Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến tại ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Khái quát về Sacombank
3.1.1. Thông tin cơ bản về ngân hàng
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín (STB) được thành lập vào năm 1991 trên cơ sở hợp nhất Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp cùng với 03 hợp tác xã tín dụng là tân Bình, Thành Công và Lữ Gia. Sacombank là ngân hàng Việt Nam tiên phong nhận được góp vốn ủy thác, tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức tài chính quốc tế IFC, ADB, Proparco, FMO, ngân hàng TMCP Việt Nam đầu tiên xây dựng và đưa Trung tâm Dữ liệu (Data Center) hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động.
- Tên doanh nghiệp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín
- Tên tiếng anh: Saigon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank
- Tên giao dịch: Sacombank (STB)
- Giấy phép thành lập: số 0006/NH-GP ngày 05 tháng 12 năm 1991 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Vốn điều lệ (Tính đến cuối năm 2023): Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
- Vốn chủ sở hữu (Tính đến cuối năm 2023):
- Địa chỉ trụ sở chính: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa chỉ website: https://www.sacmbank.cm.vn/ca-nhan.html
- Logo Sacombank:
Hình 2 Logo Sacombank
3.1.2. Các giai đoạn hình thành và phát triển
- A. Giai đoạn 1991 – 2000
| Giai đoạn |
Sự kiện – Hoạt động |
| Năm 1991 | Ngày 21/12/1991, Sacombank là một trong những Ngân hàng TMCP đầu tiên thành lập tại TP.HCM với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng. |
| Năm 1993 | Ngân hàng TMCP đầu tiên của TP.HCM khai trương Chi nhánh tại Hà Nội. |
| Năm 1996 | Là ngân hàng đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng với mệnh giá 200.000 đồng/ cổ phiếu để tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng với gần 9.000 cổ đông tham gia góp vốn. |
| Năm 1999 | Khánh thành tòa nhà trụ sở tại số 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP.HCM. |
- Giai đoạn 2001 – 2010
| Giai đoạn | Sự kiện – Hoạt động |
| Năm 2001 | Tiếp nhận vốn góp từ cổ đông nước ngoài. Mở đầu là Tập đoàn tài chính Dragon Financial Holding (Anh Quốc) tham gia góp 10% vốn điều lệ. Việc góp vốn này đã mở đường cho Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) và Ngân hàng ANZ, nâng số vốn cổ phần của các cổ đông nước ngoài lên 30% vốn điều lệ. |
| Năm 2002 | Thành lập Công ty trực thuộc đầu tiên – Công ty quản lý nợ và Khai thác tài sản Sacombank – SBA, bước đầu thực hiện chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ tài chính trọn gói. |
| Năm 2006 | Là ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam tiên phong niêm yết cổ phiếu tại HOSE với tổng số vốn niêm yết là 1.900 tỷ đồng.
Thành lập các công ty trực thuộc bao gồm: Công ty Kiều hối Sacombank-SBR, Công ty Cho thuê tài chính Sacombank-SBL, Công ty Chứng khoán Sacombank-SBS. |
| Năm 2008 | Tháng 03/2008, xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm dữ liệu (Data Center) hiện đại nhất khu vực nhằm đảm bảo tính an toàn tuyệt đối hệ thống trung tâm dữ liệu dự phòng.
Tháng 11/2008, thành lập Công ty vàng bạc đá quý Sacombank-SBJ. Tháng 12/2008, là ngân hàng TMCP đầu tiên của Việt Nam khai trương chi nhánh tại Lào. |
|
Năm 2010 |
Kết thúc thắng lợi các mục tiêu phát triển giai đoạn 2001 – 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 64%/năm; đồng thời thực hiện thành công chương trình tái cấu trúc song song với việc xây dựng nền tảng vận hành vững chắc, chuẩn bị đủ các nguồn lực để thực hiện tốt đẹp các mục tiêu phát triển giai đoạn 2011 – 2020. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank. |
- Giai đoạn 2011 – 2020
| Giai đoạn |
Sự kiện – Hoạt động |
| Năm 2011 | Ngày 05/10/2011, Sacombank thành lập Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Campuchia đánh dấu bước chuyển tiếp giai đoạn mới của chiến lược phát triển và nâng cao năng lực hoạt động của Sacombank tại Campuchia nói riêng và khu vực Đông Dương nói chung. Ngày 20/12/2011, Sacombank vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch Nước vì những thành tích đặc biệt xuất sắc giai đoạn 2006-2010, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc theo QĐ số 2413/QĐ-CTN ngày 15 tháng 12 năm 2011 |
| Năm 2014 | Tháng 03/2014, Sacombank hợp tác với tổ chức thẻ quốc tế MasterCard triển khai dịch vụ Chấp nhận thẻ qua điện thoại thông minh smartphone (Sacombank mPOS).
Tháng 10/2014, nhằm cung cấp thêm cho khách hàng phương tiện thanh toán hiện đại, tiện ích và an toàn, Sacombank chính thức ra mắt thẻ thanh toán nội địa Sacombank Lào, thẻ thanh toán quốc tế Visa Sacombank Lào và thẻ tín dụng quốc tế Visa Sacombank Lào. |
| Năm 2015 | Ngày 21/4/2015, Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2015.
Ngày 11/7/2015, Sacombank tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường 2015 để thông qua Đề án sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southern Bank) vào Sacombank. Ngày 03/8/2015, Sacombank chính thức chuyển đổi Chi nhánh tại Lào thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài (Sacombank Lào), đánh dấu 1 bước phát triển mới của Sacombank tại Lào cũng như tại khu vực Đông Dương. |
| Năm 2017 | Năm 2017, Sacombank triển khai hàng loạt sản phẩm dịch vụ, ứng dụng mới có hàm lượng công nghệ và độ an toàn bảo mật cao theo xu hướng thanh toán điện tử đang phát triển (công nghệ thanh toán không tiếp xúc Sacombank Contactless, máy POS NFC, ứng dụng Samsung Pay, ứng dụng mCard để thanh toán nhanh bằng QR…) |
| Năm 2020 | Ngày 28/10/2020, là một trong những ngân hàng đầu tiên áp dụng tính năng xác thực trực tuyến 24/7 (eKYC) và mở tài khoản để giao dịch ngay trên ứng dụng di động Sacombank Pay.
Ngày 27/11/2020, ngân hàng Việt Nam đầu tiên triển khai công nghệ Tap to phone – chấp nhận thanh toán không tiếp xúc bằng điện thoại di động và tính năng NFC – thanh toán không tiếp xúc bằng điện thoại di động |
- Giai đoạn 2021 – hiện tại Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
| Giai đoạn |
Sự kiện – Hoạt động |
| Năm 2021 | Ngày 16/07/2021, hoàn thành triển khai và áp dụng Hiệp ước Basel II – nền tảng vững chắc về quản trị rủi ro để Sacombank hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. |
| Năm 2022 | Năm 2022, chạm mốc 15 triệu khách hàng – bước nhảy vọt trên hành trình khẳng định vị thế của một Ngân hàng bán lẻ hàng đầu. |
| Năm 2023 | Ngày 07/06/2023, khởi động dự án “Triển khai Basel III và nâng cao năng lực hệ thống quản trị rủi ro” tiếp tục hướng hoạt động quản trị rủi ro đến những chuẩn mực cao hơn.
Ngày 08/08/2023, triển khai Apple Pay đối với chủ thẻ Visa, một phương thức thanh toán dễ dàng, an toàn và riêng tư hơn, khách hàng có thể sử dụng iPhone để bảo vệ mọi giao dịch. |
3.1.3. Sơ đồ tổ chức
- Hình 3 Sơ đồ tổ chức Sacombank
3.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank trong năm 2023
- Tổng tài sản
Hình 4 Tổng tài sản 2020 – 2023
Tổng tài sản Sacombank tiếp tục tăng trưởng cả về lượng và chất, đạt 674.390 tỷ đồng, tăng 13,9%, đạt 103% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao. Trong đó, tài sản có sinh lời tăng 14,3%, nâng tỷ trọng trong tổng tài sản từ 89,3% (đầu năm) lên 89,6%, chủ yếu tăng cho vay (tăng 10%) và đầu tư trái phiếu Chính phủ (tăng 18,3%). Các khoản mục tài sản có tính thanh khoản cao cũng tăng 47,7% so với năm trước và tăng tỷ trọng đóng góp thêm 4% trong tổng tài sản, giúp nâng cao tính an toàn. Song song đó, Sacombank cũng đang từng bước ứng dụng các thông lệ theo chuẩn mực Basel trong công tác quản trị tài sản Nợ – Có, thường xuyên rà soát, đánh giá rủi ro trọng yếu và biến động của danh mục tài sản rủi ro trong các trường hợp căng thẳng nhằm chuẩn bị các kịch bản về vốn. Đồng thời, xây dựng danh mục tài sản, thiết lập các khẩu vị rủi ro cân bằng giữa hiệu quả và tính an toàn, đảm bảo kiểm soát các tỷ lệ an toàn hoạt động theo quy định.
- Tổng nguồn vốn huy động
Hình 5 Tổng nguồn vốn huy động 2020 – 2023
Tổng huy động đạt 578.029 tỷ đồng, tăng 11,3%, đạt 101% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao, trong đó huy động thị trường 1 tăng 12%, chiếm 90,8% trong tổng huy động, chiếm 3,9% thị phần toàn ngành. Cơ cấu huy động vốn được tập trung tái cấu trúc theo hướng ngày càng đa dạng, hiệu quả để kéo giảm chi phí vốn, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ khách hàng. Nguồn vốn huy động từ thị trường 2 được mở rộng phù hợp, tăng 5% nhằm nâng cao tính đa dạng của nguồn vốn. Các tỷ lệ thanh khoản và khả năng chi trả tiếp tục cải thiện tích cực và trong giới hạn an toàn cao. Nhờ lợi nhuận cải thiện tích cực, vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đạt 45.734 tỷ đồng, tăng 18,4% so với đầu năm. Hệ số vốn chủ sở hữu tăng 0,3% so với năm trước và đạt 6,8%. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
- Dư nợ tín dụng
Hình 6 Dư nợ tín dụng 2020 – 2023
Dư nợ tín dụng tại Sacombank đạt 482.731 tỷ đồng, tăng 10%. Trong năm, Sacombank đã triển khai tổng cộng 131.500 tỷ đồng cho các gói cho vay ưu đãi lãi suất để hỗ trợ khách hàng và kích thích tăng trưởng tín dụng. Trong đó, 75.500 tỷ đồng dành cho khách hàng cá nhân với lãi suất chỉ từ 6%/năm, 56.000 tỷ đồng dành cho khách hàng doanh nghiệp với lãi suất chỉ từ 3%/năm. Cơ cấu danh mục cho vay của Sacombank tiếp tục nghiêng mạnh về cho vay phục vụ nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh và kích thích tiêu dùng, chiếm 79,8%, tăng 0,3% tỷ trọng. Nợ xấu kiểm soát ở mức 2,1% trong bối cảnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không ổn định, nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái.
- Lợi nhuận trước thuế
Hình 7 Lợi nhuận trước thuế 2020 -2021
Trong năm 2023, Sacombank đã hoàn tất trích lập 100% dự phòng rủi ro cho toàn bộ danh mục nợ bán VAMC chưa xử lý, tiệm cận hoàn thành nghĩa vụ tài chính tại Đề án. Lợi nhuận hợp nhất dù vậy vẫn đạt 9.595 tỷ đồng, tăng 51,4%, đạt 101% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông giao. Các chỉ tiêu sinh lời ROA và ROE lần lượt đạt 1,22% và 18,30%, cải thiện tích cực so với năm 2022 (0,31% và 4,47%).
3.2. Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán thẻ trực tuyến tại ngân hàng Sacombank Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
- Hoạt động thẻ tại Sacombank trong năm 2023
Hình 8 Hoạt động thẻ Sacombank 2023
Trong năm 2023, Sacombank ghi nhận số lượng thẻ lưu hành tăng 2,9% chạm mốc 7,9 triệu thẻ, lợi nhuận từ các dịch vụ thẻ tăng 34,2% đạt mức 2,628 tỷ đồng. Tăng trưởng khá tốt về lượng khách hàng và doanh số giao dịch, Sacombank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu về doanh số thanh toán trên thị trường và nhận được nhiều giải thưởng danh giá. Không chỉ đa dạng về sản phẩm, tính năng, cùng nhiều chương trình ưu đãi, sản phẩm thẻ của Sacombank còn ngày càng cá nhân hóa, gắn kết với nhu cầu và thói quen chi tiêu hằng ngày của khách hàng.
- Tệp khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ trực tuyến tại Sacombank
Các khách hàng sử dụng dịch vụ tại Sacombank được đa dạng hóa theo tệp khách hàng mà ĐVCNT kết nối và hợp tác nhắm đến. Cụ thể, đối với từng ĐVCNT cung cấp dịch vụ hàng hóa sản phẩm khác nhau, sẽ có từng tệp khách hàng riêng, từ các mặt hàng dịch vụ sản phẩm dành cho những chủ thẻ trong độ tuổi Gen Z đến các tệp khách hàng cao tuổi. Đặc biệt, khi nhìn vào các ĐVCNT mà Sacombank thực hiện kết nối, đa số các đơn vị có số tiền giao dịch và khối lượng giao dịch tăng cao là các đơn vị bảo hiểm, các ứng dụng đặt đồ ăn, các ứng dụng cung cấp dịch vụ di chuyển và các sàn thương mại điện tử. Từ đó có thể thấy đối tượng khách hàng mà dịch vụ thanh toán thẻ trực tuyến của Sacombank muốn nhắm đến chủ yếu là những chủ thẻ đã có trải nghiệm thanh toán thường xuyên sử dụng thẻ, cũng như các khách hàng bị hạn chế về khả năng di chuyển đến cơ sở, chi nhánh của ĐVCNT để thanh toán. Lúc này, thanh toán thẻ trực tuyến đóng vai trò là cầu nối giúp chủ thẻ thực hiện được các giao dịch mua hàng dễ dàng.
Bên cạnh việc hoạt động thẻ có các dấu hiệu tích cực, Sacombank cũng có ưu thế với việc phát triển thanh toán thẻ trực tuyến từ rất sớm, Sacombank đang có thế mạnh ở thị trường thanh toán giao dịch thẻ trực tuyến với nhiều đối tác lớn trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, Sacombank cũng đang tích cực triển khai thêm các loại thẻ, các chương trình khuyến mãi, các sản phẩm tương ứng với từng tổ chức thẻ (Visa, Mastercard, JCB, American Express, UnionPay) hướng đến mục tiêu tăng trưởng mảng thanh toán điện tử, góp phần phát triển doanh thu chung của toàn hàng. Cụ thể, vào 9 tháng đầu năm 2024, Sacombank nhận được nhiều dấu hiệu tích cực thể hiện qua doanh thu của các ĐVCNT.
3.2.1 Số tiền giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến năm 2024
Hình 9. SỐ tiền giao dịch ECOM qua sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024
Hình 10 Cơ cấu số tiền giao dịch thanh toán ECOM theo loại thẻ
Theo báo cáo số liệu trong quá trình kiểm soát giao dịch, mỗi tháng Sacombank ghi nhận tổng số tiền giao dịch thanh toán luôn ở mức trên 2000 tỷ đồng liên tục trong 9 tháng đầu năm 2024 với đỉnh điểm là hơn 3200 tỷ đồng vào tháng 7.
3.2.2 Khối lượng giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến năm 2024
Hình 11 Cơ cấu số lượng giao dịch thanh toán ECOM theo loại thẻ
Có thể nhận thấy được Visa là loại thẻ được khách hàng ưa chuộng nhất khi chiếm 61,16% số tiền giao dịch và 73,19% số lượng giao dịch, tiếp theo sau là các tổ chức thẻ Mastercard và JCB. Riêng đối với thẻ American Express, số liệu giao dịch chưa cao do đây là loại thẻ Sacombank vừa triển khai vào 2022 và số lượng ĐVCNT có tích hợp thẻ American Express để khách hàng lựa chọn còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
Hình 12 Số lượng giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến trong 9 tháng đầu 2024
Hình 13 Tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến thành công và thất bại trong 9 tháng đầu năm 2024
Qua số liệu trên có thê thấy tổng số lượng giao dịch thanh toán trực tuyến qua Sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024 là 20,276,610 giao dịch và mỗi tháng đều trên 2 triệu giao dịch phát sinh trừ tháng hai, có thê là do đây là tháng có ít ngày nhất trong năm. Số lượng giao dịch thất bại chiếm 19,69% theo đánh giá thì đây là con số không quá cao nhưng cũng đang rất cần quan tâm để có thể cải thiện.
3.2.3. Doanh thu từ hoạt động thanh thẻ trực tuyến tại Sacombank
Bảng 1 Cơ cấu tính doanh thu từ hoạt động thanh thẻ trực tuyến tại Sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024
| Khung phí | Phí áp dụng |
| Phí chiết khấu | 2.9%/giá trị giao dịch |
| Phí dịch vụ | 800.000 VNĐ/tháng/ĐVCNT |
| Phí xử lý giao dịch | 2.000 VNĐ/giao dịch |
| Số tiền ký quỹ | 100.000.000 VNĐ/ĐVCNT |
Đối với dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ trực tuyến, Sacombank sẽ áp dụng các loại phí như phí chiết khấu, phí dịch vụ, phí xử lý giao dịch làm nguồn thu chính cho ngân hàng. Bên cạnh đó, khi ĐVCNT kí kết hợp đồng kết nối chấp nhận thanh toán qua Sacombank, số tiền ký quỹ tối thiểu là 100,000,000 triệu đồng, số tiền này sẽ không được tính vào hoạt động doanh thu của mảng thanh toán thẻ trực tuyến của Sacombank. Do đó, kết hợp cùng số lượng giao dịch và số tiền giao dịch, doanh thu từ dịch vụ thanh toán thẻ trực tuyến của Sacombank như sau:
Bảng 2 Doanh thu từ hoạt động thanh thẻ trực tuyến tại Sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024
| Loại phí | Doanh thu |
| Phí chiết khấu | 697,995,722,000 đồng |
| Phí dịch vụ | 1,382,400,000 đồng |
| Phí xử lý giao dịch | 40,553,220,000 đồng |
| Tổng doanh thu | 739,931,342,000 đồng |
Hình 14 Tỷ lệ doanh thu xử lý giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến tại Sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024
Có thể thấy doanh thu từ hoạt động chấp nhận thanh toán thẻ trực tuyến tại Sacombank trong 9 tháng đầu năm 2024 đạt 739 tỷ đồng. Trong đó, đóng góp nhiều nhất vẫn là phí chiết khấu giao dịch với gần 700 tỷ đồng doanh thu, chiếm. Đối với nguồn thu từ việc xử lý các giao dịch cho các ĐVCNT, Sacombank ghi nhận hơn 40 tỷ đồng doanh thu, mục tiêu tăng trưởng tiếp tục đến cuối năm 2024. Qua đó, để có thể gia tăng nguồn thu từ dịch vụ này, ngân hàng cần kích thích khách hàng thanh toán thẻ trực tuyến cũng như các ĐVCNT gia tăng số lượng giao dịch bằng các chương trình hợp tác khuyến mãi. Để hỗ trợ đạt được mục tiêu tăng trưởng doanh thu từ việc thu phí xử lý giao dịch, ngân hàng cũng đang tích cực chào mời thêm nhiều các ĐVCNT khác hợp tác nhằm gia tăng nguồn thu từ việc cung cấp dịch vụ cho đối tác, mục tiêu cuối năm của Sacombank hướng đến là việc kết nối với hơn 200 ĐVCNT cũng như duy trì mối quan hệ hợp tác giữa các đối tác đang kết nối nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu.
3.2.4. Số lượng đơn vị kết nối Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
Bảng 3 Số lượng đơn vị kết nối qua Sacombank tính đến tháng 10/2024
| Tình trạng kết nối | Số lượng đơn vị |
| Đơn vị đang kết nối | 192 |
| Đơn vị đang tiến hành kết nối | 65 |
| Đơn đã ngưng kết nối | 104 |
Hình 15 Số lượng đơn vị đã kết nối qua Sacombank từ 2015-2024
Năm 2015, Sacombank đang trong giai đoạn bắt đầu mở rộng phát triển dịch vụ thanh toán trực tuyến, kết nối với 246 đơn vị trong và ngoài nước trong thời gian đầu triển khai kết nối. Theo thời gian phát triển tích cực, hiện tại Sacombank đã và đang đóng vai trò là NHTT cho 361 đơn vị kết nối trực tiếp để triển khai dịch vụ thanh toán trực tuyến đến khách hàng.
- Hình 16 Top 7 ĐVCNT có số tiền giao dịch thanh toán Ecom cao nhất Quý 3/2024
- Hình 17 Top 7 ĐVCNT có số lượng giao dịch thanh toán Ecom cao nhất Quý 3/2024
Một số đơn vị kết nối trực tiếp để thanh toán qua Sacombank quy mô giao dịch lớn có thể kể đến như Foody, Shopee, Momo, các đơn vị kinh doanh bảo hiểm như Prudential, FWD, Cathay,…đều là những đơn vị có số tiền giao dịch cũng như khối lượng giao dịch rất lớn. Phải nhắc đến Foody, một trong những ĐVCNT lâu năm nhất của Sacombank, hiện tại số lượng giao dịch của Foody luôn đứng đầu mỗi tháng, trong quý 3/2024, Foody đạt ngưỡng 2,6 triệu giao dịch, điều này có thể lí giải bằng việc Foody là loại hình ứng dụng thanh toán các đơn hàng thức ăn, thực phẩm, phục vụ hằng ngày và liên tục cho khách hàng. Khi nói đến giá trị giao dịch thì Prudential đang dẫn đầu do một số hợp đồng bảo hiểm có giá trị thanh toán cao, do đó có thể lí giải vì sao Prudential đang ở vị trí dẫn đầu trong các ĐVCNT có số tiền giao dịch cao.
3.2.5. Tích hợp thẻ các loại thẻ mới vào thanh toán thẻ trực tuyến
- American Express
American Express hay gọi tắt là Amex là một trong những tổ chức thẻ uy tín trên toàn cầu và được ưa chuộng tại các nước phát triển ưa chuộng. TCT này nổi tiếng với các loại thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, séc du lịch,…Nhằm bắt kịp xu thế toàn cầu và tăng tính cạnh tranh trong dịch vụ thanh toán, bắt đầu từ 2022, Sacombank triển khai tích hợp thêm loại thẻ mới là American Express vào thanh toán trực tuyến cho khách hàng nhằm đa dạng hóa các sản phẩm thẻ, đưa đến người dùng nhiều sự lựa chọn thẻ hơn khi thanh toán cũng như hướng đến mục tiêu tăng trưởng doanh thu mảng giao dịch trực tuyến. Qua đó, Sacombank cho ra mắt hai loại thẻ Amex nhằm phục vụ khách hàng là Thẻ Sacombank Platinum American Express® Credit và Debit.
- Hình 18 Hai sản phẩm thẻ Sacombank American Express Credit và Debit
- Hình 19 Số tiền giao dịch thanh toán Ecom bằng thẻ Amex từ tháng 05-09/2024
Tính đến tháng 10/2024, số lượng các đơn vị có tích hợp thanh toán thẻ Amex qua Sacombank vẫn còn khá ít, tỷ trọng số tiền và số lượng giao dịch so với tổng giao dịch qua Sacombank vẫn còn hạn chế (Hình . , Hình . ). Do đó, mục tiêu năm 2025 tích hợp cho tất cả các ĐVCNT kết nối qua Sacombank, nhằm đưa loại thẻ American Express vào 1 trong các loại thẻ thanh toán “Must have” của ĐVCNT bên cạnh Visa, Mastercard, JCB.
- UnionPay Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
Tiếp theo thẻ Amex, mục tiêu trong năm 2025 của Sacombank là triển khai, áp dụng bổ sung loại thẻ UnionPay vào thanh toán trực tuyến nhằm đạt mục tiêu trở thành NHTT chấp nhận nhiều loại thẻ nhất Việt Nam bao gồm Visa, Mastercard, JCB, Amex và UnionPay, bên cạnh đó tối ưu hóa công dụng của loại thẻ này cũng như mở rộng dịch vụ thanh toán trực tuyến đến với nhiều chủ thẻ UnionPay hơn. Hiện tại, Sacombank là một trong số ít các ngân hàng ở Việt Nam phát hành thẻ UnionPay bao gồm cả thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, bên cạnh Vietcombank.
Hình 20 Hai sản phẩm thẻ Sacombank Union Pay Credit và Debit
3.2.6. Các phương thức thanh toán mới qua Sacombank
Bên cạnh việc thanh toán trực tiếp bằng thẻ ngân hàng, Sacombank cũng đã bắt đầu tích hợp thêm các phương pháp thanh toán từ Apple, Samsung và Google. Các phương pháp thanh toán này giúp người dùng có thể lưu thông tin thẻ trực tiếp trên thiết bị của họ và thực hiện thanh toán không cần sử dụng OTP để xác thực. Cụ thể, người mua chỉ cần nhập thông tin thẻ vào ví Apple (đối với các thiết bị IOS), Google (đối với các thiết bị Android), và ví Samsung (đối với các thiết bị Samsung) lần đầu tiên, khi tiến hành thanh toán một món hàng thì chỉ cần chọn thanh toán bằng ví Apple, Samsung, Google thì hệ thống sẽ xác thực bằng phương thức có sẵn trên điện thoại như Face ID, Finger Print (vân tay), Password (mật khẩu) thiết bị,…
Các phương thức thanh toán này hỗ trợ cho người sử dụng tiết kiệm thời gian, không cần nhập OTP từ các ứng dụng của NHPH hoặc ĐVCNT mà vẫn đảm bảo được tính bảo mật khi thanh toán. Ví dụ đối với Apple Pay, chủ thẻ chi cần tìm biểu tượng Apple Pay khi thanh toán trực tuyến hoặc trên các ứng dụng. Chạm vào biểu tượng Apple Pay, xác nhận thông tin thanh toán và giao hàng, sau đó xác thực bằng Face ID hoặc Touch ID hoặc mật khẩu để hoàn tất giao dịch.
Bảng 4 Tình trạng tích hợp các phương thức thanh toán mới của các TGTT
| PFs | Apple Pay | Google Pay | Samsung Pay |
| ONEPAY | x | ||
| VNPAY | x | Đang tích hợp | Đang tích hợp |
| VNPTEPAY | x | Đang tích hợp | |
| VTC | Đang tích hợp | ||
| ZALOPAY | x | ||
| NGANLUON | |||
| G | x | Đang tích hợp | |
| VIMO | x | ||
| PAYOO | x | ||
| PAYME | |||
| SMARTPAY | Đang tích hợp | ||
| OMIPAY | x | ||
| FINVIET | |||
| 9PAY | x |
Trong năm 2024, Sacombank đã hợp tác với các đơn vị TGTT để mang trải nghiệm thanh toán này đến người dùng. Cụ thể, Sacombank đã và đang hỗ trợ hợp tác tích hợp cho 13 đơn vị TGTT. VNPAY là đơn vị duy nhất đang trong quá tình tích hợp và làm việc với Sacombank để hoàn thành bộ ba phương án thanh toán này. Qua đó có thể thấy được, mục tiêu hướng đến là đảm bảo các đơn vị kết nối có thể triển khai cả ba loại hình thanh toán trên để giúp lựa chọn thanh toán của chủ thẻ được đa dạng hóa.
3.3. Đánh giá thực trạng phát triển trong hoạt động thanh toán thẻ trực tuyến tại ngân hàng Sacombank Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
3.3.1. Số tiền và số lượng giao dịch
- Điểm mạnh
Hiện số tiền giao dịch thanh toán trực tuyến trung bình qua Sacombank luôn đạt mức tối thiểu là 2000 tỷ mỗi tháng cùng với số lượng giao dịch cán mốc hơn 20 triệu giao dịch, cụ thể là 20,276,610 giao dịch trong vòng 9 tháng đầu năm 2024, với giá trị trung bình của 1 giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến rơi vào khoảng 98,365 VNĐ/giao dịch. Có thể thấy tình hình hoạt động trong mảng thanh toán thẻ trực tuyến tại Việt Nam của Sacombank đảm bảo cả về chất lẫn về lượng.
- Điểm yếu
Nhìn vào bức tranh chi tiết hơn, có thể thấy đang có sự chênh lệch về số liệu giao dịch của các loại thẻ. Cụ thể, số liệu giao dịch của thẻ Visa và Mastercard đang áp đảo các loại thẻ còn lại cả về số tiền và số lượng giao dịch, đặc biệt là thẻ Visa, qua đó cho thấy người tiêu dùng tại Việt Nam phần lớn đều đang sở hữu thẻ Visa hoặc Mastercard và có thói quen sử dụng thẻ Visa làm thẻ để thanh toán chính. Các loại thể chưa được ưa chuộng nhiều như JCB, Amex vẫn còn chưa phổ biến đối với người tiêu dùng tại Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến sự mất cân bằng ngày càng tăng giữa các sản phẩm thẻ, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển về lâu dài của Sacombank khi không thể khai thác hết được thế mạnh của các sản phẩm thẻ chưa phổ biến, ảnh hưởng đến việc tăng trưởng doanh thu về lâu dài.
Về số tiền giao dịch tại Sacombank, dù được nhận xét là có số tiền giao dịch luôn đạt tên 2000 tỷ trong 9 tháng liên tiếp nhưng biến động trong số tiền giao dịch các tháng chưa ổn định và có dấu hiệu tăng giảm thất thường giữa các tháng, điển hình như tháng 1, số tiền giao dịch vào khoảng 2300 tỷ và tăng lên 2900 tỷ vào tháng 2 nhưng lại giảm mạnh vào tháng 3 ở mức khoảng 2500 tỷ, do đó có thể thấy dù sô tiền giao dịch mỗi tháng qua Sacombank khá cao nhưng chưa đảm bảo được xu hướng tăng trưởng ổn định trong tương lai. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
- Nguyên nhân
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu các chương trình khuyến mãi hấp dẫn cho các dòng thẻ này và việc nhận diện thương hiệu thẻ mới từ khách hàng, khách hàng có xu hướng tin dùng các loại thẻ từ các TCT nổi tiếng và phổ biến ở Việt Nam như Visa và Mastercard. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng một số lượng thẻ Sacombank nhất định của khách hàng cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thêm thẻ.
Bên cạnh đó việc số tiền giao dịch tại Sacombank chưa có dấu hiệu tăng trưởng ổn định một phần là do quá phụ thuộc vào các ĐVCNT có doanh số cao, điều này làm cho tổng số tiền giao dịch có xu hướng giảm nếu các ĐVCNT lớn sụt giảm doanh số trong tháng đó và ngược lại, tăng trưởng mạnh nếu như các ĐVCNT này gia tăng doanh thu trong tháng, mức độ ảnh hưởng của các ĐVCNT còn lại khá hạn chế, dẫn đến việc số tiền giao dịch tại Sacombank tăng trưởng thất thường và thường có xu hướng phụ thuộc các ĐVCNT quy mô lớn cùng doanh thu chiếm tỷ trọng cao.
Từ đây có thể xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến số liệu giao dịch tại Saocombank đến từ việc lên kế hoạch phát triển sản phẩm, ưu đãi và các chiến lược kết nối giữa các ĐVCNT với ngân hàng.
3.3.2. Tình trạng kết nối với các ĐVCNT
- Điểm mạnh
Số lượng các ĐVCNT đã kết nối trực tiếp qua Sacombank đạt con số 361 nhưng hiện tại chỉ có 192 đơn vị còn kết nối và hoạt động, và đang hướng đến con số 250 đơn vị kết nối cùng lúc nếu số lượng 62 đơn vị đang trong giai đoạn đàm phán, chuẩn bị kết nối chính thức ghi nhận và xử lý giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến qua Sacombank.
Bên cạnh đó, đối với các đơn vị có doanh thu và số lượng giao dịch cao trên thị trường thanh toán trực tuyến hiện tại, Sacombank hầu như đã đạt thỏa thuận hợp tác và đang kết nối phát triển thanh toán thẻ trực tuyến cho các ĐVCNT này nhằm gia tăng doanh thu dựa trên các định mức để tính phí các ĐVCNT.
- Điểm yếu
Tốc độ phát triển kết nối các ĐVCNT vẫn còn rất chậm dù trong nhiều năm trở lại đây, Sacombank đã tích cực kí kết và hợp tác với nhiều ĐVCNT mới phát triển cũng như các đơn vị có uy tín trên thị trường nhưng để đảm bảo các ĐVCNT khi kết nối cần đạt đủ chuẩn về website, giấy phép hoạt động, uy tín trên thị trường, việc thẩm định và chấp nhận các đơn vị vẫn còn chậm và thiếu sự linh hoạt. Bên cạnh đó các ĐVCNT đã ngưng kết nối đạt con số 104 là tín hiệu đáng lo ngại cho Sacombank khi các đối tác ngừng sử dụng dịch vụ thanh toán trực tuyến của ngân hàng. Việc phát triển chậm các đơn vị kết nối sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến số liệu giao dịch của Sacombank. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
Khi nhìn vào các ĐVCNT có doanh số giao dịch cao nằm trong top đầu tại Sacombank, có thể nhận thấy một số đơn vị như Foody và Prudential thực sự có quy mô và tiến độ phát triển quá cách biệt trong nhóm top đầu, qua đó có thể thấy nếu so sánh các đơn vị này cùn các đơn vị không nằm trong top doanh thu giao dịch tại Sacombank thì khoảng cách giữa các ĐVCNT tại Sacombank sẽ càng xa vời. Dẫn đến việc ngân hàng có thể phụ thuộc vào các ĐVCNT top đầu trong việc tăng trưởng doanh thu qua quá trình xử lý giao dịch.
- Nguyên nhân
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ việc quy trình kiểm định và yêu cầu chất lượng của các ĐVCNT tại Sacombank quá chặt chẽ, là một trong các lí do khiến cho các ĐVCNT mới và non trẻ khó có thể đáp ứng được nhu cầu từ ngân hàng. Do đó, bộ phận hợp tác kinh doanh của ngân hàng cần có sự nới lỏng về quy trình, xem xét các trường hợp đặc biệt trong quá trình hợp tác nhưng vẫn đảm bảo kết nối theo đúng quy định của ngân hàng, cần có sự linh hoạt trong quá trình làm việc với các nhóm đối tác khác nhau.
Sacombank vẫn chưa thể quản lý được sự gia tăng khoảng cách giữa các ĐVCNT có doanh số cao và các ĐVCNT có doanh thu hạn chế, từ đó, tương tự như số tiền giao dịch tại Sacombank, ngân hàng khó có thể đảm bảo được nguồn tăng doanh thu ổn định trong tương lại.
Qua đó có thể xác định được tình trạng kết nối các ĐVCNT tại Sacombank đang chịu ảnh hưởng từ quy trình thẩm định đánh giá quá khắt khe ở hiện tại cũng như ảnh hưởng từ việc quản lý và phát triển chưa đồng đều các ĐVCNT.
3.3.3. Các loại thẻ và phương thức thanh toán mới
- Điểm mạnh
Hiện tại, có thể thấy Apple Pay đang là phương án thanh toán được cả ngân hàng và ĐVCNT ưu tiên tích hợp đầu tiên (Bảng . Tình trạng tích hợp các phương thức thanh toán mới của các TGTT). Apple Pay là phương thức thanh toán dễ dàng, an toàn, không tiếp xúc tại các cửa hàng vật lý, trực tuyến và ngay cả trên các ứng dụng yêu thích của bạn. Ngay bây giờ, khách hàng có thể sử dụng Thẻ Sacombank Visa/Mastercard trên iPhone, Apple Watch, iPad và Mac, do đó có thê lý giải cho việc Apple Pay đang có mức độ phổ biến rộng rãi hơn so với các phương án thanh toán còn lại.
- Điểm yếu
Dù được đánh giá là có tiềm năng thúc đẩy mảng hoạt động thanh toán thẻ trực tuyến, các phương thức thanh toán mới vẫn chưa thật sự gây tiếng vang với người tiêu dùng hiện tại, nguyên nhân chính xuất phát từ sự mới mẻ của loại hình này với chủ thẻ cũng như thiếu đi các chính sách sản phẩm kết hợp phù hợp đối với Apple Pay, Google Pay và Samsung Pay để có thể thu hút được người dùng. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
Các phương pháp thanh toán mới dù tiện nghi và nhanh gọn trong việc thanh toán các đơn hàng trực tuyến nhưng cũng đòi hỏi chủ thẻ và khách hàng phải có kiến thức về việc sử dụng thiết bị phù hợp với từng loại thanh toán mới, ví dụ như nếu muốn sử dụng Apple Pay thì chủ thẻ cần sở hữu các thiết bị chạy hệ điều hành IOS và nắm bắt được các tính năng thanh toán tích hợp trên thiết bị này để có thể sử dụng dễ dàng các phương pháp thanh toán mới, tương tự với các thiết bị Samsung và Android.
- Nguyên nhân
Bên cạnh đó, mức độ phổ biến còn hạn chế của các loại hình thanh toán bổ sung này cũng là yếu tố khiến các ĐVCNT chưa thật sự nhìn nhận một cách nghiêm túc việc tích hợp, do các ĐVCNT đang có dấu hiệu chạy theo xu hướng tiết kiệm các chi phí không cần thiết và tập trung nguồn lực, thời gian phát triển các chính sách sản phẩm riêng của họ cũng như chạy theo mức độ hứng thú của khách hàng đối với các phương thức thanh toán này. Nếu người dùng biết đến và sử dụng nhiều hơn các phương thức thanh toán này thì các ĐVCNT sẽ có mục tiêu để hoàn thành việc tích hợp và ngược lại.
Mức độ phổ biến đi cùng với mức độ hiểu biết và sử dụng các phương pháp thanh toán này, việc mong muốn trải nghiệm và sử dụng hết tất cả 3 phương pháp thanh toán Apple Pay, Google Pay và Samsung Pay hiện tại đòi hỏi người dùng phải đáp ứng về mặt thiết bị sử dụng để thanh toán, ảnh hưởng đến việc khách hàng thường có xu hướng không muốn bỏ chi phí và thời gian để trải nghiệm các phương pháp thanh toán mới này. Dù hiện tại trên thị trường, các hệ điều hành từ các hãng điện thoại thông minh chủ yếu là IOS và Android hoặc các mẫu điện thoại Samsung (đối với Samsung Pay), nhưng để người dùng thật sự quan tâm đến các phương thức thanh toán mới có áp dụng trên thiết bị của họ là một thách thức đối với ngân hàng, nhất là khi các chủ thẻ đã quá quen với việc thanh toán thông thường bằng cách nhập thông tin thẻ ngân hàng.
Do đó các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các phương thức thanh toán mới nhằm gia tăng doanh thu giao dịch phụ thuộc vào các chiến lược marketing các phương thức thanh toán này, tương tự việc cân bằng doanh số giao dịch tại Sacombank, ngân hàng cần có kế hoạch quảng bá hình ảnh và tính năng cũng như minh chứng về sự thuận tiện của các phương thức thanh toán này đến không chỉ khách hàng mà còn là các ĐVCNT.
Bảng 5 Các yếu tố ảnh hưởng đến số liệu giao dịch thanh toán thẻ trực tuyến tại Sacombank
| Số liệu giao dịch tại Sacombank | Các yếu tố ảnh hưởng |
| Số tiền và số lượng giao dịch | – Kế hoạch phát triển sản phẩm, ưu đãi
– Chiến lược kết nối giữa các ĐVCNT với ngân hàng. |
| Tình trạng kết nối các ĐVCNT | – Quy trình thẩm định đánh giá quá khắt khe ở hiện tại
– Việc quản lý và phát triển chưa đồng đều giữa các ĐVCNT. |
| Các loại hình thanh toán mới | – Chiến lược marketing các phương thức thanh toán mới đến khách hàng và ĐVCNT |
3.4. Mục tiêu phát triển trong hoạt động thanh toán thẻ trực tuyến tại ngân hàng Sacombank Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
- Phát triển mạnh mẽ và đồng đều các loại thẻ
Phát triển và phổ biến tới khách hàng về các sản phẩm thẻ mới như Amex và UnionPay, tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng giá trị giao dịch và số lượng giao dịch của các sản phẩm thẻ được ưa chuộng và các loại thẻ vừa triển khai nhằm đam bảo chênh lệch giữa các loại thẻ được tối ưu hóa, phát triển mạnh và đều tất cả sản phẩm thẻ. Đây được coi là mục tiêu dài hạn đối với ngân hàng khi khoảng cách chênh lệch trong số liệu giao dịch giữa các loại thẻ khá lớn, ngân hàng có thể đưa ra thêm nhiều chương trình khuyến mãi dành riêng cho các loại thẻ chưa được ưa chuộng để thúc đầy doanh thu, thu hẹp khoảng cách trong số liệu giao dịch giữa các loại thẻ.
- Đẩy mạnh tiến độ kết nối các ĐVCNT
Qua đánh giá, ngân hàng cần đẩy nhanh việc hợp tác với các ĐVCNT mới nhằm tiếp tục ghi nhận nhiều con số ấn tượng hơn tong dữ liệu giao dịch. Cụ thể, ngân hàng có thể rút gọn quy trình kết nối nhưng vẫn phải đảm bảo rủi ro khi hợp tác, tránh xảy ra các thiếu sót trong việc hợp tác dẫn đến tranh chấp giữa các bên.
Khi kết nối với các đơn vị mới, ngân hàng cũng cần đề phòng rủi ro, tránh các trường hợp kết nối với các ĐVCNT thiếu uy tín, các ĐVCNT có dấu hiệu gian lận, giả mạo, có nguy cơ thực hiện những giao dịch rủi ro,giao dịch khống vi phạm quy định pháp luật về thanh toán thẻ. Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến thanh toán thẻ trực tuyến

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng giao dịch thanh toán thẻ tại Sacombank […]