Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Bình Thạnh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

  1. Tiêu đề

Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh Bình Thạnh.

  1. Tóm tắt

Các NHTM từ lâu đã được biết đến là những trung gian tài chính của một quốc gia, giúp dòng vốn được lưu chuyển linh hoạt, hoạt động sản xuất được liên tục từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với vai trò này, ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận bằng cách huy động vốn từ những chủ thể thừa vốn và cho vay lại đối với những chủ thể cần vốn để hưởng chênh lệch lãi suất. Đây cũng là hoạt động sinh lời chính của các ngân hàng, đó là lý do tại sao nhiều ngân hàng đã khuyến khích tăng trưởng cho vay để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn những rủi ro tín dụng nhất định đối với ngân hàng. Vì vậy, công tác QTRR, đặc biệt là QTRRTD luôn được các NHTM ưu tiên hàng đầu nhằm đảm bảo ổn định hoạt động, góp phần ổn định nền kinh tế đất nước. Nhất là khi đại dịch COVID-19 tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng.

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc thu thập các thông tin, dữ liệu từ báo cáo tài chính của Agribank Chi nhánh Bình Thạnh trong giai đoạn từ năm 2016 – 2021, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp đánh giá các thông tin đối với dữ liệu đã được thu thập, từ đó tác giả đã đánh giá chi tiết thực trạng QTRRTD tại Chi nhánh trong giai đoạn nghiên cứu. Nhìn chung, quy định về chính sách quản lý rủi ro đã được Agribank hoàn thiện. Các hạn chế của Chi nhánh đang gặp phải xoay quanh các vấn về triển khai quy định cấp độ Chi nhánh; nhân lực và năng lực CBTD; rủi ro về đạo đức cán bộ; Rủi ro từ chính khách hàng vay vốn. Trên cơ sở những tồn tại, tác giả đề xuất những biện pháp sát với thực tế tại Chi nhánh nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng quy trình QTRRTD của Chi nhánh.

  1. Từ Khóa: Rủi ro tín dụng; QTRR; hạn chế rủi ro, NHTM

ABSTRACT

  1. Title

Credit risk management at Bank for Agriculture and Rural Development of Vietnam – Binh Thanh Branch

  1. Summary Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Commercial banks have long been known as financial intermediaries of a country, helping capital flow flexibly in the economy, thereby helping production and reproduction activities have enough capital to operate. continuously and contribute to promoting economic development. In this role, the bank seeks to make a profit by mobilizing capital from those who have excess capital and re-lending to those who need capital to enjoy the difference in interest rates. This is also the main profitable activity of banks, which is why many banks have encouraged loan growth to increase profits. However, lending activities always involve certain credit risks for banks. Therefore, risk management, especially credit risk management, has always been a top priority for commercial banks to ensure operational stability, contributing to stabilizing the country’s economy. Especially when the COVID-19 pandemic has a strong impact on the world economy in general and Vietnam’s economy in particular.

The study uses qualitative research method through the collection of information and data from the financial statements of Agribank Binh Thanh Branch in the period from 2016 to 2021, combined with the use of different methods. method of statistics, comparison, analysis, synthesis and evaluation of information for collected data, from which the author has detailed assessment of the current situation of credit risk management at the branch during the research period. In general, regulations on risk management policy have been completed by Agribank. The limitations the Branch is facing revolve around the implementation of branch-level regulations; human resources and capacity of credit officers; risks on staff morale; Risks from borrowers themselves. On the basis of these shortcomings, the author proposes measures close to reality at the branch to improve and enhance the quality of the branch’s credit risk management process.

  1. Keywords: Credit risk; Risk management; limit risks, commercial banks

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Trải qua nhiều năm phát triển, ngành ngân hàng ngày càng nắm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là cầu nối giúp luân chuyển dòng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển. Thông qua vai trò trung gian, các ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận bằng cách huy động từ các chủ thể thừa vốn và cho vay lại đối với các chủ thể đang cần vốn để hưởng chênh lệch lãi suất. Đây cũng là hoạt động sinh lời chính của các ngân hàng, đó là lý do tại sao nhiều ngân hàng đã khuyến khích tăng trưởng cho vay để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động cho vay luôn tiềm ẩn những RRTD nhất định đối với ngân hàng. Hậu quả của việc tăng trưởng tín dụng quá nhanh đã khiến cho các ngân hàng rơi vào các cuộc khủng hoảng trầm trọng trong những năm của thập niên 1980 và những năm 1990.

Từ sau năm 1980 cho đến nay, các cuộc khủng hoảng trong ngành ngân hàng xảy ra ngày càng thường xuyên hơn và để lại hậu quả ngày càng nghiêm trọng mà tiêu biểu trong đó có thể đề cập đến là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 mà nguồn cơn bắt đầu từ cuộc khủng hoảng xảy ra tại Hoa kỳ do bong bóng bất động sản và việc các ngân hàng Mỹ cho vay dưới tiêu chuẩn. Cuộc khủng hoảng tài chính sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới và kéo theo sự sụp đổ của một loạt tổ chức tài chính, suy thoát kinh tế toàn cầu trong nhiều năm sau đó. Trải qua các cuộc khủng hoảng vấn đề RRTD và QTRRTD ngày càng được quan tâm và chú trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của các quốc gia.

Tại Việt Nam, từ sau khi nước ta gia nhập WTO vào năm 2007, NHNN đã có nhiều nỗ lực xây dựng hệ thống pháp lý từng bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Các TCTD Việt Nam ngày càng chú trọng trong việc nâng cao năng lực QTRR. Nhất là từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, việc áp dụng các chuẩn mực của Basel II ngày càng được chú trọng hơn ở các TCTD nhằm để đảm bảo tính ổn định của cả hệ thống ngân hàng từ đó đảm bảo hoạt động nền kinh tế được ổn định.

1.2 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế toàn cầu phải chịu nhiều ảnh hưởng bởi đại dịch COVID – 19 chưa từng có trong lịch sử. Nền kinh tế thế giới gần như rơi vào tình trạng đóng băng, khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng. Nghiên cứu của HS Disemadi và AI Shaleh (2021) tại Indonesia về Chính sách tái cơ cấu tín dụng ngân hàng Indonesia trong thời kỳ COVID-19 đã cho thấy hoạt động và lợi nhuận của phần lớn doanh nghiệp ở Indonesia đều bị suy giảm, từ đó trực tiếp làm gia tăng RRTD của các ngân hàng ở nước này lên cao, làm gián đoạn đến sự hoạt động ngân hàng và đe dọa tới sự ổn định tài chính ở Indonesia.

Darjana, D., Wiryono, S. K., & Koesrindartoto, D. P. (2022) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của COVID-19 đối với lĩnh vực ngân hàng ở Indonesia trong giai đoạn từ năm 2011 – 2020 cũng cho thấy đại dịch đã gây ra một cuộc khủng hoảng tín dụng nghiêm trọng tại Indonesia và làm cho hoạt động của các ngân hàng nước này bị ảnh hưởng đáng kể.

