nhất của trường và trường thụ động tiếp nhận sự giúp đỡ của các nước anh em.

Các Nghị định thư ký cấp Nhà nước là khuôn khổ chính cho mọi hoạt động hợp tác giữa trường với các đối tác.

Trong khi đó, từ đầu những năm 90 đến nay, khi thực hiện mở cửa trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Trường ĐH GTVT đã chủ động tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhất là các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế… Các loại hình hợp tác cũng đa dạng hơn, không chỉ còn hình thức Nghị định thư mà còn có cả chương trình dự án; các bên tham gia ngày càng đa dạng gồm cả song phương và đa phương. Hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò rất quan trọng trong những thành tích mà Trường ĐH GTVT đã đạt được. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Ban giám hiệu đã chủ động nghiên cứu, đề xuất chủ trương, giải pháp quan trọng để tăng cường hoạt động HTQT và phát triển cả về số lượng và chất lượng các dự án HTQT về ĐT. Điều đó được thể hiện rõ qua biểu đồ dưới đây:

  • Biểu đồ 1.1: Số lượng dự án HTQT về ĐT từ năm 1995 đến nay

Số lượng dự án HTQT về ĐT đã phản ánh một phần sự nỗ lực, cố gắng trong quản lý của Ban giám hiệu Nhà trường, đặc biệt là Hiệu trưởng trường – người trực tiếp theo dõi và chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động HTQT của Nhà trường.

Tuy nhiên, theo nhận định của một số chuyên gia, cán bộ quản lý và giảng viên, để nâng cao chất lượng và số lượng dự án HTQT về ĐT, Ban giám hiệu Nhà trường cần có sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt hơn nữa theo hướng tập trung đầu tư cho hoạt động HTQT nói chung và xây dựng các dự án HTQT về ĐT nói riêng.

  • Đối với các đơn vị chức năng

Theo sự phân công của Nhà trường, Phòng Đối ngoại và Trung tâm HTQT về ĐT và NC là hai đơn vị chủ chốt chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, quản lý các hoạt động liên quan tới dự án HTQT về ĐT của Nhà trường. Phòng Đối ngoại với chức năng tham mưu giúp Hiệu trưởng trong việc tổ chức thực hiện, quản lý các hoạt động hợp tác với các tổ chức, cơ quan trong nước và ngoài nước theo đúng qui định của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của Nhà trường, đã phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc đề xuất với Hiệu trưởng xây dựng chủ trương, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn về quan hệ đối ngoại của Nhà trường; thiết lập mới và duy trì mối quan hệ hợp tác với các cá nhân, tổ chức, cơ quan trong nước và ngoài nước; phối hợp với các phòng, ban khác và Trung tâm HTQT về ĐT và NC trong công tác xây dựng chương trình và tổ chức thực hiện, quản lý các dự án quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất; đàm phán, tổ chức ký kết các văn bản hợp tác và các hợp đồng đào tạo với các đối tác nước ngoài.

Trung tâm HTQT về ĐT và NC có nhiệm vụ xây dựng chương trình, tổ chức thực hiện và quản lý các dự án/chương trình HTQT về ĐT và chất lượng cao bậc đại học và sau đại học; xây dựng đề án, tổ chức thực hiện và quản lý các đề tài/dự án nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hợp tác quốc tế; thực hiện các chương trình đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ cho các chương trình đào và đề tài nghiên cứu của trung tâm và nhu cầu xã hội; quản lý, phục vụ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của sinh viên và học viên tham gia các chương trình đào tạo thuộc trung tâm; phối hợp với các đơn vị trong nhà trường đề xuất, tham mưu giúp việc cho lãnh đạo nhà trường về các lĩnh vực công việc thuộc chức năng của trung tâm.

Qua trao đổi với đội ngũ giảng viên và sinh viên tham gia các dự án/chương trình HTQT về ĐT, cơ bản đều nhận định, dưới sự chỉ đạo của Hiệu trưởng, Phòng Đối ngoại và Trung tâm HTQT về ĐT và NC đã phát huy được trách nhiệm trong quản lý hoạt động HTQT của trường cũng như quản lý các dự án HTQT về ĐT.

Tuy nhiên, trên cương vị là các đơn vị chủ chốt chịu trách nhiệm quản lý các dự án HTQT về ĐT, hai đơn vị trên còn chưa phối hợp quản lý chặt chẽ; đôi khi chưa chủ động trong công tác quản lý dự án; chưa đề xuất được các biện pháp quản lý đột phá để phát triển số lượng cũng như nâng cao chất lượng các dự án HTQT về ĐT của Nhà trường.

