Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phân tích cơ sở hình thành chiến lược Marketing đối với dịch vụ điều dưỡng tận nhà của bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Hoà Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BVĐK tỉnh Hòa Bình
- Tên Bệnh viện: Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Hòa Bình
- Địa chỉ: tổ 27, Phường Đồng Tiến, TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
- Đơn vị chủ quản: Sở Y tế Tỉnh Hòa Bình
Đặc điểm của Bệnh viện:
Bệnh viện được thành lập năm 1959 với tên gọi là “Bệnh viện đa khoa khu vực Hòa Bình”. Trải qua hơn 30 năm phát triển, đến năm 1991, Bệnh viện được đổi tên thành “Bệnh viện tỉnh Hòa Bình”. Với những nỗ lực hết mình của đội ngũ cán bộ y tế đơn vị, BV đã có nhiều đóng góp đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà đảng và chính phủ đã giao phó. Năm 2020, để phản ánh đúng chức năng nhiệm vụ của mình, Bệnh viện được đổi tên là “Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình” như hiện nay. Dựa trên bề dầy truyền thống ấy, BV đã có nhiều thay đổi để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người bệnh. Với đường lối lãnh đạo nhất quán và sự đoàn kết của toàn thể cán bộ y tế trong BV, từ ngày 11/01/2025, bệnh viện được xếp hạng là BVĐK Hạng I của tỉnh Hòa Bình có nhiệm vụ KCB cho đồng bào và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình với tổng số giường bệnh: 520 giường, là cơ sở thực hành của Trường Trung học Y tế Hòa Bình và Trường Đại học Y-Dược Thái Nguyên.
BV có các dự án hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia như LIEF-GAP, nha khoa học đường. Ngoài ra bệnh viện còn được Bộ Y tế, Sở Y tế giao nhiệm vụ thực hiện đề án 1816 tại 11 bệnh viện đa khoa huyện, thành phố. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.1.2 Tổ chức bộ máy và biên chế
Tổng số cán bộ viên chức trong biên chế được giao là 728 người, có mặt đến ngày 31/12/2024 là 612 người, trong đó lao động biên chế là 405 người, lao động hợp đồng với bệnh viện là 207 người.
Bảng 2.1. Trình độ cán bộ viên chức trong bệnh viện
| STT | Trình độ | Số lượng CB |
| 1 | Bác sĩ chuyên khoa cấp I | 29 |
| 2 | Bác sĩ chuyên khoa cấp II | 03 |
| 3 | Thạc sỹ | 10 |
| 4 | Bác sỹ | 70 |
| 5 | Dược sỹ đại học | 03 |
| 6 | Điều dưỡng đại học | 08 |
| 7 | Điều dưỡng cao đẳng | 14 |
| 8 | Điều dưỡng trung học | 284 |
| 9 | Đại học khác | 19 |
| 10 | Y sỹ | 36 |
| 11 | Nữ hộ sinh | 27 |
| 12 | Dược sĩ trung học | 24 |
| 13 | Kỹ thuật viên y cao đẳng | 06 |
| 14 | Kỹ thuật viên Y | 14 |
| 15 | Kỹ thuật viên Y cụ | 03 |
| 16 | Cao đẳng khác | 09 |
| 17 | Bằng cấp khác | 36 |
| 18 | Trung học khác | 17 |
(Nguồn: Phòng Tổ chức cán bộ – BVĐK tỉnh Hòa Bình, 2025)
Hiện tại bệnh viện có 04 cán bộ đang tham gia nghiên cứu sinh bảo vệ luận án Tiến sỹ, 04 cán bộ đang học chuyên khoa II, 14 cán bộ đang học chuyên khoa I; 08 cán bộ đang theo học Thạc sỹ; 53 cán bộ đang học Đại Học, 02 cán bộ đang theo học cao đẳng
- Bộ máy tổ chức
Bộ máy tổ chức gồm Ban giám đốc và 32 khoa, phòng:
Ban giám đốc gồm 04 người:
- 01 Giám đốc – Thạc sĩ Y tế công cộng – Bác sỹ chuyên khoa I chuyên ngành Ngoại
- 01 phó giám đốc thường trực – Bác sỹ chuyên khoa II chuyên ngành ngoại
- 01 Phó giám đốc – Bác sỹ chuyên khoa I, chuyên ngành gây mê hồi sức
- 01 Phó giám đốc – thạc sỹ chuyên ngành Hồi sức cấp cứu
Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức của bệnh viện
Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hòa Bình được quản lý và vận hành theo sơ đồ sau:
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.1.3.1 Khám và điều trị bệnh
- Tiếp nhận mọi trường hợp người bệnh thuộc phạm vi chuyên khoa của Bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú.
- Giải quyết các bệnh thuộc chuyên khoa bằng các phương tiện hiện có.
- Tham gia khám giám định sức khỏe và giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu.
2.1.3.2 Đào tạo cán bộ y tế cho các BV tuyến huyện, thành phố trong tỉnh
- Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở cấp đại học và trung học, đồng thời có trách nhiệm tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc đại học và trung học.
- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong Bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên khoa.
2.1.3.3 Nghiên cứu khoa học
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học về các chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
- Nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng thuộc các lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
2.1.3.4 Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật
- Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo tuyến dưới phát triển kĩ thuật chuyên môn để nâng cao chất lượng cấp cứu – chẩn đoán và điều trị chuyên môn trong địa phương.
- Kết hợp với các cơ sở y tế tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khỏe ban đầu.
2.1.3.5 Hợp tác Quốc tế
BV đã có mối quan hệ hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ngoài nước theo qui định của nhà nước, đặc biệt là tổ chức Jica, UNFA, Hội cựu chiến binh Mỹ… Nhờ có các mối quan hệ tốt đẹp với các tổ chức hoạt động nhân đạo này mà BVĐK tỉnh Hòa Bình là một trong những BV tuyến tỉnh hiếm hoi được tổ chức Jica – Nhật Bản tài trợ không hoàn lại giúp xây dựng khu nhà kỹ thuật cao với đầy đủ trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác khám chữa bệnh, ngoài ra BV còn được Hội cựu chiến binh Mỹ tài trợ xây nhà xưởng sản xuất chân tay giả và rất nhiều công cụ hỗ trợ cho các đối tượng là người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.
2.1.3.6 Quản lý kinh tế bệnh viện
- Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp
- Thực hiện nghiêm chỉnh các qui định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện. Từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
- Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác.
Bảng 2.2 Bảng kết quả hoạt động của BV giai đoạn 2022-2024
Đơn vị tính : triệu đồng Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
| STT | Chỉ tiêu | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 | Tổng cộng |
| 1 | Tổng thu (1= 2 + 3) | 66.025 | 81.077 | 109.907 | 257.009 |
| 2 | Ngân sách nhà nước cấp | 11.005 | 11.622 | 21.300 | 43.927 |
| 3 | Thu viện phí, dịch vụ KCB | 55.020 | 69.455 | 88.607 | 213.082 |
| 4 | Tổng chi | 64.789 | 80.181 | 109.505 | 254.475 |
| 5 | Chi cho con người | 8.592 | 12.379 | 18.862 | 39.833 |
| 6 | Chi cho hoạt động chuyên môn | 55.581 | 67.493 | 90.419 | 213.493 |
| 7 | Nộp ngân sách nhà nước | 616 | 309 | 224 | 1.149 |
| 8 | Chênh lệch thu chi (8 = 1 – 4) | 1.235 | 896 | 402 | 2.533 |
| 9 | Tổng số CB BV | 497 | 550 | 612 | |
| 10 | Số lượt BN điều trị tại BV | 29.179 | 25.236 | 27.225 |
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán – BV ĐK Tỉnh Hòa Bình, 2025)
Bảng số liệu trên cho thấy cơ cấu thu của bệnh viện gồm hai phần: một phần do ngân sách nhà nước cấp, một phần do thu từ viện phí và các phí dịch vụ khám chữa bệnh. Trong ba năm (từ 2022 đến 2024), tổng thu từ viện phí, dịch vụ KCB đạt hơn 213 tỷ đồng, chiếm 82,9% tổng thu của toàn bệnh viện; nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp có tăng nhưng không đáng kể với tổng số tiền là hơn 43 tỷ đồng, chiếm hơn 17% tổng thu của toàn bệnh viện. Nguyên nhân là do bệnh viện có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thực hiện tốt quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập theo Nghị định số 43/2019/NĐ-CP ngày 25/04/2019 của Chính phủ. Bệnh viện đã quản lý tốt các hoạt động dịch vụ của mình nhằm tăng nguồn thu, giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn thu cấp từ ngân sách nhà nước, từ đó tự chủ hơn trong việc vận hành và phát triển của đơn vị.
Bảng số liệu trên cho thấy tình hình thu của bệnh viện trong giai đoạn từ năm 2022 đến 2024 rất tốt, liên tục có sự tăng trưởng không ngừng với tốc độ trung bình là 27%/năm. Năm 2024, tổng thu của bệnh viện có tốc độ tăng cao nhất đạt hơn 109 tỷ đồng, cao hơn 40% so với năm 2022, cao hơn 26,23% so với năm 2023. Nguyên nhân là do Bệnh viện đã triển khai các hợp đồng về khám chữa bệnh chuyên sâu theo mô hình dịch vụ, thành lập thêm: đơn nguyên thận nhân tạo, khoa Nội thần kinh cơ xương khớp, khu Chẩn đoán hình ảnh, phòng khám tư vấn hen, đái tháo đường, phòng khám và điều trị ngoại trú, phòng dịch vụ theo yêu cầu ngay tại khu vực khám bệnh ban đầu…; Thực hiện các dịch vụ kỹ thuật cao theo yêu cầu; Tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ: Nhà thuốc bệnh viện, Nhà ăn, Khám chữa bệnh theo yêu cầu, dịch vụ mổ không đau…phục vụ cho bệnh nhân khi có nhu cầu và tạo nguồn thu cho bệnh viện, tăng thêm một phần thu nhập cho cán bộ nhân viên.
Bảng số liệu cũng cho thấy tổng chi mỗi năm của bệnh viện cũng liên tục tăng với tốc độ trung bình là 23%/năm, cao nhất là năm 2024 với tổng chi lên đến hơn 109 tỷ đồng, nhiều hơn gần 40,8% so với năm 2022 và hơn 26% so với năm 2023. Nguyên nhân là do giá cả thị trường thuốc, vật tư y tế, điện, nước… liên tục tăng hàng năm, Bệnh viện thực hiện việc trả lương cho cán bộ theo lộ trình tăng lương hàng năm do Nhà nước quy định, BV đã đầu tư mua sắm nhiều máy móc thiết bị y tế hiện đại, chi trả tiền lương tăng thêm và chi cho hoạt động chuyên môn từ nguồn thu viện phí và dịch vụ khám chữa bệnh của mình năm sau cao hơn năm trước, do yêu cầu chuyên môn số cán bộ của Bệnh viện cũng tăng hơn các năm trước, năm 2024 số cán bộ đã tăng 23% so với năm 2022, mặc dù số lượt điều trị tại BV năm 2024 chỉ tăng hơn so với năm 2023 và thậm chí giảm 6,7% so với năm 2024. Kết quả là chênh lệch thu chi của Bệnh viện liên tục giảm trong ba năm. Năm 2022, chênh lệch thu chi của bệnh viện đạt hơn 1 tỷ đồng, cao nhất trong ba năm từ 2022 đến 2024. Năm 2023, chênh lệch thu chi của bệnh viện đạt hơn 0,8 tỷ đồng, thấp hơn gần 27,45% so với năm 2022. Năm 2024, chênh lệch thu chi của bệnh viện đạt hơn 0,4 tỷ đồng, thấp hơn so với năm 2022 và năm 2023 lần lượt là 67,45% và 55,13%.
Bảng 2.2 cũng cho ta thấy số kinh phí chi cho con người hàng năm tăng không đáng kể, chỉ chiếm trung bình 15,5% tổng thu của BV, năm 2024 tăng so với năm 2022 là 45,6%; trong khi tổng chi cho hoạt động chuyên môn luôn chiếm trung bình 83% tổng thu của BV, năm 2024 tăng so với năm 2022 là 61,5%. Nguyên nhân là do nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện, luôn phải ưu tiên cho hoạt động chuyên môn hàng đầu, vì vậy tăng chi cho con người luôn là niềm mong ước không chỉ của Ban giám đốc BV mà còn là của toàn thể cán bộ BV.
2.2 Phân tích môi trường marketing của BVĐK tỉnh Hòa Bình Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.2.1. Môi trường bên ngoài
- Phân tích môi trường vĩ mô Môi trường chính trị, pháp luật
Giống như các pháp nhân hoạt động kinh doanh khác, các quyết định Marketing dịch vụ của BVĐK Tỉnh Hòa Bình thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố pháp luật như các điều khoản pháp luật, các chính sách được nhà nước, chính phủ và chính quyền địa phương ban hành. Hệ thống pháp luật của một quốc gia bao gồm: Hiến pháp, luật dân sự, luật công ty, luật thương mại, luật thuế thu nhập tổ chức, luật thuế giá trị gia tăng, luật đầu tư nước ngoài, luật đất đai, các nghị định, thông tư…Các quy định về quảng cáo, bảo vệ bản quyền, hay các quy định về loại dịch vụ được cung cấp và không được cung cấp, các vấn đề về đảm bảo chất lượng dịch vụ và vệ sinh an toàn. Các chính sách nhà nước liên quan đến Bệnh viện bao gồm các chính sách đặc thù về từng lĩnh vực như: Luật khám chữa bệnh, luật dược, Luật đấu thầu, Luật BHYT, Nghị định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức và quản lý tài chính, chính sách thuế quan, tài trợ trong bệnh viện, quota xuất nhập khẩu thiết bị và máy móc y tế và khuyến khích hợp tác đầu tư trong và ngoài nước trong lĩnh vực y tế… Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động Marketing dịch vụ của bệnh viện, chúng điều chỉnh hoạt động của bệnh viện theo khuôn khổ cho phép của pháp luật.
- Môi trường kinh tế
Thu nhập bình quân đầu người của dân cư trong tỉnh hiện tại là 15,3 triệu đồng/tháng, chỉ bằng 52% so với trung bình toàn quốc, tốc độ tăng trưởng bình quân GDP từ năm 2018-2024 đạt khoảng 12%. Theo kết quả điều tra đói nghèo theo chuẩn mới của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, năm 2024, tỉnh Hòa Bình có 60.206 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 13,88% dân số tỉnh. Nguyên nhân chủ yếu là các hộ gia đình thiếu vốn sản xuất (có 70,6% số hộ nghèo), thiếu kinh nghiệm sản xuất (có 41,37% số hộ nghèo), thiếu đất sản xuất (có 9,46% số hộ nghèo), ngoài ra còn các nguyên nhân khác như đông người ăn theo, thiếu lao động, có người ốm đau tàn tật…. Các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 của tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao là 34,88% tổng số hộ, trong khi đó các xã khu vực I tỷ lệ hộ nghèo chỉ là 11,76%. Thu nhập bình quân của các tầng lớp dân cư thành thị gấp 6 lần so với nông thôn, có sự chênh lệch giữa vùng núi cao và vùng núi thấp. Đây là những đặc điểm hết sức quan trọng về kinh tế vùng. Hiểu rõ và nắm bắt được đặc điểm này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách Marketing của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình có những bước đi đúng đắn thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Môi trường văn hóa xã hội Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Nghiên cứu yếu tố văn hóa và xã hội của tỉnh Hòa Bình cho thấy: Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó người Việt (Kinh) không chiếm đa số, đồng thời được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác. Theo số liệu thống kê tháng 7/2022, tỉnh Hòa Bình có 832.543 dân, gồm 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là dân tộc Mường chiếm 63,3%; dân tộc Việt (Kinh) chiếm 27,73%; dân tộc Thái chiếm 3,9%; dân tộc Dao chiếm 1,7%; dân tộc Tày chiếm 2,7%; dân tộc Mông chiếm 0,52%; ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh và một số người thuộc các dân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miền núi khác. Mỗi dân tộc ở đây đều có những giá trị văn hóa cốt lõi khác nhau, chúng được hình thành từ lâu đời và được gìn giữ đến ngày nay. Một số giá trị văn hóa đã có sự giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên những nét đặc trưng trong đời sống văn hóa xã hội của người dân trên địa bàn, chẳng hạn Người Mường xét về phương diện văn hóa – xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất. Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác. Người Thái sống gần với người Mường lâu đời và đã bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang phục), nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa độc đáo. Người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa gần giống với người Thái, đặc biệt là ngôn ngữ. Tuy nhiên, xét theo khía cạnh trang phục thì người Tày ở Đà Bắc giống người Thái Trắng thuộc các huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La. Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim Bôi, Cao Phong, Kỳ Sơn và TP Hòa Bình. Người H’mông sống tập trung ở xã Hang Kia và Pà Cò của huyện Mai Châu. Một số đồng bào người dân tộc sống ở vùng sâu vùng xa của tỉnh đến nay vẫn còn rất lạc hậu, giữ một số tập tục như khi ốm đau thì cúng bái hoặc dùng thuốc dân gian, sinh con thì đến bà lang vườn, kiêng cữ khắt khe, gây rất nhiều khó khăn trong việc khuyến khích họ tiếp cận các dịch vụ y tế hiện đại. Bởi vậy, nhiệm vụ của các nhà Marketing của Bệnh viện đa khoa Tỉnh Hòa Bình là phải nghiên cứu, thấu hiểu các giá trị văn hóa của người dân trên địa bàn để có những chiến lược Marketing phù hợp với văn hóa và lối sống của họ và xây dựng kế hoạch phù hợp cho hoạt động Marketing của mình.
- Môi trường công nghệ:
Hiện nay công nghệ phục vụ cho ngành y tế nói chung và công tác khám chữa bệnh nói riêng rất hiện đại, với các phương thức khám chữa bệnh có sự hỗ trợ của máy móc hiện đại giúp các bác sỹ có thể chẩn đoán bệnh dễ dàng hơn, nhanh hơn và chính xác hơn nhiều, góp phần rất lớn trong việc cứu chữa và chăm sóc người bệnh. Nhiều ca bệnh khó trước kia y học phải đầu hàng thì ngày nay với sự hỗ trợ của máy móc và công nghệ, đã đẩy lui được bệnh tật và lấy lại sự sống cho nhiều người bệnh. Với các loại máy móc hiện đại như siêu âm, chụp X.quang, Citi scanner, MRI…ngoài việc giúp cho các cán bộ y tế phục vụ tốt hơn trong công tác khám chữa bệnh, còn đòi hỏi chính các cán bộ y tế ngày càng phải học hỏi nhiều hơn, không ngừng nâng cao tay nghề, cập nhật kiến thức khoa học mới vào công tác chuyên môn của mình. Khi các y bác sỹ sử dụng được thành thạo, triệt để công nghệ để áp dụng vào công việc của mình, người bệnh sẽ cảm thấy an tâm chữa bệnh hơn và tin tưởng vào các bác sỹ hơn.
- Môi trường tự nhiên Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, nằm ở tọa độ 200°19′-210°08′ vĩ độ Bắc, 104°48′ – 105°40′ kinh độ đông, tiếp giáp với phía Tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi trung bình, chia cắt phức tạp, độ dốc lớn và theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía Tây Bắc có độ cao trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20 – 250, độ cao trung bình từ 100 – 200 m. Phía Bắc giáp với các tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp với các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông giáp với thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp với Sơn La, Thanh Hóa, thủ phủ là thành phố Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 73km, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 44,8% diện tích toàn vùng, chiếm 1,41% tổng diện tích tự nhiên của cả nước.
Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C. Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27 – 29°C, ngược lại tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5 – 16,5°C.
Với những đặc điểm trên, môi trường tự nhiên của Tỉnh Hòa Bình ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người dân ở những khu miền núi hẻo lánh, đường giao thông chưa được đầu tư đồng bộ, nhiều xã vùng sâu, vùng xa vẫn chưa có đường giao thông, đi lại khó khăn, người dân còn phải đi bộ hoặc các phương tiện giao thông thô sơ, gây nhiều hạn chế cho công tác Marketing các dịch vụ y tế của bệnh viện. Người dân sống ở giáp ranh các tỉnh đồng bằng lân cận như Hà Nam, Ninh Bình, đặc biệt là Hà Nội thường đến thẳng BV của các tỉnh này để điều trị, một phần do yếu tố địa lý, một phần cũng là do các tỉnh đồng bằng này công nghệ của họ phát triển hơn tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên Hòa Bình cũng tiếp đón được BN ở các huyện giáp ranh từ các tỉnh như Sơn La, Phú Thọ.
2.2.1.2 Môi trường ngành
- Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/2/2018 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 30/6//2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam đến năm 2023 và tầm nhìn đến năm 2020, chủ trương phát triển của Nhà nước theo hướng tăng cường xã hội hóa công tác y tế, trong đó y tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, từng bước đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, hướng tới sự công bằng và hiệu quả trong cung cấp và sử dụng các dịch vụ y tế.
Vì vậy, với xu hướng xã hội hóa y tế, có rất nhiều các phòng khám chuyên khoa, đa khoa tư nhân được mở ở địa bàn xung quanh Bệnh viện, họ sẽ là các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn mạnh mẽ với BV cũng như các BV công lập khác vì họ hoàn toàn tự chủ về tài chính, tổ chức, biên chế, BN đến khám không phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính như các BV công lập, họ sẽ mời được các bác sỹ, điều dưỡng giỏi tham gia vào công tác khám và điều trị bệnh nhân, máy móc của họ mua đi bán lại dễ dàng, không phải chờ đợi các thủ tục hành chính, kịp thời cập nhật những thành tựu mới của y học hiện đại, vì vậy sẽ thu hút được một lượng lớn bệnh nhân đến với mình. Các cơ sở khám bệnh này cùng với các cơ sở y tế công lập khác như BV đa khoa thành phố, Trung tâm phòng chống Bệnh xã hội, BV Đa Khoa Huyện Lạc Thủy, BV ĐK Huyện Mai Châu… ngày càng được đầu tư nhiều máy móc cũng như con người đều có khả năng cung cấp một số dịch vụ điều dưỡng tận nhà một cách chuyên nghiệp với nhiều tiện ích đáp ứng nhu cầu hiện tại của người dân.
- Sức mạnh khách hàng (bệnh nhân) Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Đây là một nhân tố quyết định sự thành công của mỗi BV, con người không ai muốn mình bị bệnh để phải đến BV, trừ các bà mẹ đến sinh em bé, vì vậy để người bệnh hài lòng mỗi khi điều trị tại BV luôn là tôn chỉ hành động của các BV. Hiện nay BVĐK tỉnh Hòa Bình là BV tuyến đầu trong chăm sóc, điều trị của tỉnh nên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải; đôi lúc, đôi chỗ BN vẫn bị tiếp đón với thái độ không niềm nở, chăm sóc không chu đáo, vẫn còn thư phản ánh của người bệnh về thái độ, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế. Những người bệnh có điều kiện kinh tế vẫn luôn sẵn sàng tự lên tuyến trên điều trị. Vì vậy thành lập bộ phận chăm sóc điều dưỡng tận nhà để giảm tải cho BV, tạo cơ hội việc làm cho cán bộ mới, tạo sự thoải mái cho người bệnh là điều cần làm của BVĐK tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay.
- Sức mạnh nhà cung cấp
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhà cung cấp đầu vào cho các BV ngày nay vô cùng phong phú, từ các công ty đa quốc gia, các nhà sản xuất trong và ngoài nước luôn coi các BV là những khách hàng tiềm năng của họ, là sự sống còn của họ. Họ sẵn sàng vừa là nhà cung cấp hàng hóa và đi kèm các dịch vụ như đào tạo, chăm sóc sau bán hàng, BV hầu như không phải chịu sức ép về việc thiếu thuốc, hóa chất, vật tư y tế phục vụ cho người bệnh. Thậm chí, hiện nay các BV mặc dù không có tiền mua các thiết bị hiện đại nhưng vẫn có thể có để dùng vì thực hiện theo Nghị định 43/2019 của Chính phủ, Bộ luật dân sự số 33/2019 của Quốc hội, các nhà cung cấp có thể áp dụng hình thức liên doanh, liên kết hoặc cho thuê tài sản để các Bệnh viện có đầy đủ máy móc cần thiết phục vụ người bệnh. Tuy nhiên trong xu hướng liên tục biến động về tài chính, thị trường giá cả vật tư y tế, thuốc, hóa chất, chi phí đi lại cũng bị tác động rất lớn khiến chi phí dịch vụ và các vật tư y tế cung cấp tăng lên, đôi khi gây khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch vụ của BV.
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình được quyết định nâng hạng lên hạng I từ ngày 11/1/2025 là một vinh dự nhưng cũng là một thách thức đối với Ban giám đốc BV, mọi nguồn nhân lực cũng như vật lực đều đã phải được đầu tư đồng bộ, bài bản để đáp ứng được tiêu chuẩn của một Bệnh viện hạng I. Đối thủ cạnh tranh trực tiếp của BV giờ đây hầu như không phải là các BV tuyến huyện, thành phố trong tỉnh nữa, mà là các BV tuyến trung ương cùng hạng, họ đều là những BV có bề dầy lịch sử trong công tác chuyên môn cũng như trong quản lý, họ thường xuyên tiếp xúc với đủ các loại bệnh, nhiều ca khó vì vậy kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị của các BV tuyến trung ương luôn được BN tin tưởng, giao phó tính mệnh. Nhiệm vụ của BVĐK tỉnh Hòa Bình là làm thế nào để giữ được BN ở lại với BV, không vượt tuyến lên các BV TW, bởi lợi thế của BV là một BV đa khoa với đủ các chuyên ngành, các BS của các chuyên khoa sâu có thể hỗ trợ lẫn nhau, hội chẩn dễ dàng với nhau trước những ca bệnh khó, thêm vào đó máy móc, thiết bị của BV đều mới được đầu tư nên còn rất mới và hiện đại, thậm chí nhiều máy móc, thiết bị còn mới và hiện đại hơn máy móc của một số BV TW. Ngày nay người dân đã có thêm nhiều sự lựa chọn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Các cơ sở y tế thay vì ban phát cho BN như việc họ vẫn làm thời bao cấp, họ chủ động tìm đến BN, tìm hiểu các nhu cầu của BN và tìm cách đáp ứng. Cạnh tranh cũng là động lực để cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao hiệu quả điều trị, giảm giá thành và bớt phiền hà trong thủ tục hành chính. BV cũng đã thường xuyên quảng bá những tiến bộ lớn và những thay đổi về thủ tục hành chính của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương và địa phương, đặc biệt là các tiến bộ về chuyên môn. Từ đó định hướng sự lự chọn cho người dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận trong việc chọn tuyến điều trị.
- Sản phẩm thay thế
Hiện nay trên địa bàn tỉnh, còn có một số Bệnh viện, Trung tâm như Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản bà mẹ và trẻ em, Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội…Bệnh viện nội tiết, Bệnh viện y học cổ truyền; đây mặc dù chỉ là các Trung tâm, BV hạng III, chưa được đầu tư nhiều về con người và thiết bị nhưng dù sao họ cũng là những cơ sở chuyên khoa, số bệnh nhân đến với họ không quá nhiều nên không phải chờ đợi lâu, nên đôi khi, với những bệnh nhân không đòi hỏi nhu cầu cao, sự lựa chọn của người họ là đến những cơ sở chuyên khoa nhỏ này để khám chữa bệnh. Vì vậy BVĐK tỉnh Hòa Bình cần cho khách hàng thầy sức mạnh của một BV đa khoa tuyến đầu trong việc điều trị, chăm sóc người bệnh, đa khoa nhưng do các chuyên khoa làm nên sức mạnh.
2.2.2 Phân tích môi trường nội bộ (bên trong) Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.2.2.1 Tài chính
Nguồn lực tài chính của BV bao gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho chi thường xuyên.
- Nguồn thu sự nghiệp được để lại chi tại đơn vị (Nguồn thu viện phí và BHYT).
- Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ.
- Các nguồn thu hợp pháp khác.
Theo NĐ 43/2019-CP, các BV công lập được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và tài chính, BV đã có nhiều thuận lợi trong việc điều hành, quản lý của mình. Tuy nhiên do kinh phí được giao cho một đầu giường bệnh là quá thấp, năm 2020 đến năm 2023 là 22 triệu/đầu giường bệnh, thấp nhất trong khu vực, VD: Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai được đầu tư 45 triệu/đầu giường bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn được đầu tư 43 triệu/đầu giường bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La được đầu tư 33 triệu/đầu giường bệnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình được đầu tư 70 triệu/đầu giường bệnh…Từ năm 2024 đến nay các BV trên đều đã được đầu tư 70 triệu/đầu giường bệnh, thì Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình mới được đầu tư 40 triệu/đầu giường bệnh, hiện nay BVĐK tỉnh Hòa Bình là tỉnh được ngân sách đầu tư theo đầu giường bệnh thấp nhất toàn quốc. Đây là một trăn trở rất lớn và thường trực đối với các nhà quản lý của BV, bởi số tiền đầu tư cho giường bệnh tăng đã không đáng kể, nhưng cũng chỉ đủ chi trả mức lương tối thiểu cho cán bộ cán bộ vì lương tối thiểu của CB tăng hàng năm, kéo theo các khoản phụ cấp cũng tăng theo, các khoản chi khác đều trong tình trạng “lấy ngắn nuôi dài”. Trong một hội nghị của ngành y về việc tổng kết công tác thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế và tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập cuối năm 2024, đồng chí Giám đốc BV đã phải phát biểu rằng: “chúng tôi đang phải tự ăn thịt mình”. Vì vậy đồng chí Giám đốc luôn khuyến khích CB BV tìm ra các phương pháp cải tiến kỹ thuật, gia tăng các dịch vụ nhằm tăng thu, giảm chi, tiết kiệm vật tư, điện nước…để có thể tăng thu nhập cho nhân viên BV.
2.2.2.2 Nguồn lực Về con người
Năm 2025, trở thành BV hạng nhất, BV ĐK Tỉnh Hòa Bình được xây dựng với 33 khoa phòng và 612 cán bộ, trình độ chuyên môn so với năm 2022 và 2023 ngày càng được nâng cao.
Bảng 2.3. Đánh giá sự phát triển trình độ cán bộ BV
| TT | Trình độ cán bộ (CB) | Năm 2022 (497 CB) | Năm 2023 ( 548 CB) | Năm 2024 (612 CB) | |||
| Số người | Tỷ lệ (%) | Số người | Tỷ lệ (%) | Số người | Tỷ lệ (%) | ||
| 1 | Đại học và sau đại học | 100 | 20,1 | 115 | 21 | 142 | 23,2 |
| 2 | Cao đẳng và trung cấp | 372 | 74,8 | 393 | 71,7 | 434 | 70,9 |
| 3 | Khác (Thợ điện, lái xe, hộ lý…) | 25 | 5 | 30 | 5,5 | 36 | 5,9 |
(Nguồn: Phòng tổ chức CB – BVĐK tỉnh Hòa Bình, 2025) Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Ban giám đốc BV luôn chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực, đây là công việc thường xuyên và liên tục, BV áp dụng rất nhiều hình thức đào tạo: gửi cán bộ ra nước ngoài, lên tuyến TW và các BV chuyên khoa đầu ngành học tập, hình thức này luôn chiếm 20% số CB trong BV. Đào tạo tại chỗ theo hình thức mời chuyên gia nước ngoài và trong nước đến giảng dạy, đào tạo theo hình thức cầm tay chỉ việc, hình thức này 100% cán bộ làm công tác chuyên môn y tế tại BV được đào tạo.
Bệnh viện có hệ thống tổ chức hoạt động khá chặt chẽ. Thêm vào đó, y đức của nhân viên y tế trong phục vụ bệnh nhân là vấn đề cót lõi nhất trong văn hóa làm việc tại Bệnh viện. Cách thức ứng xử với người bệnh, tác phong làm việc, đạo đức nghề nghiệp, quan hệ đồng nghiệp là các mặt văn hóa luôn được chú trọng tuyệt đối và cũng được xem là một tiêu chuẩn thi đua để xét thu nhập. Ngoài việc học tập và quán triệt quy chế bệnh viện như là một yếu tố bắt buộc với 100% cán bộ nhân viên, hàng năm, Bệnh viện luôn tổ chức rất nhiều các lớp học, nói chuyện, phổ biến tài liệu, tổ chức các cuộc thi, khen thưởng và kỷ luật, bình bầu lương hàng tháng, sổ góp ý của bệnh nhân…như là các biện pháp bổ sung để cập nhật và chấn chỉnh tinh thần, thái độ và ý thức làm việc của nhân viên. Tuy nhiên trong thực tế cũng không tránh khỏi việc một bộ phận nhân viên chưa thật sự chuyên nghiệp trong phục vụ người bệnh, chưa phát huy được sự sáng tạo và thói quen mạnh dạn có ý kiến, còn có nhân viên chưa ý thức được những vấn đề sống còn như tự đào tạo mình, tiết kiệm, văn minh giao tiếp… Công tác tổ chức cũng chưa thật sự được phát huy tối đa. Chưa có những chính sách thực sự thiết thực để bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ nhân viên hạn chế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển các kỹ thuật cao của Bệnh viện. Tinh thần thái độ phục vụ không tốt sẽ làm khách hàng không hài lòng, nhất là trong trường hợp này khách hàng lại là đối tượng đặc biệt, là bệnh nhân. Điều này sẽ cản trở bệnh viện xây dựng và phát triển dịch vụ điều dưỡng tận nhà một cách chuyên nghiệp và hoàn hảo.
- Về trang thiết bị
Do mới được đầu tư theo dự án xây dựng BV nên tính đến 31/12/2024 BV có gần 300 trang thiết bị y tế (xin xem tại phụ lục số 02 kèm theo) có giá trị cao, đảm bảo cho việc khám, chữa bệnh tại BV.
- Về hạ tầng cơ sở
Được sự quan tâm của Chính phủ và UBND tỉnh, năm 2024 BVĐK tỉnh Hòa Bình đã chính thức được khánh thành đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh cũng như các tỉnh lân cận, hiện BV có 3 tòa nhà 5 tầng , 4 tòa nhà 3 tầng, 4 dãy nhà 2 tầng và 1 tầng, 02 hội trường phục vụ giảng dạy, hội họp với quy mô tổng cộng 26.402m2. Trong đó khu nhà hành chính có diện tích 1.460m2, khu khám bệnh và điều trị ngoại trú có diện tích 2.737m2, khu điều trị nội trú với diện tích 14.447m2, khu nhà kỹ thuật có diện tích 5.403m2, khu hậu cần, phụ trợ có diện tích 2.355m2. Đây là một trong những điều kiện rất thuận lợi để CB và nhân dân yên tâm chữa bệnh tại BV.
Tuy nhiên thời gian qua, công tác Marketing, quảng bá thương hiệu, tạo sự thống nhất chung trong giới thiệu hình ảnh cũng chưa được quan tâm đầy đủ. BV chưa có trang web riêng để quảng bá thương hiệu. Phần lớn người bệnh biết đến BV qua người quen và qua sự quen thuộc lâu năm của BV. Bởi vậy đây cũng là một vấn đề BV cần quan tâm đúng mức trong thời gian tới. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.2.2.3 Hoạt động nghiên cứu và phát triển
Hoạt động nghiên cứu và phát triển của Bệnh viện luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Ban giám đốc BV cũng như các cán bộ BV, hàng năm các đề tài nghiên cứu khoa học của BV đều tăng cả về số lượng và chất lượng.
- Năm 2022: 7 đề tài
- Năm 2023: 10 đề tài
- Năm 2024: 17 đề tài
Năm 2025 BV chính thức đổi tên phòng Chỉ đạo tuyến của BV thành phòng Chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học, điều này chứng tỏ sự đầu tư một cách bài bản của Ban giám đốc BV, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cán bộ BV về lĩnh vực nghiên cứu và phát triển. Phòng có nhiệm vụ xem xét nhu cầu đào tạo hàng năm của BV và của ngành y tế Hòa Bình, từ đó đưa ra chương trình đào tạo hợp lý, phù hợp với sự phát triển chuyên môn của BV. Năm 2024, ngoài các CB đang theo học các chương trình đào tạo dài hạn ở các trường đại học, cao đẳng, đã có 13 điều dưỡng của BV được đào tạo ngắn hạn về các chuyên khoa sâu tại các BV Trung ương.
Bảng 2.4 Các chương trình đào tạo nâng cao tay nghề đội ngũ ĐD ở tuyến trên năm 2024
| STT | Nội dung đào tạo | Số ĐD được đào tạo |
| 1 | Chăm sóc BN hồi sức tích cực | 4 |
| 2 | Cấp cứu Nhi | 4 |
| 3 | Cấp cứu chấn thương | 1 |
| 4 | Chăm sóc BN ung thư | 1 |
| 5 | Kỹ thuật lọc máu cơ bản | 1 |
| 6 | Xét nghiệm hóa sinh | 1 |
| 7 | Huyết học, truyền máu | 1 |
(Nguồn: phòng Y tá điều dưỡng – BVĐK tỉnh Hòa Bình, 2102)
Bảng 2.5 Các chương trình đào tạo cho tuyến dưới năm 2024
- Hàng năm số CB đi học đại học và sau đại học ngày càng tăng
Bảng 2.6 Số lượng cán bộ được đào tạo từ đại học trở lên năm 2024
| STT | Nội dung | Năm 2022 | Năm 2023 | Năm 2024 |
| 1 | Tiến sỹ, BS CK II | 4 | 5 | 8 |
| 2 | Chuyên khoa I, thạc sỹ | 10 | 14 | 22 |
| 3 | Chuyên khoa sơ bộ | 5 | 7 | 10 |
| 4 | Đại học khác | 8 | 10 | 15 |
| 5 | ĐH điều dưỡng | 4 | 18 | 38 |
(Nguồn: phòng Chỉ đạo tuyến và nghiên cứu khoa học, 2025)
Đây sẽ là những yếu tố khẳng định sự phát triển không ngừng của BV cả về số lượng và chất lượng phục vụ của BV đa khoa tỉnh Hòa Bình. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.2.2.4. Sản xuất
Trong lĩnh vực sản xuất, sản phẩm của ngành y tế là những sản phẩm đặc biệt nhất, bởi nó liên quan đến tính mạng con người, nó phải được nghiên cứu kỹ càng và thấu đáo, trải qua nhiều khâu thử nghiệm, kiểm tra, kiểm soát thì mới được áp dụng, nó chính là các loại thuốc mới, là các phương pháp điều trị mới, các cách chẩn đoán mới giúp y học ngày càng điều trị được nhiều loại bệnh tật hơn.
Các BS của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cũng ngày phát triển vượt bậc về tay nghề, khi chưa có quyết định trở thành BV hạng I, chưa được xử lý những ca khó, nhưng vì tính mạng người bệnh tính bằng giây, bằng phút và nhờ vào kinh nghiệm cộng với các trang thiết bị hiện có, các BS đã thực hiện thành công được những ca khó như mổ sọ não, vết thương tim, vết thương lồng ngực, cắt khối tá tụy, chiết tách được các thành phẩm máu, chấn thương gãy xương phức tạp… Sắp tới, Bệnh viện đa khoa Tỉnh Hòa Bình sẽ thành lập trung tâm ung bướu với quy mô 130 giường. Khi đó, Bệnh viện sẽ là bệnh viện miền núi phía bắc đầu tiên thành lập trung tâm này giúp giảm tải cho các BV ung bướu tuyến trung ương luôn trọng tình trạng quá tải trầm trọng.
2.2.2.5. Hoạt động quản trị
Hiện nay, ban giám đốc BV gồm bốn thành viên gồm:
- 01 Giám đốc: là người quản lý điều hành chung công việc hằng ngày của bệnh viện; chịu sự trách nhiệm trước Sở Y tế tỉnh Hòa Bình và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
- 03 Phó giám đốc: là những người giúp việc cho giám đốc trong việc điều hành công việc hàng ngày của bệnh viện; chịu trách nhiệm trước giám đốc về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao. Các phó giám đốc cũng là người thay mặt giám đốc trong một số nhiệm vụ cụ thể, triển khai công việc đến các bộ phận có liên quan.
- Bộ phận thừa hành gồm: 07 phòng chức năng, 19 khoa lâm sàng và 7 khoa cận lâm sàng:
Phòng chức năng thực hiện các công việc hành chính, quản lý tài chính, chính sách, quản lý nhân sự, theo dõi giám sát, hỗ trợ các hoạt động hàng ngày của bệnh viện và các bộ phận có liên quan theo sự chỉ đạo giám sát của Ban giám đốc.
Bộ máy các phòng ban điều hành của BV gồm 7 trưởng phòng, 7 phó phòng giúp việc cho các trưởng phòng, các cán bộ này đều có trình độ từ đại học trở lên nên đã tham mưu cho Ban giám đốc BV một cách rất đắc lực trong công tác quản lý và công tác chuyên môn của BV.
2.3 Phân tích S.W.O.T của BV Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.3.1 Điểm mạnh (Strengths)
Là Bệnh viện đa khoa hạng I, tuyến đầu về điều trị của tỉnh, BV ĐK Tỉnh Hòa Bình có sự phát triển tương đối đồng đều giữa các bộ phận lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị, có thể cung cấp các gói dịch vụ điều dưỡng tận nhà một cách đa dạng (S1)
Là đơn vị đã thực hiện tự chủ về biên chế và tài chính từ năm 2020, do đó đã có những kinh nghiệm nhất định trong vấn đề quản lý kinh tế, ứng dụng tốt công tác xã hội hóa y tế và phát triển nguồn nhân lực. Hiện tại, hơn 23% nguồn nhân lực của Bệnh viện có trình độ đại học và trên đại học đáp ứng cầu chuyên môn, có kỷ luật, có tính tổ chức cao (S2)
Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, Bệnh viện đã xây dựng được một cơ sở vật chất đáp ứng được quy mô 520 giường bệnh, với khung cảnh xanh sạch và hoà hợp với môi trường xung quanh, sẵn sàng tiếp nhận bệnh nhân sử dụng dịch vụ điều dưỡng tận nhà và BN điều trị nội trú tại BV (S3)
Ban Giám đốc đoàn kết, năng động và thực sự có tinh thần đổi mới, dám làm, dám chịu trách nhiệm (S4)
Không chịu áp lực tạo ra lợi nhuận (S5)
Hệ thống thiết bị y tế đang dần được trang bị theo hướng đồng bộ, hiện đại, một số lĩnh vực có lợi thế vượt trội so với các bệnh viện trên cùng địa bàn, phục vụ tối đa nhu cầu của người bệnh (S6)
Bệnh viện luôn quan tâm tới việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, y đức phục vụ người bệnh của các cán bộ y tế; tính hòa đồng tập thể, tính kỷ luật, nghiêm túc, chủ động, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm cá nhân luôn được đề cao và được coi là không thể thiếu ở mỗi thành viên (S7)
Bệnh viện đã tạo dựng được một thương hiệu hết sức uy tín với người bệnh trên địa bàn và các vùng lân cận về chất lượng KCB (S8)
2.3.2 Điểm yếu (Weaknesses)
Địa điểm cung cấp dịch vụ: Bệnh viện chỉ có một địa điểm cung cấp dịch vụ duy nhất nên hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ cho các khách hàng ở những khu vực xa, khách hàng cũng bị hạn chế khi muốn tiếp cận dịch vụ điều dưỡng tận nhà của BV (W1)
Nhà nước khống chế giá thu viện phí, dẫn đến giá thu nhiều loại xét nghiệm và phẫu thuật bị lỗ so với chi phí BV đã phải bỏ ra, nhất là chi phí cho các ca cấp cứu và điều trị tích cực rất tốn kém vì vậy làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc giảm nguồn chi cho CB BV (W2)
Nguồn nhân lực: một số chuyên ngành thiếu cả về số lượng cũng như chất lượng. Còn một bộ phận cán bộ nhân viên chưa thay đổi tư duy làm việc, chưa thực sự coi bệnh nhân là trung tâm phục vụ, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc (W3)
Các chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ y tế cung cấp dịch vụ chưa đầy đủ và hoàn thiện; chưa khuyến khích được sự tham gia nhiệt tình của cán bộ y tế trong toàn BV (W4)
Năng lực tài chính: nguồn ngân sách cấp cho BV còn thấp hơn nhiều so với các BV khác trong khu vực, chỉ đủ trả cho cán bộ ở mức lương tối thiểu, các khoản chi khác khả năng tự chủ nguồn kinh phí chưa cao (W5)
2.3.3 Cơ hội (opportunitise) Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Con người ngày càng bận rộn với công việc nhưng lại có ít thời gian để chăm sóc bản thân và người thân của họ. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tận nhà là một trong những xu hướng đang được người dân quan tâm hàng đầu hiện nay. Do vậy khi xã hội càng phát triển, mức thu nhập của người dân càng tăng lên thì dịch vụ điều dưỡng tận nhà sẽ càng có nhiều thuận lợi để phát triển hơn so với các loại dịch vụ xã hội khác (O1)
Đội ngũ cán bộ BV ngày càng được trẻ hóa với lòng nhiệt tình học hỏi và hăng say với công việc, tuy nhiên do bậc lương của họ thấp nên nếu có cơ hội để vừa được làm việc nâng cao tay nghề, vừa nâng cao thu nhập họ sẽ rất ủng hộ việc phát triển các dịch vụ này (O2)
Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đến chính sách ưu đãi cho ngành y tế, công tác xã hội hóa y tế cũng phần nào giảm được khó khăn, gánh nặng về tài chính cho các BV (O3)
Các BV hầu như không bị ảnh hưởng nhiều bởi biến động kinh tế (O4)
Dân số ngày càng gia tăng, nhất là dân số thành thị, sẽ tạo điều kiện cho BV phát triển các loại hình dịch vụ y tế (O5)
2.3.4 Thách thức (Threats)
Suy thoái kinh tế thế giới và khu vực ảnh hưởng lớn đến đời sống tiêu dùng của người dân, do vậy việc phát triển các dịch vụ điều dưỡng tận nhà sẽ bị hạn chế (T1)
Dịch vụ y tế chưa đáp ứng được những đòi hỏi chuyên môn ngày càng cao (T2)
Khó khăn trong việc xử lý tai biến tận nhà khi các Bác sỹ, điều dưỡng không có đủ các thiết bị cấp cứu như ở BV (T3)
Ở thị trường các thành phố lớn, người dân chấp nhận tiêu dùng các dịch vụ điều dưỡng tận nhà dễ dàng hơn đối với ở tỉnh Hòa Bình do thói quen bao cấp, tiểu nông và cả thói quen tiêu dùng chặt chẽ nên các dịch vụ điều dưỡng tận nhà chi phí lớn ít được sử dụng. Với tình hình lạm phát hiện nay, BV cần tính toán rất kỹ trong việc thiết kế dịch vụ và giá dịch vụ sao cho đạt được các mục tiêu dịch vụ mà không cản trở việc tiếp cận dịch vụ của mọi người dân trong tình hình hiện nay (T4)
2.3.5 Đề xuất chiến lược cho BVĐK tỉnh Hòa Bình
Kết hợp các nhóm yếu tố SWOT bao gồm:
- Các chiến lược ST Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
S1+ S2+S3+S4+ S5+S6 + T1+T2+T3: Chiến lược tăng cường nội lực sẵn có để đáp ứng nhu cầu về sử dụng dịch vụ của khách hàng, tăng cường nâng cao tay nghề để xử lý các tai biến có thể gặp trong quá trình cung cấp dịch vụ một cách nhanh nhất, an toàn và chính xác.
S1+ S2+S3+S4+ S5+S6+S7+S8 + T1+T2+T3+T4: Cố gắng tối đa sự ủng hộ của Nhà nước trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân và gia tăng các dịch vụ BV.
- Các chiến lược SW
S1+S2+S3+S4+S5+S6+S7+S8+W1+W2+W3+W4+W5: Chiến lược mở rộng quy mô cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng cho khách hàng .
S5+S6+S7+W3+W4+W5: Chiến lược tăng cường công tác đào tạo tay nghề chuyên môn tại chỗ và đào tạo lại cho các cán bộ y tế, tăng cường tranh thủ công tác chỉ đạo tuyến từ tuyến TW.
- Các chiến lược WO
W2+W4+W5+O1+O2+O3+O4: Chiến lược phát triển dịch vụ “lấy ngắn nuôi dài”, kêu gọi sự ủng hộ tối đa của các tổ chức tài trợ trong và ngoài nước.
W1+W2+W3+W4+W5+O1+O2+O3+O4: Chiến lược phát triển đào tạo, nâng cao chất lượng chuyên môn, đúc rút kinh nghiệm trong công tác điều trị.
- Các chiến lược WT
W1+W2+W3+W4+W5+T1+T2+T3+T4: Chiến lược phát triển các dịch vụ có số thu lớn, nhu cầu khách hàng sử dụng cao; đảm bảo giảm tối đa các ca bệnh phát triển theo chiều hướng nặng, tăng cường khám và điều trị, theo dõi sát sao các ca bệnh nặng để kịp thời xử lý, tránh để xảy ra các sai sót đáng tiếc.
2.4 Điều tra nhu cầu thị trường đối với dịch vụ điều dưỡng tận nhà Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.4.1 Giới thiệu về cuộc điều tra
Để có cơ sở đề xuất các quyết định cụ thể đối với dịch vụ khám chữa bệnh tận nhà, tác giả đã tiến hành điều tra diện rộng để tham khảo ý kiến của bệnh nhân và người dân sống trên địa bàn Tỉnh Hòa Bình. Mục tiêu của cuộc điều tra là thăm dò ý kiến của khách hàng đối với 7Ps của dịch vụ khám chữa bệnh tận nhà. Để đảm bảo mục tiêu này tác giả đã thiết kế phiếu điều tra gồm có hai phần. Phần 1 gồm 5 câu hỏi để thu thập các thông tin về người trả lời, nhằm giúp nhận diện thị trường mục tiêu rõ hơn và phần 2 gồm 4 câu hỏi chỉ mức độ liên quan đến việc marketing mix của những dịch vụ này. Tác giả sử dụng thang 4 cấp độ đo về ý định sử dụng của khách hàng.
Phiếu điều tra được chỉnh sửa nhiều lần sau khi tham vấn ý kiến của các bác sĩ và cán bộ quản lý ở bệnh viện đã được tác giả cùng sự hỗ trợ của đồng nghiệp phát trực tiếp cho bệnh nhân và nhân dân sống trên địa bàn thành phố Hòa Bình và nhân dân sống xung quanh địa bàn thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình. Kết quả là 200 cuộc phỏng vấn trực tiếp và thu về được 200 phiếu. Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS để xử lý kết quả của cuộc điều tra
2.4.2 Phân tích kết quả điều tra
2.4.2.1 Phân tích về thông tin của người trả lời
- Độ tuổi
Độ tuổi của người được hỏi sẽ phản ánh chỉ tiêu số người trong độ tuổi lao động đã có thâm niên và mức độ tin cậy trong câu trả lời của họ, đây sẽ là yếu tố giúp tác giả nhận định được đối tượng khách hàng của mình. Nhìn vào bảng 2.7 ta thấy với 10% số người dưới 25 tuổi, dịch vụ mà họ sẽ tiếp cận sẽ là ít nhưng là đối tượng không thể bỏ qua bởi họ là người rất am hiểu về việc khoa học kỹ thuật, sẽ giúp đưa việc quảng bá đến với người thân của họ nhanh hơn. Số người trong độ tuổi từ 25 đến 35 chiếm 32,5% là những người trong độ tuổi sinh đẻ, nhưng sức khỏe của họ đang ở giai đoạn sung mãn nhất, vì vậy dịch vụ họ tiếp cận sẽ là những dịch vụ dành cho người thân trong gia đình và cho cả chính bản thân họ. Chiếm 45,5% là số người trong độ tuổi từ 36 đến 45, đây là lúc họ bắt đầu quan tâm đến sức khỏe của mình, những bệnh mang tính nghề nghiệp sẽ tăng rất cao, như viêm đường hô hấp, các bệnh về xương khớp, thần kinh, máu…Độ tuổi từ 46 trở lên chiếm 12%, đây là độ tuổi mà nam giới có thể vẫn sung mãn nhưng nữ giới thì bắt đầu có nhiều bệnh, hoặc cả hai giới đều phát sinh rất nhiều bệnh thường gặp ngày nay như tiểu đường, huyết áp, mỡ máu, gut….Vì vậy căn cứ vào độ tuổi bộ phận làm marketing BV cũng có thể đưa ra được các chiến lược kinh doanh của mình. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Bảng 2.7 Cơ cấu về độ tuổi của người được hỏi
| STT | Độ tuổi | Tần suất | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Dưới 25 | 20 | 10,0 |
| 2 | Từ 25 đến 35 | 65 | 32,5 |
| 3 | Từ 36 đến 45 | 91 | 45,5 |
| 4 | Từ 46 trở lên | 24 | 12,0 |
- Giới tính
Bảng 2.8 Giới tính của người được hỏi
| STT | Giới tính | Số người | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Nam | 72 | 36,0 |
| 2 | Nữ | 128 | 64,0 |
Nhìn vào bảng 2.8 ta thấy chiếm 36% số người được hỏi là nam giới, 64% là nữ giới, thường thì nữ giới là người là người quan tâm đến sức khỏe của mình và người thân hơn nam giới, nhưng nam giới lại là người dễ chấp nhận về các mức giá cả hơn, vì vậy những người làm marketing cần nắm được tâm lý từng giới để thực hiện công việc của mình.
- c) Địa điểm sinh sống của người được hỏi
Yếu tố địa lý là một trong những yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến việc cung cấp mỗi dịch vụ, nếu thuận tiện, nhanh chóng, dễ đi lại người dân sẽ dễ dàng sử dụng dịch vụ hơn so với những người sống ở xa so với nơi cung cấp dịch vụ. Do Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình nằm trên địa bàn thành phố Hòa Bình nên tác giả phát mẫu phiếu điều tra cho những người gặp và sinh sống trên địa bàn thành phố Hòa Bình. Với câu hỏi về địa lý: ‘’Gia đình Anh/ chị sống ở”, tác giả đã thu được kết quả như sau:
Bảng 2.9 Nơi ở của người được hỏi
| STT | Câu hỏi điều tra | Tần suất | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Thành phố | 136 | 68,0 |
| 2 | Thị trấn | 25 | 12,5 |
| 3 | Xã | 39 | 19,5 |
Quan sát bảng 2.9 ta thấy số người được điều tra sống trên địa bàn thành phố Hòa Bình chiếm đa số người tham gia trả lời, tổng số 136/200 người được hỏi, chiếm 68%, đây là số người sẽ sẵn sàng sử dụng dịch vụ của Bệnh viện, bởi dù sao ngoài việc thuận tiện trong yếu tố địa lý, người dân sống ở thành phố cũng có thu nhập cao hơn những người dân sống ở vùng khác vì tất cả các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh lớn… đều có trụ sở trên địa bàn thành phố Hòa Bình, họ nhận thức về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cũng sẽ tích cực hơn vì vậy nhu cầu của họ về sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng sẽ cao hơn. Chiếm 12,5% là số người được hỏi sống ở thị trấn, 19,5% là số người sống ở các xã quanh thành phố Hòa Bình, đây cũng sẽ là những khách hàng tiềm năng của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, họ cũng sẽ là những người sẵn sàng sử dụng dịch vụ của Bệnh viện bởi với họ đây là sẽ là những dịch vụ mới, hấp dẫn và đáng tin cậy hơn so với những gì mà ở tuyến xã không thể đem lại. Nếu các cán bộ làm marketing của Bệnh viện biết đem các lợi thế của mình đến quảng bá với họ chắc chắn sẽ mang lại thành công trong công việc. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Bảng 2.10 Thu nhập của người được hỏi
| STT | Mức thu nhập/tháng | Tần suất | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Dưới 2 triệu | 47 | 23,5 |
| 2 | Trên 2 triệu đến dưới 5 triệu | 70 | 35,0 |
| 3 | Trên 5 triệu đến dưới 10 triệu | 59 | 29,5 |
| 4 | Trên 10 triệu | 24 | 12,0 |
Do thu nhập bình quân đầu người của người dân tỉnh Hòa Bình còn thấp nên mặc dù đa số người được hỏi sống trên địa bàn thành phố nhưng những người có thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng chiếm đến 23%, đây là số người sẽ ít có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế giá cao vì vậy những người làm marketing cần phải chú ý đem đến dịch vụ hợp lý và mức giá phù hợp cho đối tượng này. Thu nhập từ 2 triệu đến 5 triệu đồng/tháng là số người được hỏi trả lời nhiều nhất, với mức thu nhập như vậy là tạm đủ đối người dân sống ở thành phố Hòa Bình, nơi có mức chi phí cho sinh hoạt rất bình thường thậm chí hơi thấp so với các thành phố khác. Những người có thu nhập trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng/tháng chiếm 29,5% số người được hỏi, đây sẽ là những khách hàng tiềm năng của Bệnh viện, bởi với giá dịch vụ 30.000đ/lần đối với họ là điều chấp nhận được để được chăm sóc sức khỏe tận nhà. Thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng chỉ chiếm 12% số người được hỏi, chiếm ít nhất trong thang câu hỏi về thu nhập, những người này cũng sẽ là những khách hàng tiềm năng, tuy nhiên cũng sẽ là những khách hàng có đòi hỏi rất cao, họ sẽ sẵn sàng bỏ đi nếu dịch vụ của BV không đáp ứng được nhu cầu của họ.
- d) Phân tích về nghề nghiệp
Bảng 2.11 Nghề nghiệp của người được hỏi
| STT | Câu hỏi | Số người | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Cán bộ | 132 | 66 |
| 2 | Công nhân | 35 | 17,5 |
| 3 | Nhân dân | 25 | 12,5 |
| 4 | Hưu trí | 8 | 4 |
Với cơ cấu về nghề nghiệp như trên sẽ là thuận lợi cho các cán bộ làm marketing của Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, chiếm 66% là cán bộ nhà nước, đây là những đối tượng dễ dàng đón nhận hơn trong công việc quảng bá sản phẩm, đối tượng cán bộ sẽ là những người tiếp thu dịch vụ mới nhanh hơn và truyền đạt lại cho người khác cũng hiệu quả hơn, sức khỏe đối với họ không những là vàng mà còn là cơ hội việc làm, là sự đánh giá việc chăm sóc bản thân. Hiện nay, hầu hết các cơ quan, đơn vị đều quan tâm đến việc kiểm tra, chăm sóc sức khỏe cán bộ, và họ hầu hết đến cơ quan y tế tuyến đầu của tỉnh để khám sức khỏe, vì vậy cơ hội để quảng bá dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tận nhà sẽ càng thuận lợi hơn cho Bệnh viện. Nếu BVĐK tỉnh Hòa Bình làm tốt công tác marketing cho những đối tượng này sẽ mang lại thành công cho việc phát triển các loại hình dịch vụ của BV. Chiếm 17,5% là đối tượng công nhân, đây cũng là một trong những đối tượng cần thường xuyên được chăm sóc sức khỏe, sức khỏe đối với họ là điều quan tâm số một, tuy nhiên công việc thường gò bó về thời gian hơn lực lượng cán bộ, vì vậy quảng bá dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tận nhà cho họ cũng sẽ là chiến dịch không thể thiếu. Chỉ chiếm 12,5% là nhân dân, nhưng những đối tượng này thường không có thẻ bảo hiểm y tế, vì vậy không phải đến BV và chờ đợi mà được khám bệnh, chăm sóc tận nhà sẽ là dịch vụ hấp dẫn với họ. Yêu cầu đặt ra cho các cán bộ làm marketing của BV là với mỗi đối tượng thì cách tiếp cận và quảng bá ra sao để họ sử dụng sản phẩm của BV. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
2.4.2.2 Phân tích về nhu cầu của KH đối với marketing mix
- Phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ
Bảng 2.12 Số liệu về nhu cầu sử dụng dịch vụ
| STT | Tên sản phẩm | Không dùng và có thể dùng (Số người) | Tỷ lệ (%) | Có dùng và chắc chắn dùng (Số người) | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Chăm sóc cho người bị bệnh dài ngày. | 63 | 31,5 | 137 | 68,5 |
| 2 | Thay băng, cắt chỉ tận nhà theo nhu cầu BN | 78 | 39,0 | 122 | 61,0 |
| 3 | Các dịch vụ chăm sóc sau phẫu thuật | 87 | 43,5 | 113 | 56,5 |
| 4 | Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và trả kết quả tận nhà | 87 | 43,5 | 113 | 56,5 |
| 5 | Truyền dịch tận nhà theo nhu cầu bệnh nhân | 90 | 45,0 | 110 | 55,0 |
| 6 | Tiêm tận nhà theo nhu cầu BN | 96 | 48,0 | 104 | 52,0 |
| 7 | Tắm cho trẻ sơ sinh | 99 | 49,5 | 101 | 50,5 |
| 8 | Đặt sonde ăn hoặc sonde tiểu (cả rửa bàng quang) | 103 | 51,5 | 97 | 48,5 |
Nhìn vào bảng 2.12 ta thấy dịch vụ “Chăm sóc cho người bị bệnh dài ngày” là dịch vụ được lựa chọn “có dùng” và “chắc chắn dùng” nhiều nhất, đạt tỷ lệ 68,5%, tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 31,5% cho thấy hiện nay số bệnh nhân bị bệnh dài ngày có chiều hướng phát triển, ví dụ: bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị qua giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân ung thư, bệnh nhân già yếu không có khả năng đi lại… và không phải gia đình nào cũng có thể bố trí người chăm sóc bệnh nhân thường xuyên, nên chọn một dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp, có kinh nghiệm, có phương tiện chuyên môn và có độ tin tưởng cao là lựa chọn số một của khách hàng là điều đương nhiên. Đứng thứ hai là dịch vụ “Thay băng, cắt chỉ tận nhà theo nhu cầu BN”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” đạt tỷ lệ 61,0%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 39%; hiện nay có khá nhiều mặt bệnh như khâu vết thương, gẫy xương, bị thương nhẹ…mà người bệnh khi điều trị bệnh đã ổn định, không cần phải chăm sóc đặc biệt họ có thể xin về và hàng ngày đến BV để thay băng hoặc đến ngày cắt chỉ thì đến BV, khi biết sẽ có dịch vụ này ra đời số người lựa chọn nhiều là điều dễ hiểu, vì công việc này không đòi hỏi nhiều về thời gian và sự chăm sóc nhưng nếu nằm tại BV hoặc đến BV, BN sẽ phải chờ đợi, chịu đựng sự quá tải của BV… và chi phí nằm viện có thể còn cao hơn chi phí cho việc thuê điều dưỡng đến nhà chăm sóc. Đứng thứ ba là “ Các dịch vụ chăm sóc sau phẫu thuật”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” đạt tỷ lệ 56,5%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 43,5%; đây là cũng là một dịch vụ được lựa chọn nhiều vì nó cũng tương tự như việc thay băng, cắt chỉ; một số loại phẫu thuật, khi BN đã qua giai đoạn chăm sóc đặc biệt, Bác sỹ thấy không cần thiết phải nằm viện để chăm sóc có thể tư vấn cho người nhà BN tự chăm sóc và sử dụng dịch vụ điều dưỡng tận nhà của BV để giảm tải cho BV và giảm những sự khó chịu không cần thiết cho người bệnh. Dịch vụ cùng nhận được lựa chọn nhiều thứ ba là “Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và trả kết quả tận nhà”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” đạt tỷ lệ 56,5%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 43,5%; đây là một dịch vụ đang rất phát triển ở các thành phố lớn, tuy nhiên, nó lại không phải là sự lựa chọn hàng đầu ở tỉnh Hòa Bình, đây là một thách thức với các nhà làm marketing của BV, nhiệm vụ của họ là phải thuyết phục được khách hàng hiểu được sự quan trọng của việc thường xuyên kiểm tra sức khỏe bằng cách lấy các mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm như lấy mẫu máu với các bệnh như: tiểu đường, máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, gut, phụ nữ có thai….những bệnh này BN không cần thiết phải đến BV mà chỉ cần ở nhà hoặc thậm chí ở cơ quan vì các công việc này không mất nhiều thời gian và nhiều vật tư nên sử dụng dịch vụ này rất dễ dàng và nhanh chóng, sau đó kết quả lại được mang trả lại tận nơi cho người bệnh. BVĐK tỉnh Hòa Bình nên đầu tư nhân lực và phương tiện chuyên môn cho những dịch vụ này nhiều hơn những dịch vụ khác. Sự lựa chọn thứ 4 là dịch vụ “Truyền dịch tận nhà theo nhu cầu bệnh nhân”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” đạt tỷ lệ 55%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 45%; hiện nay vẫn có khá nhiều người dân quan niệm truyền dịch là tốt với những BN bị sốt, gầy yếu, BN sau ốm…, vả lại giá của các loại dịch truyền thông dụng trên thị trường hiện nay lại khá rẻ, chỉ chưa đến 20.000đồng là người bệnh có thể mua được một chai dịch truyền; vì vậy với hiểu biết chuyên môn, CB y tế khi có yêu cầu của BN được sử dụng dịch vụ này nên tư vấn cho họ với những bệnh nào thì mới thực sự cần đến việc truyền dịch, và có thể tư vấn cho BN về dinh dưỡng, những điều này cũng sẽ góp phần tăng thêm sự tin tưởng của người bệnh với BV và nhân viên BV. Sự lựa chọn đứng thứ năm là dịch vụ “Tiêm tận nhà theo nhu cầu BN”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” đạt tỷ lệ 52%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 48%; đa số người được hỏi trả lời rằng, họ nghĩ bệnh phải tiêm thường là bệnh đã nặng, nên họ sẽ đến BV để được chăm sóc toàn diện hơn, chỉ những bệnh không cần chăm sóc toàn diện họ mới chọn dịch vụ này. Đứng thứ sáu là dịch vụ: “Tắm cho trẻ sơ sinh”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” chỉ đạt tỷ lệ 50,5%; “không dùng” và “có thể dùng” là 49,5% trong quá trình đi điều tra, tác giả nhận thấy rằng, đây cũng là một đặc điểm chung của các thành phố nhỏ, con cái vẫn sống chung cùng bố mẹ, một gia đình có 3, 4 thế hệ sống cùng là chuyện thường gặp, vì vậy các bà mẹ và các bé thường có các bà chăm sóc rất tận tình chu đáo bằng lòng yêu thương và kinh nghiệm sống của mình, vì vậy số người lựa chọn dịch vụ này không nhiều, tuy nhiên cơ hội cho việc phát triển dịch vụ này rất lớn nếu các nhà làm marketing biết vận dụng các lợi thế của BV và biết chọn đúng đối tượng để quảng cáo. Nhận được ít sự lựa chọn nhất là dịch vụ “Đặt sonde ăn hoặc sonde tiểu (cả rửa bàng quang)”, số người trả lời “có dùng” và “chắc chắn dùng” chỉ đạt tỷ lệ 48,5%; tỷ lệ người trả lời là “không dùng” và “có thể dùng” là 51,5%; tương tự như dịch vụ tiêm tận nhà theo nhu cầu BN, khách hàng chọn việc đến BV hơn là dịch vụ chăm sóc tận nhà, tuy nhiên có những bệnh nhân bị bệnh dài ngày dịch vụ này sẽ rất phù hợp, nhiệm vụ của bộ phận marketing là lên chiến lược quảng cáo cụ thể và dễ hiểu để khách hàng nhận biết và sử dụng những dịch vụ này nhiều hơn.
- b) Phân tích về chiến lược giá dịch vụ Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Giá cả của mỗi sản phẩm, dịch vụ là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng, khi họ bỏ tiền ra để mua một dịch vụ của BV, họ sẽ phải suy nghĩ xem liệu dịch vụ đó mang lại cho họ tiện ích gì, có phù hợp với túi tiền của họ không, với mức giá đưa ra là 30.000 đồng/lần/dịch vụ/giờ, tác giả đã nhận được kết quả như sau
Bảng 2.13 Số liệu về việc đánh giá về giá dịch vụ
| STT | Câu trả lời | Tần suất | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Không đồng ý lắm | 13 | 6,5 |
| 2 | Đồng ý | 70 | 35,0 |
| 3 | Rất đồng ý | 117 | 58,5 |
Nhìn vào bảng 2.13 ta thấy tín hiệu đáng mừng là có đến 58,5% số người được hỏi trả lời “rất đồng ý” và 35% số người được hỏi trả lời “đồng ý” với mức giá mà BVĐK tỉnh Hòa Bình sẽ đưa ra (30.000đồng/dịch vụ/lần/giờ), chứng tỏ đây là mức giá rất phù hợp với mức sống của người dân Hòa Bình; vì mức giá này đã được tính chi phí rất kỹ và hợp lý, dựa trên những yếu tố cấu thành nên giá dịch vụ như: lương cán bộ, tiền xăng xe, tiền khấu hao máy móc (nếu có), tiền trích lại cho BV…; chỉ chiếm con số rất nhỏ là 6,5% số người được hỏi không đồng ý với mức giá này, và theo điều tra của tác giả họ cho rằng hơi cao so với mặt bằng thu nhập của tỉnh Hòa Bình với dịch vụ mới mẻ và chưa thông dụng này. Tuy nhiên đây là điều không đáng ngại vì với sự quyết tâm của các cán bộ BV đưa dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tận nhà đến với mọi người dân trên địa bàn tỉnh Hòa Bình vừa là nhiệm vụ phát triển chuyên môn, tăng thu nhập cho cán bộ, tạo việc làm cho nhiều cán bộ mới vừa là nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện; Bộ phận marketing của BV sẽ đưa ra được các chiến lược phù hợp với từng đối tượng khách hàng.
- c) Phân tích về quyết định phân phối dịch vụ
Tại Bệnh viện phân phối chính là khám chữa bệnh trực tiếp cho bệnh nhân đến BV và người cung cấp dịch vụ là đội ngũ y bác sĩ, nhân viên trong Bệnh viện; đây là lực lượng cung cấp thông tin đến bệnh nhân nhiều nhất và có vai trò quyết định dịch vụ y tế có được cung ứng tốt không.
Mục tiêu phân phối của BV là tạo thêm thu nhập cho cán bộ BV, tạo thêm việc làm cho các cán bộ mới, tạo thêm uy tín và thương hiệu cho BV, giảm tải cho BV vì vậy đây là công việc cần nhiều thời gian và công sức của toàn thể cán bộ BV.
Dịch vụ điều dưỡng tận nhà của BV được xác định là sản phẩm đặc biệt, chỉ có các BV mới có thể đem đến cho người tiêu dùng, vì vậy kênh phân phối của dịch vụ này phải là kênh trực tiếp từ nhân viên y tế, các cán bộ có trình độ chuyên môn đem đến cho người sử dụng, không thể sử dụng kênh trung gian cho các dịch vụ này.
Năng lực của BVĐK tỉnh Hòa Bình trong việc cung cấp dịch vụ điều dưỡng tận nhà trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có thể đánh giá là sẽ tốt nhất, vì các cán bộ y tế được đào tạo trong môi trường của một BV đa khoa đầu nghành của tỉnh, sau đó lại được đào tạo chuyên sâu cho từng chuyên khoa; năng lực quản lý và điều hành của các cán bộ lãnh đạo đã được thể hiện bằng các thành công liên tiếp của BV trong việc phát triển chuyên môn và quy mô BV, nguồn tài chính cho dịch vụ này không phải đầu tư nhiều thêm vì đã có nguồn lực sẵn có từ con người đến các phương tiện làm việc, vì vậy việc phân phối dịch vụ của BV sẽ có nhiều thuận lợi ngay từ khi bắt đầu phát triển dịch vụ.
Hiện nay môi trường kinh doanh cho dịch vụ điều dưỡng tận nhà của BVĐK tỉnh Hòa Bình trên địa bàn tỉnh còn đang rất mở, chưa có BV nào trên địa bàn cung cấp dịch vụ này; thêm vào đó, đây là dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn tỉnh, do BV trực tiệp cung cấp dựa trên nền tảng các dịch vụ sẵn có của BV nên không vướng vào sự hạn chế nào của pháp luật; mặc dù có suy thoái về kinh tế nhưng chăm sóc sức khỏe là ưu tiên hàng đầu của mọi người nên dịch vụ điều dưỡng của BVĐK tỉnh Hòa Bình chắc chắn sẽ dần có chỗ đứng trên thị trường Hòa Bình.
- d) Quyết định về xúc tiến bán Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
Xúc tiến bán là một trong những việc quan trọng trong mọi kế hoạch kinh doanh, một kế hoạch xúc tiến bán hiệu quả sẽ đóng góp thành công lớn cho doanh nghiệp trong công việc kinh doanh. Đối với dịch vụ điều dưỡng tận nhà của BVĐK tỉnh Hòa Bình, để lập kế hoạch xúc tiến bán, tác giả đã phân tích các số liệu về mức độ nhận biết sản phẩm và phân tích kênh truyền thông trong hoạt động marketing.
Bảng 2.14 Mức độ nhận biết sản phẩm của người được hỏi về dịch vụ điều dưỡng tận nhà
| STT | Câu hỏi | Tần suất | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Đã biết | 45 | 22,5 |
| 2 | Chưa biết | 155 | 77,5 |
Với số liệu về mức độ nhận biết sản phẩm như trên: 77,5% số người được hỏi chưa hề biết về loại hình dịch vụ này, có thể khẳng định một lần nữa rằng dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tận nhà của tỉnh Hòa Bình chưa phát triển và việc cung cấp dịch vụ này mới ở mức độ tự phát của các cán bộ y tế làm thêm ngoài giờ, người này giới thiệu cho người khác; vì vậy cơ hội của BVĐK tỉnh Hòa Bình về việc tung ra một loạt sản phẩm mới sẽ hứa hẹn mang lại nhiều thành công là việc trong tầm tay, bởi các dịch vụ mới ra đời luôn thu hút được sự quan tâm của khách hàng hơn là các dịch vụ họ đã biết, vấn đề là bộ phận marketing phải xác định được mình xây dựng kế hoạch xúc tiến này cho ai, để làm gì và như thế nào thì sẽ mang lại thành công trong công việc.
Các khách hàng được hỏi đã trả lời về kênh truyền thông mà họ đã biết đến dịch vụ điều dưỡng như sau.
Bảng 2.15 Kênh truyền thông
| STT | Kênh truyền thông | Số người | Tỷ lệ (%) |
| 1 | Bạn bè | 28 | 62,22 |
| 2 | Nhân viên y tế | 15 | 33,33 |
| 3 | Khác | 02 | 4,44 |
Nhìn vào bảng 2.15 ta có thể thấy trong số người biết đến dịch vụ điều dưỡng của Bệnh viện nói chung thì chiếm đến 62,22% số người được hỏi là biết qua bạn bè của họ, điều này cho thấy kênh truyền thông công chúng rất quan trọng và có tác dụng vô cùng lớn. Chiếm 33,33% là số người được biết qua tư vấn của nhân viên theo y tế, với BVĐK tỉnh Hòa Bình, dịch vụ này chưa được chính thức đưa ra nhưng nhiệm vụ của nhân viên y tế vẫn phải tư vấn cho người bệnh nên được chăm sóc tận nhà sau khi đã ra viện, đây cũng là một hình thức kết hợp quảng bá rất hữu ích cho dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tận nhà sẽ ra đời của BV. Chỉ chiếm 4,44% số người được hỏi biết dịch vụ điều dưỡng qua kênh “khác”, kênh này có thể do họ nghe người khác nói chuyện với nhau, xem trên các chương trình truyền thông của các BV khác ở tuyến trung ương, thấy người khác sử dụng dịch vụ này…Theo một điều tra xã hội học, nếu một người hài lòng với một điều gì đó, họ sẽ nói với chỉ khoảng 4 đến 5 người, nhưng nếu họ không hài lòng họ sẽ có thể nói với 20 người, vì vậy có thể nói kênh truyền thông công chúng có ảnh hưởng rất lớn và quyết định nhiều đến việc định hướng sử dụng dịch vụ của khách hàng. Vì vậy lựa chọn kênh quảng bá phù hợp là nhiệm vụ rất quan trọng của bộ phận marketing BV. Luận văn: Phân tích chiến lược Marketing với dịch vụ điều dưỡng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Đề xuất chiến lược marketing cho dịch vụ điều dưỡng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

