Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tái cấu trúc tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Chương 4 sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng tình hình tái cấu trúc của 30 NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2012 đến 2023 bằng phương pháp bao dữ liệu DEA và phân tích hồi quy SFA.

4.1. Thực trạng tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2012 – 2023

Ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1058/QĐ-TTg về việc “Tái cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2016-2020”. Trong thời gian này, nhiều biện pháp đã được áp dụng để giải quyết vấn đề nợ xấu, nâng cao năng lực tài chính và cải thiện quản lý rủi ro cho các ngân hàng thương mại. Kết quả là, trong giai đoạn 2011-2015, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực Basel II và xử lý nợ xấu.

Năm 2020, các ngân hàng thương mại đã phải đáp ứng các tiêu chuẩn mới về tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II. Đến năm 2021, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng vẫn được duy trì dưới mức 3%, với các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV và VietinBank đạt được những kết quả tích cực trong việc cải thiện chất lượng tài sản và quản lý rủi ro. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu đã giảm đáng kể từ mức 10% năm 2016 xuống dưới 3% vào cuối năm 2020, cho thấy hiệu quả của các biện pháp tái cấu trúc trong việc nâng cao chất lượng tài sản và khả năng quản lý rủi ro của các ngân hàng.

Từ năm 2021, tỷ lệ nợ xấu đã có dấu hiệu tăng trở lại do tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc xung đột tại Ukraine. Điều này đã tạo ra nhiều thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc quản lý nợ và duy trì thanh khoản. Trước tình hình này, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 689/2022/QĐ-TTg để tiếp tục thực hiện các biện pháp tái cấu trúc hệ thống tín dụng giai đoạn 2021-2025, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh mới.

Bảng 4. 1. Sáp nhập các NHTM tại Việt Nam từ 2012-2023 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

STT NH nhận sáp nhập NH bị sáp nhập Năm
1 NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) NH TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) 2012
2 NH TMCP Phát triển TP .HCM (HDBank) NH TMCP Đại Á (DaiABank) 2013
3 NH TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) NH TMCP Phương Nam (SouthernBank) 2015
4 NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) NH TMCP Phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long(MHB) 2015
5 NH TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) NH TMCP Đại Dương (Oceanbank) 2015
6 NH TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDbank) NH TMCP Xăng dầu Petrolimex 2018

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Một trong những sự kiện sáp nhập đáng chú ý đầu tiên là khi NHNN phê duyệt Quyết định số 1599/QĐ-NHNN vào năm 2012, cho phép sáp nhập Habubank vào SHB. Kết quả của sự sáp nhập này là SHB đã trở thành một ngân hàng lớn hơn với vốn điều lệ gần 9 nghìn tỷ đồng và tổng tài sản vượt 120 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ CAR của SHB sau sáp nhập đạt 11,39%, tuân thủ các tiêu chuẩn của hiệp ước Basel, chứng tỏ sự an toàn và hiệu quả sau quá trình tái cấu trúc.

Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 2687/QĐ-NHNN phê duyệt sáp nhập DaiABank vào HDBank. Đây không phải là một sự sáp nhập bắt buộc, vì DaiABank đã hoạt động ổn định và không nằm trong danh sách các ngân hàng yếu kém. Thời điểm đó, DaiABank có vốn điều lệ 3.100 tỷ đồng và mạng lưới hơn 70 điểm giao dịch trên toàn quốc, trong khi HDBank có vốn điều lệ 5.000 tỷ đồng. Thương vụ sáp nhập này giúp cả hai ngân hàng củng cố vị thế trên thị trường, với tổng vốn điều lệ sau sáp nhập là 8.100 tỷ đồng, tổng tài sản gần 90.000 tỷ đồng và mạng lưới ngân hàng mở rộng lên 400 điểm giao dịch với hơn 11.000 nhân viên. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Năm 2015, NHNN ban hành Quyết định số 1844/QĐ-NHNN cho phép Southern Bank sáp nhập vào Sacombank. Tại thời điểm đó, Southern Bank có vốn điều lệ 4.000 tỷ đồng và tỷ lệ CAR chỉ đạt 15,3%, nhỏ hơn nhiều so với Sacombank. Sau khi sáp nhập, Sacombank trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam, với tổng tài sản lên đến 290 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ 18.852 tỷ đồng và mạng lưới giao dịch rộng khắp cả nước, Lào và Campuchia, với 564 điểm và đội ngũ nhân viên gần 15.500 người. Việc sáp nhập này đã giúp Sacombank cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động và trở thành một trong những ngân hàng mạnh nhất tại Việt Nam.

Trong năm 2015, theo Quyết định số 589/QĐ-NHNN, BIDV và MHB đã tiến hành một thương vụ sáp nhập đáng chú ý, khi toàn bộ quá trình chỉ mất 30 ngày kể từ khi NHNN phê duyệt. Sau sáp nhập, vốn điều lệ của BIDV đạt 34.000 tỷ đồng, tổng tài sản tăng lên 700.000 tỷ đồng, mạng lưới chi nhánh mở rộng gần 1.000 điểm giao dịch và nhân sự tăng lên gần 24.000 người. Đây là một vụ sáp nhập tự nguyện, khi cả BIDV và MHB đều không thuộc diện kiểm soát đặc biệt. BIDV quyết định sáp nhập MHB nhằm mở rộng hoạt động tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long và nông thôn, nơi MHB có mạng lưới chi nhánh mạnh.

Ngày 08/05/2015, NHNN đã ban hành Quyết định số 663/QĐ-NHNN, quyết định mua lại toàn bộ cổ phần của Ngân hàng TMCP Đại Dương và chuyển đổi thành Ngân hàng TM TNHH MTV do Nhà nước sở hữu với vốn điều lệ 4.000 tỷ đồng. Đồng thời, NHNN giao cho Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) quản lý và điều hành Ngân hàng Đại Dương để cải thiện tình hình tài chính và quản lý rủi ro. Trước khi sáp nhập, OceanBank đã gặp nhiều khó khăn về nợ xấu và quản lý yếu kém. Sau khi tiếp quản, VietinBank đã tiến hành các biện pháp tái cấu trúc như xử lý nợ xấu và củng cố hệ thống quản lý để nâng cao hiệu quả hoạt động của OceanBank.