  • Đối với đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Tuy không phải là chủ thể quản lý trực tiếp kế hoạch, tiến độ, các nguồn lực của dự án nhưng có thể coi đội ngũ giảng viên giảng dạy cho các dự án HTQT về ĐT của Trường ĐH GTVT là những chủ thể quản lý trực tiếp nội dung, phương pháp đào tạo trong các dự án. Nếu thiếu sự tham gia của giảng viên thì tất cả các dự án đào tạo sẽ không thể thành công.

Hầu hết các giảng viên tham gia giảng dạy cho các dự án đều nhận thức được tầm quan trọng của các dự án HTQT về ĐT là góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, từ đó góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của trường. Ngoài việc đóng góp chuyên môn, nhờ vào những mối quan hệ cá nhân từ khi còn học ở nước ngoài, nhiều giảng viên còn làm cầu nối cho sự phát triển quan hệ HTQT của trường. Một số giảng viên còn đề xuất những biện pháp quản lý hữu hiệu cho Hiệu trưởng và các đơn vị chức năng.

Bên cạnh những ưu điểm trên, theo đánh giá của đơn vị quản lý trực tiếp là Trung tâm HTQT về ĐT và NC và theo đánh giá của sinh viên, nhiều giảng viên còn chưa thực sự cố gắng, trách nhiệm trong công tác giảng dạy chưa cao, ngoại ngữ còn yếu; chưa thực sự chủ động rèn luyện nâng cao chuyên môn và ngoại ngữ. Một số giảng viên sau một quá trình giảng dạy chưa đáp ứng được yêu cầu của dự án.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý các hoạt động HTQT, trong đó có việc quản lý các dự án HTQT về ĐT

Hiện nay, cơ chế vận hành của bộ máy quản lý các dự án HTQT về ĐT của Trường ĐH GTVT được triển khai thực hiện thông suốt. Điều đó là nhờ việc chủ động xây dựng và hoàn thiện quy trình thực hiện công việc, việc xây dựng chủ trương, ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý.

Qua thực tế hoạt động HTQT và triển khai các dự án HTQT về ĐT, Nhà trường và các đơn vị chức năng đã xây dựng, ban hành và không ngừng hoàn thiện các loại văn bản quy định quản lý như quy trình thực hiện công việc của trường, hướng dẫn triển khai các dự án HTQT về ĐT, quyết định thành lập ban quản lý dự án, quyết định phân công nhiệm vụ cho giảng viên,…

Các đơn vị chức năng và giáo viên đã thực hiện đúng theo sự chỉ đạo từ Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường. Sự phân cấp quản lý được thực hiện khá rõ rang, đảm bảo dân chủ hóa, công khai hóa các dự thảo quyết định. Có sự liên kết hỗ trợ, hợp tác giữa các đơn vị chức năng, các khoa giảng viên trong điều hành, triển khai các dự án HTQT về ĐT. Qua điều tra, có 45,7% giảng viên, 52,4% cán bộ quản lý ở các phòng, ban chức năng và các khoa chuyên ngành cho rằng sự phối hợp giữa nhà trường với các đơn vị chức năng và các khoa chuyên ngành đạt ở mức khá.

Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý các dự án HTQT về ĐT của Nhà trường hiện nay cũng còn một số điểm chưa hoàn thiện, cần bổ sung, điều chỉnh. Qua thực tế hoạt động triển khai các dự án, có thể thấy việc kế hoạch hóa, việc thực hiện dân chủ hóa quá trình ra quyết định quản lý chưa trở thành quy chế bắt buộc mà mới chỉ đặt ra như một yêu cầu cần đáp ứng, một yếu tố cần chú ý trong quá trình ra quyết định. Với đặc điểm riêng của các dự án HTQT về ĐT là yếu tố quốc tế nên có những văn bản hướng dẫn thực hiện công việc quản lý phải có sự phối hợp với các đối tác nước ngoài và theo yêu cầu của từng dự án. Nhưng Nhà trường chưa thực hiện triệt để những yêu cầu đó trong việc xây dựng cơ chế quản lý.

Ngoài ra, còn thiếu cụ thể trong xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế phối hợp giữa các khoa giáo viên, giữa Nhà trường với các phòng ban chức năng và với giảng viên; cơ chế hợp tác giữa các phòng ban chức năng với giảng viên, cá nhân trong và ngoài trường; cơ chế bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ giảng viên giảng dạy trong các dự án; cơ chế đánh giá chất lượng giảng viên; cơ chế đảm bảo chế độ, chính sách, động viên, khích lệ giảng viên và các cán bộ thuộc các đơn vị chức năng.

Ba là, việc xây dựng và tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả của các dự án HTQT về ĐT

Nhìn chung, việc xây dựng và tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá các dự án HTQT về ĐT của Trường ĐH GTVT đã được thực hiện nghiêm túc và đạt mục tiêu đề ra. Kế hoạch triển khai dự án được xây dựng và thực hiện thống nhất từ Ban Giám hiệu đến các đơn vị chức năng, các khoa, viện và giảng viên trên cơ sở tuân thủ các kế hoạch mà Nhà trường đã định ra. Về cơ bản, các dự án HTQT về ĐT đã được thực hiện theo đúng tiến độ, nội dung và đạt được mục tiêu của dự án. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của các dự án HTQT về ĐT cũng được duy trì thường xuyên. Nhờ thực hiện tốt các khâu này, kết quả đạt được là các dự án HTQT về ĐT ở Trường ĐH GTVT đã góp phần cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho ngành giao thông vận tải và một số ngành kinh tế quốc dân khác. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

  • Bảng 1.6. Số lượng học viên tốt nghiệp các dự án HTQT về ĐT từ năm 1996 đến năm 2026

Tuy nhiên, việc xây dựng các dự án HTQT về ĐT vẫn chỉ mang tính chất thời vụ, chưa có tính chiến lược lâu dài. Sự phối hợp giữa các đơn vị được phân công xây dựng và triển khai dự án chưa chặt chẽ. Công tác kiểm tra, đánh giá của Nhà trường đối với các đơn vị chức năng và giảng viên tham gia dự án, của đơn vị chức năng đối với sinh viên còn mang tính hình thức, chưa kịp thời. Do vậy, không có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp trong quá trình tổ chức thực hiện các dự án HTQT về ĐT. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả của các dự án. Trong quá trình triển khai các dự án HTQT về ĐT, một trong những tồn tại lớn nhất của các trường đại học nói chung và trường ĐH GTVT nói riêng là trình độ ngoại ngữ của giảng viên và sinh viên và nguồn kinh phí thực hiện dự án. Ngoài ra, hạn chế về thông tin, hạn chế trong hiểu biết về quy định, chính sách của đối tác nước ngoài cũng ảnh hưởng tới kết quả của dự án.

Bốn là, việc khai thác nguồn lợi từ các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo sau khi dự án kết thúc

Sau mỗi một dự án HTQT về ĐT, việc khai thác nguồn lợi từ các dự án đã được Nhà trường tiến hành nghiêm túc tuy nhiên khai thác chưa triệt để, chưa đạt được mục tiêu đề ra. Có thể thấy rõ điều này thông qua một thí dụ điển hình sau:

Dự án phối hợp đào tạo kỹ sư hai giai đoạn Việt – Nga được thực hiện từ năm 2018 tới năm 2023. Dự án được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn một được thực hiện ở Trường ĐH GTVT. Để phục vụ cho giai đoạn này, Nhà nước đã cấp kinh phí để đầu tư lắp đặt một phòng học chất lượng cao với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như hàng chục máy tính, máy chiếu, màn chiếu, điều hòa và toàn bộ tài liệu học tập được mua từ Nga. Mục tiêu của dự án là áp dụng chương trình đào tạo ngành Metro cho Khoa Công trình của trường. Tuy nhiên, sau khi dự án kết thúc, Nhà trường mới chỉ khai thác được cơ sở vật chất của dự án. Đó là tiếp tục sử dụng phòng học đó cho các lớp chất lượng cao của Nhà trường. Còn toàn bộ giáo trình bằng tiếng Nga chỉ để lưu lại trong thư viện trường, không được dịch và áp dụng cho giảng dạy. Chương trình đào tạo nhập khẩu từ trường đối tác là Trường ĐH tổng hợp quốc gia đường sắt Matxcova (MIIT) cũng không được áp dụng cho công tác đào tạo của trường.

Mong muốn và mục tiêu của Nhà trường khi xây dựng các dự án HTQT về ĐT là giúp giảng viên nâng cao trình độ ngoại ngữ khi tham gia các dự án. Nhiều khóa đào tạo ngoại ngữ đã được tổ chức; nhiều giảng viên đã được cử đi thực tập ngắn hạn ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí của các dự án (điển hình là dự án giáo dục đại học giai đoạn 2) nhưng trình độ ngoại ngữ của giảng viên vẫn còn hạn chế, chưa đạt được như mong muốn của Đảng ủy và Ban giám hiệu Nhà trường.

1.5 Nguyên nhân ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

1.5.1 Nguyên nhân ưu điểm

Một là, sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhà nước, sự phát triển HTQT trong ngành giáo dục nói chung và ở Trường ĐH GTVT nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các dự án HTQT về ĐT

Những năm gần đây, hội nhập khu vực và thế giới trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa và đặc biệt giáo dục và đào tạo là một xu thế tất yếu. Ở Việt Nam, hội nhập quốc tế đặc biệt phát triển sau khi nước ta gia nhập tổ chức WTO. Việt Nam đã mở rộng quan hệ hợp tác chiến lược với nhiều nước trên thế giới, điều đó là nền tảng cho sự phát triển HTQT trong ngành giáo dục – đào tạo, trong đó có trường ĐH GTVT. Nhờ phát triển quan hệ HTQT, nhiều dự án HTQT về ĐT cũng được xây dựng và thực hiện. Trên thực tế, trong quá trình quản lý, Nhà trường đã tận dụng, phát huy một cách hợp lý những cơ hội và điều kiện đó để nâng cao chất lượng cũng như số lượng các dự án HTQT về ĐT.

Hai là, Đảng ủy và Ban Giám hiệu Nhà trường đã coi trọng và có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát sao đối với hoạt động HTQT và phát triển các dự án HTQT về ĐT

Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường thường xuyên đề xuất và thực thi các chủ trương, biện pháp quản lý hoạt động HTQT, từ việc lựa chọn đối tác, hình thức, nội dung hợp tác đến việc xây dựng chiến lược hợp tác lâu dài, phát huy vai trò của các cá nhân và đơn vị quản lý; có sự nhạy bén, linh hoạt trong điều hành các hoạt động HTQT; tập trung đầu tư phát triển các dự án HTQT về ĐT. Các chủ trương chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám hiệu đã và đang được triển khai và ngày càng khẳng định tính ưu việt của nó trong thực tiễn quản lý.

Ba là, các đơn vị chức năng phát huy được vai trò quản lý và tổ chức thực hiện các dự án HTQT về ĐT

Các đơn vị chức năng như Phòng Đối ngoại, Trung tâm HTQT về ĐT và NC, Trung tâm đào tạo kỹ năng tiếng Pháp, Trung tâm đào tạo tiếng Anh,…đã thực hiện nghiêm túc các chức năng, nhiệm vụ mà Nhà trường giao phó trong việc quản lý và triển khai các dự án HTQT về ĐT. Phòng Đối ngoại đã chủ động trong việc tìm kiếm đối tác, đàm phán hợp tác với các đối tác, tổ chức ký kết văn bản hợp tác và các hợp đồng phối hợp đào tạo, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển hoạt động HTQT về ĐT của trường. Trung tâm HTQT về ĐT đã phát huy được vai trò của mình trong việc triển khai thực hiện các dự án, bao gồm việc xây dựng chương trình, thời khóa biểu, bố trí giảng viên, bố trí phòng học, quản lý sinh viên,… Việc đánh giá đúng vai trò của từng phòng ban chức năng, đồng thời tận dụng, phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của các cá nhân và đơn vị trong quản lý các dự án HTQT về ĐT là chủ trương đúng, đã mang lại hiệu quả tích cực.

1.5.2 Nguyên nhân hạn chế, khuyết điểm Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Thứ nhất, tiềm lực phục vụ cho các dự án HTQT về ĐT của Trường ĐH GTVT còn mỏng

Nhà trường còn thiếu tính chủ động trong quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo do nguồn kinh phí đầu tư và thiếu thông tin khi xây dựng dự án.

Ông cha ta có câu “có bột mới gột nên hồ”, nghĩa là muốn làm việc gì cũng phải tính đến nguồn chi phí tài chính. Các trường Đại học Việt Nam nói chung và Trường Đại học GTVT nói riêng gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp vốn đối ứng để triển khai các dự án HTQT về ĐT: các trường chưa có một nguồn vốn riêng để hoạt động mà thường được trích một phần từ kinh phí sự nghiệp vốn đã rất hạn hẹp. Mặc dù theo Nghị định 20/CP, Nhà nước đã đồng ý cấp vốn đối ứng nhưng cho đến nay số lượng các dự án được thực hiện theo nghị định này vẫn còn rất hạn chế. Nguồn tài chính yếu đã hạn chế rất nhiều tính chủ động cho lãnh đạo trường ngay từ khi hình thành xây dựng dự án đào tạo.

