Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích tương quan giữa các biến độc lập
4.1.1. Tình hình thay đổi tỷ lệ thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2011 – 2023
Tình hình hệ số NII của các NHTM Việt Nam từ năm 2011 – 2023 được xem xét qua gía trị trung bình của 24 ngân hàng tại mỗi năm. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi đó như sau:
Hình 4.1: Tình hình thay đổi tỷ lệ thu nhập ngoài lãi từ năm 2011 – 2023 của 24 NHTM Việt Nam
Từ năm 2011 – 2023 thì TNNL của 22 NHTM Việt Nam nhìn chung gia tăng từ 1,17% năm 2011 lên đến 1,26%, tuy nhừng có những biến động sâu sắc. Trong đó, giai đoạn 2011 – 2015 là khoảng thời gian các NHTM Việt Nam tái cấu trúc theo chỉ thị của NHNN nhằm hạn chế nợ xấu và những hoạt động quản lý yếu kém của các NHTM gây ra những thiệt hại cho hệ thống từ giai đoạn trước, hay nói cách khách NHNN thắt chặt các HĐKD của NHTM Việt Nam do đó tỷ lệ NII giảm từ 1,17% xuống còn 0,51%. Bắt đầu từ sau đó năm 2016 đến trở về sau thì tỷ lệ này tăng đều mỗi năm từ 0,59% đến 1,26%. Điều này cho thấy các NHTM Việt Nam vẫn tạo được sự ổn định chung trong HĐKD của mình và vẫn tập trung cho việc phát triển các hoạt động đa dạng hóa nhằm tìm kiếm TNNL. Đặc biệt giai đoạn 2020 – 2022 có xuất hiện đại dịch Covid 19 thì các NHTM lại càng tranh thủ cơ hội với các sản phẩm bán lẻ, bảo hiểm, thu phí, đầu tư nhằm tăng TNNL để bù đắp cho các thiệt hại trong các khoản cho vay không hiệu quả hay khó khăn trong kinh doanh. Giai đoạn sau đó thì tỷ lệ TNNL vẫn có xu hướng tiếp tục tăng trưởng.
4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Các biến số trong mô hình nghiên cứu được tổng hợp giá trị trung bình (GTTB), giá trị nhỏ nhất (GTNN), giá trị lớn nhất (GTLN) và độ lệch chuẩn trong bảng sau:
Bảng 4.1: Thống kê mô tả
| Biến | GTTB | Độ lệch chuẩn | GTNN | GTLN |
| NII | 0,88% | 0,56% | 0,01% | 2,65% |
| SIZE | 32,87 | 1,28 | 30,32 | 35,88 |
| ETA | 8,92% | 3,87% | 2,69% | 23,84% |
| DTA | 40,36% | 8,01% | 16,53% | 66,74% |
| CTA | 33,63% | 11,28% | 18,00% | 92,71% |
| LLR | 1,15% | 0,36% | 0,29% | 3,53% |
| DIVER | -0,50 | 14,09% | -248,16 | 0,50 |
| STA | 0,17 | 0,37 | 0 | 1 |
| GDP | 5,79% | 1,52% | 2,58% | 8,02% |
| INF | 4,86% | 4,49% | 0,63% | 18,68% |
| COVID | 0,15 | 0,36 | 0 | 1 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Đối với NII thì trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là 0,88% với độ lệch tương ứng cao là 0,56%. Điều này cho thấy giữa các NHTM Việt Nam trong giai đoạn này có sự khác biệt và khoảng cách lớn trong việc tìm kiếm TNNL, vì đặc thù kinh doanh hay chiến lược các ngân hàng có sự khác nhau. Trong đó, NII thấp nhất là 0,01% của VIETCAP năm 2016 và lớn nhất là 2,65% năm ACB năm 2021. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Quy mô ngân hàng (SIZE) có giá trị Log(Tổng tài sản) trung bình là 32,87 với độ lệch nhỏ là 1,28. Trong đó, quy mô nhỏ nhất với Log(Tổng tài sản) là 30,32 của SGB năm 2014 và lớn nhất là 35,88 thuộc về BIDV năm 2023. Mặt khác, các NHTM có sở hữu của Nhà nước trên 51% như VCB, CTG, BID luôn đứng đầu trong quy mô tài sản. Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (ETA) trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là 8,92% với độ lệch tương ứng cao là 3,87%. Do đó, có thể thấy các NHTM Việt Nam vẫn duy trì mức VCSH trong cấu trúc vốn tại mức vừa phải nhưng có sự khác biệt lớn tại các ngân hàng với độ lệch cao. Trong đó, tỷ lệ này thấp nhất 2,69% của VPB năm 2020 và lớn nhất là 23,84% của SGB năm 2013.
Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (DTA) trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là 40,35% với độ lệch tương ứng cao là 8,01%. Do đó, có thể thấy các NHTM Việt Nam vẫn ưu tiên sử dụng các khoản huy động từ tiền gửi tiết kiệm cho cấu trúc vốn của mình, nhằm thực hiện tốt chức năng trung gian tài chính ngoài ra chi phí cho việc sử dụng nguồn huy động từ tiết kiệm là rẻ nhất. Trong đó, tỷ lệ này thấp nhất là 16,52% tại MSB năm 2014 và cao nhất là 66,74% tại SCB năm 2023. Tỷ lệ cho cho vay trên tổng tài sản (CTA) trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là 33,63% với độ lệch tương ứng cao là 11,28%. Do đó, có thể thấy các NHTM Việt Nam vẫn tạo sự khác biệt lớn trong hoạt động cho vay. Trong đó, tỷ lệ này thấp nhất là 18,00% của VPB năm 2015 và cao nhất là 92,71% của SHB năm 2012.
Tỷ lệ dự phòng RRTD (LLR) trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là 1,15% với độ lệch tương ứng cao là 0,36%. Do đó, có thể thấy các NHTM Việt Nam vẫn duy trì mức dự phòng rủi ro này thấp hơn 3% và tạo sự khác biệt với nhau trong hệ thống. Trong đó, tỷ lệ dự phòng RRTD thấp nhất là 0,29% của VPB năm 2011 và cao nhất là 3,53% của TPB năm 2011. Hệ số đa dạng hóa thu nhập (DIVER) trung bình của các NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 là -0,5 với độ lệch tương ứng cao là 14,09%. Ta có thể thấy các NHTM vẫn cố gắng gia tăng khoảng cách với nhau trong hệ số đa dạng hóa này nhằm nâng cao sức cạnh tranh và thị phần trong hệ thống. Trong đó hệ số này thấp nhất là -248,16 của TPB năm 2011 và lớn nhất là 0,5 của MSB năm 2014
Đối với vĩ mô nền kinh tế thì đại diện bởi GDP và tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2011 – 2023 thì dễ dàng nhận thấy tốc độ tăng trưởng GDP trung bình mỗi năm là 5,79% với độ lệch thấp, trong đó thấp nhất là 2,58% trong năm 2021 và cao nhất là 8,02% năm 2022. Đối với tỷ lệ lạm phát thì trung bình mỗi năm là 4,86%, trong đó năm 2015 thấp nhất với tỷ lệ 0,63% và cao nhất là 18,68% năm 2011. Ngoài ra thì trong luận văn có sử dụng biến giả cho đại dịch Covid 19 và cấu trúc sở hữu Nhà nước nhưng chúng tồn tại dưới dạng nhận hai giá trị 0,1. Do đó, có tính đặc thù theo nhóm hoặc theo năm nên không trình bày thống kê mô tả tại mục này.
4.1.3. Phân tích tương quan giữa các biến số độc lập và kiểm soát của mô hình nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Phân tích tương quan của các biến độc lập nhằm xem xét mô hình có xuất hiện đa cộng tuyến nghiêm trọng hay không ? Để xem xét hiện tượng này thì sẽ thông qua hệ số tương quan từng cặp của các biến số với nhau và yêu cầu không được cao hơn 0,8 (Farrar và Glauber, 1967). Ma trận tương quan của các biến số độc lập được thiết lập như sau:
Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến số độc lập
| Biến số | SIZE | ETA | DTA | CTA | LLR | DIVER | STA | GDP | INF | COVID |
| SIZE | 1,000 | |||||||||
| ETA | -0,574 | 1,000 | ||||||||
| DTA | 0,198 | 0,151 | 1,000 | |||||||
| CTA | -0,256 | 0,164 | 0,005 | 1,000 | ||||||
| LLR | -0,296 | 0,424 | 0,143 | 0,117 | 1,000 | |||||
| DIVER | 0,093 | 0,033 | 0,102 | 0,064 | -0,380 | 1,000 | ||||
| STA | 0,603 | -0,341 | 0,109 | -0,078 | -0,215 | 0,027 | 1,000 | |||
| GDP | -0,056 | -0,034 | -0,055 | -0,013 | 0,038 | -0,018 | -0,001 | 1,000 | ||
| INF | -0,261 | 0,167 | -0,026 | 0,256 | 0,059 | -0,178 | -0,001 | 0,052 | 1,000 | |
| COVID | 0,150 | -0,056 | 0,147 | -0,129 | -0,071 | 0,026 | -0,001 | -0,856 | -0,222 | 1,000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Dựa trên bảng 4.2 và xét độ lớn giữa hệ số tương quan giữa các biến số độc lập thì đa phần đều thấp hơn 0,8. Tuy nhiên, có biến số COVID và GDP có hệ số tương quan với độ lớn là 0,856 thì đây là tương quan cao, nên có thể xảy ra đa cộng tuyến với cặp biến này. Tuy nhiên, biến COVID là biến giả khác loại với biến định lượng GDP, do đó cần phải kiểm định sâu hơn để xác định chính xác có thật sự xảy ra hiện tượng này hay không ?
4.2. Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình hồi quy đa biến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
4.2.1. Kết quả ước lượng các mô hình hồi quy
Như đã đề cập tại chương 3 thì ba mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích trong luận văn này đó là Pooled OLS, FEM và REM nhằm xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL tại các NHTM Việt Nam.