Năm 2018, Sacombank đã hoàn tất việc sáp nhập với Ngân hàng TMCP Phương Nam (SouthernBank). Sự kiện này diễn ra sau quyết định của NHNN Việt Nam nhằm tái cấu trúc SouthernBank, ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn về tài chính. Sau khi sáp nhập, Sacombank đã triển khai các biện pháp cải thiện tình hình tài chính của SouthernBank, bao gồm tăng cường vốn chủ sở hữu, nâng cao chất lượng tài sản và tăng cường khả năng quản lý rủi ro.

Bảng 4. 2. Tình hình hợp nhất các NHTM tại Việt Nam từ 2012-2023

NH trước hợp nhất NH sau hợp nhất Năm
Ngân hàng TMCP Đại Á (DaiABank) Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank) 2013
Ngân hàng TMCP Miền Nam (SouthernBank) Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) 2015
Ngân hàng TMCP Đại Dương (OceanBank), Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GPBank), Ngân hàng Xây dựng (CB) Nhà nước quản lý Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng. 2015
Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông (MDBank) Ngân hàng TMCP Hàng Hải (Maritime Bank) 2015
Ngân hàng TMCP Nhà ĐBSCL (MHB) Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 2015
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) 2015
Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank) Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) 2018

Nguồn: Tác giả tổng hợp Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Vào năm 2013, Ngân hàng TMCP Đại chúng (PVcomBank) chính thức được thành lập sau thương vụ hợp nhất giữa Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phương Tây (WesternBank). Sau khi hợp nhất, PVcomBank đạt vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, tổng tài sản trên 100.000 tỷ đồng, và mạng lưới hoạt động mở rộng đến 102 điểm giao dịch. Sau thương vụ hợp nhất, PVcomBank đã đặt mục tiêu lãi 420 tỷ đồng cho năm 2013, 756 tỷ đồng cho năm 2014 và 1.235 tỷ đồng cho năm 2015. Về mặt nợ xấu, ngân hàng đặt mục tiêu giảm từ 4,76% xuống còn 4,2%.

Bảng 4. 3. Tình hình mua lại của các NHTM Việt Nam từ 2012-2023

Bên bán Bên mua NH sau mua lại Năm
NH TMCP Habubank NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) NH TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) 2012
NH TMCP Giadinhbank Quỹ Ðầu tư Bản Việt NH TMCP Bản Việt 2012
NH TMCP Phương Tây (Western Bank) Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) NH TMCP PVcomBank 2012
NH TMCP Tiên Phong (TienPhongBank) Tập đoàn vàng bạc đá quý DOJI NH TMCP Tiên Phong (TienPhongBank) 2012
NH TMCP VietinBank Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ NH TMCP VietinBank 2012
Công ty TNHH MTV Tài chính Than – Khoáng sản Việt Nam(CMF) NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) 2014
NH TMCP VNBC NHTM TNHH MTV Nhà nước 100% vốn NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) 2015
NH TMCP OceanBank NHTM TNHH MTV Nhà nước 100% vốn NHTM TNHH MTV Nhà nước 100% vốn 2015
NH TMCP GP Bank NHTM TNHH MTV Nhà nước 100% vốn NHTM TNHH MTV Nhà nước 100% vốn 2015
NH TMCP BIDV KEB Hana của Hàn Quốc NH TMCP BIDV 2019
NH TMCP OCB Aozora Bank NH TMCP OCB 2020
NH TMCP VP Bank Công ty Tài chính SMBC NH TMCP VP Bank 2021
NH TMCP MB Bank Mcredit sho Shinsei NH TMCP MB Bank 2021

Nguồn: Tác giả tổng hợp Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Trong giai đoạn 2008-2014, ba ngân hàng thương mại quốc doanh lớn là BIDV, Vietcombank và Vietinbank đã hoàn thành quá trình cổ phần hóa. Việc cổ phần hóa này đã thu hút một lượng lớn vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính quốc tế, đặc biệt là các ngân hàng từ châu Âu và Nhật Bản, vào thị trường tài chính Việt Nam. Dù có nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong muốn tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần, một số lại giảm tỷ lệ nắm giữ tùy theo chiến lược của họ.

Chẳng hạn, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) đã giảm tỷ lệ sở hữu cổ phần tại VietinBank từ 6,4% xuống còn 4,99% và kể từ ngày 10 tháng 1 năm 2020, IFC không còn là cổ đông lớn tại VietinBank nữa. Thay vào đó, Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ (BTMU) của Nhật Bản, hiện đang nắm giữ 19,73% cổ phần tại VietinBank, đã nhiều lần đề nghị Chính phủ Việt Nam cho phép tăng tỷ lệ sở hữu lên 25% hoặc thậm chí 30%, tuy nhiên mức sở hữu tối đa hiện tại vẫn là 30%. Việc IFC rút vốn đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài khác tham gia vào VietinBank. Tính đến nay, cấu trúc cổ đông của VietinBank cho thấy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sở hữu 64,46% cổ phần, trong khi BTMU của Nhật Bản nắm giữ 19,73% cổ phần.

4.2. Thống kê mô tả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

4.2.1. Thống kê mô tả hiệu quả hoạt động

Để phân tích tác động của tái cấu trúc lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, nghiên cứu này đã chọn ra 30 ngân hàng và thu thập dữ liệu từ năm 2012 đến 2023. Sử dụng phương pháp DEA, dữ liệu về hiệu suất hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã được thu thập và phân tích. Sau đó, kết quả được trình bày thông qua bảng dưới đây:

Bảng 4.5. Thống kê mô tả các biến đầu vào và các biến đầu ra

ĐVT: Tỷ đồng

Biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
DEP 347 245,858.20 340,807.50 9,800 2,111,904
LAB 325 3,728.36 4,313.71 230.90 23,440.10
PCAP 347 312.77 632.45 -197.10 4,474.70
LOAN 347 179,337.90 271,269.40 6,083 1,777,665
INV 310 241.01 455.758 -886 3,151
FEE 360 1,728.68 2897.27 0 14,243.7

Nguồn: Kết quả phân tích

Bảng số liệu này cung cấp các chỉ số thống kê mô tả cho các biến số khác nhau gồm DEP, LAB, PCAP, LOAN, INV và FEE.

Tiền gửi (DEP): Với 347 quan sát, giá trị trung bình của tiền gửi là 245,858.20 tỷ đồng, và độ lệch chuẩn là 340,807.50 tỷ đồng. Giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 9,800 tỷ đồng, trong khi giá trị lớn nhất lên tới 2,111,904 tỷ đồng. Tiền gửi là một nguồn vốn quan trọng cho các ngân hàng, cho thấy khả năng thu hút vốn từ khách hàng. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn cao chỉ ra sự khác biệt lớn về lượng tiền gửi giữa các ngân hàng, ảnh hưởng đến tính thanh khoản và lợi nhuận.

Vốn lao động (LAB): Có 325 quan sát, với giá trị trung bình là 3,728.36 tỷ đồng và độ lệch chuẩn là 4,313.71 tỷ đồng. Giá trị nhỏ nhất là 230.90 tỷ đồng và lớn nhất là 23,440.10 tỷ đồng. Chi phí cho nhân viên là một phần quan trọng trong tổng chi phí hoạt động của ngân hàng. Sự khác biệt lớn về chi phí lao động giữa các ngân hàng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nếu không được quản lý tốt. Do đó, cần tối ưu hóa chi phí lao động để cải thiện hiệu quả

Vốn chủ sở hữu (PCAP): Với 347 quan sát, giá trị trung bình của vốn chủ sở hữu là 312.77 tỷ đồng, và độ lệch chuẩn là 632.45 tỷ đồng. Giá trị nhỏ nhất ghi nhận là -197.10 tỷ đồng, trong khi giá trị lớn nhất là 4,474.70 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu là yếu tố then chốt cho sự ổn định tài chính của ngân hàng. Sự tồn tại của các giá trị âm cho thấy một số ngân hàng gặp khó khăn về vốn chủ sở hữu, ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng rủi ro. Vốn chủ sở hữu mạnh giúp ngân hàng có nền tảng tài chính vững chắc, khả năng chống chịu rủi ro tốt hơn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Khoản cho vay (LOAN): Với 347 quan sát, giá trị trung bình của khoản cho vay là 179,337.90 tỷ đồng, và độ lệch chuẩn là 271,269.40 tỷ đồng. Giá trị nhỏ nhất ghi nhận là 6,083 tỷ đồng, trong khi giá trị lớn nhất là 1,777,665 tỷ đồng. Khoản cho vay là hoạt động chính của các ngân hàng. Giá trị trung bình cao cho thấy hoạt động cho vay mạnh mẽ, nhưng độ lệch chuẩn lớn chỉ ra sự chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng. Hoạt động cho vay mạnh mẽ giúp ngân hàng tăng cường lợi nhuận và quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả, tránh được nợ xấu .

Khoản đầu tư (INV) có 310 quan sát, có giá trị trung bình là 241.01 tỷ đồng và độ lệch chuẩn là 455.758 tỷ đồng. Giá trị thấp nhất là -886 tỷ đồng, trong khi giá trị cao nhất là 3,151 tỷ đồng. Đầu tư là một phần quan trọng trong tài sản của ngân hàng. Sự xuất hiện của giá trị âm cho thấy một số khoản đầu tư bị thua lỗ, ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của ngân hàng. Việc đa dạng hóa đầu tư giúp tăng thu nhập từ các nguồn không phải lãi suất.

Thu nhập từ phí dịch vụ (FEE) được ghi nhận qua 360 quan sát, với giá trị trung bình là 1,728.68 tỷ đồng và độ lệch chuẩn là 2,897.27 tỷ đồng. Giá trị nhỏ nhất là 0 tỷ đồng, trong khi giá trị lớn nhất là 14,243.7 tỷ đồng. Thu nhập từ phí dịch vụ là nguồn thu nhập quan trọng ngoài thu nhập từ lãi suất. Sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng trong khả năng tạo thu nhập từ phí dịch vụ được thể hiện qua giá trị trung bình và độ lệch chuẩn cao. Thu nhập từ phí dịch vụ ổn định giúp ngân hàng giảm sự phụ thuộc vào thu nhập lãi suất và tăng cường sự ổn định tài chính.

Nhìn chung, các biến số cho thấy sự biến động lớn với độ lệch chuẩn cao, đặc biệt là các biến DEP và LOAN, phản ánh sự chênh lệch lớn giữa giá trị nhỏ nhất và lớn nhất. Các biến như PCAP và INV cũng chỉ ra một số trường hợp giá trị âm, cho thấy khả năng mất mát trong vốn và đầu tư. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Bảng 4. 5. Thống kê mô tả các biến giả tái cấu trúc

Biến 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
MER 1 1 0 3 0 0 1 0 0 0 0 0
SI 4 3 3 5 4 4 4 4 4 4 4 4
COP 0 1 1 0 0 0 0 1 0 0 0 0

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Bảng 4.5 mô tả dữ liệu ban đầu về biến giả tái cấu trúc cho chúng ta cái nhìn về sự biến đổi trong số lượng ngân hàng tái cấu trúc trong bộ dữ liệu đã thu thập qua các năm từ 2012 đến 2023.

4.2.2. Kết quả đo lường mức độ hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Hình 4.1 thể hiện kết quả đo lường mức độ hiệu quả của các NHTM tại Việt Nam theo phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2023 khi chưa có ba biến giả. Đường đồ thị cho thấy sự biến động về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng qua các năm, từ năm 2012 đến năm 2023.

Trong giai đoạn từ 2012 đến 2015, mức độ hiệu quả của các ngân hàng tăng lên đáng kể. Cụ thể, từ mức dưới 0.88 vào năm 2012, chỉ số hiệu quả đã tăng lên khoảng 0.94 vào năm 2013 và tiếp tục duy trì sự tăng trưởng ổn định đến năm 2015. Nguyên nhân của sự gia tăng này bao gồm các biện pháp tái cấu trúc mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam nhằm xử lý nợ xấu và cải thiện năng lực tài chính của các ngân hàng, bắt đầu với Quyết định số 254/QĐ-TTg năm 2012. Đồng thời, kinh tế toàn cầu bắt đầu phục hồi sau khủng hoảng tài chính 2008, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngân hàng.

Giai đoạn từ 2016 đến 2019, mức độ hiệu quả của các ngân hàng tiếp tục cải thiện và đạt đỉnh cao vào năm 2018 với mức trên 0.98. Tuy nhiên, đến năm 2019, chỉ số này bắt đầu giảm xuống khoảng 0.95. Sự cải thiện này là nhờ việc các ngân hàng Việt Nam bắt đầu áp dụng các tiêu chuẩn Basel II từ năm 2016, giúp cải thiện quản trị rủi ro và tăng cường khả năng vốn. Các biện pháp can thiệp của Chính phủ như xử lý nợ xấu thông qua VAMC (Công ty Quản lý Tài sản của các Tổ chức Tín dụng Việt Nam) cũng giúp giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng cường hiệu quả hoạt động. Giai đoạn này, kinh tế toàn cầu tương đối ổn định, hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Từ năm 2020, chỉ số hiệu quả giảm mạnh xuống dưới 0.90 vào năm 2020, sau đó phục hồi dần lên khoảng 0.96 vào năm 2022 và duy trì ở mức đó đến năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu của sự giảm mạnh này là đại dịch COVID-19 bùng phát vào năm 2020, gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp phá sản, nợ xấu tăng cao, và nhu cầu tín dụng giảm sút. Tuy nhiên, từ năm 2021, các biện pháp hỗ trợ kinh tế và tái cấu trúc nợ của Chính phủ đã giúp các ngân hàng dần phục hồi. Các gói kích thích kinh tế và các chính sách tiền tệ linh hoạt đã góp phần ổn định hệ thống ngân hàng. Đến năm 2022, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch, giúp các ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động.

Tuy nhiên, tác giả chưa đưa yếu tố môi trường, tức các biến phản ánh các biện pháp tái cơ cấu các ngân hàng cũng như phân tích nhiều trắng vào trong mô hình. Dựa trên các nghiên cứu trước đó, nguyên nhân chỉ số hiệu quả cao được xác định là do hiện tượng nhiều trắng và chưa xem xét đầy đủ tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài đến hiệu quả hoạt động. Do vậy, những giả định này sẽ được kiểm tra trong bước 2 thông qua kết quả hồi quy SFA.

4.2.3. Kết quả phân tích hồi quy SFA khi xem xét tái cấu trúc ngân hàng và độ nhiễu thống kê

Phụ lục 4 cung cấp kết quả phân tích mô hình SFA của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2023 khi xem xét sự ảnh hưởng của các biến giả MER, COP và SI. Kết quả này thể hiện những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của từng ngân hàng hàng năm.

Năm 2012, các biến giả MER, SI và COP đều không có giá trị. Các chỉ số như DEP là 13.3490, LAB là 8.9498, PCAP là 8.0231, LOAN là 13.0410, INV là 5.2434, và FEE là 7.0607. Các chỉ số Slacksize đều có giá trị âm, cho thấy mức độ lãng phí tài nguyên trong hoạt động ngân hàng, với DEP là -1.06234 và PCAP là -91.5095. Loglikelihood function dao động từ -13.08324 đến -60.8488, chỉ ra mức độ phù hợp của mô hình với dữ liệu. Trong năm này, các ngân hàng như Vietcombank và BIDV đã có những bước đầu trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Năm 2013, MER và COP vẫn không có giá trị, trong khi SI có một số giá trị nhỏ nhưng không đáng kể. Các chỉ số hằng số như DEP (13.3888), LAB (9.106), và PCAP (6.4284) cho thấy mức độ hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Các chỉ số Slacksize tiếp tục có giá trị âm, với DEP là -1.53254 và PCAP là -52.9091. Loglikelihood function dao động từ -30.7073 đến -58.5658, cho thấy sự cải thiện nhẹ so với năm trước. Các ngân hàng như Techcombank và Sacombank đã bắt đầu triển khai các biện pháp cải tiến nội bộ để nâng cao hiệu quả. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Trong năm 2014, SI có giá trị nhưng không đáng kể, còn MER và COP vẫn không có giá trị. Các chỉ số như DEP (13.2520), LAB (8.9870), và PCAP (11.0023) cho thấy sự cải thiện trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -1.05487 và PCAP là -104.761. Loglikelihood function dao động từ -27.2844 đến 68.6025, phản ánh mức độ biến động trong hiệu quả hoạt động. Ngân hàng ACB và MB đã có những bước phát triển rõ rệt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý rủi ro.

Năm 2015, MER không có giá trị, SI có một số giá trị nhỏ nhưng không đáng kể. Các chỉ số như DEP (13.071), LAB (8.874), và PCAP (7.6796) cho thấy sự cải thiện tiếp tục trong hiệu quả hoạt động. Các chỉ số Slacksize có giá trị âm, với PCAP là – 60.9338 và LOAN là -31.0481. Loglikelihood function dao động từ -28.858 đến 54.7969. Các ngân hàng như Agribank và SHB tiếp tục duy trì hiệu quả hoạt động tốt nhờ các biện pháp quản lý và điều hành hiệu quả.

Đến năm 2016, SI có giá trị dương nhỏ, MER và COP vẫn không có giá trị. Các chỉ số hằng số như DEP (13.3490), LAB (8.8233), và PCAP (7.9006) cho thấy sự ổn định trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -1.05 và PCAP là -87.4651. Loglikelihood function dao động từ -36.715 đến -60.6396. Ngân hàng VPBank và HDBank đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động nhờ áp dụng các công nghệ mới và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Năm 2017, SI có giá trị nhỏ nhưng không đáng kể, MER và COP không có giá trị. Các chỉ số như DEP (13.331), LAB (8.961), và PCAP (7.2646) tiếp tục phản ánh sự ổn định trong hiệu quả hoạt động. Slacksize có giá trị âm, với PCAP là -80.8427 và LOAN là -44.2514. Loglikelihood function dao động từ -36.6109 đến -56.9136. Các ngân hàng như TPBank và VIB đã thực hiện các chiến lược đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý rủi ro.

Năm 2018, SI có giá trị nhỏ, MER và COP có giá trị nhưng không đáng kể. Các chỉ số như DEP (14.049), LAB (9.8205), và PCAP (5.7637) cho thấy sự cải thiện tiếp tục trong hiệu quả hoạt động. Slacksize có giá trị âm, với PCAP là -87.7599 và LOAN là 46.21701. Loglikelihood function dao động từ -45.21701 đến -87.7599. Ngân hàng Eximbank và DongA Bank đã có những cải tiến trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Năm 2019, SI có giá trị dương nhỏ, MER và COP không có giá trị. Các chỉ số như DEP (16.134), LAB (11.150), và PCAP (8.84124) cho thấy mức độ hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -31.2044 và PCAP là -48.216. Loglikelihood function dao động từ -28.9886 đến -56.6403. Các ngân hàng như Saigonbank và OceanBank đã tiếp tục nỗ lực nâng cao hiệu quả hoạt động qua các biện pháp cải tiến quản lý và dịch vụ khách hàng.

Năm 2020, SI có giá trị dương nhỏ, MER và COP vẫn không có giá trị. Các chỉ số hằng số như DEP (14.22178), LAB (9.272), và PCAP (8.149251) cho thấy mức độ hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -15.144 và PCAP là -64.6207. Loglikelihood function dao động từ -37.6202 đến -60.0362. Các ngân hàng như Vietcombank, BIDV và VietinBank đã chịu tác động mạnh từ đại dịch COVID-19, nhưng vẫn duy trì được hiệu quả hoạt động nhờ các biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Năm 2021, SI có giá trị nhỏ, MER và COP không có giá trị. Các chỉ số như DEP (14.22178), LAB (9.272), và PCAP (8.149251) tiếp tục phản ánh sự ổn định trong hiệu quả hoạt động. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -15.144 và PCAP là -64.6207. Loglikelihood function dao động từ -37.6202 đến -60.0362. Các ngân hàng như Techcombank và Sacombank đã nhanh chóng thích nghi và triển khai các biện pháp cải tiến để nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

Năm 2022, SI có giá trị dương nhỏ, MER và COP vẫn không có giá trị. Các chỉ số hằng số như DEP (14.27891), LAB (9.924355), và PCAP (8.812857) cho thấy sự ổn định trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Slacksize có giá trị âm, với DEP là – 5.39476 và PCAP là -65.6566. Loglikelihood function dao động từ -49.8615 đến 64.1093. Ngân hàng ACB và MB tiếp tục cải thiện hiệu quả hoạt động và mở rộng dịch vụ khách hàng, tận dụng các cơ hội phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Năm 2023, SI có giá trị nhỏ, MER và COP không có giá trị. Các chỉ số như DEP (14.27891), LAB (9.924355), và PCAP (8.812857) tiếp tục phản ánh sự ổn định trong hiệu quả hoạt động. Slacksize có giá trị âm, với DEP là -5.39476 và PCAP là -65.6566. Loglikelihood function dao động từ -49.8615 đến -64.1093. Các ngân hàng như Agribank và SHB tiếp tục duy trì hiệu quả hoạt động tốt nhờ các biện pháp quản lý và điều hành hiệu quả.

Phân tích kết quả cho thấy hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chịu tác động lớn từ các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính, quy định quản lý, và biến động kinh tế cả trong và ngoài nước. Các yếu tố toàn cầu như khủng hoảng tài chính và đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Những ngân hàng như Vietcombank, BIDV, và VietinBank là ví dụ tiêu biểu cho xu hướng này. Sự can thiệp của chính phủ (SI) có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả hoạt động, trong khi hợp nhất và sáp nhập (MER) và cổ phần hoá NHTM nhà nước (COP) không có tác động đáng kể.

4.2.4. Kết quả DEA về hiệu quả sau khi điều chỉnh dữ liệu theo tái cấu trúc và độ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Kết quả phân tích DEA (Data Envelopment Analysis) về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2023 được trình bày trong Hình 4.3, sau khi đã điều chỉnh dữ liệu theo tái cấu trúc và độ nhiễu thống kê. Hình này so sánh hiệu quả qua hai bước đánh giá: Bước 1 và Bước 3, với các biến giả MER, COP và SI.

Giai đoạn từ năm 2012 đến 2015, chỉ số hiệu quả của các ngân hàng (Bước 1) duy trì ở mức cao, xấp xỉ 1, cho thấy hoạt động của các ngân hàng rất hiệu quả. Tuy nhiên, khi thêm các biến giả vào phân tích (Bước 3), chỉ số này giảm nhẹ, dao động từ 0.85 đến 0.95. Nguyên nhân của sự giảm nhẹ này có thể là do những biện pháp tái cấu trúc mạnh mẽ của Chính phủ, như Quyết định số 254/QĐ-TTg năm 2012, nhằm xử lý nợ xấu và tăng cường năng lực tài chính cho các ngân hàng. Những biện pháp này có thể gây ra một số biến động tạm thời trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV và VietinBank đã bắt đầu ghi nhận những cải thiện đáng kể trong quản lý và hoạt động.

Giai đoạn từ năm 2016 đến 2019, chỉ số hiệu quả Bước 1 tiếp tục duy trì ở mức cao, dao động từ 0.95 đến 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động xung quanh 0.85. Nguyên nhân của sự ổn định và cải thiện này bao gồm việc các ngân hàng Việt Nam áp dụng tiêu chuẩn Basel II từ năm 2016, giúp cải thiện quản trị rủi ro và nâng cao khả năng vốn. Sự can thiệp của Chính phủ thông qua VAMC trong việc xử lý nợ xấu cũng góp phần nâng cao hiệu quả. Các ngân hàng như Techcombank, Sacombank và VPBank đã đạt được nhiều thành công khi áp dụng các biện pháp này.

Trong năm 2020, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến chỉ số hiệu quả của các ngân hàng. Chỉ số Bước 1 giảm xuống dưới 0.9, trong khi chỉ số Bước 3 giảm xuống quanh 0.75. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu do đại dịch gây ra đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản và nợ xấu tăng cao, làm giảm hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Các hoạt động kinh tế bị đình trệ và nhu cầu tín dụng giảm mạnh là nguyên nhân chính của sự sụt giảm này. Tuy nhiên, từ năm 2021, các biện pháp hỗ trợ kinh tế và tái cấu trúc nợ của Chính phủ đã giúp các ngân hàng dần hồi phục. Các ngân hàng như Vietcombank và BIDV đã áp dụng các gói kích thích kinh tế và chính sách tiền tệ linh hoạt để ổn định hoạt động. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Từ năm 2021 đến năm 2023, chỉ số hiệu quả Bước 1 dần phục hồi lên mức 0.95 đến 1, trong khi chỉ số Bước 3 cũng tăng lên khoảng 0.85 đến 0.9. Sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam sau đại dịch đã giúp các ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động. Các biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ, sự phục hồi của các hoạt động kinh doanh và tăng trưởng tín dụng đã góp phần vào sự phục hồi này. Các ngân hàng như ACB, MB và SHB tiếp tục triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng thị trường, nhằm duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Kết quả phân tích DEA sau khi điều chỉnh dữ liệu cho thấy rằng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào các biện pháp nội bộ mà còn bị ảnh hưởng mạnh bởi các yếu tố kinh tế toàn cầu và biến động trong nước. Các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV và VietinBank đã thể hiện khả năng thích ứng và phục hồi tốt trong bối cảnh khó khăn, nhờ vào các chính sách và biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ cũng như sự cải thiện quản trị rủi ro và năng lực tài chính.

4.2.5. Kết quả DEA về hiệu quả sau khi điều chỉnh dữ liệu theo tái cấu trúc và độ nhiễu thống kê cụ thể của các ngân hàng

Phụ lục 6 cung cấp kết quả DEA về hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam sau khi điều chỉnh dữ liệu theo tái cấu trúc và độ nhiễu thống kê, với sự xem xét các biến giả là MER, COP và SI:

Trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2023, ngân hàng ABB có chỉ số hiệu quả Bước 1 duy trì ở mức cao, dao động từ 0.9 đến 1.1, cho thấy hoạt động hiệu quả ổn định. Tuy nhiên, chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, đặc biệt giảm xuống dưới 0.7 vào năm 2014 và năm 2020, sau đó phục hồi dần, có thể liên quan đến các biện pháp tái cấu trúc và sự ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Tương tự, ACB duy trì chỉ số hiệu quả Bước 1 ổn định ở mức 0.9 đến 1.1, trong khi chỉ số Bước 3 thấp hơn, dao động quanh mức 0.8, cho thấy sự ổn định tương đối nhờ các biện pháp cải cách nội bộ và quản lý hiệu quả.

Ngân hàng BAB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 có xu hướng giảm từ năm 2012 đến 2023, đặc biệt thấp vào các năm 2017 và 2020, chỉ đạt khoảng 0.6, điều này có thể do các yếu tố nội bộ và các biện pháp tái cấu trúc ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động. BaoVietBank cũng có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 dao động khá nhiều, giảm mạnh vào năm 2017 và 2020, sau đó phục hồi, có thể do tác động của các biện pháp tái cấu trúc và tình hình kinh tế khó khăn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Chỉ số Bước 1 của BID ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động nhiều hơn, đặc biệt giảm vào các năm 2014 và 2020, cho thấy ngân hàng này đã trải qua các giai đoạn tái cấu trúc và chịu ảnh hưởng từ biến động kinh tế toàn cầu và trong nước. Tương tự, BVB có chỉ số Bước 1 dao động quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 cho thấy sự biến động rõ rệt, giảm mạnh vào năm 2014 và 2020, sau đó phục hồi, có thể do các biện pháp tái cấu trúc và các yếu tố kinh tế bên ngoài tác động.

Ngân hàng CTG duy trì chỉ số Bước 1 ổn định ở mức 1 trong suốt giai đoạn, trong khi chỉ số Bước 3 có sự dao động nhưng không quá mạnh, cho thấy sự ổn định trong quản lý và hoạt động. EIB có chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, đặc biệt giảm vào năm 2014 và 2018, sau đó phục hồi, sự biến động này có thể do tác động từ các biện pháp tái cấu trúc và điều kiện kinh tế thay đổi.

Ngân hàng HDB có chỉ số Bước 1 dao động từ 0.9 đến 1.1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động nhiều hơn, giảm mạnh vào năm 2018 và 2020, ngân hàng này đã trải qua nhiều biến động do tái cấu trúc và tình hình kinh tế khó khăn. KLB duy trì chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, giảm vào năm 2017 và 2019, sau đó phục hồi, các biện pháp quản lý và tái cấu trúc đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động.

Ngân hàng LPB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 giảm mạnh vào năm 2014 và 2018, sau đó phục hồi, nguyên nhân có thể liên quan đến tái cấu trúc và tác động của các biến động kinh tế. MBB duy trì chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động nhưng không quá mạnh, cho thấy sự ổn định trong quản lý và hoạt động.

MSB có chỉ số Bước 1 duy trì ở mức cao, nhưng chỉ số Bước 3 dao động mạnh, đặc biệt giảm vào năm 2018, sau đó phục hồi, các biện pháp tái cấu trúc và tác động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả của ngân hàng. NAB có chỉ số Bước 1 ổn định ở mức 0.9 đến 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động nhiều hơn, giảm vào năm 2014 và 2018, nguyên nhân có thể do các yếu tố tái cấu trúc và biến động kinh tế toàn cầu.

NVB có chỉ số Bước 1 dao động quanh mức 0.9 đến 1, trong khi chỉ số Bước 3 biến động mạnh hơn, giảm vào năm 2014 và 2018, tái cấu trúc và điều kiện kinh tế đã tác động đến hiệu quả hoạt động. OCB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 dao động, giảm mạnh vào năm 2018, nguyên nhân có thể do các biện pháp quản lý và tác động của các yếu tố kinh tế. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Ngân hàng PGB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 giảm vào năm 2014 và 2018, tái cấu trúc và các biến động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. SCB có chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, đặc biệt giảm vào năm 2018, các biện pháp tái cấu trúc và biến động kinh tế đã tác động đến hiệu quả của SCB.

Ngân hàng SGB duy trì chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, giảm vào năm 2018, ngân hàng này chịu ảnh hưởng từ các biện pháp tái cấu trúc và điều kiện kinh tế thay đổi. SHB có chỉ số Bước 1 ổn định từ năm 2012 đến 2023, nhưng chỉ số Bước 3 giảm vào năm 2018, sau đó phục hồi, nguyên nhân có thể do các biện pháp tái cấu trúc và tác động kinh tế.

Ngân hàng SSB duy trì chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, đặc biệt giảm vào năm 2018, tái cấu trúc và biến động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của SSB. STB có chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, giảm vào năm 2014 và 2018, các biện pháp quản lý và biến động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả của STB.

Ngân hàng TCB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 dao động nhẹ, cho thấy sự ổn định trong hoạt động và quản lý. TPB có chỉ số Bước 1 ổn định từ năm 2012 đến 2023, nhưng chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, đặc biệt giảm vào năm 2018, nguyên nhân có thể do tái cấu trúc và tác động kinh tế.

Ngân hàng VAB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, giảm vào năm 2014 và 2018, các biện pháp tái cấu trúc và biến động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. VBB có chỉ số Bước 1 ổn định ở mức cao, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, đặc biệt giảm vào năm 2014 và 2018, tái cấu trúc và các yếu tố kinh tế đã tác động đến hiệu quả của VBB.

Ngân hàng VCB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 dao động mạnh, giảm vào năm 2018, ngân hàng này chịu ảnh hưởng từ các biện pháp tái cấu trúc và biến động kinh tế. VIB có chỉ số Bước 1 ổn định từ năm 2012 đến 2023, nhưng chỉ số Bước 3 dao động mạnh hơn, giảm vào năm 2014 và 2018, nguyên nhân có thể do các biện pháp tái cấu trúc và tác động kinh tế.

Ngân hàng VPB có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, trong khi chỉ số Bước 3 dao động, giảm vào năm 2014 và 2018, các biện pháp quản lý và biến động kinh tế đã ảnh hưởng đến hiệu quả của VPB. DongABank có chỉ số Bước 1 ổn định quanh mức 1, nhưng chỉ số Bước 3 giảm mạnh từ năm 2014 và không phục hồi được, cho thấy ngân hàng này gặp khó khăn lớn trong quá trình tái cấu trúc và chịu ảnh hưởng mạnh từ các yếu tố kinh tế bên ngoài.

Tóm tắt chương 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu về hiệu suất kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2023. Mặc dù các ngân hàng đạt được mức hiệu suất khá cao và ổn định, nhưng hiệu quả sau tái cấu trúc vẫn chưa tối ưu. Chương tiếp theo sẽ đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Chương 5 của luận văn đã phân tích tác động của quá trình tái cấu trúc đối với hiệu suất hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam từ năm 2012 đến 2023. Sử dụng các phương pháp DEA và SFA, nghiên cứu cho thấy các biện pháp tái cấu trúc đã có ảnh hưởng rõ rệt.

Giai đoạn 2012-2015, hiệu suất ngân hàng tăng nhờ khắc phục hậu quả khủng hoảng tài chính 2008. Giai đoạn 2016-2018, hiệu suất tiếp tục cải thiện nhưng giảm nhẹ từ năm 2018 khi Việt Nam áp dụng Basel II.

Năm 2020, đại dịch COVID-19 làm giảm hiệu suất ngân hàng, nhưng các biện pháp hỗ trợ của chính phủ giúp phục hồi từ năm 2021. Ngân hàng Vietcombank và BIDV đóng góp quan trọng trong kích thích kinh tế và áp dụng tài chính tiên tiến.

Phân tích từng ngân hàng cho thấy ABB tăng mạnh trong giai đoạn 2014-2020, ACB duy trì ổn định, BIDV gặp khó khăn năm 2020, và VietinBank chịu tác động từ các yếu tố kinh tế.

Nhìn chung, tái cấu trúc đã cải thiện hiệu suất hoạt động của các ngân hàng, nhờ sự hỗ trợ của chính phủ và quản lý hiệu quả, giúp hệ thống ngân hàng phục hồi và duy trì hiệu suất cao. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở cho việc xây dựng chính sách và biện pháp quản lý trong tương lai để nâng cao hiệu quả của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.

5.2. Một số khuyến nghị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

5.2.1. Đối với ngân hàng thương mại

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2023, đồng thời kết nối với bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước.

Trước hết, việc nâng cao năng lực tài chính và quản lý rủi ro là yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động. Các NHTMCP cần tập trung vào việc xử lý nợ xấu và cải thiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Chẳng hạn, BIDV và VietinBank cần tích lũy vốn để đáp ứng các tiêu chuẩn Basel II và Basel III, nhất là trong điều kiện kinh tế biến động. BIDV, với tỷ lệ nợ xấu cao, cần có chiến lược mạnh mẽ trong xử lý nợ xấu, bao gồm hợp tác với các tổ chức quản lý tài sản và tăng cường bảo toàn vốn.

Thứ hai, thúc đẩy sáp nhập và hợp nhất các ngân hàng yếu kém sẽ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro trong hệ thống ngân hàng. MB Bank đã đạt được nhiều thành tựu trong việc M&A, mở rộng quy mô và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các ngân hàng như Sacombank và HDBank cần tiếp tục tìm kiếm cơ hội sáp nhập để mở rộng mạng lưới và nâng cao hiệu quả. Sacombank, sau khi sáp nhập với Southernbank, đã có những cải thiện rõ rệt về hiệu quả hoạt động và khả năng quản lý.

Thứ ba, việc đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ là cần thiết để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và tăng cường cạnh tranh. Các NHTMCP cần phát triển các dịch vụ ngân hàng số và Fintech. TPBank và VPBank đã thành công trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số, thu hút nhiều khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động. VPBank, với việc ra mắt VPBank NEO, đã mở rộng cơ sở khách hàng và cung cấp các dịch vụ hiện đại, tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

Thứ tư, nâng cao quản trị doanh nghiệp và minh bạch thông tin là cần thiết để tạo lòng tin cho cổ đông và khách hàng. Các NHTMCP cần cải thiện minh bạch thông tin và chất lượng quản trị. Vietcombank và Techcombank là những ví dụ tiêu biểu trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quản trị tiên tiến và công khai thông tin minh bạch. Vietcombank đã thực hiện nhiều biện pháp cải thiện quản trị, như nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và áp dụng các chuẩn mực quốc tế để thu hút vốn đầu tư và khách hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp các NHTMCP tiếp cận nguồn vốn mới và nâng cao trình độ quản lý. Các ngân hàng như ACB và Eximbank nên tận dụng cơ hội này để nâng cao năng lực và mở rộng quy mô hoạt động ra nước ngoài. ACB, thông qua hợp tác với các đối tác quốc tế, đã mở rộng hoạt động, cải thiện chất lượng dịch vụ, và nâng cao năng lực quản trị bằng cách ứng dụng công nghệ mới.

5.2.2. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

Dựa trên các kết quả nghiên cứu thu thập được, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2023, đồng thời khắc phục những hạn chế đã được chỉ ra.

Đầu tiên, việc cải thiện năng lực tài chính và đảm bảo đủ vốn là cần thiết để giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng lực tài chính. Ví dụ, BIDV và VietinBank cần gia tăng vốn điều lệ để đáp ứng các tiêu chuẩn Basel II và Basel III. Các ngân hàng này cũng cần chú trọng đến việc quản lý tỷ lệ nợ xấu và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Ngoài ra, họ nên đầu tư vào công nghệ thông tin và quản lý rủi ro để duy trì sức mạnh cạnh tranh lâu dài. Điều này bao gồm tất cả các khía cạnh của quản trị, đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ và khung quản lý rủi ro mạnh mẽ.

Thứ hai, thực hiện chiến lược sáp nhập và hợp nhất hiệu quả sẽ giúp mở rộng mạng lưới, giảm thiểu rủi ro và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Các hoạt động M&A thành công có thể giúp các ngân hàng như MB Bank và những ngân hàng khác nâng cao hiệu quả hoạt động. Các ngân hàng như Sacombank và HDBank cũng cần tập trung tìm kiếm cơ hội sáp nhập để mở rộng mạng lưới và nâng cao hiệu quả hoạt động. Sacombank, khi sáp nhập với SouthernBank, đã cải thiện rõ rệt hiệu quả hoạt động và tăng cường hiện diện thị trường.

Thứ ba, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh, các NHTMCP cần đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đặc biệt là phát triển các dịch vụ ngân hàng số và Fintech. TPBank và VPBank đã đạt được nhiều thành công trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng số, thu hút lượng lớn khách hàng và cải thiện hiệu quả hoạt động. VPBank, thông qua việc ra mắt VPBank NEO, đã mở rộng cơ sở khách hàng và nâng cao các dịch vụ ngân hàng số hiện đại, nâng cao sự hài lòng của khách hàng và hiệu quả hoạt động.

Thứ tư, nâng cao quản trị doanh nghiệp và minh bạch thông tin. Các NHTMCP cần tăng cường minh bạch thông tin và nâng cao chất lượng quản trị để thu hút nhà đầu tư và khách hàng. Vietcombank và Techcombank là những ví dụ điển hình trong việc áp dụng các chuẩn mực quản trị quốc tế và đảm bảo tính minh bạch. Vietcombank đã thực hiện nhiều biện pháp cải thiện quản trị, giúp nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và áp dụng các chuẩn mực quốc tế, giúp thu hút vốn đầu tư và khách hàng.

Thứ năm, tăng cường hợp tác quốc tế. Việc hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế sẽ giúp các NHTMCP tiếp cận nguồn vốn và nâng cao trình độ quản lý. Các ngân hàng như ACB và Eximbank có thể tìm kiếm các đối tác để mở rộng quy mô hoạt động và nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời cải thiện năng lực ứng dụng công nghệ mới vào quản lý ngân hàng.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

5.3.1. Hạn chế của nghiên cứu

Mặc dù nghiên cứu đã mang lại nhiều kết quả giá trị về ảnh hưởng của tái cấu trúc đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, vẫn tồn tại một số hạn chế cần được lưu ý.

Một trong những thách thức lớn là việc thu thập dữ liệu từ các ngân hàng. Nhiều ngân hàng không cung cấp đầy đủ thông tin tài chính, dẫn đến sự không đồng nhất trong dữ liệu nghiên cứu. Điều này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác và tính toàn diện của kết quả nghiên cứu.

Mô hình phân tích hiện tại có thể chưa phản ánh hết mọi yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các yếu tố như biến động tỷ giá, lãi suất, và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cần được xem xét thêm trong mô hình để mang lại cái nhìn toàn diện hơn. Việc bỏ qua các yếu tố này có thể dẫn đến kết luận thiếu chính xác về hiệu quả của các biện pháp tái cấu trúc.

Để hiểu rõ hơn về quá trình tái cấu trúc của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, nghiên cứu cần mở rộng phạm vi và thời gian. Điều này giúp theo dõi sự biến đổi và hiệu quả của các biện pháp tái cấu trúc qua các giai đoạn khác nhau, cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về tác động dài hạn.

Ngoài việc mở rộng phạm vi và thời gian, cần xem xét đến các yếu tố kinh tế vĩ mô và bối cảnh tài chính quốc tế. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam. Bằng cách tích hợp các yếu tố này vào nghiên cứu, sẽ có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về hiệu quả của các biện pháp tái cấu trúc.

5.3.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Trong tương lai, các nghiên cứu nên kéo dài thời gian để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về ảnh hưởng của tái cấu trúc đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Điều này sẽ cho phép theo dõi sự thay đổi và đánh giá hiệu quả của các biện pháp tái cấu trúc qua nhiều giai đoạn. Ngoài ra, cần phân tích các yếu tố kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ, và sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) để có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động của các ngân hàng. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngân hàng và cần được xem xét kỹ lưỡng trong các nghiên cứu tương lai.

Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại như phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ nâng cao độ chính xác và tính toàn diện của nghiên cứu. Các công nghệ này cho phép phân tích khối lượng dữ liệu lớn và phức tạp, giúp đưa ra những kết luận chính xác và có căn cứ. Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các biện pháp tái cấu trúc như xử lý nợ xấu, tăng vốn tự có và cải thiện quản trị doanh nghiệp là cần thiết. Điều này sẽ cung cấp các khuyến nghị cụ thể và chính xác cho hệ thống ngân hàng Việt Nam, giúp cải thiện hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng.

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào phân tích tác động của công nghệ blockchain trong quản lý rủi ro và giao dịch tài chính. Blockchain có thể tăng cường tính minh bạch và an toàn trong các giao dịch, do đó, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ này sẽ đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho các ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Một hướng nghiên cứu khác có thể là phát triển các mô hình kết hợp với các phương pháp khác như phân tích hồi quy Tobit và phân tích thứ bậc (AHP). Sự kết hợp này sẽ giúp xác định các nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, từ đó đưa ra các đề xuất phù hợp và hiệu quả. Các hướng nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Những kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quý báu cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý ngân hàng và nhà đầu tư, góp phần vào sự ổn định và phát triển của hệ thống tài chính quốc gia.

Tóm tắt chương 5 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng.

Chương 5 đã đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần, đồng thời chỉ ra những hạn chế và thách thức cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tác động của tái cấu trúc đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam. Nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng phạm vi và áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về hiệu quả hoạt động của NHTM tại Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Tái cấu trúc tác động đến hoạt động của ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động của ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537