Cũng như nhiều nền kinh tế khác, nền kinh tế Việt Nam cũng phải chịu những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch. Sự bùng phát kéo dài của dịch COVID-19 đã tác động đến mọi thành phần kinh tế của xã hội. Trong những năm 2019 – 2021, với việc thực hiện nhiều biện pháp mạnh để phòng chống dịch nên hoạt động của hầu hết các công ty bị đình trệ, nguồn doanh thu và lợi nhuận bị sụt giảm đáng kể. Mặt khác, những khoản chi phí cố định như chi phí nhân công, chi phí kho bãi, chi phí lãi vay, … vẫn phải được duy trì đã gây nên áp lực rất lớn lên dòng tiền của công ty và đẩy các công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ thậm chí phá sản do mất khả năng thanh toán. Điều này cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng khi làm gia tăng RRTD cũng như nợ xấu lên cao. Theo thống kê của NHNN trong hai năm 2020 và 2021, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD có xu hướng tăng dần. Tính đến thời điểm 31/12/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 1,9%, tăng 0,21% so với thời điểm cuối năm 2020. Nếu tính thêm nợ bán cho VAMC thì tỷ lệ nợ xấu là 3,9%. Tỷ lệ nợ xấu gộp (bao gồm nợ xấu nội bảng, nợ xấu bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn từ các khoản cơ cấu lại) tăng mạnh lên mức 7,31% tại thời điểm cuối năm 2021.

Giống như hầu hết các NHTM, hoạt động mang lại lợi nhuận chính cho Agribank Chi Nhánh Bình Thạnh là hoạt động tín dụng. Hai mươi năm hình thành và phát triển (2001 – 2021), đến nay tổng dư nợ của Agribank Chi nhánh Bình Thạnh là 5.293 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay cá nhân là 1.153 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 22% và dư nợ cho vay pháp nhân là 4.140 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 78%. Với việc cho vay chủ yếu là pháp nhân vì vậy mà “sức khỏe tài chính” của các doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của Chi nhánh. Trong hai năm 2020 và 2021 dưới tác động của đại dịch, thu nhập và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp vay vốn tại Chi nhánh bị sụt giảm mạnh, không đủ tiền để trả nợ và phải thực hiện cơ cấu nợ. Tính đến thời điểm 31/12/2021, tổng dư nợ cơ cấu của cả Chi nhánh là 516 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 9,7% trên tổng dư nợ. Dư nợ cơ cấu của pháp nhân là 413 tỷ đồng. Với mức dư nợ cơ cấu cao và phần lớn trong đó chủ yếu đến từ việc cho vay đối với pháp nhân vì vậy mà việc QTRRTD trong giai đoạn hiện nay đang là vấn đề cấp bách đối với Agribank Chi nhánh Bình Thạnh nhằm duy trì mức tỷ lệ nợ xấu cho phép và đảm bảo hoạt động của Chi nhánh được ổn định. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh” làm luận văn thạc sĩ của mình.

1.3 Mục tiêu của đề tài và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu tổng quát Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Phân tích thực trạng hoạt động QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh. Qua đó đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế trong QTRRTD tại Chi nhánh.

1.3.2 Mục tiêu cụ thể:

Bài nghiên cứu được tác giả thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau:

  • Phân tích thực trạng QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh.
  • Đề xuất những biện pháp khắc phục các hạn chế trong QTRRTD tại Chi nhánh.

1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Với các mục tiêu trên, luận văn được tác giả thực hiện nhằm giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

  • Thứ nhất, Các tiêu chí nào đánh giá về QTRRTD?
  • Thứ hai, Thực trạng QTRRTD của Agribank Chi nhánh Bình Thạnh như thế nào?
  • Thứ ba, Cần thực hiện những giải pháp nào để khắc phục các hạn chế trong hoạt động QTRRTD của Agribank Chi nhánh Bình Thạnh?

1.4 Đối tượng nghiên và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu này là hoạt động QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ trình bày hoạt động QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh giai đoạn 2016 – 2021.

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Với mục tiêu của bài nghiên cứu là phân tích thực trạng hoạt động QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh. Qua đó đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế nhằm QTRRTD tại Chi nhánh. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc thu thập các thông tin, dữ liệu từ báo cáo tài chính của Agribank Chi nhánh Bình Thạnh và một số các ngân hàng trong nước kết hợp với việc sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp đánh giá các thông tin đối với dữ liệu đã được thu thập, từ đó tác giả sẽ đi đến chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để từ đó có thể đưa ra những đề xuất giải pháp phù hợp cho hoạt động QTRRTD của chi nhánh.

1.6 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu về tổng quan RRTD, QTRRTD của các NHTM nói chung và của Agribank nói riêng. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài như sau:

  • Về RRTD và QTRRTD của các NHTM:

Fatemi và cộng sự (2006) thông qua việc nghiên cứu dữ liệu QTRRTD của 100 ngân hàng lớn tại Mỹ cho thấy việc đánh giá rủi ro vỡ nợ của bên vay là mục tiêu quan trọng nhất trong mô hình QTRRTD. Fatemi và cộng sự (2006) cho rằng việc xác định xác suất vỡ nợ là một tiêu chí của mô hình QTRRTD hiện đại. Tuy nhiên bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở các ngân hàng lớn mà không đề cập đến các ngân hàng vừa và nhỏ, do đó mẫu dữ liệu cũng bị hạn chế.

Alobari Collins và các cộng sự (2018) đã nghiên cứu tác động của việc quản lý tín dụng và hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng ở Nigeria. Thông qua việc thiết kế các câu hỏi khảo sát đối với các nhân viên quản lý bao gồm Giám đốc ngân hàng và năm nhân viên cấp cao của 11 NHTM hoạt động tại Nigeria, các tác giả đã nhận thấy quản lý tín dụng có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Nigeria.

Ping Han (2016) thông qua nghiên cứu thực tế hoạt động QTRRTD tại các NHTM ở Trung Quốc đã chỉ ra một số hạn chế về QTRRTD ở các NHTM nước này như sau: Cơ cấu tổ chức quản lý tín dụng không hợp lý; Các NHTM chịu sự tác động và ảnh hưởng lớn bởi Chính phủ; Danh mục tín dụng không hợp lý; Bộ phận giám sát và quản lý tín dụng thiếu hiệu quả. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giải pháp để đẩy mạnh hoạt động quản trị RRTD tại các NHTM nước này như: Triển khai hệ thống “ba kiểm tra”; Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý RRTD; Đánh giá lại danh mục tín dụng trên cơ sở giảm tập trung tín dụng vào một ngành; Thiết lập hệ thống cảnh báo sớm; Thiết lập cơ chế chuyển đổi rủi ro.

Lê Thị Huyền Diệu (2010) nghiên cứu về mô hình QTRRTD tại hệ thống các NHTM Việt Nam thông qua phân tích các chỉ tiêu phản ánh RRTD và hệ thống hóa các nội dung cơ bản của QTRRTD qua các bước: nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý, kiểm soát và xử lý rủi ro. Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng trong giai đoạn trước năm 2000, nguyên nhân RRTD chủ yếu xuất phát từ rủi ro hệ thống và rủi ro cá biệt với nhóm doanh nghiệp nhà nước. Từ sau năm 2000, hệ thống pháp lý nhìn chung đã tương đối hoàn thiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập.

Nguyễn Anh Tuấn (2012) thông qua nghiên cứu thực trạng QTRR trong kinh doanh của các NHTM Việt Nam theo hiệp ước Basel đã chỉ ra những vấn đề bất cập của công tác QTRR tại các NHTM Việt Nam. Đồng thời, tác giả đã đưa ra các kiến nghị để cải thiện việc QTRR ở các ngân hàng tại Việt Nam. Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ giới hạn xung quanh các chuẩn mực theo Basel và số liệu được thu thập từ trước 2012 nên không đảm bảo tính thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

  • Về QTRRTD tại Agribank

Nguyễn Tuấn Anh (2012) thông qua bài nghiên cứu QTRRTD của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã hệ thống đầy đủ các tiêu chí định tính và định lượng để đánh giá hiệu quả công tác QTRRTD của NHTM ở Việt Nam làm cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng và đảm bảo thành công cho một chiến lược QTRRTD hoàn thiện. Đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý RRTD tại Agribank. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra giải pháp nhằm cải thiện QTRRTD tại Agribank, đặc biệt nhấn mạnh tới giải pháp về thiết lập mô hình đo lường RRTD, thành lập Ủy ban quản trị rủi ro, phân công lại chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị, xây dựng hệ thống báo cáo theo chuẩn quốc tế và đặc biệt là sử dụng các công cụ tài chính phái sinh trong việc QTRRTD. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Nguyễn Hùng Tiến (2016) qua nghiên cứu về QTRRTD tại Agribank đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến RRTD tại Agribank trong những năm 2009 – 2014 và đề xuất những biện pháp cải thiện tốt hơn quy trình QTRRTD. Tuy nhiên bài nghiên cứu chỉ giới hạn thời gian nghiên cứu từ 2014 trở về trước nên những phân tích và đánh giá thực trạng không có tính cập nhật đến giai đoạn hiện nay.

Qua các phân tích trên cho thấy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã có những đóng góp to lớn vào tổng quan kiến thức QTRRTD chung cho xã hội tuy nhiên lĩnh vực ngân hàng luôn vận động không ngừng mở rộng và phát triển do đó các công trình nghiên cứu trên dần trở nên cũ, đòi hỏi cần có các đề tài nghiên cứu mới kế thừa và phát huy nền kiến thức của thế hệ trước để áp dụng cho phù hợp với xu thế phát triển của lĩnh vực ngân hàng ngày nay. Chính vì vậy, những nghiên cứu trước đây cần được kế thừa phát huy lên nữa để đáp ứng với yêu cầu QTRRTD hiện đại.

1.7 Ý nghĩa nghiên cứu

Luận văn được thực hiện không chỉ cung cấp cơ sở lý thuyết về QTRRTD tại các NHTM mà còn góp phần làm rõ thực tế thực trạng RRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh trong giai đoạn từ năm 2016 – 2021. Đồng thời chỉ rõ đâu là những nguyên nhân dẫn đến RRTD xảy ra từ đó đề xuất các phương án khắc phục và cải thiện việc QTRRTD tại Chi nhánh nhằm vừa đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn mà còn có thể đáp ứng được yêu cầu giúp cho doanh nghiệp có thể hồi phục sau đại dịch.

1.8 Bố cục đề tài

Luận văn được tác giả thực hiện theo một kết cấu gồm các chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại.
  • Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh trong giai đoạn từ năm 2016 – 2021.
  • Chương 3: Giải pháp khắc phục hạn chế trong quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm 

RRTD tại các NHTM luôn là vấn đề nóng và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới chính vì vậy mà nhiều quan điểm về RRTD đã được các nhà nghiên cứu đưa ra tiêu biểu có thể kể đến như sau:

Saunder và cộng sự (1999) cho rằng RRTD là những tổn thất có thể xảy ra khi Ngân hàng cho vay hay RRTD còn được định nghĩa là loại rủi ro mà khách hàng không tuân thủ nghĩa vụ trả nợ (Bessis, J.; 2002).

Theo Ara Hosna và các cộng sự (2009), RRTD là rủi ro liên quan đến các khoản vay. Phan Thị Thu Hà (2007) định nghĩa RRTD là những tổn thất ngoài dự kiến có thể xảy ra đối với ngân hàng vì lý do khách hàng không trả đầy đủ vốn và lãi đúng hạn.

Một cách định nghĩa khác của RRTD theo Ủy Ban Basel thì RRTD là xác suất mà bên vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết. Trong khi đó thì Joel Bessis (2001) lại cho rằng RRTD là những mất mát do khách hàng không trả được nợ mà ngân hàng phải gánh chịu.

Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về RRTD nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều cho rằng RRTD là những tổn thất về tài chính xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết. RRTD xuất hiện trong các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng như: Cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, …. Đây là loại rủi ro gắn với chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng.

1.1.2 Phân loại  Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Tùy thuộc vào nguyên nhân mà RRTD được chia ra các loại như sau:

Hình 1.1.2-1 Phân loại rủi ro tín dụng

  • Rủi ro giao dịch

Rủi ro giao dịch là loại RRTD gắn liền với quá trình giao dịch cho vay đối với khách hàng. Rủi ro giao dịch được chia thành các thành phần như sau:

Rủi ro lựa chọn: Là loại rủi ro gắn liền với quá trình thực việc đánh giá và lựa chọn phương án vay vốn khả thi để cho vay.

Rủi ro bảo đảm: là loại rủi ro phát sinh từ những quy định đảm bảo chẳng hạn như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo, …

Rủi ro nghiệp vụ: là loại rủi ro phát sinh trong công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay.

  • Rủi ro danh mục

Rủi ro danh mục là loại RRTD do những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng. Bao gồm:

Rủi ro nội tại: là loại rủi ro phát sinh từ các đặc điểm, yếu tố mang tính chất riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc của ngành, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro nội tại có thể xuất phát từ những đặc điểm hoạt động mang tính chất riêng biệt của ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc đặc điểm sử dụng vốn của mỗi khách hàng.

Rủi ro tập trung: là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng tập trung cho vay đối với một khách hàng, hoặc cho vay quá nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một ngành, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

  • Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn (Non performing loan – NPL) là khoản nợ bao gồm cả phần gốc và/hoặc lãi bị quá hạn mà người vay không trả được cho TCTD đúng thời hạn như đã thỏa thuận. Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết được chất lượng tín dụng tại ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp, RRTD càng cao.

  • Dư nợ quá hạn
  • Tỷ lệ nợ quá hạn  =          x 100%
  • Tổng dư nợ cho

Theo Thông tư số: 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN, nợ quá hạn được phân loại theo thời gian và được chia thành các nhóm: Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

  • Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) là các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày.
  • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
  • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) là các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
  • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
  • Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay

Tương tự như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu cũng cho biết về chất lượng tín dụng của một tổ chức tín dụng. Trong đó, nợ xấu là khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, 4, 5 theo phân loại nợ của NHNN.

  • Dư nợ xấu
  • Tỷ lệ nợ xấu  =              x 100%
  • Tổng dư nợ cho vay

Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. (Theo Giáo trình Ngân hàng Thương mại, NXB Thống kê).

Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn cho phép là 3%.

  • Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD

Theo Thông tư số: 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 thì “Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung”

  • Dự phòng RRTD được trích lập  trích lập  =             x 100% 
  • Tỷ lệ dự phòng RRTD
  • Tổng dư nợ cho vay

Cũng theo đó, “Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể”.

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau:

  • Nhóm 1: 0%;
  • Nhóm 2: 5%;
  • Nhóm 3: 20%;
  • Nhóm 4: 50%;
  • Nhóm 5: 100%

Còn đối với Dự phòng chung Số tiền dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.

Mục đích của việc trích lập dự phòng rủi ro là để bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ có thể xảy ra của TCTD. Việc NH trích lập dự phòng đầy đủ và kịp thời giúp NH không bị lúng túng khi rủi ro xảy ra, hướng tới việc phát triển bền vững trong tương lai.

1.1.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

  • Nguyên nhân từ phía ngân hàng

RRTD có thể xuất phát từ nội tại của ngân hàng trong chính sách QTRRTD và yếu tố con người bên trong ngân hàng như:

  • Hoạch định chính sách QTRRTD chưa theo kịp với tình hình phát triển.
  • Việc kiểm tra còn mang tính hình thức, chưa nghiêm túc.
  • Danh mục tín dụng còn tập trung vào một số ngành, một số khách hàng, chưa đa dạng hóa từ đó dễ phát sinh rủi ro tập trung.
  • CBTD và cán bộ thẩm định chưa cẩn thận, chưa kỹ lưỡng, thiếu kinh nghiệm dẫn đến có thể bỏ qua một số yếu tố và cho vay sai.

Chuyên môn còn yếu kém, hạn chế về nghiệp vụ ngân hàng, hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh của khách hàng.

Đạo đức nghề nghiệp: CBTD vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bắt tay với khách hàng để trục lợi, hoặc để cho vay dưới tiêu chuẩn, trái quy định từ đó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho ngân hàng.

Việc quản lý, sử dụng, phúc lợi cho nhân viên chưa thỏa đáng có thể gây ra xung đột giữa trách nhiệm và quyền lợi, giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung từ dẫn đến những quan điểm tiêu cực trong cho vay.

Ngân hàng chưa cân đối hợp lý giữa việc huy động và sử dụng vốn, cụ thể là: Dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo đảm thanh toán hoặc dự trữ quá nhiều, gây ứ đọng vốn, lãng phí trong sử dụng vốn; hoặc lấy vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quá mức quy định.

Các NHTM cạnh tranh để dành thị phần dẫn đến cho vay sơ sài, bỏ qua một số điều kiện theo yêu cầu NHNN đưa ra.

  • Nguyên nhân từ phía khách hàng

Việc khách hàng không trả nợ vay theo đúng thỏa thuận ban đầu nguyên nhân có thể do khách quan và chủ quan từ chính khách hàng vay vốn đó:

Do khách hàng mất năng lực pháp luật và hành vi dân sự;

Do năng lực quản lý tài chính của khách hàng yếu kém, sử dụng vốn không đúng mục đích dẫn tới trình trạng thua lỗ, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Khách hàng vay vốn tại nhiều TCTD dưới nhiều danh nghĩa khác nhau như vay cá nhân, hoặc vay công ty … nên khó theo dõi được dòng tiền và nguồn thu lợi nhuận của khách hàng. Về vấn đề đạo đức: khách hàng thiếu thiện chí trả nợ, không muốn trả nợ, bỏ trốn khỏi địa phương trong khi biện pháp xử lý thu hồi nợ của Ngân hàng tỏ ra kém hữu hiệu.

Giá trị tài sản thế chấp thay đổi do khách hàng quản lý tài sản không tốt làm tài sản mất mát, hư hỏng, hao mòn.

  • Nguyên nhân khác Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Một số nguyên nhân khác trong vấn đề kinh tế vĩ mô có thể kế đến như:

Tình trạng bất cân xứng thông tin có thể dẫn đến những trường hợp cho vay không chính xác, ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và gây ra rủi ro.

Rủi ro từ các yếu tố khách quan tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của khách hàng khiến họ giảm hoặc mất khả năng trả nợ do kinh doanh thua lỗ.

Môi trường kinh tế bất ổn: Các yếu tố của nền kinh tế như chu kỳ kinh tế, lãi suất thị trường, tỷ giá, lạm phát thất nghiệp,… tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của người vay vốn, ảnh hưởng đến nguồn trả nợ.

Môi trường pháp lý còn thiếu sót và chồng chéo gây mâu thuẫn: những khe hở trong chính sách, quy định, luật lệ rất dễ bị lợi dụng.

Tình hình chính trị không ổn định gây tâm lý lo ngại cho nhà đầu tư, những khoản đầu tư trong nước thường có rủi ro lớn dễ gây thiệt hại cho ngân hàng.

1.1.5 Tác động và hậu quả của rủi ro tín dụng 

  • Đối với ngân hàng

NHTM đứng ra làm một trung gian luân chuyển dòng vốn từ những chủ thể thừa vốn đến những chủ thể thiếu vốn nhằm mục đích thu lãi từ hoạt động trung gian đó. Khi RRTD xảy ra tức là ngân hàng mất đi một phần lãi/gốc đến hạn không thu được từ người vay trong khi vẫn phải trả đầy đủ lãi/hoàn gốc cho số tiền huy động được người cho vay. Điều này sẽ khiến cho ngân hàng mất đi cơ hội kiếm lãi trong hoạt động của mình, dẫn đến chênh lệch bất lợi trong cân đối nguồn cho vay và nguồn huy động. Nếu tình trạng rủi ro nghiêm trọng sẽ dẫn đến mất khả năng thanh khoản. Từ đó, ảnh hưởng đến lòng tin và tâm lý của các khách hàng và sau cùng, Ngân hàng chính là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, uy tín bị sụt giảm, kinh doanh không hiệu quả, năng lực tài chính sa sút, không thể cạnh tranh với TCTD khác. Ngân hàng hoạt động không có lời, nợ lương nhân viên sẽ dẫn đến việc chảy máu chất xám, nhiều người có năng lực tốt sẽ tìm môi trường làm việc tốt hơn làm cho tình hình của ngân hàng đó đã khó càng thêm khó khăn hơn. Và nếu tình trạng này kéo dài sẽ gây ra những hậu quả vô cùng trầm trọng, tệ nhất là ngân hàng có thể phải tuyên bố phá sản.

  • Đối với hệ thống ngân hàng

Hiệu ứng dây chuyền gọi là “Hiệu ứng domino” luôn tồn tại và đe dọa đến hệ thống tài chính kinh tế thế giới. Khi có một sự đổ vỡ của một NHTM, nó sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền lây lan sang các ngân hàng khác. Người dân không còn tin tưởng và tâm lý bất an sẽ thúc đẩy nhau liên tục đến các ngân hàng đề rút tiền, từ đó lan rộng rủi ro cho các ngân hàng khác. Đối với sự sụp đổ của một NHTM lớn, nó có thể lây lan sự đổ vỡ ra toàn hệ thống, thậm chí còn kéo theo sự đổ vỡ của hệ thống tài chính của một quốc gia và các quốc gia lân cận, hoặc lan rộng ra toàn thế giới dẫn đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Vì thế cần phải có sự can thiệp từ sớm của Chính phủ và NHNN để ngăn chặn sự lây lan có thể diễn biến khó lường của hậu quả RRTD gây ra.

  • Đối với nền kinh tế

Hoạt động ngân hàng luôn gắn bó mật thiết đến mọi lĩnh vực khác nhau trong một quốc gia. Vì thế, việc ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân. ngân hàng khủng hoảng không thể giải ngân tiếp tục để xoay vốn, doanh nghiệp không có vốn hoạt động hay trả lương cho nhân viên sẽ dẫn đến các vấn đề kinh tế xã hội như thất nghiệp, suy thoái, khủng hoảng,… Suy thoái kinh tế của một quốc gia lớn có thể gây nên khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu.

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

1.2.1 Khái niệm

Các NHTM thường xuyên gặp nhiều loại rủi ro trong quá trình hoạt động chẳng hạn như rủi ro tỷ giá, RRTD, rủi ro thanh khoản, … Các loại rủi ro khi xảy ra sẽ đem đến những thiệt hại cho các ngân hàng. Với tư cách là cầu nối trung gian trên thị trường vốn, tín dụng nguồn thu nhập chính cho ngân hàng. Tuy nhiên việc cho vay luôn đi kèm với RRTD. Tùy theo mức độ mà RRTD khi xảy ra sẽ ảnh hưởng tiêu cực và gây ra tổn thất nghiêm trọng đến đến hoạt động tín dụng của NHTM. Chính vì vậy, để có thể hạn chế rủi ro và tổn thất có thể xảy ra đòi hỏi các NHTM cần phải QTRRTD một cách chặt chẽ.

  • Có nhiều khái niệm về QTRRTD mà tiêu biểu có thể kể đến một số luận điểm như sau:

Ken Brown & Peter Moles (2014) định nghĩa QTRRTD là quá trình kiểm soát các hậu quả tiềm ẩn của RRTD. Quá trình này tuân theo một khuôn khổ quản lý rủi ro tiêu chuẩn: cụ thể là xác định, đánh giá và quản lý. Có nghĩa là, nguyên nhân của rủi ro phải được xác định, mức độ rủi ro phải được đánh giá và phải đưa ra quyết định về cách quản lý rủi ro này.

Theo Nguyễn Tuấn Anh (2012) QTRRTD là một quá trình xây dựng và thực thi chiến sách, chiến lược liên quan đến việc cho vay của ngân hàng để nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Bùi Diệu Anh (2013) cho rằng QTRRTD là việc phòng ngừa rủi ro và đề xuất các biện pháp nhằm giảm sự ảnh hưởng hoặc triệt tiêu rủi ro.

Mặt khác, Dương Ngọc Hào (2016) lại cho rằng QTRRTD là toàn bộ quá trình  thực hiện để xử lý rủi ro bao gồm việc nhận diện, đánh giá mức độ tổn thất mà ngân hàng phải đối mặt cũng như việc lựa chọn những biện pháp/công cụ phù hợp để xử lý rủi ro.

1.2.2 Nội dung QTRRTD Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

QTRRTD là một chuỗi quá trình bao gồm nhận diện và dự báo rủi ro, đo lường và đánh giá rủi ro, kiểm tra và giám sát rủi ro, xử lý và phòng ngừa rủi ro. Toàn bộ quá trình được thực hiện liên tục theo một trình tự thống nhất, chặt chẽ.

1.2.2.1 Nhận diện rủi ro 

Nhận diện và dự báo RRTD phải được thực hiện thường xuyên và có hệ thống. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể nảy sinh rủi ro, việc nhận biết nhanh chóng các rủi ro là để có những biện pháp theo dõi phù hợp giúp giảm thiểu rủi ro ở mức tối thiểu.

RRTD có thể phát sinh từ chính sai sót trong quy trình cho vay của ngân hàng hoặc cũng có thể đến từ các khách hàng.

  • Về phía khách hàng:

Mỗi khách hàng sẽ có những nguy cơ về rủi ro khác biệt nhau. Một khách hàng có nhiều khoản vay khác nhau cũng tồn tại những nguy cơ riêng đối với từng khoản vay. Chủ yếu rủi ro phát sinh từ nhân tố con người cho nên việc bước đầu thu thập thông tin là đặc biệt quan trọng. Mọi dấu hiệu liên quan về tình hình tài chính, năng lực điều hành,… tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng đều cần được quan sát theo dõi cụ thể.

  • Về phía ngân hàng:

Ngân hàng cần phân tích danh mục và quy trình cho vay của mình sau khi hoàn thành việc cho vay đối với khách hàng để dự báo những nguy cơ tiềm ẩn xảy ra trong quá trình cho vay.

1.2.2.2 Đo lường rủi ro 

Có nhiều phương pháp để đo lường rủi ro mà tiêu biểu có thể kể đến như Mô hình 6C, Mô hình điểm số Z – Score, …

Mô hình 6C Character (Tư cách người vay): đo lường đánh giá ý thức, trách nhiệm của người đi vay về khoản vay. Tinh thần thiện chí trả nợ của họ khi khoản vay đến hạn. Capacity (Năng lực người vay): là đo lường đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc gia. Đối với pháp nhân đang hoạt động thì phải xét đến khả năng hoạt động, khả năng vận hành của pháp nhân đó. Cashflow (Thu nhập người vay): Đánh giá khả năng trả nợ sau khi khách hàng vay vốn thông qua việc xác định thu nhập, doanh thu, tính thanh khoản của tài sản lưu động,… bên cạnh đó đánh giá khả năng sử dụng các khoản chi phí có hợp lý chưa, kiểm tra tình trạng vay vốn của khách hàng tại các TCTD khác, đánh giá khả năng trả nợ trên toàn bộ vốn vay của họ. Đây là nội dung quan trọng để ra quyết định cho vay đối với Khách hàng đó.

Collateral (Tài sản đảm bảo): Xác định nguồn trả nợ dự phòng khi có rủi ro xảy ra, nguồn vốn đảm bảo để giảm thiểu tổn thất cho Ngân hàng. Xác định tình trạng tài sản đảm bảo về giá trị, về tính thanh khoản, về vị thế của Ngân hàng khi đòi cầm cố/ thế chấp tài sản đảm bảo đó. Khi khách hàng vay vốn cần đáp ứng đầy đủ điều kiện về tài sản đảm bảo giống như việc ràng buộc trách nhiệm phải trả nợ của khách hàng khi vay vốn tại Ngân hàng, nếu không trả nợ thì sẽ có biện pháp yêu cầu/ cưỡng chế xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

Conditions (Các điều kiện): Xem xét các yếu tố bên ngoài có thể tác động đến tình hình hoạt động của khách hàng vay vốn như: đối thủ cạnh tranh; tình trạng lao động; thay đổi về công nghệ; lạm phát; yếu tố chính trị, pháp lý, xã hội, mội trường, bệnh dịch… Nắm rõ tình hình thay đổi của môi trường và xem xét hành động ứng phó của khách hàng có phù hợp với tình hình để đánh giá khả năng rủi ro có thể xảy ra. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Control (Kiểm soát): Đánh giá ảnh hưởng từ sự thay đổi luật pháp, quy chế hoạt động đến khách hàng như các luật, quy định, quy chế vể tín dụng đổi mới; sự thay đổi trong bộ hồ sơ tín dụng… Đánh giá mức độ phù hợp của khoản vay sau khi có những đổi mới đó, xem có ảnh hưởng xấu đến khách hàng hay không, khoản vay của khách hàng còn đúng với tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng không.

Trong mô hình 6C thì yếu tố Capacity là quan trọng nhất vì đây là yếu tố then chốt để ngân hàng ra quyết định cho vay. Bên cạnh xem xét khả năng trả nợ, ngân hàng cũng đánh giá kỹ lưỡng về phương án và mục đích vay vốn để đưa ra quyết định cuối cùng.

Còn yếu tố Collateral là yếu tố kém quan trọng nhất vì trên thực tế hiện nay có rất nhiều khoản vay không cần tài sản đảm bảo mà chỉ dựa trên sự tín nhiệm của ngân hàng đối với một khách hàng, những khoản vay này thường là khoản vay nhỏ lẻ, hoặc khách hàng vay vốn được sự đảm bảo trả nợ từ chính phủ.

Tuy nhiên mô hình 6C đo lường đánh giá rủi ro mang tính chủ quan và phụ thuộc vào yếu tố con người để đánh giá rủi ro. Tính chính xác, minh bạch của dữ liệu thu thập được không được đảm bảo.

Bên cạnh việc đánh giá RRTD như một biến số định tính, người ta có thể lượng hóa chỉ tiêu RRTD để xác định mức độ rủi ro, xác xuất xảy ra rủi ro. Có nhiều phương pháp dự báo nguy cơ vỡ nợ của doanh nghiệp đã được xây dựng và công bố mà tiêu biểu trong đó có thể kể đến là mô hình Z-Score của Altman.

  • Mô hình điểm số Z – Score của Altman

Mô hình Z-Score do Altman (1981) đề xuất lần đầu tiên vào năm 1981 thông qua bài nghiên cứu của mình. Mô hình dựa trên việc thiết lập và đo lường khả năng phá sản của các công ty qua 5 biến số gồm X1, X2, X3, X4, X5 như sau:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất, mô hình được xây dựng như sau:

  • Z = 1.2X1 + 1.4X2 + 3.3X3 + 0.6X4 + 0.999X5
  • Nếu Z > 2,99: Ít có khả năng phá sản.
  • Nếu 1,8 < Z < 2,99: Có thể có nguy cơ phá sản. o Nếu Z < 1,8: Có nguy cơ phá sản cao.

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất mô hình được xây dựng như sau:

  • Z’ = 0.717X1 + 0.847X2 + 3.107X3 + 0.420X4 + 0.998X5 o Nếu Z’ > 2,9: Ít có khả năng phá sản.
  • Nếu 1,23 < Z’ < 2,9: Có thể có nguy cơ phá sản. o Nếu Z’ < 1,23: Có nguy cơ phá sản cao.

Các biến số X1, X2, X3, X5 tính như trên, riêng X4 được tính như sau:

Đối với các doanh nghiệp không thuộc ngành sản xuất:

  • Z” = 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4
  • Nếu Z” > 2.6 ∶ Ít có khả năng phá sản o Nếu 1 < Z” < 2.6:
  • Có thể có nguy cơ phá sản
  • Nếu Z” < 1.1 ∶ Có nguy cơ phá sản cao. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Hệ số của các biến số từ X1 đến X4 đều thay đổi. Mô hình đặc biệt này thường được sử dụng trong các ngành nghề mà doanh nghiệp phải trang bị tài sản theo rất nhiều cách khác nhau, đồng thời không thực hiện những điều chỉnh chẳng hạn như vốn hóa hợp đồng thuê mua. Các biến số X1, X2, X3 tính như trên, riêng X4 nếu doanh nghiệp đã cổ phần thì tính theo công thức X4 bằng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu chia cho tổng nợ; nếu doanh nghiệp chưa cổ phần thì X4 bằng giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu chia cho tổng nợ.

Chỉ số Z (hoặc Z’ và Z”) càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Để tăng được chỉ số này cần phải nâng cao năng lực quản trị, rà soát để giảm những tài sản không hoạt động, tiết kiệm chi phí, xây dựng thương hiệu. Đó chính là sự kết hợp gián tiếp nhiều yếu tố tài chính và phi tài chính trong mô hình mới tạo được chỉ số an toàn.

1.2.2.3 Giám sát rủi ro 

Sau khi thực hiện các bước xác định và đo lường rủi ro, nhà quản trị cần xây dựng các chính sách phù hợp để theo dõi các rủi ro có thể xảy ra nhằm đảm bảo RRTD nằm trong khả năng kiểm soát của ngân hàng.

Việc kiểm tra và giám sát rủi ro được thực hiện cụ thể như sau:

  • Trước khi cho vay:

Kiểm tra và đánh giá khách hàng; thẩm định toàn bộ hồ sơ vay vốn, tài sản thế chấp, ….

  • Trong khi cho vay:

Kiểm tra lại bộ hồ sơ vay vốn, hợp đồng tín dụng; kiểm tra tính tuân thủ chính xác của quy trình giải ngân; kiểm tra lại nguồn vốn giải ngân ra đã được sử dụng vào mục đích vay vốn như thỏa thuận,..

  • Sau khi cho vay:

Giám sát thường xuyên nguồn vốn sau khi giải ngân, kiểm soát dòng thu trả nợ có đầy đủ và kịp thời theo như phương án sử dụng, tiến hành kiểm soát tín dụng nội bộ độc lập, đánh giá lại sự phù hợp của các chính sách tín dụng.

1.2.2.4 Xử lý rủi ro

Dù cho ngân hàng có QTRRTD tốt như thế nào đi nữa thì RRTD vẫn xảy ra với nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan. Khi rủi ro xảy ra, các khoản nợ bị xếp vào nợ xấu từ nội bảng sau đó hạch toán ra ngoại bảng để theo dõi ở diện đặc biệt và có một bộ phận chuyên trách trong việc XLRR và thu hồi nợ đã XRLL. Để xử lý các món nợ xấu, ngân hàng có thể sử dụng biện pháp như gia hạn nợ, miễn giảm lãi, xử lý tải sản đảm bảo, khởi kiện, bán nợ, xóa nợ,…

Dựa trên trên kinh nghiệm về xử lý các khoản nợ rủi ro cũng như rút ra được bài học từ nguyên nhân xảy ra rủi ro đó, ngân hàng tiến hành các biện pháp để phòng ngừa rủi ro:

  • Tránh rủi ro:

Bằng cách chủ động từ chối các nhu cầu vay vốn mà ngân hàng nhận thấy rủi ro ngay từ bước đầu tiếp nhận hồ sơ để tránh gây tổn thất về sau. Hoặc ngân hàng chủ động đưa ra điều khoản bắt buộc (điều khoản nhằm loại bỏ rủi ro mà ngân hàng đang nhận thấy ở bộ hồ sơ vay vốn của khách hàng) nếu khách hàng đồng ý vay vốn tại đây.

  • Ngăn ngừa tổn thất:

Ngân hàng có thể mua hoặc yêu cầu khách hàng chi trả các khoản bảo hiểm như bảo hiểm khoản vay, bảo hiểm giá trị tài sản đảm bảo,… Chủ động phân tán rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục cho vay, không tập trung vào ngành mang lại lợi nhuận cao nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn.

1.2.3 Nguyên tắc QTRRTD tại ngân hàng thương mại Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

1.2.3.1 Nguyên tắc cơ bản 

  • Chấp nhận rủi ro trong phạm vi năng lực của ngân hàng

Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, vì vậy các ngân hàng luôn sẵn sàng, chủ động chấp nhận rủi ro trong phạm vi năng lực và khả năng chống đỡ của mình. Các ngân hàng cần chấp nhận rủi ro ở mức phù hợp so với tổng thể lợi ích thu được từ chính sách cho vay ngắn hạn đối với từng khách hàng cũng như trong tương quan với năng lực tài chính, khả năng trích lập dự phòng rủi ro của mình. Các ngân hàng cần xây dựng chính sách và định hướng QTRRTD nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro trong hoạt động ngân hàng bởi vì rủi ro là sự hiện hữu khách quan vốn có trong các nghiệp vụ của ngân hàng. Đây là một xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường. Nguyên tắc đầu tiên trong quá trình QTRRTD trong hoạt động cho vay  đối với khách hàng, các ngân hàng cần nhận thức rủi ro mà mình có thể gặp phải và chấp nhận rủi ro trong phạm vi năng lực của ngân hàng. Việc chấp nhận mức độ, loại rủi ro nào chính là điều kiện quan trọng để phòng ngừa, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chúng trong quá trình QTRR hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN.

  • Quản trị rủi ro trong khả năng cho phép

Nguyên tắc này đòi hỏi NH phải có khả năng kiểm soát, quản trị trị rủi ro hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN không phụ thuộc vào những hoàn cảnh khách quan và chủ quan của nó. Ngân hàng phải tính toán khả năng chống đỡ rủi ro để thực hiện việc cho vay ngắn hạn đối với KHDN, đồng thời duy trì một danh mục cho vay ngắn hạn đối với KHDN phù hợp có sự cân đối, hài hòa giữa tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn với tỷ lệ cho vay trung dài hạn. Chỉ đối với những loại rủi ro mà các NH có thể lường trước, có khả năng quản trị loại rủi ro đó thì các NH mới có thể sử dụng tất cả những công cụ, chính sách và nguồn lực của mình để phòng ngừa, giảm thiểu chúng.

  • Quản lý độc lập các rủi ro cho vay riêng biệt

Các loại rủi ro trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN vừa tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, vừa có những đặc điểm riêng biệt có thể phân biệt với nhau. Chính từ những đặc điểm riêng biệt của từng loại rủi ro trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN mà quá trình QTRR cần phải được nhận thức rõ các đặc điểm riêng biệt để phân loại rủi ro, không thể gộp các loại rủi ro khác vào một nhóm để đưa ra cùng một phương pháp điều hành mà phải có chính sách cụ thể phù hợp với từng loại rủi ro.

  • Phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ sinh lợi

Thu từ trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN là một trong các nguồn thu chủ yếu, có quy mô lớn của NH chính vì vậy không ít NH đã chạy theo mục tiêu lợi nhuận để buông lỏng, làm giảm hiệu quả  trong việc QTRR trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN. Các NH trong quá trình hoạt động của mình chỉ được chấp nhận các loại, mức độ rủi ro cho vay có thiệt hại khi chúng xảy ra không vượt quá mức độ sinh lợi do nếu trích lập dự phòng, sử dụng nguồn dự phòng từ lợi nhuận để xử lý rủi ro sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của NH, gây khó khăn về thanh khoản trong hoạt động điều phối nguồn lực tài chính.

  • Hiệu quả kinh tế Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Mục đích cơ bản của việc QTRR hoạt động cho vay ngắn hạn đối với KHDN là phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực của rủi ro khi xảy ra. Lợi nhuận tổng thể danh mục cho vay đối với khách hàng cần được các ngân hàng kiểm soát bảo đảm lớn hơn chi phí quản trị, xử lý rủi ro khi rủi ro phát sinh.

  • Phù hợp với định hướng kinh doanh của ngân hàng

Hoạt động cho vay đối với khách hàng cần phải dựa trên nền tảng tiêu chí chung của chiến lược phát triển cũng như các chính sách điều hành từng hoạt động riêng biệt của ngân hàng. Điều này tạo sự phát triển đồng đều, hiệu quả và bền vững trong hoạt động của ngân hàng.

  • Loại bỏ rủi ro không phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng

Mỗi ngân hàng đều có khẩu vị rủi ro và nguồn lực xử lý rủi ro khác nhau. Các ngân hàng cần nhận thức rõ loại rủi ro mà mình có thể chấp nhận và quản trị được, kiên quyết từ chối và loại bỏ các hoạt động dẫn đến loại rủi ro trong hoạt động cho vay   đối với khách hàng

1.2.3.2 Nguyên tắc của Basel về quản trị rủi ro tín dụng

Ủy ban Basel về giám sát NH thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các ngân hàng trung ương (NHTW) và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong QTRR tín dụng, đảm bảo hiệu quả và an toàn trong cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

  • Xây dựng môi trường tín dụng phù hợp (3 nguyên tắc):

Nguyên tắc 1: Phê duyệt và xem xét chiến lược RRTD định kỳ, xem xét vấn đề như: mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, khả năng sinh lời.

Nguyên tắc 2: Thực hiện chính sách tín dụng, xây dựng các quy trình, thủ tục cho vay đối với từng khoản vay cụ thể và toàn bộ danh mục nhằm xác định, đánh giá, quản lý và kiểm soát RRTD.

Nguyên tắc 3: Xác định và quản lý RRTD trong mọi hoạt động và mọi sản phẩm của NH. Đảm bảo mọi hoạt động được thực hiện đúng theo các quy trình kiểm soát thích hợp và được phê duyệt đầy đủ.

  • Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc)

Các ngân hàng phải hoạt động trong phạm vi tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng. Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng. Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại.

Nguyên tắc 4: Tiêu chuẩn cấp tín dụng đầy đủ gồm có những hiểu biết về người vay, mục tiêu, cơ cấu tín dụng và nguồn thanh toán.

Nguyên tắc 5: Thiết lập hạn mức tín dụng cho từng khách hàng riêng lẻ, nhóm những khách hàng vay có liên quan với nhau, trong và ngoài bảng cân đối kế toán. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Nguyên tắc 6: Có các quy trình rõ ràng được thiết lập cho phê duyệt khoản tín dụng mới, gia hạn các khoản tín dụng hiện có.

Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng cần dựa trên cơ sở giao dịch thương mại, quản lý chặt chẽ các khoản vay đối với doanh nghiệp và cá nhân liên quan, làm giảm bớt rủi ro trong cho vay.

  • Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10 nguyên tắc)

Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý cập nhật đối với các danh mục đầu tư có RRTD, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng, bao gồm mức độ đầy đủ dự phòng và dự trữ. Khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý RRTD. Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để đo lường được RRTD trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng; theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng; khắc phục sớm đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề.

Nguyên tắc 8: Áp dụng quy trình quản lý tín dụng có hiệu quả và đầy đủ đối với các danh mục tín dụng.

Nguyên tắc 9: Có hệ thống kiểm soát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín dụng riêng lẻ, đánh giá đầy đủ của các khoản dự phòng RRTD.

Nguyên tắc 10: Xây dựng và sử dụng hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ, hệ thống đánh giá cần phải nhất quán với hoạt động của ngân hàng.

Nguyên tắc 11: Hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp ban quản lý đánh giá RRTD cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán.

Nguyên tắc 12: Có hệ thống kiểm soát đối với cơ cấu tổng thể, chất lượng của danh mục tín dụng.

Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lai.

Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục, cần thông báo kết quả đánh giá cho hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao.

Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, cụ thể: việc cấp tín dụng phải tuân thủ với các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và áp dụng kiểm soát nội bộ, những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn mức tín dụng cần được báo cáo kịp thời.

Nguyên tắc 16: Có hệ thống quản lý đối với các khoản mục tín dụng khi phát hiện thấy có vấn đề.

Nguyên tắc 17: Phải có một hệ thống hữu hiệu để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát RRTD như là một phần của cách tiếp cận tổng thể về QLRR.

1.3 Kinh nghiệm QTRRTD tại một số NHTM trong nước Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

1.3.1 Kinh nghiệm QTRRTD từ NHTM Cổ Phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV)

Công tác QTRRTD là công tác được BIDV đặc biệt chú trọng và đã đạt được các thành tựu như sau:

Thứ nhất, BIDV đã triển khai hệ thống quản lý RRTD độc lập thành công cho các chi nhánh. Bộ máy QTRRTD được xây dựng xuyên soát trong bộ máy vận hành, tại Trụ sở chính được chia thành nhiều khối trong đó khối QTRR gồm Ban Quản lý RRTD, ban quản lý rủi ro hoạt động và thị trường, Trung tâm xử lý nợ còn tại chi nhánh thì khối QTRR được xây dựng thành phòng quản lý rủi ro.

Thứ hai, BIDV đã nghiên cứu thành công và đưa vào sử dụng các công cụ đánh giá và đo lượng RRTD cho từng nhóm khách hàng riêng biệt. Cụ thể, BIDV đã xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho nhóm khách hàng là TCTD, khách hàng là TCKT và KHCN. Trong đó đối với khách hàng TCKT, BIDV tiếp tục phân loại ra thành các nhóm ngành và theo từng mức độ quy mô.

Thứ ba, BIDV đã xây dựng bộ tiêu chuẩn riêng để kiểm soát, giám sát RRTD cũng như đưa các mô hình xếp hạng quốc tế vào trong công tác QTRRTD.

Nhờ vậy mà công tác QTRRTD tại BIDV trong những năm qua đã cải thiện hơn và giúp BIDV hạn chế được RRTD xảy ra.

1.3.2 Kinh nghiệm QTRRTD từ NHTM Cổ Phần Công Thương Việt Nam (Vietinbank)

Cũng giống như BIDV, Vietinbank trong những năm qua cũng đã nổ lực trong việc cải thiện hoạt động QTRRTD của mình và đã được những kết quả nhất định. Cụ thể:

Thứ nhất, VietinBank đã thay đổi bộ máy tín dụng theo hướng rõ ràng, độc lập giữa từng bộ phận từ đó tăng cường khả năng giám sát giữa các bộ phận với nhau.

Thứ hai, Vietinbank đã xây dựng hệ thống đo lường RRTD và chấm điểm khách hàng nội bộ theo từng nhóm khách hàng và áp dụng chấm điểm theo hai tiêu chí tài chính và phi tài chính để phân loại khách hàng.

Thứ ba, Vietinbank còn xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chí riêng biệt để đánh giá năng lực của từng doanh nghiệp một cách chi tiết. Qua đó góp phần giúp cho công tác QTRRTD được chính xác và cải thiện.

1.3.3 Bài học kinh nghiệm tại các ngân hàng nước ngoài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

Các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam như HSBC, ANZ, Standard Chatered, BNP Paribas, Sumitomo, Bank of Tokyo, …có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, có phạm vi hoạt động phủ khắp toàn cầu và có năng lực tài chính mạnh mẽ, hệ thống công nghệ hiện đại, chuẩn mực. Các ngân hàng này thành lập chi nhánh, ngân hàng trực thuộc tại Việt Nam chủ yếu hướng đến danh mục khách hàng là các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia có hoạt động tại Việt Nam.

Với mục tiêu chỉ hướng đến các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia có hoạt động tại Việt Nam nên việc cho vay với doanh nghiệp của các ngân hàng nước ngoài luôn yêu cầu điều kiện bắt buộc đó là doanh nghiệp phải có văn bản bảo lãnh, cam kết hỗ trợ tài chính của tập đoàn mẹ tại nước ngoài. Các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam sử dụng hệ thống công nghệ tin học để chấm điểm, đánh giá các tiêu chí tài chính của doanh nghiệp, xác định hạn mức tín dụng và kỳ hạn cho vay dựa trên chấm điểm tự động báo cáo tài chính, hạn chế tối đa việc tác động của con người trong việc ra quyết định cho vay. Việc cho vay dựa trên uy tín và sự bảo lãnh từ tập đoàn mẹ giúp các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam sàng lọc được các doanh nghiệp uy tín đồng thời việc xác định hạn mức cho vay và kỳ hạn cho vay dựa trên hạ tầng công nghệ thông tin giúp hạn chế tối đa rủi ro đạo đức của ngân viên, giúp tạo ra chính sách cho vay thống nhất trên phạm vi toàn cầu của các ngân hàng nước ngoài. Vì vậy, các ngân hàng tại Việt Nam cũng cần học tập kinh nghiệm ứng dụng triệt để công nghệ thông tin trong ra quyết định cho vay cũng như cho vay cần bám sát với uy tín của chủ sở hữu doanh nghiệp.

1.3.4 Kinh nghiệm rút ra cho QTRRTD tại Agribank Chi nhánh Bình Thạnh

RRTD luôn tồn tại đối với hoạt động của các ngân hàng. Vì vậy mà công tác QTRRTD luôn là vấn đề hàng đầu đối với các NHTM. Qua nghiên cứu QTRRTD ở hai ngân hàng lớn trong hệ thống là BIDV và Vietinbank, tác giả nhận thấy bộ phận QTRRTD của cả hai ngân hàng đều được xây dựng xuyên suốt trong hệ thống từ trụ sở chính đến từng Chi nhánh. Bên cạnh đó, bộ máy tín dụng ở cả hai ngân hàng này đều được xây dựng theo hướng phân cấp rõ ràng theo chức năng. Giữa các bộ phận thì được hoạt động một cách độc lập với nhau từ đó gia tăng khả năng giám sát lẫn nhau từ đó hạn chế được rủi ro xảy ra. Ngoài ra, mỗi ngân hàng còn xây dựng một bộ tiêu chí riêng cho hệ thống để đánh giá khách hàng theo từng nhóm ngành, quy mô, … Đồng thời thực hiện việc phân loại nợ, và trích lập dự phòng đầy đủ và chính xác.

Rút kinh nghiệm từ công tác xử lý, thu hồi nợ từ các vụ án tại Agribank cũng như kinh nghiệm từ các ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ quốc tế, Agribank Chi nhánh Bình Thạnh  đã ứng dụng đưa vào thực tế việc cho vay, cấp hạn mức tín dụng.

Đây là những bài học kinh nghiệm trong công tác QTRRTD cho Agribank Chi nhánh Bình Thạnh nói riêng và hệ thống Agribank nói chung.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận về hoạt động QTRRTD tại các NHTM cũng như chỉ ra các mô hình QTRRTD tiêu biểu và bài học kinh nghiệm về QTRRTD của các NHTM trong nước. Từ đó làm cơ sở cho việc đánh giá, phân tích và đưa ra giải pháp trong QTRRTD tại chi nhánh trong các chương tiếp theo. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank

One thought on “Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Agribank

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *