Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Trên cơ sở lý thuyết, bằng chứng từ thực nghiệm và mô hình nghiên cứu đã được trình bày ở chương 2, chương 3 sẽ mô tả các bước của quy trình nghiên cứu, tập trung xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thu nhập và mô tả mẫu dữ liệu nghiên cứu cũng như công cụ nghiên cứu và phương pháp được sủ dụng cho nghiên cứu.

3.1 Quy trình nghiên cứu

Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả áp dụng quy trình nghiên cứu theo sơ đồ sau.

Hình 3.1. Quy trình tiến trình nghiên cứu
Hình 3.1. Quy trình tiến trình nghiên cứu

Nguồn: nghiên cứu của tác giả Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Các bước thực hiện tiến trình nghiên cứu tại sơ đồ trên có nội dung cụ thể được thực hiện được tác giả dựa trên theo Gujarati (2015) trong cuốn giáo trình “Econometrics by Example” và được tác giả tóm gọn lại như sau:

Bước 1: Xác định khoảng trống nghiên cứu và định hướng thiết kế mô hình nghiên cứu cho đề tài thông qua việc lược khảo, thảo luận các tài liệu về tổng qua căn bản về lý thuyết cũng như các đề tài nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả đã thực hiện trước đó mà có liên quan tại Việt Nam và các quốc gia khác.

Bưởc 2: Từ tổng quan căn bản về lý thuyết và các nghiên cứu được thực nghiệm ở bước 1, xác định loại mô hình phù hợp với đề tài của nghiên cứu.

Bước 3: Xác định giá trị mẫu nghiên cứu phù hợp mục tiêu của nghiên cứu ,kèm theo đó là đối tượng và cũng như phạm vi nghiên cứu.

Bước 4: Thu thập và xử lý mẫu dữ liệu để qua đó xá định mẫu phù hợp theo mô hình nghiên cứu tại bước 2.

Bước 5: Xác định các phương pháp nghiên cứu cùng với những kỹ thuật phân tích, kèm theo đó là các ước lượng cụ thể: thống kê về mô tả, phân tích về tương quan, và thêm nữa là phân tích hồi quy về dữ liệu bảng sẽ được sử dụng là theo phương pháp hồi quy gộp (Pooled OLS – Pooled Ordinary Least Squares), mô hình hiệu ứng cố định (FEM – Fixed Effects Model) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM – Random Effects Model).

Bước 6: Xác định các biến độc lập có ý nghĩa thống kê thông qua kiểm định những giả thuyết nghiên cứu bằng cách sử dụng kiểm định F hay kiểm định t-student các mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5% và 10% nhằm trả lời cho câu hỏi biến phụ thuộc chịu tác động từ những biến độc lập nào. Bên cạnh đó tiến hành kiểm định Hausman (để lựa chọn giữa mô hình FEM và với mô hình REM), kế tiếp là kiểm định giả thiết Lagrange multiplier (để lựa chọn giữa mô hình REM và mô hình OLS gộp), thông qua đó lựa chọn được kết quả hồi quy phù hợp nhất.

Bước 7: Kế tiếp là tiến hành các kiểm định về khuyết tật của các mô hình hồi quy, bao gồm: hiện tượng về đa cộng tuyến nghiêm trọng, hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Nếu các mô hình không có các hiện tượng khuyết tật kể trên thì khi kết hợp với bước 6 để tiến hành thực hiện bước 8; nếu mô hình có một trong các hiện tượng khuyết tật như ở trên đề cập thì sẽ được khắc phục bằng phương pháp GLS (Generalized Least Square) để rồi thông qua đó tìm ra kết quả cuối về mô hình hồi quy kèm với đó là kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và chuyển sang bước 8.

Bước 8: Đây là bước cuối cùng của tiến trình, căn cứ vào kết quả hồi quy mô hình, đề tài tiến hành các bước thảo luận, đúc kết về kết luận và đưa ra các gợi ý, kiến nghị có liên quan nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra trước đó cũng như, giải quyết được mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu đã đề ra.

3.2 Mô hình nghiên cứu Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

3.2.1 Khái quát mô hình nghiên cứu

Khi xem xét các yếu tố có thể tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhiều nhóm ngành nghề khác nhau, yếu tố vĩ mô thường sẽ được đề cập trước tiên, rồi mới tới yếu tố về nội tại của doanh nghiệp. Thế nhưng, khi tình hình kinh tế vĩ mô vào năm 2024 và năm 2025 không khả quan, các doanh nghiệp nhóm ngành thép vẫn có tăng trưởng ấn tượng. Hơn nữa, khi tham khảo những nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm trước đây, các nghiên cứu trước đây cũng đều xem xét các yếu tố nội tại của doanh nghiệp để tiến hành nghiên cứu. Do đó, sau khi xem xét các nghiên cứu trước, tác giả sử dụng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm biến được giải thích đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Trong thực nghiệm, tỷ suất ROA và ROE thường được dùng làm biến được giải thích nhằm giải thích về khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Các biến này cũng được sử dụng trong nghiên cứu của Bolek và Wilinski (2016); Hà Minh Tâm và cộng sự (2025); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025); Sivathaasan và các cộng sự (2017), vv và vv. Các biến giải thích được dùng để giải thích cho biến phụ thuộc là các biến gồm có: biến lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần (ROS), biến quy mô của công ty (SIZE), biến tài sản cố định trên tổng tài sản (TANG); tốc độ tăng trưởng tổng tài sản (GROW) và biến đại diện tỷ lệ số tiền đóng thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp (TAX). Lý do mà tác giả sử dụng 5 biến ROS, SIZE, TANG, GROW và TAX làm biến giải thích là bởi, các biến này đều liên quan tới tài sản. Doanh nghiệp khởi đầu kinh doanh đều phải sử dụng tài sản làm “phương tiện” tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp của mình. Trong bối cảnh năm 2024 và năm 2025 là 2 năm kinh tế phát triển không tốt, các doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác, trừ ngành thép, đều thu hẹp mô do tình hình kinh doanh không thuận lợi. Do vậy, tác giả sau khi xem xét các nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm có liên quan, thông qua đó xem xét yếu tố nội tại của các doanh nghiệp ngành thép bằng việc sử dụng các biến giải thích liên quan tới tài sản làm các biến giải thích cho mô hình nghiên cứu của đề tài. Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Để nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả sử dụng các mô hình sau đây:

  • Mô hình nghiên cứu 1: ROAit1 = ao + a1ROSit1 + a2SIZEit1 + a3TANGit1 + a4GROWit1 + a5TAXit1 + Uit1 (1)
  • Mô hình nghiên cứu 2: ROEit2 = ao + a1ROSit2 + a2SIZEit2 + a3TANGit2 + a4GROWit2 + a5TAXit2 + Uit2 (2)

Trong đó:

  • it là doanh nghiệp i tại thời điểm t.
  • ROA là biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản. ROE là biến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu GROW là biến đại diện cho tốc độ tăng trưởng tổng tài sản.
  • ROS là biến lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần.
  • SIZE là biến quy mô của doanh nghiệp.
  • TANG là biến đại diện cho tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản.
  • TAX là biến đại diện tỷ lệ số tiền đóng thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp Uit là phần dư

3.2.2 Giải thích các biến Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

  • Biến phụ thuộc

Biến phụ thuộc trong luận văn được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép niêm yết là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sỡ hữu (ROE). Các biến được giải thích ROA và ROE được tính toán như sau:

  • Biến độc lập

Thứ nhất, biến độc lập GROW, được tính dựa vào dữ liệu dựa trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép theo công thức:

Thứ hai, biến độc lập ROS, được tính dựa vào dữ liệu dựa trên bảng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép theo công thức:

Thứ ba, biến độc lập SIZE, được tính dựa vào dữ liệu dựa trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép theo công thức: SIZE = Ln(Tổng tài sản)

Thứ tư, biến độc lập TANG, được tính dựa vào dữ liệu dựa trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép theo công thức:

Cuối cùng là biến độc lập TAX, được tính dựa vào dữ liệu dựa trên bảng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép theo công thức:

3.2.3 Các giả thuyết nghiên cứu

  • Tỷ lệ tăng trưởng tài sản có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép

Tỷ lệ tăng trưởng của tài sản cho thấy về mức tăng trưởng tài sản (tính theo phần trăm) trong một giai đoạn. Đây là một thước đo cho biết mức độ mà công ty đang sử dụng nhằm mở rộng kinh doanh, qua đó, gia tăng doanh thu dẫn đến gia tăng lợi nhuận. Dưới sự quản lý tài chính với tư cách chủ của doanh nghiệp, các nghiên cứu của Bolek và Wilinski (2016); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025); Sivathaasan và cộng sự (2017) chỉ ra rằng chỉ tiêu này tác động cùng chiều khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Như vậy, giả thuyết về tốc độ tăng trưởng tài sản có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép được phát biểu như sau: Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Giả thuyết 1: Tốc độ tăng trưởng tài sản có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép

Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thể hiện 100 đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Thúy Quỳnh (2025) đã chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp giữ vững biên lợi nhuận cao sẽ giúp ít rất lớn cho vấn đề gia tăng khả năng sinh lời của cho doanh nghiệp mình.

Như vậy, giả thuyết về tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép được phát biểu như sau:

Giả thuyết 2: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên doanh thu thuần có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Quy mô doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Quy mô của doanh nghiệp được thể hiện thông qua biểu thị về tổng tài sản của doanh nghiệp. Các nghiên cứu thực nghiệm của Bolek và Wilinski (2016); Hà Minh Tâm và cộng sự (2025); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025); Sivathaasan và các cộng sự (2017) đều cho biết rằng, quy mô công ty giúp gia tăng doanh thu cho công ty dựa trên nguyên tắc gia tăng lợi nhuận dựa trên quy mô về kinh tế, hay hiểu theo cách khác là có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Như vậy, giả thuyết về quy mô doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép được phát biểu như sau: Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Giả thuyết 3: Quy mô doanh nghiệp có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động đến đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản biểu thị mức độ đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp. Các nghiên cứu của Bolek và Wilinski (2016); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025) đều biểu thị giá trị âm, hay nói cách khác là tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Nguyên nhân có thể diễn giải rằng, đối với nhóm nghành đặc trưng như ngành thép, yếu tố về tài sản cố định thông thường sẽ là nhà máy, máy móc thiết bị, và thông thường giá trị sử dụng là dài hạn. Do vậy, khi xét yếu tố về tài sản cố định thì cần phải tính đến yếu tố về khấu hao trong khoảng thời gian dài hạn.

Như vậy, giả thuyết về tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép được phát biểu như sau:

Giả thuyết 4: Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Tỷ lệ số tiền đóng thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép.

Tỷ lệ số tiền đóng thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp biểu thị tỷ lệ số tiền thuế mà doanh nghiệp đã phải trả trong thực tế. Các nghiên cứu trước đó đều chưa đề cập vấn đề này, tuy nhiên, Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958) đã đề cập vấn đề về lá chắn thuế nhằm giúp gia tăng giá trị cho doanh nghiệp, lý do là doanh nghiệp phải trả nợ vay, do đó dẫn đến phải trả thuế ít đi, thông qua đó mà nâng cao giá trị công ty. Vì lẽ đó, tác giả đã thêm biến thuế vào mô hình nhằm đo lường mức độ đến khả năng sinh lời.

Như vậy, giả thuyết về tỷ lệ số tiền thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp có tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép được phát biểu như sau:

Giả thuyết 5: Tỷ lệ số tiền đóng thuế trên cho lợi nhuận trước thuế doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép. Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Bảng 3.1: Bảng thống kê dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình

Biến độc lập Dấu kỳ vọng Bằng chứng từ thực nghiệm
GROW + Bolek và Wilinski (2016); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025); Sivathaasan và cộng sự (2017)
ROS + Nguyễn Thúy Quỳnh (2025)
SIZE + Bolek và Wilinski (2016); Hà Minh Tâm và cộng sự (2025); Nguyễn Thúy Quỳnh (2025); Sivathaasan và các cộng sự (2017)
TANG Bolek và Wilinski (2016); Nguyễn Thúy Quỳnh
TAX Lý thuyết của Modigliani và Miller (1958), tác giả đề xuất thêm biến mới

Nguồn: tác giả tổng hợp các nghiên cứu, bằng chứng từ thực nghiệm và lý thuyết có liên quan

3.3 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

3.3.1 Mẫu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, và dữ liệu của 16 doanh nghiệp sẽ được sử dụng cho đề tài nghiên cứu này. Điềm phát xuất là từ tổng thể các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đề tài lựa chọn các doanh nghiệp đưa vào mẫu nghiên cứu khi thỏa mãn đồng thời các tiêu chí sau:

  • Doanh nghiệp là những doanh nghiệp thuộc ngành thép
  • Cổ phiếu của các doanh nghiệp vẫn còn đang niêm yết trên thị trường chứng khoán tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính là năm 2025
  • Các doanh nghiệp có đầy đủ báo cáo tài chính từ năm 2015 đến năm 2025.
  • Tất cả các báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập và báo cáo kiểm toán của kiếm toán viên độc lập cho ý kiến chấp nhận về mặt tính hợp lý và tính trung thực theo nguyên tắc trọng yếu.

3.3.2 Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán từ năm 2015 đến năm 2025 cùa 16 doanh nghiệp. Nguồn dữ liệu thứ cấp là từ báo cáo tài chính của các công ty đã được công bố trên các trang thông tin đại chúng.

3.3.3 Công cụ để tiến hành nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, được tiến hành dựa trên dữ liệu bảng (Panel data) cùng sự hỗ trợ của phần mềm tính toán Excel cũng như phần mềm phân tích hồi quy STATA 16.0.

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài dùng kết hợp phương pháp nghiên cứu về định tính với phương pháp nghiên cứu về định lượng, thông qua đó để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được đề cập và cũng như thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã được nhắc tới.

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

Xem xét các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài, vì đề tài sử dụng số liệu là báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, do đó, số liệu báo cáo tài chính là đã được đăng tải trên các thông tin đại chúng. Vì vậy, đề tài sẽ dùng thống kê mô tả để xem xét các yếu tố đặc trưng của biến được giải thích và các biến giải thích được dùng trong mô hình.

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu về định lượng được dùng để kiểm tra kết quả của nghiên cứu, bao gồm các phương pháp kỹ thuật về nghiệp vụ, ví dụ cụ thể như sau: thống kê cho mô tả (Descriptive Statistics), phân tích về tương quan (Correlation analysis) và phân tích về hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data regression), trong đó:

3.4.2.1 Thống kê mô tả Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Thống kê mô tả được sử dụng nhằm cung cấp thông tin khái quát về các biến trong mô hình nghiên cứu, các chỉ tiêu thống kê mô tả bao gồm: giá trị trung bình (Mean), giá trị nhỏ nhất (Mininum), giá trị lớn nhất (Maxinum), độ lệch chuẩn (Standard deviation) và số quan sát (Observations)..

3.4.2.2 Phân tích tương quan

Phân tích tương quan được sử dụng nhằm xác định mức độ tương quan mạnh hay yếu, cùng hay ngược chiều giữa các biến độc lập, cũng như biến được giải thích với các biến giải thích được dùng trong mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, phân tích về tương quan gợi ý nhận diện về hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng có xảy ra hay là không, theo Gujarati (2015), nếu hệ số tương quan của một cặp biến giải thích bất kỳ có giá trị tuyệt đối cao hơn 0.8 thì mô hình có thể gặp hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Vì vậy, cũng theo Gujarati cho biết, có ba cách để có thể áp dụng để xử lý hiện tượng đa cộng tuyến: thứ nhất là bỏ biến có mức độ tương quan cao với các biến số giải thích và với biến được giải thích, thứ hai là sử dụng phương pháp phân tích từng thành phần chính, và thứ ba là không làm gì; trong khi đó, phương pháp thứ hai đặc biệt hiệu quả khi xử lý các mô hình có nhiều biến giải thích.

3.4.2.3 Phân tích hồi quy

Phân tích hồi quy về dữ liệu bảng để kiểm định xu hướng và mức độ của “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, sử dụng mô hình hồi quy OLS gộp (Pooled OLS), mô hình yếu tố ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình yếu tổ ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM).

Sử dụng dùng kiểm định F-test để lựa chọn giữa FEM và Pooled OLS với giả thuyết H0 là chấp nhận mô hình OLS gộp, và H1 là chấp nhận FEM. Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM và mô hình REM với giả thuyết H0 là chấp nhận REM, và H1 là chấp nhận FEM.

Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” theo mô hình đề xuất, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định t-student hoặc kiểm định F với các mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5% và 10% để xác định mức độ tin cậy về ảnh hưởng của biến độc lập, và căn cứ hệ số hồi quy p-value để giải thích xu hướng và mức ảnh hưởng của biến độc lập đến biến được giải thích.

Ngoài ra, đề tài thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi quy, bao gồm đa cộng tuyến nghiêm trọng, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan; theo đó: Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

Hiện tượng về đa cộng tuyển nghiêm trọng sẽ được kiểm tra và được kết luận thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF – Variance-inflating factor), nếu VIF lớn hơn 10 thì mô hình có hiện tượng về đa cộng tuyến nghiêm trọng, và ngược lại.

Hiện tượng về phương sai sai số thay đổi sẽ được kiểm tra và được kết luận bằng kiểm định Wald với giả định như sau: Ho là không có hiện tượng về phương sai sai số thay đổi, và H1 là có hiện tượng về phương sai sai số thay đổi.

Hiện tượng về tự tương quan sẽ không cần được thực hiện kiểm tra nếu kết quả hồi quy được lựa chọn theo mô hình FEM vì mô hình FEM chỉ quan tâm đến những khác biệt mang tính cá nhân đóng góp vào mô hình nên không có hiện tượng về tự tương quan; ngược lại hiện tượng về tự tương quan sẽ thực hiện kiểm travà kết luận bằng kiểm định Wooldridge với giả thuyết như sau: Ho là không có hiện tượng tự tương quan, và H1 là có hiện tượng tự tương quan.

Sau khi kiểm tra các khuyết tật của mô hình hồi quy, nếu có xảy ra khuyết tật thì kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được xác định theo phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS); ngược lại kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được xác định theo Pooled OLS, hoặc FEM, hoặc REM tùy theo kết quả kiểm định lựa chọn đã nói trên.

TÓM TẮT CHƯƠNG III

Chương 3 giới thiệu 8 bước của quá trình tiến trình nghiên cứu của các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời tại 16 doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2015 – 2025. Quá trình phân tích và lấy mẫu số liệu báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp được tổng hợp trên bảng tính Excel. Trình bày phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng phương pháp Pooled OLS, FEM, REM và GLS, sau đó tiến hành thực hiện các kiểm định khuyết tật của mô hình dựa trên phần mềm STATA16.0. Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: KQNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: PPNC Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời ngành thép […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537