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các mô hình Pooled OLS, FEM và REM
| Tên biến | NII | ||
| OLS | FEM | REM | |
| SIZE | 0,003*** | 0,004*** | 0,003*** |
| ETA | -0,001 | -0,008 | -0,005 |
| DTA | 0,018*** | 0,014*** | 0,015*** |
| CTA | -0,014*** | -0,008*** | -0,01*** |
| LLR | 0,410*** | 0,202* | 0,247** |
| DIVER | 0,0001*** | 0,0001*** | 0,0001*** |
| STA | -0,003*** | 0 | -0,004** |
| GDP | 0,040 | 0,049* | 0,049* |
| INF | 0,044*** | 0,050*** | 0,047*** |
| COVID | 0,003* | 0,003** | 0,003** |
| R-square | 54,06% | 57,30% | 56,87% |
| Với ***, **, * tương ứng với mức ý nghĩa 1%; 5%; 10% | |||
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Dựa trên kết quả bảng 4.3 ta có thể thấy các mô hình Pooled OLS, FEM, REM đều có hệ số xác định R2 lớn hơn 50% thuộc [0,5; 1] điều này cho thấy các biến số có ý nghĩa thống kê tác động tại các mô hình này sẽ giải thích được trên 50% sự thay đổi của NII tại các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, dựa trên kết quả ban đầu về hồi quy đa biến của các mô hình thì các biến số độc lập SIZE, DTA, LLR, DIVER, INF, COVID ảnh hưởng tích cực đến NII tại các NHTM Việt Nam với mức ý nghĩa 1%, 5%. Các biến số CTA, STA ảnh hưởng tiêu cực đến NII tại các NHTM Việt Nam với mức ý nghĩa 1%. Mặt khác, GDP thì có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng tích cực đến NII tại mô hình FEM, REM với mức ý nghĩa 10% nhưng hai biến số này lại không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng tại Pooled OLS. Với biến số ETA không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến NII với tất cả các mô hình. Tuy nhiên, xét về dấu ảnh hưởng của các biến số tại ba mô hình thì có tương đồng cao, do đó tạo sự phù hợp với dữ liệu nghiên cứu thu thập từ các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023. Đây là cơ sở để tiếp tục cho các kiểm định tiếp theo. Tiếp theo là kiểm định liên quan đến sự lựa chọn mô hình phù hợp Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
4.2.2. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
Trong ba mô hình Pooled OLS, FEM và REM thì luận văn cần phải lựa chọn một trong ba mô hình này để có thể kiểm định tiếp tục và kết luận kết quả nghiên cứu, trong đó:
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp
| Kiểm định | Kết quả kiểm định | Kết quả lựa chọn |
| Kiểm định F – test | F (09,278) = 41,45
Prob > F = 0,000 |
Mô hình FEM phù hợp |
| Kiểm định Breusch – Pargan | chibar2(01) = 208,93
Prob > chibar2 = 0,000 |
Mô hình REM phù hợp |
| Kiểm định Hausman | chi2(8) = 5,28
Prob>chi2 = 0,7269 |
Mô hình REM phù hợp |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM thì luận văn sử dụng kiểm định F – test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình FEM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > F là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình FEM phù hợp. Với kiểm định lựa chọn giữa Pooled OLS và REM thì luận văn sử dụng kiểm định Breus – Pargan test với cặp giả thuyết là H0 mô hình Pooled OLS phù hợp và H1 là mô hình REM phù hợp. Kết quả cho thấy Prob > chibar2 là 0,000 thấp hơn 5% nên chấp nhận H1, do đó mô hình REM phù hợp. Với hai kiểm định trên thì ta thấy FEM và REM phù hợp hơn Pooled OLS. Do đó, kiểm định Hausman dưới đây sẽ kết luận mô hình phù hợp nhất cho luận văn này.
Mặt khác, khi kiểm định Hausman để xem xét tính phù hợp giữa hai mô hình FEM và REM với cặp giả thuyết như sau: H0 là không có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình REM phù hợp; H1 là có sự tồn tại giữa các biến số độc lập với phần dư tương quan nên mô hình FEM. Kết quả tại Bảng 4.3 cho thấy giá trị P – value của kiểm định này là 0,7269 lớn hơn 5% nên chấp nhận H0, hay nói cách khác thì mô hình REM phù hợp hơn. Ngoài ra, mô hình REM cũng có tính vững hơn Pooled OLS và hệ số xác định của mô hình này cao hơn với tỷ lệ 56,87%, do đó mô hình này phù hợp với việc thực hiện các kiểm định tiếp theo để kết luận kết quả.
4.2.3. Kiểm định các hiện tượng khuyết tật của mô hình REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
4.2.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
Kiểm định đa cộng tuyến sẽ dựa trên tổng hợp về hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến số. Trong đó, cặp giả thuyết như sau H0 là mô hình không có đa cộng tuyến và H1 là mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến.
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
| Biến số | VIF |
| COVID | 4,76 |
| GDP | 4,41 |
| SIZE | 2,60 |
| ETA | 1,95 |
| STA | 1,67 |
| LLR | 1,60 |
| DIVER | 1,36 |
| INF | 1,32 |
| DTA | 1,27 |
| CTA | 1,20 |
| VIF trung bình | 2,21 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Dựa vào kết quả 4.5 ta thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF đều thấp hơn 10 và giá trị trung bình VIF thấp hơn 5. Điều này cho thấy giả thuyết H0 được ủng hộ, hay nói cách khác mô hình không có đa cộng tuyến. Do đó, dữ liệu độc lập và có sự tin cậy để tiếp tục kiểm định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
4.2.3.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Với hiện tượng phương sai sai số thay đổi thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng phương sai sai số trong mô hình.
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình REM
| Hiện tượng phương sai sai số thay đổi |
| chi2 (01) = 208,93 Prob>chi2 = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Kết quả kiểm định tại bảng 4.6 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.2.3.3. Kiểm định tự tương quan
Với hiện tượng tự tương quan thì cặp giả thuyết H0 là không tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình và H1 là có tồn tại hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tự tương quan của mô hình REM
| Hiện tượng tự tương quan |
| F(1,21) = 78,350 Prob > F = 0,0000 |
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Kết quả kiểm định tại bảng 4.7 cho thấy Prob là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5% do đó bác bỏ H0, đồng nghĩa với việc mô hình REM có tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.2.3.4. Khắc phục các hiện tượng khuyết tật mô hình REM
Như vậy khi xác định được mô hình REM đã có tồn tại hai hiện tượng phương sai số thay đổi và tự tương quan thì cần phải tiến hành khắc phục hai hiện tượng này theo phương pháp FGLS. Với phương pháp này thì các lỗi sai tại các khuyết tật sẽ được sử sai, sau khi khắc phục thì mô hình hồi quy sẽ quay về với dạng đúng của nó, nhằm xác định kết quả cuối cùng để thảo luận và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu tương ứng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng mô hình REM bằng phương pháp FGLS
| Biến độc lập | Biến phụ thuộc NII | ||
| Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | P-value | |
| SIZE | 0,003*** | 0,0003 | 0,000 |
| ETA | -0,002 | 0,008 | 0,754 |
| DTA | 0,012*** | 0,003 | 0,000 |
| CTA | -0,010*** | 0,001 | 0,000 |
| LLR | 0,376*** | 0,069 | 0,000 |
| DIVER | 0,0001*** | 0,000 | 0,000 |
| STA | -0,003*** | 0,001 | 0,000 |
| GDP | 0,022 | 0,015 | 0,157 |
| INF | 0,043*** | 0,004 | 0,000 |
| COVID | 0,002* | 0,001 | 0,026 |
| Wald chi2(8) | 338,66 | ||
| Prob > chi2 | 0,0000 | ||
| R2 | 56,87% | ||
Nguồn: Kết quả từ STATA 14.0
Với biến phụ thuộc là NII thì sau khi kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục tương ứng thì nhận được kết quả P – value của mô hình theo phương pháp FGLS là 0,000 thấp hơn mức ý nghĩa 5%. Điều này chứng minh được mô hình cuối cùng này phù hợp với tổng thể và có ý nghĩa thống kê phân tích tiếp theo. Cụ thể các biến số độc lập SIZE, DTA, CTA, LLR, DIVER, STA, INF có P – value thấp hơn 5% có nghĩa là các biến số này có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến NII của các ngân hàng. Hay nói cách khác quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, đa dạng hóa thu nhập, cấu trúc sở hữu Nhà nước, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19 ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
Mô hình REM có hệ số xác định R2 là 56,87% có thể nói các biến độc lập có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng giải thích được 56,87% sự thay đổi của NII. Hay nói cách khác, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, đa dạng hóa thu nhập, cấu trúc sở hữu Nhà nước, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19 giải thích được 56,87% sự thay đổi của TTNL tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023. Dựa trên kết quả bảng 4.7 thì mô hình hồi quy được thiết lập như sau: NIIi,t = 0,003∗SIZEi,t + 0,012∗DTAi,t –
4.2.3.5. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Dựa trên kết quả bảng 4.8 tổng hợp kết quả và đối sánh với giả thuyết thống kê ban đầu để kết luận, nếu kết quả của mỗi nhân tố có hệ số góc khác với giả thuyết ban đầu sẽ kết luận không phù hợp. Nếu P – Value của biến số đó lớn hơn 5% thì giả thuyết đó sẽ bị bác bỏ.
Bảng 4.9: Kết quả tổng hợp
| Giả thuyết nghiên cứu | Biến độc lập | NII | Kết luận giả thuyết | ||
| Kỳ vọng | Kết quả | ||||
| Dấu | P-value | ||||
| H1 | SIZE | Cùng chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H2 | ETA | Cùng chiều (+) | Ngược chiều (+) | 0,754 | Bác bỏ |
| H3 | DTA | Cùng chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H4 | CTA | Ngược chiều (+) | Ngược chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H5 | LLR | Cùng chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H6 | DIVER | Cùng chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H7 | STA | Ngược chiều (+) | Ngược chiều (+) | 0,000 | Phù hợp |
| H8 | GDP | Ngược chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,157 | Bác bỏ |
| H9 | INF | Ngược chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,000 | Không phù hợp |
| H10 | COVID | Cùng chiều (+) | Cùng chiều (+) | 0,026 | Phù hợp |
Nguồn: Tổng hợp kết quả tính toán
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Các biến số quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, đa dạng hóa thu nhập, cấu trúc sở hữu Nhà nước, tỷ lệ lạm phát và đại dịch Covid 19 đều có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam. Tương ứng với độ lớn của các hệ số hồi quy tại bảng 4.7 thì ta thấy mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp đó là tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng LLR (β = 0,376); tỷ lệ lạm phát INF (β = 0,043); tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản DTA (β = 0,012); tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản CTA (β = -0,009); quy mô ngân hàng SIZE (β = 0,003); cấu trúc sở hữu Nhà nước STA (β = -0,003); đại dịch Covid 19 COVID (β = 0,002) và đa dạng hóa thu nhập DIVER (β = 0,0001). Các kết quả này được thảo luận như sau:
Đối với tỷ lệ dự phòng RRTD thì hệ số hồi quy β là 0,376 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ tăng 0,376%, hay nói cách khác tỷ lệ dự phòng RRTD ảnh hưởng làm tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế hiện nay tại các NHTM Việt Nam khi chất lượng tín dụng bị suy giảm để giải quyết các khoản nợ xấu thì buộc phải trích lập dự phòng RRTD. Khi tỷ lệ trích lập trên tổng dư nợ tăng cao thì chi phí tăng làm cho lợi nhuận hoạt động của ngân hàng giảm đi. Vì vậy, các NHTM Việt Nam phải ra sức đa dạng hóa HĐKD nhằm thu được các khoản thu nhập ngoài lãi tín dụng hay lãi từ các HĐKD truyền thống. Trong đó, các khoản thu từ dịch vụ ngân hàng điện tử, bảo hiểm, đầu tư, tư vấn hay quản lý tài khoản khách hàng đem lại rất nhiều và không có những rủi ro như hoạt động tín dụng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Atmawidjaya và Nuryakin (2023); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018); Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2020).
Đối với tỷ lệ lạm phát thì hệ số hồi quy β là 0,043 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ tăng 0,043%, hay nói cách khác tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng làm tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế nếu nền kinh tế lạm phát tăng cao thì vật giá leo thang, từ đó các mức lãi suất hay các khoản phí dịch vụ giao dịch của ngân hàng cũng sẽ tăng lên. Từ đó, các khoản phí dịch vụ hay sản phẩm bán lẻ giao dịch tại ngân hàng sẽ làm cho khách hàng phải trả thêm nhiều tiền hơn để sử dụng, do đó TNNL cũng tăng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Đối với tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản thì hệ số hồi quy β là 0,012 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ tăng 0,012%, hay nói cách khác tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản ảnh hưởng làm tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế khi các NHTM Việt Nam tăng trưởng được khoản huy động từ tiền gửi nhằm tài trợ cho việc sinh ra các tài sản sinh lời, thì còn tạo điều kiện cho ngân hàng có vốn để mở rộng các sản phẩm dịch vụ tăng thêm để cung cấp cho khách hàng. Hay nói cách khác thì ngoài dùng tiền gửi huy động cho vay thì các ngân hàng có thể dùng lượng vốn để mở dộng cho dịch vụ ngân hàng điện tử, đa dạng các loại sản phẩm đầu tư hay bảo hiểm, quản lý các tài khoản tiền gửi của khách hàng vào các danh mục đầu tư nhằm thu phí dịch vụ. Với lượng vốn lớn thì giúp cho các ngân hàng có thể tiếp cận với tập khách hàng lớn hơn đa dạng hơn để bán chéo các loại sản phẩm khác. Từ đó, TNNL tại các NHTM Việt Nam sẽ được cải thiện. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nepali và Niroula (2020); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018).
Đối với tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản thì hệ số hồi quy β là -0,009 có nghĩa là khi tỷ lệ này tăng 1% thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ giảm 0,009%, hay nói cách khác tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản ảnh hưởng làm giảm TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế khi các NHTM Việt Nam sử dụng tổng các nguồn lực của mình để tăng trưởng tín dụng thì việc phát triển chiến lược liên quan đến tăng TNNL sẽ bị bỏ qua hay thiếu tính tập trung. Hay nói cách khác, nếu các NHTM tập trung vào cho vay thì sẽ chú ý nhiều hơn từ nguồn lợi kiếm từ đó và sẽ hi sinh các khoản TNNL. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khúc Thế Anh và cộng sự (2023).
Đối với quy mô ngân hàng thì hệ số hồi quy β là 0,003 có nghĩa là khi quy mô tăng 1% thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ tăng 0,003%, hay nói cách khác quy mô ngân hàng ảnh hưởng làm tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế khi các NHTM Việt Nam có quy mô càng lớn thì tham vọng với lợi nhuận lại càng cao, do đó các hoạt động để có được TNNL sẽ được các ngân hàng tập trung. Mặt khác, các NHTM có quy mô càng lớn thì càng thuận lợi hơn trong việc tiếp cận khách hàng thông qua uy tín, năng lực tài chính mạnh để đầu tư vào công nghệ hay sinh ra các sản phẩm dịch vụ mới lạ bắt kịp xu hướng của xã hội. Ngoài ra, các quy mô càng lớn thì nguồn lực càng mạnh giúp cho NHTM tận dụng tốt hơn để phát triển các hoạt động đa dạng hóa như bán các sản phẩm bảo hiểm, đầu tư đi kèm với tư vấn tiền gửi. Hay các ngân hàng lớn càng phát triển công nghệ thì thu phí từ ngân hàng điện tử hay thanh toán trực tuyến,… nhiều hơn và TNNL cũng tăng lên đáng kể.Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Atellu (2016); Meng và cộng sự (2018); Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022); Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023); Khúc Thế Anh và cộng sự (2023); Atmawidjaya và Nuryakin (2023).
Đối với cấu trúc sở hữu Nhà nước thì hệ số hồi quy β là -0,003 có nghĩa là các NHTM có vốn sở hữu Nhà nước trên 51% tại Việt Nam sẽ có mức TNNL thấp hơn các ngân hàng tư nhân là 0,003%. Kết quả này chứng minh thực tế khi các NHTM Việt Nam nếu có vốn Nhà nước càng lớn thường ưu tiên cho sự ổn định, khẩu vị rủi ro thấp và việc chuyển đổi công nghệ hay với các hoạt động đa dạng hóa sẽ chậm chạp hơn các NHTM tư nhân. Do đó, NHTM có sở hữu Nhà nước nhiều hơn thì thường ưu tiên các hoạt động truyền thống nên TNNL có phần bị thu hẹp. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Meng và cộng sự (2018).
Đối với đại dịch Covid 19 thì hệ số hồi quy β là 0,002 có nghĩa là khi xuất hiện đại dịch thì mức TNNL cao hơn lúc không xuất hiện là 0,002%. Kết quả này chứng minh thực tế vào giai đoạn này thì Việt Nam đóng cửa nền kinh tế để ưu tiên chống dịch. Nên việc giao dịch liên quan đến ngân hàng điện tử, thanh toán trực tuyến tại ngân hàng tăng đột biến làm cho các khaonr thu phí dịch vụ tăng lên. Ngoài ra, vào thời điểm này các sản phẩm bán lẻ liên quan đến bảo hiểm hay đầu tư của ngân hàng được triển khai hiệu quả. Do đó, TNNL của các NHTM có phần tăng theo. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Khúc Thế Anh và cộng sự (2023). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Đối với đa dạng hóa thu nhập thì hệ số hồi quy β là 0,0001 có nghĩa là khi hệ số này tăng 1 đơn vị thì tỷ lệ TNNL của NHTM Việt Nam sẽ tăng 0,0001%, hay nói cách khác đa dạng hóa thu nhập ảnh hưởng làm tăng TNNL tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này chứng minh thực tế khi các NHTM Việt Nam các hoạt động đa dạng hóa phi truyền thống đang được triển khai và tăng trưởng. Đây là điều kiện thuận lợi để các NHTM tận dụng các nguồn lực của mình để tạo ra thu nhập từ những hoạt động truyền thống lẫn phi truyền thống như bảo hiểm, quản lý tài sản, tư vấn tài chính, hoặc các dịch vụ ngân hàng đầu tư. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi làm gia tăng TNNL cho các NHTM. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ashraf và cộng sự (2023).
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Chương 4 đã tiến hành đánh giá sự thay đổi của hệ số NII của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2023 với giá trị trung bình mỗi năm. Sau đó, thông qua thống kê mô tả các giá trị đặc trưng của các biến số trong mô hình nghiên cứu để nhận định và đánh giá tình hình chung. Đồng thời, phân tích sự tương quan giữa các biến số độc lập . Thông qua mô hình hồi quy đa biến thì luận văn tiến hành điểm định sự phù hợp và lựa chọn mô hình REM để phân tích. Mô hình REM mắc phải các hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan do đó thông qua khắc phục với phương pháp FGLS, cho ra kết quả nghiên cứu cuối cùng có sự tương đồng với các kỳ vọng của giả thuyết nghiên cứu ban đầu đặt ra. Kết quả nghiên cứu cuối cùng cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ lạm phát, đại dịch Covid 19 ảnh hưởng tích cực đến TNNL của các NHTM Việt Nam. Nhưng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, cấu trúc sở hữu Nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến TNNL. Ngoài ra, tỷ lệ VCSH và tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM Việt Nam.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
5.1. Kết luận
Luận văn sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm xác định sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL tại các NHTM Việt Nam. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho TNNL của ngân hàng đó là NII, các biến độc lập được sử dụng đó là quy mô ngân hàng; tỷ lệ VCSH; tỷ lệ tiền gửi trên tài sản; tỷ lệ cho vay trên tài sản; tỷ lệ dự phòng rrtd; đa dạng hóa thu nhập; cấu trúc sở hữu nhà nước; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát; đại dịch Covid 19. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2023 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ Cục Thống kê Việt Nam.
Các mục tiêu cụ thể đã được luận văn hoàn thành về mặt cơ bản, trong đó với mục tiêu xác định và đo về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL tại các NHTM Việt Nam thì kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng RRTD, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ lạm phát, đại dịch Covid 19 ảnh hưởng tích cực đến TNNL của các NHTM Việt Nam. Nhưng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, cấu trúc sở hữu Nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến TNNL. Ngoài ra, tỷ lệ VCSH và tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM Việt Nam. Tương ứng với độ lớn của các hệ số hồi quy thì mức độ ảnh hưởng từ cao xuống thấp đó là tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng LLR (β = 0,376); tỷ lệ lạm phát INF (β = 0,043); tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản DTA (β = 0,012); tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản CTA (β = 0,009); quy mô ngân hàng SIZE (β = 0,003); cấu trúc sở hữu Nhà nước STA (β = 0,003); đại dịch Covid 19 COVID (β = 0,002) và đa dạng hóa thu nhập DIVER (β = 0,0001).
Vì vậy, dựa trên các kết quả nghiên cứu tương ứng thì luận văn sẽ tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị khả thi cho các NHTM Việt Nam để có các hoạt động hay chiến lược nhằm gia tăng TNNL trong tương lai tại phần dưới đây.
5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
5.2.1. Đối với quy mô ngân hàng
Để tăng TNNL dựa trên sự ảnh hưởng cùng chiều của quy mô ngân hàng, các ngân hàng có thể thực hiện nhiều chiến lược. Thứ nhất, các NHTM có thể theo đuổi chiến lược mở rộng và tăng trưởng bằng cách mở chi nhánh mới tại các thị trường chưa được phục vụ. Ví dụ: một ngân hàng có thể thành lập chi nhánh, phòng giao dịch ở các khu vực ngoại ô đang phát triển, thu hút lượng khách hàng lớn hơn và cung cấp các dịch vụ tính phí như quản lý tài sản và tư vấn đầu tư để tận dụng nhu cầu lập kế hoạch tài chính ngày càng tăng.
Các ngân hàng có thể tích cực tham gia với các cơ quan quản lý nhằm mở rộng quy mô lẫn tạo một môi trường pháp lý đảm bảo tuân thủ các yêu cầu, quy định và thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực ngân hàng. Điều này có thể liên quan đến việc cộng tác với các cơ quan quản lý để xây dựng hướng dẫn cho các hoạt động thu nhập ngoài lãi mới nổi, chẳng hạn như dịch vụ tiền điện tử, cung cấp ví kỹ thuật số, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tiền điện tử hoặc cung cấp dịch vụ lưu ký tiền điện tử, là những ví dụ về các hoạt động thu nhập ngoài lãi mới nổi. Đảm bảo tuân thủ pháp luật, đồng thời thúc đẩy đổi mới. Bằng cách thực hiện các chính sách này, các ngân hàng có thể tăng thu nhập ngoài lãi một cách hiệu quả và nâng cao hiệu quả tài chính tổng thể của mình.
5.2.2. Đối với tỷ lệ tiền gửi
Các NHTM có thể khuyến khích phát triển và quảng bá một loạt các nguồn thu phi lãi suất để giảm sự phụ thuộc vào thu nhập liên quan đến tiền gửi. Ví dụ, ngân hàng có thể giới thiệu và tiếp thị các dịch vụ thu phí như quản lý tài sản, tư vấn đầu tư, sản phẩm bảo hiểm hoặc các gói tài khoản cao cấp.
Ngân hàng có thể triển khai các chiến lược để bán hàng chéo và nâng cấp các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng gửi tiền hiện tại. Ví dụ, ngân hàng có thể đào tạo và khuyến khích nhân viên ngân hàng để chủ động quảng bá và bán hàng chéo như thẻ tín dụng, vay vốn, sản phẩm bảo hiểm hoặc các sản phẩm đầu tư cho khách hàng tiền gửi. Tuy nhiên, cần chú ý đạo tạo nhân viên tư vấn đầy đủ, chính xác cho khách hàng để khách hàng nắm rõ những đặc điểm của sản phẩm, tránh đánh tráo khái niệm sản phẩm, gây hoang mang cho khách hàng.
5.2.3. Đối với tỷ lệ cho vay Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Các NHTM có thể tập trung vào nâng cao khả năng đánh giá rủi ro, xây dựng các mô hình mô phỏng tài chính và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý rủi ro. Bởi vì nguồn lực là có hạn, nếu ngân hàng chỉ tập chung phần lớn nguồn lực vào việc quản lí rủi ro thì sẽ hạn chế khả năng phát triển dòng thu nhập khác ngoài lãi. Ngân hàng có thể tận dùng nguồn lực để đa dạng hóa sản phẩm của mình bằng cách mở rộng sang các dịch vụ phi cho vay. Ví dụ: Ngân hàng có thể giới thiệu các dịch vụ tính phí như giải pháp quản lý tài sản, liên kết giữa tài khoản ngân hàng và tài khoản chứng khoán, các loại hình bảo hiểm, tư vấn tài chính dành cho cá nhân, doanh nghiệp.
Bán chéo các sản cho khách hàng vay hiện tại là một cách tiếp cận hiệu quả khác. Ví dụ: Ngân hàng có thể quảng cáo thẻ tín dụng, sản phẩm bảo hiểm hoặc cơ hội đầu tư cho người vay. Các ngân hàng có thể thành lập một đội ngũ chuyên biệt, một phòng kinh doanh riêng về các sản phẩm phi tín dụng, để tìm hiểu và phát triển nguồn thu từ các dịch vụ tính phí và sản phẩm đầu tư. Đồng thời, việc thiết lập các phần thưởng dựa trên hiệu suất và tạo động lực cho nhân viên khuyến khích họ tích cực làm việc và bán các sản phẩm cũng rất quan trọng. Nghiên cứu thị trường và đổi mới sản phẩm là một yếu tố quan trọng khác. Các NHTM cần nắm bắt nhu cầu và sở thích của khách hàng để phát triển các sản phẩm đổi mới phù hợp với hiện tại khi bắt buộc phải ngày càng đổi mới, cải tiến đê có thể cạnh tranh.
5.2.4. Đối với hoạt động đa dạng hóa thu nhập
Các NHTM thực hiện chiến lược bán chéo và bán thêm có thể quảng bá các sản phẩm và dịch vụ bổ sung cho khách hàng hiện tại. Thứ tư, quan hệ đối tác chiến lược và liên minh với các tổ chức tài chính hoặc tổ chức phi ngân hàng khác có thể thâm nhập vào các thị trường mới và cung cấp các sản phẩm đi kèm.
Ngoài ra, các NHTM có thể tập trung đa dạng hóa sản phẩm bằng cách hợp tác với các công ty bảo hiểm để cung cấp các gói bảo hiểm toàn diện cho khách hàng. Sự hợp tác này cho phép các ngân hàng kiếm được hoa hồng và phí từ các hợp đồng bảo hiểm được bán thông qua các kênh của họ. Hơn nữa, các ngân hàng có thể tận dụng công nghệ bằng cách đầu tư vào nền tảng kỹ thuật số tiên tiến và ứng dụng ngân hàng di động (mobile banking, internet banking). Bằng cách cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số thuận tiện và thân thiện với người dùng, chẳng hạn như thanh toán di động và quản lý tài sản trực tuyến, các ngân hàng có thể thu hút khách hàng am hiểu công nghệ và tạo thu nhập ngoài lãi thông qua phí giao dịch và phí dịch vụ kỹ thuật số. Ngoài ra, các ngân hàng có thể gắn kết mối quan hệ với khách hàng thông qua dịch vụ khách hàng được cá nhân hóa và các chiến dịch tiếp thị có mục tiêu. Ví dụ: Có thể triển khai các chương trình khách hàng thân thiết nhằm cung cấp phần thưởng và giảm giá cho những khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ tính phí.
5.2.5. Đối với các nhân tố liên quan đến vĩ mô nền kinh tế
Để có thể cân bằng giữa 2 nguồn thu nhập từ lãi và phi lãi, cơ quan quản lí nên có những chính sách phù hợp tác động vào các yếu tố tăng trưởng GDP, kiểm soát tốc độ tăng GDP và có những chính sách phù hợp khống chế room tín dụng của các ngân hàng tùy vào từng giai đoạn của nền kinh tế, từng quy mô của từng ngân hàng, không để các ngân hàng quá tập trung vào một nguồn lợi nhuận mà phải đa dạng hóa thu nhập để phân tán rủi ro.
Lạm phát vừa phải cũng có thể dẫn đến sự gia tăng sản xuất và việc làm khi các doanh nghiệp mở rộng để đáp ứng nhu cầu tăng cao. Chính vì vậy, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phải linh hoạt sử dụng các chính sách như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách tỷ giá hối đoái, hay sử dụng các chính sách tiền tệ phi truyền thống để kiềm chế lạm phát ở mức vừa phải góp phần ổn định nền kinh tế để tạo điều kiện hoạt động thuận lợi cho ngân hàng và tăng khả năng cải thiện TNNL.
5.3. Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
5.3.1. Hạn chế của luận văn
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2023, vì vậy không thể tránh khỏi những sai sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Ngoài ra, luận văn có thể không xem xét các biến độc lập hoặc biến kiểm soát khác có ảnh hưởng đến TNNL của ngân hàng.
Ngoài ra, luận văn bị hạn chế bởi vì nó không thực hiện bất kỳ hồi quy bổ sung nào để xác định tính vững của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Các nghiên cứu tiếp theo tác tác giả sẽ sử dụng thêm các biến khác để xem xét sự ảnh hưởng của chúng đến TNNL tại ngân hàng. Hoặc có thể mở rộng giai đoạn nghiên cứu để thu được kết quả nghiên cứu chi tiết hơn.
Thêm hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình. Để thực hiện một phân tích toàn diện về thực trạng TNNL của các NHTM Việt Nam, cần thu thập thêm dữ liệu. Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam bằng cách mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả NHTM Việt Nam cũng như một số NHTM trong khu vực.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Chương 5 tóm tắt các kết quả của luận văn liên quan đến các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trong chương 1. Đồng thời, đề xuất các hàm ý quản trị có thể thực hiện cho các NHTM Việt Nam liên quan mở rộng quy mô, tận dụng các nguồn lực để đổi mới sản phẩm dịch vụ và tăng cường tiếp cận khách hàng để tăng lợi nhuận và tránh lãng phí nguồn lực. Gia tăng tiền gửi huy động, giảm bớt các hoạt động cho vay truyền thống thay bằng phi tín dụng. Tăng cường các hoạt động đa dạng hóa thu nhập trong các NHTM Việt Nam để tăng TNNL. Chương 5 cũng đề cập đến các hạn chế và mục tiêu nghiên cứu tiếp theo. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến thu nhập ngoài lãi tại các NH […]