Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tóm tắt nội dung luận văn: Luận văn này đã tiến hành tóm lược các nội dung về lý thuyết liên quan đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng cùng các chỉ tiêu tài chính đo lường cho chúng. Ngoài ra, dựa trên các lý thuyết nền tảng chỉ ra mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc nội tại và vĩ mô nền kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NHTM. Mặt khác, dựa vào việc tóm lược các công trình trong nước và nước ngoài liên quan đến sự ảnh hưởng của các nhân tố đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thì luân văn đã đánh giá được nét tương đồng trong lý thuyết và xác định được các khoảng trống mà các công trình còn tồn tại. Từ đó, kế thừa và đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho hoàn cảnh của các NHTM Việt Nam. Các biến độc lập được xem xét phân tích ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng đó là quy mô ngân hàng; tỷ lệ vốn chủ sở hữu; tỷ lệ tiền gửi trên tài sản; tỷ lệ cho vay trên tài sản; tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng; đa dạng hóa thu nhập; cấu trúc sở hữu Nhà nước; tăng trưởng kinh tế; tỷ lệ lạm phát; đại dịch Covid 19.
Từ đó, luận văn thu thập dữ liệu của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2011 – 2023, xử lý và thực hiện hàng loạt các ước lượng, kiểm định với các mô hình hồi quy. Mô hình tác động cố hình REM được lựa chọn để phân tích và xuất hiện hai khuyết tật phương sai sai số thay đổi, tự tương quan nên khắc phục với phương pháp FGLS thu được kết quả cuối cùng đó là quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, đa dạng hóa thu nhập, tỷ lệ lạm phát, đại dịch Covid 19 ảnh hưởng tích cực đến thu nhập ngoài lãi của các NHTM Việt Nam. Nhưng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản, cấu trúc sở hữu Nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập ngoài lãi. Ngoài ra, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NHTM Việt Nam.Từ kết quả đó luận văn tiến hành đề xuất các hàm ý chính sách tương ứng cho các nhân tố tác động để gia tăng được hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng.
Từ khóa: Thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa, quy mô ngân hàng, tín dụng, vĩ mô.
ABSTRACT Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Title of thesis: Factors affecting non-interest income at Vietnamese commercial banks.
Summary of the thesis: This thesis has summarized the theoretical contents related to non-interest income of banks and the financial indicators to measure them. In addition, based on the fundamental theories, it shows the relationship between internal and macro factors of the economy affecting non-interest income at commercial banks. On the other hand, based on summarizing domestic and foreign works related to the influence of factors on non-interest income of banks, the thesis has assessed the similarities in theory and identified the gaps that the works still exist. From there, inherit and propose a model and research hypothesis applicable to the circumstances of Vietnamese commercial banks. The independent variables considered to analyze the impact on non-interest income of banks are bank size; equity ratio; deposit to asset ratio; loan to asset ratio; credit risk provision ratio; income diversification; state ownership structure; economic growth; inflation rate; Covid 19 pandemic.
Therefore, the thesis collects data from 24 Vietnamese commercial banks from 2011 – 2023, processes and performs a series of estimates and tests with regression models. The fixed effects model REM is selected for analysis and two defects of variable error variance and autocorrelation appear, so it should be overcome with the FGLS method to obtain the final result that is bank size, deposit ratio to total assets, credit risk provision ratio, income diversification, inflation rate, Covid 19 pandemic positively affect non-interest income of Vietnamese commercial banks. However, the loan ratio to total assets, State ownership structure negatively affects non-interest income. In addition, the equity ratio and economic growth have no statistical significance in affecting non-interest income at Vietnamese commercial banks. From that result, the thesis proposes corresponding policy implications for the influencing factors to increase the operational efficiency of banks.
Keywords: Non-interest income, diversification, bank size, credit, macro.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) đóng một vai trò quan trọng và không thể thiếu trong cấu trúc của một nền kinh tế, đó là nơi giúp nguồn vốn trong nền kinh tế được luân chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn một cách hiệu quả thông qua các nghiệp vụ huy động vốn và cấp tín dụng. Ngoài ra, NHTM còn đóng vai trò trung gian trong việc chuyển giao tiền tệ giữa các bên tham gia giao dịch bằng các kênh thanh toán như tiền mặt, thẻ tín dụng, séc, Internet Banking, Mobile Banking và ví điện tử. Mặc khác, ngoài vai trò là một trung gian tài chính và là nơi giúp NHNN thực hiện các chính sách tiền tệ để điều hành chính sách kinh tế vĩ mô thì các NHTM còn có một mục tiêu quan trọng, mà qua đó có thể giúp NHTM tiếp tục hoạt động, bổ sung nguồn vốn cho đầu tư và phát triển cũng như trả cổ tức cho cổ đông đó là tối đa hóa lợi nhuận thông qua hoạt động kinh doanh (HĐKD). Hiện nay, thu nhập của các NHTM đến từ hai nguồn chính là thu nhập từ lãi đến từ việc chênh lệch lãi suất giữa cho vay và gửi tiền tiết kiệm của khách hàng và thu nhập ngoài lãi vay đến từ việc cung cấp các dịch vụ như phí và hoa hồng từ phí duy trì tài khoản, phí giao dịch, phí thẻ tín dụng, hoa hồng từ các giao dịch chứng khoán, giao dịch ngoại hối, quản lí tài sản… Với các khoản thu nhập từ cho vay, luôn tồn tại những rủi ro tiềm ẩn như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hệ tín dụng… Nếu việc cho vay của NHTM không hiệu quả có thể dẫn đến phá sản. Sự thật này đã được chứng minh qua nhiều cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới. Ngược lại, nếu có thể đa dạng hóa HĐKD thì các NHTM có thể giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra. Trên thực tế, nhiều NHTM ở Việt Nam cũng đã chú trọng đến nguồn thu nhập ngoài lãi (TNNL) tránh phụ thuộc quá nhiều vào cấp tín dụng.
Tuy nhiên, trong các năm trở lại đây, nguồn TNNL của các NHTM theo thống kê tính từ năm 2022 có dấu hiệu suy giảm so với những năm trước và tỷ trọng của TNNL vẫn chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng lợi nhuận vì phải đối mặt với nhiều khó khăn từ biến động vĩ mô như nguy cơ xảy ra suy thoái kinh tế gia tăng, lạm phát tăng cao, Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED) nhiều lần tăng lãi suất làm đồng đô tăng giá mạnh, căng thẳng chính trị giữa Nga – Ukraine, thị trường bất động sản trong nước khó khăn, nợ xấu tăng cao… Chính vì vây, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập là hết sức cần thiết cho các ngân hàng thương mại và hiểu rõ các nhân tố nào có thể ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn TNNL để từ đó có thể giúp các NHTM đưa ra các chính sách hoạt động cần thiết để tối ưu nguồn thu nhập này. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Hiện nay các NHTM Việt Nam đã bắt kịp xu hướng chung của các ngân hàng trên thế giới khi đã chủ động đa dạng hóa nguồn thu nhập, hạ tỷ trọng của lĩnh vực kinh doanh có rủi ro cao chuyển sang chú trọng vào nguồn thu từ các HĐKD phi tín dụng như phí thanh toán, phí bảo hiểm, phí dịch vụ ủy thác… trước những diễn biến bất ổn của nền kinh tế khi đang có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại và hoạt động cho vay đang khó khăn khi các tiêu chuẩn cho vay ngày càng được nâng cao. Theo DeYoung và Rice (2004) thì TNNL đã chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng thu nhập của ngành ngân hàng từ năm 2000. Cũng theo Maudos (2017), trong giai đoạn từ 2002 – 2007 thu nhập ngoài lãi chiếm hơn 34,1% trong tổng thu nhập của ngành ngân hàng ở Châu Âu và giai đoạn 2008 – 2012 thì nguồn thu ngoài lài này ở mức 32,4%. Các nguồn thu ngoài lãi có những ưu thế hơn so với thu nhập từ lãi vay đó chính là các nguồn TNNL thường không bị hạn chế bởi các quy định pháp lý, và không bị ảnh hưởng bởi chu kỳ của nền kinh tề và thị trường tài chính (Morris và Regehr, 2014). Vấn đề đa dạng hóa nguồn thu cũng đã được Thủ tướng Chính phủ nêu ra theo Quyết định số 254/QĐTTg ngày 01/3/2012 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011- 2015”. Ngày 08/8/2018, Thủ tướng cũng đã ký Quyết định số 986/QĐTTg về phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến 2025, định hướng năm 2030”, trong đó có nêu rõ cần phải tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của của các NHTM lên khoảng 12 – 13% đến cuối năm 2020 và đến cuối năm 2025 thì tỷ trọng này tăng lên thành 16 – 17%.
Tính đến năm 2022 thì theo số liệu được thống kê từ 28 báo cáo tài chính của các NHTM cho thấy nguồn TNNL của các ngân hàng có sự phân hóa khá rõ ràng, khi có có nhiều ngân hàng gia tăng mạnh tỷ trọng của nguồn thu này trong tổng doanh thu và ngược lại, có nhiều ngân hàng sụt giảm đáng kể. Tổng TNNL của 28 ngân hàng đạt 125.052 tỷ đồng, tăng 11,4% so với năm 2021 do nhờ vào lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối và các hoạt động kinh doanh khác tăng đáng kể. Tuy nhiên, so với năm 2021 thì tỷ lệ của TNNL trong tổng doanh thu lại giảm hơn 1,7%. Đối với tình trạng diễn biến phức tạp của nền kinh tế trong nước và nước ngoài hiện nay trước nguy cơ xảy ra suy thoái, cũng như tăng trưởng kinh tế có dấu hiệu chậm lại, nhiều ngân hàng đã phải giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận nguồn vốn vay để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh để đóng góp chung vào tăng trưởng GDP của cả nước. Trong tháng 6 năm 2024 khi Thông tư số 02/2023/TT-NHNN quy định về các tổ chức tín dụng, chi nhánh các ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn hết hiệu lực thì các nhóm nợ đang được giữ nguyên hoặc cơ cấu sẽ về lại đúng nhóm nợ, nguy cơ xuất hiện thêm nhiều nợ xấu và các ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng để xử lý các khoản nợ xấu này, tỷ lệ nợ xấu tăng lên và chi phí trích lập tăng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngành ngân hàng. Vì vậy, có thể thấy nguồn TNNL là nguồn thu an toàn, bền vững và ít rủi ro. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL trong bối cảnh hiện nay có thể giúp các ngân hàng có thêm những định hướng cụ thể hơn để từng bước chuyển dịch cơ cấu thu nhập.
Hiện nay, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM thì đa phần đều chia thành hai nhóm nội tại và vì mô. Trong đó, các nhân tố nội tại như quy mô của ngân hàng, tổng tài sản, suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), quy mô tín dụng… tại nghiên cứu của Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013); Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018), Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016), De Young và Rice (2004), Shahimi và cộng sự (2016). Nhóm vĩ mô bao gồm như tăng trưởng GDP và lạm phát như các nghiên cứu của De Young và Rice (2004), Trần Huy Hoàng và Nguyễn Hữu Huân (2016), Hakimi và cộng sự (2012). Tuy nhiên, các kết luận vẫn có sự không tương đồng nhau. Mặt khác, các nghiên cứu chưa tập trung vào cấu trúc sở hữu Nhà nước đối với các NHTM hay sự sử dụng tổng thể nguồn lực của ngân hàng vào hoạt động cho vay và các chỉ số đa dạng hóa thu nhập. Đây có thể xem là các khoảng trống nghiên cứu cần được luận văn này xem xét và phân tích.
Xuất phát từ những thực tiễn tại các NHTM Việt Nam và tình hình chung của các nghiên cứu hiện nay thì tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ. Từ kết quả nghiên cứu này đề xuất cho các lãnh đạo của NHTM Việt Nam nhằm gia tăng TNNL trong tương lai.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của luận văn
Luận văn này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để luận văn đề xuất các hàm ý chính sách cho các NHTM nhằm gia tăng TNNL trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể của luận văn
Các mục tiêu cụ thể được chi tiết hóa từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát như sau:
- Một là luận văn cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
- Hai là luận văn phải đo lường được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
- Ba là luận văn cần đề xuất các hàm ý chính sách cho các NHTM nhằm gia tăng TNNL trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Các câu hỏi tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:
- Một là luận văn cần xác định các nhân tố nào ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam cần được phân tích ?
- Hai là luận văn cần xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL của các NHTM Việt Nam như thế nào ?
- Ba là các hàm ý chính sách nào được luận văn đề xuất cho các NHTM nhằm gia tăng TNNL trong tương lai ?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: Luận văn sử dụng phạm vi tại 24 NHTM Việt Nam trên tổng số 31 NHTM. Các ngân hàng được chọn chiếm hơn 75% thị phần hay tổng tài sản của hệ thống, nên đủ tính đại diện và phản ánh được tương đối về kết quả của hệ thống ngân hàng.
Về mặt thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp của các ngân hàng trong giai đoạn 2011 – 2023. Trong giai đoạn này thì từ năm 2011 – 2015 là khoảng thời gian NHNN tiến hành các quy định để tái cấu trúc NHTM nhằm hạn chế nợ xấu và rủi ro tín dụng. Ngoài ra, từ cuối năm 2019 – 2021 là sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 và sau đó là những ảnh hưởng xấu của hậu đại dịch đến nền kinh tế nói chung cũng như ngành ngân hàng nói riêng.
1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Luận văn sẽ tiến hành thực hiện hai phương pháp nghiên cứu chính đó là định tính và định lượng. Trong đó, phương pháp định tính được thực hiện thông qua tổng hợp các lý thuyết liên quan đến TNNL và các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM. Tiếp đó, tổng hợp một cách tóm tắt các công trình nghiên cứu liên quan để nhận định các khoảng trống, từ đó tạo cơ sở lý luận nhằm xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu áp dụng với hoàn cảnh TNNL của các NHTM Việt Nam.
Phương pháp định lượng là phương pháp chính nhằm xác định kết quả của nghiên cứu. Phương pháp này được thực hiện thông qua việc xử liệu liệu thứ cấp trong giai đoạn 2011 – 2023 của các ngân hàng Việt Nam và thiết kế dạng bảng. Với dữ liệu bảng thì luận văn sẽ đánh giá giá trị trung bình của TNNL tại 24 NHTM Việt Nam tại mỗi năm từ 2011 – 2024. Sau đó, thống kê mô tả các biến số với các giá trị điển hình như trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất và với độ lệch chuẩn đánh giá sự khác biệt với các giá trị. Ngoài ra, phân tích tương quan với các biến độc lập nhằm đánh giá ban đầu đa cộng tuyến có nghiêm trọng hay không ? Sau đó, hồi quy đa biến các biến số thông qua ba mô hình cơ bản là Pooled OLS, FEM, REM. Thực hiện kiểm định F – test, Breuch Pagan, Hausman nhằm lựa chọn mô hình phù hợp nhất trong ba dạng trên. Với mô hình phù hợp nhất kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan. Nếu có sự xuất hiện các hiện tượng trên thì khắc phục theo phương pháp FGLS, đồng thời sử dụng kết quả này để kiểm định giả thuyết nghiên cứu và so sánh với các nghiên cứu trước để thảo luận. Cuối cùng, dựa trên tham số ước lượng để xem xét mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp, xác định sự quan trọng của các biến số nhằm đề xuất các hàm ý quản trị liên quan cho các NHTM Việt Nam để gia tăng TNNL.
1.6. Đóng góp của nghiên cứu
Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn dựa trên các khe hở nghiên cứu được tổng hợp đưa ra mô hình lẫn giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM Việt Nam. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này có thể là cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu khác với cùng mối quan tâm liên quan đến chủ đề tại các NHTM.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận văn này cung cấp kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM Việt Nam. Đồng thời, xem xét về sự ảnh hưởng khi xuất hiện của đại dịch Covid 19 đến TNNL của các NHTM Việt Nam. Từ đó, có những cơ sở để đề xuất các hàm ý quản trị mang tính khả thi cho lãnh đạo ngân hàng nhằm nâng cao TNNL trong tương lai.
1.7. Cấu trúc luận văn
Để có thể hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn sẽ có cấu trúc 5 chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo nghiên cứu
- Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về TNNL tại các NHTM Việt Nam, tình hình về các nghiên cứu liên quan. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO NGHIÊN CỨU
2.1. Thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại
Nguyễn Văn Tiến (2015) đã chỉ ra rằng thu nhập tại các NHTM bao gồm từ nguồn lãi và ngoài lãi. Trong đó thu nhập từ lãi chủ yếu đến từ lãi tiền gửi gửi vào các ngân hàng hay TCTD khác, lãi từ hoạt động cho vay, hay việc năm giữ các chứng khoán nợ, bảo lãnh hay mua bán các khoản nợ. Theo Stiroh (2004b) thì thu nhập ngoài lãi thì chủ yếu phát sinh từ các nghiệp vụ thanh toán ngoại hối, thu phí dịch vụ, đầu tư chứng khoản, góp vốn,…. Smith và cộng sự (2003) cũng cho thấy rằng việc đa dạng hóa nguồn thu cũng giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro tập chung vào cho vay.
Lepetit và cộng sự (2008) cho rằng các hoạt động đem lại thu nhập ngoài lãi được xem là các hoạt động nhằm thay đổi và hạn chế sự ảnh hưởng lớn của các HĐKD truyền thống của ngân hàng, đặc biệt là tín dụng. Các hoạt động này là sự nỗ lực của ngân hàng trong việc cung cấp thêm các dịch vụ hay sản phẩm nhằm thu được nhiều nguồn thu nhập hơn.
Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) thì “thu nhập từ các hoạt động ngoài tín dụng là các khoản thu nhập của các ngân hàng thương mại được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ đó. Khoản thu nhập này được gọi là thu nhập ngoài lãi cho vay hay thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng. Thu nhập từ hoạt động ngoài tín dụng là các khoản thu nhập từ hoạt động dịch vụ gồm kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động dịch vụ khác sau khi trừ đi các khoản chi phí tương ứng cho các khoản thu này”.
Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2021) thì TNNL là nguồn thu nhập đến từ các hoạt động không chịu bất cứ ảnh hưởng nào của lãi suất và bao gồm các hoạt động như thu phí dịch vụ, đầu tư chứng khoán, hoạt động ngoại hối và các hoạt động trên thị trường phái sinh.
Tóm lại, tại luận văn này thì TNNL của các NHTM bao gồm các nguồn thu khác, ngoài các khoản lãi thu được từ hoạt động cho vay. Điều này bao gồm thu phí dịch vụ, phí giao dịch, lợi nhuận từ giao dịch chứng khoán, doanh thu từ dịch vụ thanh toán và các khoản thu nhập khác. Các khoản thu này không phụ thuộc vào lãi suất và có thể đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập của NHTM.
2.1.2. Cách thức đo lường thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
2.1.2.1. Dựa trên số tuyệt đối
Theo Lee và cộng sự (2014) thì TNNL với phương pháp số tuyệt đối là sự kết hợp của các HĐKD của ngân hàng liên quan đến dịch vụ, ngoại hối/vàng, mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư.
Thu nhập ngoài lãi tại NHTM = Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ + Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng + Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư.
Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ: Đây là lợi nhuận hoặc tổn thất thuần từ việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng như phí dịch vụ, phí giao dịch, phí thẻ và các khoản thu khác liên quan đến hoạt động dịch vụ.
Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng: Đây là lợi nhuận hoặc tổn thất thuần từ các hoạt động giao dịch ngoại hối và vàng, bao gồm cả việc mua bán và giao dịch các loại tiền tệ và vàng.
Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh: Đây là lợi nhuận hoặc tổn thất thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán với mục đích kinh doanh ngắn hạn, bao gồm cả việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác trên thị trường chứng khoán.
Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư: Đây là lợi nhuận hoặc tổn thất thuần từ việc mua bán chứng khoán với mục đích đầu tư dài hạn, bao gồm cả việc nắm giữ và bán các tài sản chứng khoán nhằm tối đa hóa sinh lợi từ các khoản đầu tư này.
2.1.2.2. Dựa trên số tương đối
DeYoung và Rice (2004) ước tính tỷ lệ TNNL bằng cách lấy tổng TNNL chia cho tổng tài sản. Theo Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013) thì cách tính này có ưu điểm là có thể vận dụng vào suy đoán xu hướng phát triển cũng như tương quan vai trò, vị thế của TNNL trong tổng thu nhập của ngân hàng so với thu nhập truyền thống. Cách tính này có ý nghĩa rằng đối với một đồng tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng TNNL, hay nói cách khác với phương pháp này sẽ thể hiện được việc các NHTM sử dụng tổng thể nguồn lực của mình để tạo ra TNNL.
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi (%) = Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
2.1.3. Vai trò của thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại
DeYoung và Rice (2004) cho rẳng TNNL đóng vai trò quan trọng trong NHTM. Các hoạt động đem lại TNNL một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng. Mặc dù thu nhập từ lãi suất từ hoạt động cho vay vẫn quan trọng, thu nhập không liên quan đến lãi suất mang lại sự đa dạng và ổn định cho dòng thu nhập tổng thể của NHTM. Tại, NHTM thì TNNL bao gồm các nguồn thu khác nhau như phí dịch vụ, hoa hồng, doanh thu giao dịch và các khoản phí liên quan đến dịch vụ. Khi các NHTM gia tăng nguồn thu từ hoạt động phi lãi suất thì có thể giảm sự phụ thuộc vào biến động lãi suất và nâng cao lợi nhuận. Ngoài ra, TNNL giúp các NHTM giảm sự ảnh hưởng từ việc thay đổi lãi suất. Khi lãi suất thấp, các NHTM có thể gặp khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận từ lãi suất hay mức lợi nhuận giảm. Tuy nhiên, TNNL không phụ thuộc vào lãi suất nên giúp giảm thiểu rủi ro này khi nguồn thu từ các nguồn dịch vụ phi lãi suất. Điều này cho phép các NHTM duy trì mức lợi nhuận ổn định ngay cả trong môi trường lãi suất giảm đáng kể.
Hơn nữa, TNNL cho phép ngân hàng đa dạng hoá nguồn thu nhập ngoài các hoạt động cho vay truyền thống. Thông qua các dịch vụ tính phí như quản lý tài sản, tư vấn đầu tư, bảo hiểm và dịch vụ thanh toán thì NHTM có thể khai thác thêm các nguồn thu nhập khác. Sự đa dạng này không chỉ giúp NHTM thích nghi với sự thay đổi của thị trường mà còn giúp họ đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của khách hàng. Với việc mở rộng các dịch vụ thì các NHTM có thể thu hút được đối tượng khách hàng rộng hơn và xây dựng quan hệ lâu dài với họ, từ đó thúc đẩy tăng trưởng doanh thu.
2.2. Các lý thuyết liên quan đến thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
2.2.1. Lý thuyết quyền lực thị trường
Lý thuyết quyền lực thị trường (Market Power – MP) cho rằng sự tăng trưởng thị phần của một doanh nghiệp là biểu hiện của quyền lực thị trường. Doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cao hơn nhờ vào sức mạnh của quyền lực thị trường. Lý thuyết MP có hai hướng tiếp cận chính đó là lý thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (Structure – Conduct – Performance hay còn gọi là SCP) và lý thuyết quyền lực thị trường tương đối (Relative Market Power hay còn gọi là RMP).
Theo hướng tiếp cận SCP, lý thuyết cho rằng cấu trúc thị trường sẽ quyết định hành vi của doanh nghiệp và hành vi này sẽ định đoạt kết quả của doanh nghiệp trên thị trường, bao gồm khả năng sinh lợi, cải tiến kỹ thuật và tăng trưởng (Olweny và Shipho, 2011). Điều này có nghĩa là các NHTM sẽ có những khoản lợi nhuận ngoài kế hoạch khi hạ lãi suất tiền gửi, tăng lãi suất cho vay (Tregenna, 2009).
Trái với hướng tiếp cận của SCP thì tiếp cận theo quyền lực thị trường tương đối (RMP) lại cho rằng lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi thị phần. Theo hướng này thì các ngân hàng khi tạo được sự khác biệt từ các loại sản phẩm thì việc tiếp cận và khai thác thị trường thuận lợi hơn, tìm kiếm thu nhập cao hơn các đối thủ cạnh tranh (Athanasoglou và cộng sự, 2008). Do đó, các NHTM lớn với thương hiệu và chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt mới có thể tăng giá và đạt khả năng sinh lời tốt hơn.
2.2.2. Lý thuyết về đa dạng hóa thu nhập Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Theo Markowitz (1952) thì đa dạng hóa đầu tư có thể coi là một chiến lược đầu tư mà các nhà đầu tư tham gia vào nhiều ngành và lĩnh vực khác khi ngành và lĩnh vực mà nhà đầu tư đang tập trung vào bị suy yếu nhằm mục đích giảm rủi ro mà không phải hy sinh lợi nhuận. Đa dạng hóa thu nhập cũng làm cho chi phí hoạt động của các ngân hàng tăng lên vì cần phải đầu tư thêm nguồn lực để thực hiện, tuy nhiên thu nhập ngoài lãi trong cơ cấu thu nhập cũng tăng theo. Theo Asif và Akhter (2019) thì việc các NHTM tập trung vào các hoạt động ngoài lãi như gia tăng tỷ lệ thu nhập từ phí, tỷ lệ thu nhập từ hoa hồng và tỷ lệ thu nhập từ các hoạt động khác sẽ giúp ngân hàng không dồn mọi nguồn lực vào hoạt động truyền thống đầy rủi ro như hoạt động tín dụng, từ đó giúp giảm thiểu rủi ro cũng như gia tăng nguồn thu nhập cho ngân hàng. Bằng việc đa dạng hóa HĐKD trong hoạt động NHTM sẽ tạo ra được hai nguồn thu nhập chính đó là thu nhập từ lãi và thu nhập phi lãi. Như vậy, có thể hiểu rằng đa dạng hóa thu nhập là hoạt động giúp các NHTM gia tăng thu nhập và tối ưu lợi nhuận một cách đáng kể và an toàn khi so sánh với các hoạt động truyền thống. Đa dạng hóa thu nhập có thể tối thiểu được các rủi ro trong việc cấp tín dụng, và không cần phải trích lập dự phòng nợ xấu và dần trở thành nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động phi lãi của ngân hàng có thể đến từ phí dịch vụ tiền gửi, ngân hàng điện tử, chuyển tiền liên ngân hàng, ví điện tử, thẻ tín dụng, tài trợ thương mại. Việc đa dạng hóa hoạt động không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn thu mà còn giúp các ngân hàng phát triển, đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của khách hàng khi giao dịch với ngân hàng.
Xét tại khía cạnh HĐKD tại các NHTM khi áp dụng lý thuyết danh mục đầu tư thì Atemnkeng và Nzongang (2006) cho rằng một danh mục đầu tư có sự đa dạng hóa với các loại tài sản mà ngân hàng sở hữu, thì lúc này lợi tức và rủi ro của ngân hàng cũng sẽ tăng lên. Điều này có nghĩa là đa dạng hóa danh mục đầu tư hay chính là việc mà các ngân hàng đa dạng các hoạt động kinh doanh của mình, nó thuộc thẩm quyền quyết định của ban giám đốc. Ngoài ra, khả năng thu được lợi nhuận sẽ tăng thêm, nhưng phụ thuộc vào loại tài sản và nợ phải trả, các loại chi phí mà ngân hàng phải chịu tương ứng với từng loại tài sản nắm giữ. Khi xét đến khía cạnh HĐKD của các NHTM thì đa dạng hóa danh mục đầu tư hay đa dạng hóa các nguồn thu nhập chính là việc mà các ngân hàng muốn chia nhỏ rủi ro và tăng hiệu quả trong HĐKD của mình. Hay nói cách khác, mỗi sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp được xem là một khoản đầu tư với thu nhập độc lập không có tương quan nhau khi rủi ro xảy ra. Do đó, hoạt động đa dạng hóa sẽ ảnh hưởng đến thu nhập tổng thể của ngân hàng, đồng thời điều chỉnh mức rủi ro tổng thể của tổ chức. Mặt khác, việc đa dạng hóa các khoản thu nhập cũng xuất phát từ các rủi ro của các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa như rủi ro tín dụng, phá sản hay thanh khoản.
Bên cạnh đó, Chiorazzo và cộng sự (2008) cũng cho rằng đa dạng thu nhập cũng giúp NHTM giảm thiểu rủi ro và ảnh hưởng của các biến động kinh tế. Khi hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ngân hàng có thể hưởng lợi từ sự đồng bộ và phân tán rủi ro. Nếu một lĩnh vực kinh doanh gặp khó khăn, nguồn thu nhập từ các lĩnh vực khác có thể giúp đỡ ngân hàng vượt qua thời kỳ khó khăn và duy trì hoạt động ổn định. Thêm vào đó, đa dạng thu nhập cũng mang lại lợi ích cho khách hàng. Việc cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính cho phép ngân hàng đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể tận dụng các dịch vụ tài chính phù hợp với mục tiêu và điều kiện cá nhân, từ vay vốn, đầu tư, đến thanh toán và quản lý tài sản. Điều này mang lại sự linh hoạt và tiện lợi cho khách hàng, đồng thời tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng.
2.2.3. Lý thuyết kinh tế theo quy mô Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô của Panzar và Willig (1977) khi có nhiều loại hàng hóa, sản phẩm dịch vụ được sản xuất nhiều hơn tại tổ chức thì chi phí trung bình trên mỗi loại sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng sẽ giảm xuống dựa trên tổng thể. Hay nói cách khác, khi các đơn vị kinh doanh thực hiện việc đa dạng hóa hay mở rộng các lĩnh vực ngành ngề kinh danh thì các nguồn lực đang có sẽ được chuyển đổi, tận dụng và hạn chế được sự lãng phí (Markides và Williamson, 1994). Nếu nhiều lĩnh vực kinh doanh cùng được thực hiện dựa trên nguồn lực sẵn có thì tổng chi phí sẽ có thể được hạn chế từ đó làm cho lợi nhuận tăng lên hay tính hiệu quả sử dụng nguồn lực tạo ra thu nhập cũng được đánh giá tốt hơn. Với khía cạnh là một đơn vị kinh doanh cũng kết hợp các nhân tố đầu vào để tạo ra đầu ra là các sản phẩm dịch vụ tài chính, thì các NHTM khi đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh hay mở rộng các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, nhưng vẫn sử dụng các nguồn lực sẵn có như nhân lực, công nghệ, cơ sở vật chất hay hệ thống thông tin,… thì sẽ giúp cho họ tiết kiệm rất nhiều về mặt chi phí, hiệu quả HĐKD cũng tăng lên. Hay nói một cách khác, khi đa dạng hóa trong lĩnh vực liên quan đến tài chính thì các kỹ năng liên quan như quản lý được tận dụng sẵn, rủi ro kiểm soát tốt hơn.
Nhưng tại một khía cạnh khác, thì đa dạng hóa hoạt động của ngân hàng lại không làm tăng lợi nhuận nhưng lại có thể làm giảm, Klein và Saidenberg (2000) cho rằng khi các NHTM tiến hành hoạt động đa dạng hóa sẽ làm cho các lĩnh vực chuyên môn vốn là thế mạnh của ngân hàng sẽ bị pha loãng về khả năng quản trị cũng như phạm vi hoạt động. Mặt khác, khi đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh thì NHTM cũng sẽ gia tăng các loại chi phí đại diện ví dụ như thuê thêm chuyên gia, bổ sung nhân lực để quản lý hay vận hành những mảng mới chưa có kinh nghiệm (Deng và Elyasiani, 2008). Ngoài ra, quy mô đa dạng hóa của ngân hàng càng lớn thì rủi ro cũng sẽ tăng theo, do lúc này các ngân hàng sẽ tiến hành các mảng tự doanh hay các hạng mục đầu tư mạo hiểm như bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán,… từ đó làm cho rủi ro hệ thống của tăng lên theo. Mặc dù các thu nhập ngoài lãi như dịch vụ gửi tiền, ủy thác,… thì không làm tăng rủi ro.
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại ngân hàng thương mại
Nguyễn Văn Tiến (2015) cho rằng HĐKD của NHTM là cầu nối giữa các đối tượng trong nền kinh tế. Do đó, các ngân hàng cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ các nhân tố bên trong lẫn bên ngoài khi HĐKD. Vì vậy, TNNL của các NHTM cũng không là ngoại lệ và nó cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhóm nhân tố nội tại lẫn vĩ mô nền kinh tế.
2.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc bên trong ngân hàng
2.3.1.1. Quy mô ngân hàng Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
DeYoung và Rice (2004) cho rằng quy mô của các ngân hàng thường được phản ảnh ánh thông qua tài sản hay nó là tổng thể nguồn lực của ngân hàng. Do đó nó thường được xem là tấm đệm tài chính vững chắc để các ngân hàng các ngân hàng có quy mô lớn khi HĐKD trong môi trường có sự cạnh tranh cao thì tỷ lệ lãi ròng biên thường thấp hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ. Vì vậy, các NHTM có xu hướng mở rộng các HĐKD phi truyền thống để tận dụng các nguồn lực sẵn có của mình để kiếm thêm thu nhập (DeYoung và Rice, 2004).
Tuy nhiên, Chiorazzo và cộng sự (2008) lại cho rằng các NHTM có quy mô lớn tăng thì TNNL lại có xu hướng giảm. Vì khi muốn gia tăng quy mô thì các NHTM lại muốn tập trung vào các hoạt động truyền thống nhằm tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn để tạo điều kiện mở rộng thị phần, tăng tài sản nên các hoạt động đa dạng thu nhập sẽ bị thu hẹp dần.
2.3.1.2. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
DeYoung và Rice (2004) cho rằng VCSH có thể được coi là nguồn vốn sẵn có và dài hạn giúp NHTM cải thiện được nguồn thu ngoài lãi. Ngân hàng có thể sử dụng VCSH để mở rộng danh mục dịch vụ tài chính và gia tăng TNNL từ các dịch vụ mới. Ví dụ, ngân hàng có thể mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, quản lý tài sản, tư vấn tài chính, hoặc các dịch vụ ngân hàng đầu tư. Ngân hàng có thể sử dụng VCSH để đầu tư vào các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư, hoặc sản phẩm tài chính phức tạp khác. Mặt khác, VCSH giúp cho các ngân hàng tự chủ tài chính tốt hơn, do đó việc mở rộng quy mô HĐKD của NHTM như mở thêm chi nhánh, tăng cường hệ thống phân phối, mở rộng dịch vụ tài chính cho các lĩnh vực mới. Điều này có thể tạo ra cơ hội để các ngân hàng đa dạng được HĐKD ngoài các lĩnh vực truyền thống mà còn vươn xa với các loại hình phi truyền thống hiện đại (Shahimi và cộng sự, 2006).
2.3.1.3. Tỷ suất sinh lời
Craigwell và Maxwell (2006) cho rằng tỷ suất sinh lời là một trong những khía cạnh đánh giá kết quả kinh doanh cũng như năng lực quản lý của lãnh đạo ngân hàng trong việc tận dụng các nguồn lực để tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Hay nói cách khác, tỷ suất sinh lời chỉ ra được khả năng quản trị cốt lõi để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, DeYoung và Rice (2004) cho rằng TNNL là một trong những khía cạnh phản ánh một phần lợi nhuận của ngân hàng, do đó khi tỷ suất sinh lời tăng thêm thì cũng chứng minh được một phần TNNL của ngân hàng đang có xu hướng tăng theo, ngoài những hoạt động truyền thống đem lại lợi nhuận thuần túy cho ngân hàng. Mặt khác, các tỷ suất sinh lời hay được phản ánh như ROA, ROE cũng phản ánh được các nguồn lực như công nghệ, đội ngũ nhân viên, VCSH,… được ngân hàng tận dụng triệt để nhằm đem lại lãi từ hoạt động tuyền thống lẫn phi truyền thống hay đó là TNNL.
2.3.1.4. Tỷ lệ tiền gửi huy động Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Hakimi và cộng sự (2012) cho rằng nguồn vốn huy động tiền gửi được xem là cơ sở quan trọng các NHTM nhằm thực hiện chức năng trung gian dài chính, trong đó tập trung việc phân phối nguồn vốn này vào cho vay và đầu tư. Khi tổng tiền gửi tăng, ngân hàng có nguồn vốn dồi dào để sử dụng cho việc cho vay và đầu tư, tạo ra cơ hội tăng thu nhập từ lãi suất và khoản phí thu được từ các khoản vay. Nhưng Deng và Elyasiani (2008) cũng đã chỉ ra theo lý thuyết kinh tế theo quy mô thì với lượng vốn dồi dào và chi phí rẻ này thì cũng tạo cơ hội cho các NHTM phát triển cung cấp các loại dịch vụ phi truyền thống khác, hay nói cách khác tận triệt để nhằm sinh ra thu nhập cho ngân hàng (Damankah và cộng sự, 2014).
2.3.1.5. Tăng trưởng tín dụng
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì hoạt động cấp tín dụng là cơ sở thực hiện chức năng trung gian tài chính của các NHTM, hay nói cách khác cho vay được xem là hoạt động mang lại lợi nhuận cao nhất cho các NHTM. Do đó, các NHTM thường có chiến lược tăng trưởng dư nợ cho vay năm sau nhiều hơn năm trước đó để có thể tạo ra thêm thu nhập. Vì theo lý thuyết cấu trúc hiệu quả thì để tăng hiệu quả HĐKD cần gia tăng lợi nhuận. Chính vì vậy, nếu các NHTM theo đuổi việc tập trung toàn bộ nguồn lực của mình nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ tín dụng hay các sản phẩm truyền thống khác thì các hoạt động liên quan để có TNNL sẽ không được chú trọng nhiều (Hahm, 2008; Lepetit và cộng sự, 2008a).
2.3.1.6. Rủi ro tín dụng
Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng đi đôi với tăng trưởng tín dụng tại các NHTM là rủi ro tiềm ẩn. Khi các khoản cho vay được tăng trưởng với tốc độ nhanh và các quy định được nới lỏng thì RRTD sẽ xuất hiện. Mặt khác, khi rủi ro tín dụng xuất hiện và tăng lên thì thu nhập từ hoạt động tín dụng sẽ suy giảm do không thu được nợ hay phải trích lập dự phòng RRTD nhằm xử lý nợ xấu. Vào thời điểm này thì buộc các NHTM phải tiến hành các hoạt động đa dạng hóa để tận dụng các nguồn thu từ dịch vụ, đầu tư, bán lẻ,… nhằm bù đắp các thiệt hại của rủi ro tín dụng. Hay nói cách khác TNNL từ đó sẽ được gia tăng khi NHTM gặp RRTD tăng cao (Chortareas và cộng sự, 2012).
2.3.2. Nhóm các nhân tố thuộc vĩ mô nền kinh tế Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
2.3.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến khả năng tiêu thụ hàng hóa cao (Naceur và Goaied, 2008). Ngoài ra, Hahm (2008) cho rằng các nền kinh tế mới nổi nhanh với tốc độ GDP cao có khả năng cho thấy TNNL thấp hơn so với các nền kinh tế chuyển động chậm. Điều này chứng tỏ rằng các ngân hàng có khả năng mở rộng theo hướng TNNL khi tăng trưởng kinh tế chậm lại. Tuy nhiên với một khía cạnh nhận xét khác thì khi nền kinh tế phát triển cùng với các yếu tố như lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái,… ổn định sẽ tạo cơ hội tốt cho các NHTM mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư tiền gởi và các kênh đầu tư, từ đó dẫn tới gia tăng nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ góp phần gia tăng TNNL của các NHTM (Chortareas và cộng sự, 2012; Hahm, 2008; Hakimi và cộng sự, 2012).
2.3.2.2. Lạm phát
Lạm phát có ảnh hưởng đến TNNL, bởi vì lạm phát làm biến đổi giá tương đối và phân bổ sai các nguồn lực. Fischer (1993) cho rằng lạm phát làm sai lệch trong việc phân phối các nguồn tài nguyên do những thay đổi bất lợi đối với giá cả tương quan. Khi nền kinh tế xảy ra lạm phát, giá của các hàng hóa thay đổi khác nhau dẫn tới giá tương đối của chúng cũng thay đổi, các quyết định của người tiêu dùng bị biến dạng và thị trường mất khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả. Khi lạm phát tăng cao, NHNN phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các NHTM (Nguyễn Minh Sáng và Ngô Nữ Diệu Khuê, 2015). Sự không ổn định của giá cả đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư và dân chúng, gây khó khăn cho sự lựa chọn các quyết định của khách hàng cũng như các thể chế tài chính – tín dụng trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ. Sự khó khăn này cũng kéo theo nguồn thu từ các dịch vụ đem lại TNNL của các NHTM cũng giảm. Do đó có thể thấy lạm phát có ảnh hưởng đến TNNL (Atellu, 2016; DeYoung và Rice, 2004).
2.4. Lược khảo các nghiên cứu liên quan Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Tại Kenya, khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại ngân hàng, thì Atellu (2016) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp từ năm 2003 – 2012. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM, GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, hiệu quả quản lý ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng sự phát triển của ATM, tăng trưởng GDP, lạm phát lại ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL của các NHTM.
Tại Trung Quốc, khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đa dạng hóa thu nhập của các ngân hàng, thì Meng và cộng sự (2018) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 88 NHTM từ năm 2003 – 2010. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro phá sản, tỷ lệ VCSH, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động ảnh hưởng cùng chiều đến hoạt động đa dạng hóa thu nhập hay TNNL của các NHTM. Nhưng cấu trúc sở hữu lại ảnh hưởng ngược chiều.
Tại Nepal, khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại ngân hàng, thì Nepali và Niroula (2020) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 15 NHTM từ năm 2009 – 2018. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, tăng trưởng tiền gửi, sở hữu nước ngoài ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các ngân hàng.
Tại Pakistan, khi nghiên cứu về hoạt động đa dạng thu nhập gia tăng TNNL tại các ngân hàng, thì Ashraf và cộng sự (2023) đã sử dụng dữ liệu của 22 NHTM từ năm 2007 – 2018. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS để kết luận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ cho vay trên tài sản, chất lượng quản lý, cấu trúc sở hữu, đa dạng hóa thu nhập, lãi suất ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng quy mô ngân hàng, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ lãi ngoài, tăng trưởng kinh tế GDP lại ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL của các NHTM.
Tại Indonesia, khi nghiên cứu về TNNL và hoạt động trung gian tài chính của các NHTM, thì Atmawidjaya và Nuryakin (2023) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 291 ngân hàng từ 1990 – 2019 tại các quốc gia thuộc khối Asean. Đồng thời, nhóm tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, tỷ suất sinh lời ROA, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ dự phòng RRTD, chuyển đổi số, khủng hoảng kinh tế năm 2008 ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tăng trưởng kinh tế, khủng hoảng kinh tế năm 1998 lại ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL tại các NHTM.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Vũ Xuân Dũng và Đoàn Việt Hùng (2018) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các ngân hàng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 27 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005 – 2016. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến FEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tiền gửi, rủi ro tín dụng, tỷ lệ thanh khoản, hệ số an toàn vốn ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL tại các NHTM Việt Nam.
Nguyễn Ngọc Thạch và cộng sự (2020) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các ngân hàng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 27 NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 – 2017. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Bayes để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ dự phòng RRTD, tỷ lệ chi phí hoạt động, hoạt động kế toán, sự ổn định chính trị, chất lượng quy định ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL của các NHTM Việt Nam.
Nguyễn Thế Bính và Nguyễn Dương Gia Trân (2022) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các ngân hàng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2020. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, SGMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng, ROA, rủi ro vỡ nợ, tỷ lệ chi phí hoạt động ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, lạm phát ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL.
Lữ Hữu Chí và Nguyễn Văn Thích (2023) khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của vốn trí tuệ đến TNNL tại các ngân hàng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến GMM để kết luận. Kết quả nghiên cứu hiệu quả cấu trúc vốn, quy mô ngân hàng, tỷ lệ lợi nhuận trước thuế, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng hiệu quả nhân lực, tăng trưởng GDP ảnh hưởng ngược chiều đến TNNL.
Khúc Thế Anh và cộng sự (2023) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các ngân hàng, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính của 27 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 – 2022. Đồng thời, nhóm tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Pooled OLS, FEM để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ suất sinh lời ROE, hệ số an toàn vốn, Covid 19 ảnh hưởng cùng chiều đến TNNL. Nhưng tỷ lệ cho vay trên tài sản, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng ngược chiều TNNL.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
Sau khi tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến TNNL tại các NHTM và các nhân tố ảnh hưởng đến nó, thì tác giả nhận thấy các công trình vẫn tập trung nghiên cứu với hai phạm vi là bên trong và bên ngoài các NHTM. Tuy nhiên, với các bối cảnh nghiên cứu khác nhau, các quốc gia khác nhau cũng như thể chế chính trị hay đặc điểm kinh tế khác biệt nên kết quả ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL vẫn tồn tại sự khác nhau. Ngoài ra, các khoảng trống nghiên cứu lớn tập trung vào hai điểm sau:
Thứ nhất, Ashraf và cộng sự (2023) và Meng và cộng sự (2018) đã có lập luận về cấu trúc sở hữu Nhà nước đến TNNL tại các NHTM của Trung Quốc, Pakistan. Tuy nhiên, kết quả lập luận thì lại khác nhau nhưng với các nghiên cứu tại Việt Nam thì vẫn chưa được đề cập. Trong khi, tại Việt Nam có nhóm 4 NHTM là Agribank, VCB, Vietinbank, BIDV với vốn Nhà nước sở hữu trên 51%, do đó các chiến lược kinh doanh và định hình với hoạt động đa dạng hóa loại hình hay sản phẩm kinh doanh cũng sẽ có phần khác biệt với các NHTM còn lại. Vì vậy, cấu trúc sở hữu được xem là một khía cạnh quan trọng ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM cần được xem xét với bối cảnh Việt Nam.
Thứ hai, Ashraf và cộng sự (2023) cho rằng chỉ số đa dạng háo thu nhập (HHI) rất quan trọng trong việc đánh giá sự gia tăng của TNNL. Hay chỉ số này cho thấy việc tập trung đa dạng hóa của các NHTM. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm vẫn chưa đề cập nhiều đến khía cạnh này, tạo ra khoảng trống nghiên cứu cần được xem xét và phân tích với bối cảnh các NHTM Việt Nam hiện nay.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 đã tiến hành trình bày tổng quát về các lý thuyết nền tảng liên quan đến TNNL và các chỉ tiêu đo lường nó tại các NHTM, các lý thuyết liên quan đa dạng hóa và TNNL tại NHTM. Sau đó, tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến sự ảnh hưởng của các nhân tố đến TNNL tại NHTM nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu để tạo cơ sở đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu trong chương tiếp theo. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến thu nhập ngoài lãi tại các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