Làm thế nào để lựa chọn đối tác phù hợp với các dự án đào tạo quốc tế đòi hòi các trường đại học của Việt Nam, trong đó có trường Đại học GTVT phải tìm hiểu nhiều thông tin về đối tác cũng như các chính sách, quy định khi xây dựng dự án. Tuy nhiên, sự thiếu thông tin trong quá trình xây dựng dự án vẫn thường xuyên xảy ra, đôi khi ảnh hưởng không tốt tới quá trình triển khai dự án và chất lượng dự án.

Đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ của các dự án chưa nhiều. Đặc biệt, Nhà trường vẫn phải thuê thêm nhiều giảng viên nước ngoài để dạy ngoại ngữ cho các em sinh viên nhằm đảm bảo các em sinh viên đạt được trình độ ngoại ngữ theo yêu cầu của các dự án HTQT về ĐT.

Thứ hai, bộ máy quản lý chưa tập trung, thiếu tính chuyên nghiệp, các qui định cho mỗi dự án đào tạo quốc tế cần chặt chẽ và phù hợp hơn.

Sự phân tán trong quản lý này là một cản trở trong việc huy động thống nhất các nguồn lực cho sự nghiệp phát triển của trường ĐH GTVT, gây ra nhiều khó khăn cho Trường ĐH GTVT trong việc tiếp tục phát triển các chương trình HTQT về ĐT. Việc quản lý phân tán các chương trình hợp tác ĐTQT cũng tạo ra những sự khác biệt đáng kể giữa các chương trình HTQT. Sự khác biệt đó tạo ra một hình ảnh thiếu thống nhất. Bên cạnh đó, những hạn chế về chính sách, chế độ đối với các dự án cũng như cán bộ dự án, giáo viên tham gia dự án cũng chưa có “chuẩn”, chưa có quy định cụ thể về kiểm định chất lượng dự án theo tiêu chuẩn quốc tế gây khó khăn trong việc hình thành, phát triển và mở rộng các dự án.

Để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quản lý các dự án HTQT về đào tạo của Trường Đại học GTVT đòi hỏi sự năng động của lãnh đạo Nhà trường và các cán bộ quản lý dự án và cần phải có một hệ thống các biện pháp quản lý sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

Ba là, Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường chưa tập trung tối đa sức lãnh đạo, chỉ đạo cho hoạt động HTQT nói chung và phát triển các dự án HTQT về ĐT nói riêng

Hoạt động HTQT của Trường ĐH GTVT trong những năm vừa qua đã được Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường quan tâm, song chưa thực sự mạnh mẽ, chưa chỉ đạo sát sao, kịp thời để theo kịp sự thay đổi của thời cuộc. Mức độ đầu tư về mọi mặt cho việc xây dựng các dự án HTQT về ĐT còn chưa thỏa đáng. Việc đưa ra chủ trương, biện pháp chỉ đạo thực hiện các dự án HTQT về ĐT còn chậm và chưa triệt để.

Phát triển HTQT nói chung và các dự án HTQT về ĐT nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Trường Đại học GTVT trong những năm gần đây. Việc quản lý phát triển về chất lượng và số lượng các dự án HTQT về ĐT có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Nhà trường trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm qua, các dự án HTQT về ĐT đã góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên và cán bộ quản lý của trường, đào tạo giảng viên với trình độ quốc tế, cải tiến chương trình đào tạo hay mở thêm các chuyên ngành đào tạo mới và có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới cách thức tổ chức quản lý của nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý các dự án HTQT về ĐT còn nhiều tồn tại thể hiện ở sự bất cập do thiếu thông tin khi xây dựng dự án, thiếu nguồn kinh phí thực hiện, thiếu sự tập trung và chuyên nghiệp trong quản lý và triển khai dự án, các chế độ chính sách dành cho cán bộ quản lý và các giảng viên tham gia dự án còn chưa phù hợp, năng lực chuyên môn của các cán bộ quản lý còn thấp. Điều này đòi hỏi Nhà trường cần phải có một số biện pháp để phát triển các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thương hiệu của trường. Luận văn: Quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý các dự án hợp tác quốc tế về đào tạo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *