Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài : Các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Tóm tắt :
Lý do chọn đề tài: biến động giá cổ phiếu là một yếu tố vô cùng quan trọng và được quan tâm hàng đầu đối với nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận, với doanh nghiệp niêm yết khẳng định vị thế trên TTCK mà còn giúp chính phủ đưa ra những sách lược giúp ổn định nền kinh tế tài chính.
Mục tiêu của nghiên cứu: phân tích các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu sẽ giúp những chủ thể trong nền kinh tế nói trên có thể phân tích, đánh giá và đạt được những mục tiêu đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu: để đạt được mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu định lượng với mẫu được lấy là 551 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX với tổng 6.612 quan sát giai đoạn 2010-2021.
Kết quả nghiên cứu: Thông qua kết quả của mô hình hồi quy cũng như các kiểm định liên quan, đề tài đã tìm ra được 9 biến có ý nghĩa và 0 biến không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Kết luận và khuyến nghị: kết quả nghiên cứu cũng đưa ra được các biến có tác động là cùng chiều hay ngược chiều với biến động giá cổ phiếu, từ đó đề tài cũng đưa ra những khuyến nghị về chính sách kinh tế vĩ mô, khuyến nghị cho nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra những hạn chế của đề tài từ đó đưa ra những đề xuất cho những nghiên cứu trong tương lai.
Từ khóa: biến động giá cổ phiếu, nhân tố tác động, thị trường chứng khoán Việt Nam, phương pháp thống kê mô tả và nghiên cứu định lượng. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
ABSTRACT
Title: Factors affecting share prices volatility of enterprises listed on Vietnam stock market
Motivation: Stock price volatility is indeed an important concern for investors, particularly those who are looking to make a profit through buying and selling stocks. This volatility can be also an indicator of market sentiment towards a particular company. At a macro-level, stock price fluctuations can have a significant impact on the overall stability of the financial economy, and as a result, governments may implement strategies to help stabilize financial markets and reduce volatility.
Scope of study: Analyze the factors that affect stock price volatility to provide valuable insights for investors, companies, and governments to achieve their economic goals.
Method: This study use quantitative and descriptive statistics approach to analyze a sample of 551 companies listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange (HOSE) and Hanoi Stock Exchange (HNX) over a period of 2010-2021 with 6612 observations.
Result : Based on the results of the regression model and the related statistical tests, the study has identified 9 variables that are statistically significant in explaining stock price volatility, while no insignificant variables were found.
Conclusions: According to the results, the identified variables have been found to have either a positive or negative effect on stock price volatility. Based on the findings, the study provides recommendations on macroeconomic policies, as well as recommendations for investors and businesses to help manage stock price volatility and achieve their economic goals. In addition, limitations of the study were pointed out and suggested directions were discussed for the future study.
Keyword: Stock price volatility, factors affecting, Vietnam stock market, quantitative and descriptive statistics.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan đề tài nghiên cứu
1.1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt 25 năm hình thành và phát triển, TTCK Việt Nam không ngừng hoàn thiện, cung cấp cho công chúng các sản phẩm phong phú, đa dạng hóa danh mục đầu tư và hạn chế rủi ro.
Chỉ trong vòng 10 tháng đầu năm 2021, các nhà đầu tư cá nhân Việt Nam đã mở mới hơn 1 triệu tài khoản chứng khoán, cao hơn tổng số tài khoản đã được mở bằng 4 năm 2017-2020 cộng lại. Điều đó cho thấy sức hút lợi nhuận mà chứng khoán mang lại cho nhà đầu tư, góp phần đẩy thanh khoản thị trường lên hàng tỉ USD/phiên và liên tục đưa chỉ số chứng khoán VN-Index thiết lập những kỷ lục mới.
Giá cổ phiếu là một trong những chỉ số quan trọng giúp người đầu tư biết được cổ phiếu đó bao nhiêu tiền, cổ phiếu nào đáng mua và có khả năng sinh lợi tốt nhất. Sự thay đổi của giá cổ phiếu là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một cổ phiếu cụ thể bởi nó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà khách hàng kiếm được thông qua chênh lệch giá mua và giá bán. Chính vì vậy, người đầu tư luôn cố gắng tìm ra quy luật cũng như cách mà giá cổ phiếu biến động, mục đích cuối cùng để dự báo sự biến động của giá cổ phiếu và từ đó đưa ra quyết định đầu tư. Có rất nhiều nhân tố khác nhau cùng tác động nên biến động giá cổ phiếu với những mức độ cùng chiều hay ngược chiều, đó có thể là các nhân tố bên bên ngoài doanh nghiệp như: lạm phát, lãi suất tiết kiệm, tốc độ tăng trưởng kinh tế, TTCK Mĩ, biến động giá vàng hay các nhân tố của doanh nghiệp tác động nên biến động giá cổ phiếu như: Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và quy mô doanh nghiệp.
Ngoài ra, khi TTCK ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều nhà đầu tư mới tham gia tìm kiếm lợi nhuận từ thị trường này. Tuy nhiên, các nhà đầu tư mới chưa có nhiều kiến thức về kinh tế – tài chính, chưa hiểu rõ các thông số tác động lên biến động cổ phiếu gây ra việc đầu tư theo đám đông hoặc hoặc tiếp cận với các thông tin không chính thống, mơ hồ, từ đó sẽ gây ra nguy cơ mất vốn của NĐT đồng thời ảnh hưởng xấu đến cả thị trường.
Điều đó thật sự cần thiết khi có 1 nghiên cứu phân tích về các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu, từ đó giúp NĐT có thể đưa ra được những quyết định đầu tư đúng đắn với các thông số thu thập được. Chính vì vậy, tôi đã chọn “Các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam” làm đề tài cho nội dung nghiên cứu của luận văn này. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
1.1.2. Điểm mới của đề tài
Các nghiên cứu của các luận văn trước đây chỉ tập trung tìm hiểu các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu trên HOSE hoặc với các nhóm ngành cụ thể như bất động sản, ngân hàng…mà chưa phân tích các nhân tố tác động lên biến động giá cổ phiếu của HNX. Vì vậy trong nghiên cứu của luận văn này, tôi sẽ tìm hiểu các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến giá cổ phiếu trên HOSE, HNX.
Ngoài ra, việc bổ sung biến mới là TTCK Mỹ, với đại diện là chỉ số công nghiệp Dow Johns nhằm đánh giá những tác động lan tỏa của TTCK toàn cầu đại diện là Mỹ lên biến động giá của cổ phiếu Việt Nam, từ đó tìm câu trả lời cho nhận định TTCK Mỹ tác động mờ nhạt hoặc không rõ rệt đến TTCK Việt Nam hiện nay.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Thông qua các nghiên cứu trước của các chuyên gia trên thế giới cũng như tình hình kinh tế Việt Nam, tác giả mong muốn tìm hiểu các nhân tố tác động đến biến động giá chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX, tìm ra quy luật cũng như cách mà giá cổ phiếu biến động từ đó đưa ra những quyết định cũng như kiến nghị đầu tư phù hợp.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, đề tài xây dựng các mục tiêu cụ thể:
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến biến động giá chứng khoán;
- Phân tích mức độ tác động của các nhân tố đến biến động giá chứng khoán giai đoạn 2010 – 2021;
- Gợi ý các chính sách và đưa ra những kiến nghị nhằm tăng sự ổn định về giá của chứng khoán niêm yết, đảm bảo sự ổn định của TTCK.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Sau khi xác định được mục tiêu nghiên cứu đã trình bày ở trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Nhân tố nào tác động đến biến động giá cổ phiếu của doanh nghiệp?
- Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố lên biến động giá là cùng chiều hay ngược chiều?
- Biện pháp và kiến nghị nào được đưa ra nhằm tăng sự ổn định về giá của chứng khoán niêm yết?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố tác động đến biến động giá của cổ phiếu của doanh nghiệp.
Phạm vi của nghiên cứu: được thực hiện với mẫu được lấy là 551 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX với tổng 6.612 quan sát giai đoạn 2010 – 2021. Giai đoạn 2010- 2021 là thời điểm TTCK phát triển mạnh mẽ với số lượng các doanh nghiệp niêm yết, số lượng nhà đầu tư tham gia vào thị trường. Ngoài ra, giai đoạn này cũng là thời điểm nền kinh tế biến động mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19.
Việc không lựa chọn cổ phiếu trên Upcom để phân tích do tính minh bạch trên thị trường này thấp hơn HOSE và HNX.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định lượng được tác giả lựa chọn là phương pháp sử dụng chính trong đề tài này. Áp dụng các kiểm định mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và sử dụng ước lượng GLS để khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình được chọn nhằm đánh giá tác động của các biến: lạm phát, lãi suất tiết kiệm, GDP, TTCK Mĩ, giá vàng, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức hàng năm, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và quy mô của các doanh nghiệp niêm yết tác động nên giá cổ phiếu.
Mô hình cung cấp một thử nghiệm về mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu và các biến phụ thuộc từ đó đánh giá tác động của mỗi biến với sự thay đổi của giá cổ phiếu. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
1.6 Kết cấu của luận văn
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra ở trên, đề tài nghiên cứu đặt ra những nội dung nghiên cứu sau:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về TTCK và khảo lược các nghiên cứu trước đây.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Gợi ý chính sách và kết luận.
1.7 Đóng góp của đề tài
Thông qua nghiên cứu này, sẽ giúp các nhà đầu tư nắm rõ hơn các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu, từ đó có thể phân tích, đánh giá tiềm năng, đưa ra những quyết định đầu tư phù hợp đặc biệt là những NĐT mới tham gia thị trường. Giúp doanh nghiệp hoạch định chính sách phát triển tăng giá trị thị trường của công ty. Đồng thời, giúp chính phủ đưa ra những sách lược phù hợp nhằm ổn định nền kinh tế. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Tóm tắt chương 1
Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu được tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết cũng như điểm mới của đề tài. Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra để nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài. Phạm vi nghiên cứu được lựa chọn là 551 doanh nghiệp được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2010- 2021 bằng phương pháp định lượng được tác giả lựa chọn là phương pháp sử dụng chính trong đề tài này. Áp dụng các kiểm định mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và sử dụng ước lượng GLS để khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình được chọn nhằm đánh giá tác động của các biến. Từ đó, tác giả mong muốn cung cấp thông tin một các tổng quan nhất về các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu giúp các NĐT, doanh nghiệp niêm yết cũng như chính phủ đưa những quyết định phù hợp, nhằm đảm bảo sự ổn định của TTCK.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 sẽ trình bày lý thuyết cơ bản về TTCK, cổ phiếu và các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu, đồng thời khảo lược các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước từ đó tìm ra điểm mới của đề tài nghiên cứu.
2.1. Thị trường chứng khoán
2.1.1. Khái niệm về thị trường chứng khoán.
Chứng khoán là công cụ pháp lý ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tổ chức pháp hành. Chứng khoán có tính thanh khoản cao tức là khả năng hoàn chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàng tuy nhiên đây cũng là tài sản có rủi ro cao, vì trên thực tế giá chứng khoán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chất lượng hoạt động của tổ chức phát hành để đến tâm lý của các NĐT cũng như khả năng điều hành thị trường của các nhà quản lý.
Tại điều 4 Luật chứng khoán 2019 định nghĩa, chứng khoán là tài sản bao gồm các loại sau đây:
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
- Chứng quyền, chứng quyền có đảm bảo, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu quỹ;
- Chứng khoán phái sinh;
- Các loại chứng khoán khác do chính phủ quy định.
Chứng khoán có tính lưu thông, tức là có khả năng trao đổi, mua bán, cho tặng, thừa kế hoặc đem bảo đảm cho các nghĩa vụ về tài sản. Tuy nhiên, nó chỉ có thể lưu thông trên một thị trường đặc biệt là thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán của các loại chứng khoán. TTCK cho phép các công ty, tổ chức và các nhân mua bán các chứng khoán từ đó thu hút các nguồn vốn và tạo ra lợi nhuận. Hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ lẻ trong xã hội tập trung thành các nguồn vốn lớn và dài hạn tài trợ cho doanh nghiệp để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay các dự án đầu tư.
TTCK cũng được sử dụng để đánh giá giá trị của công ty và tăng cường tính minh bạch của công ty. Các NĐT có thể đánh giá các công ty bằng cách xem xét giá cổ phiếu mà chúng niêm yết trên TTCK.
TTCK được xem là đặc trưng cơ bản biểu tượng cho nền kinh tế hiện đại và là một trong những phần quan trọng nhất của nền kinh tế và tài chính, nó ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và cuộc sống của mọi người. TTCK là một thị trường có tính cạnh tranh cao và thường xuyên có sự biến động về giá, do đó các NĐT khi tham gia vào thị trường này cần nắm vững kiến thức và kĩ năng để đưa ra những quyết định đầu tư chính xác và hiệu quả.
2.1.2. Vai trò của thị trường chứng khoán Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
TTCK ngày càng thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. Mọi biến động trên TTCK đều có thể tác động đến nền kinh tế và các NĐT. Đây chính là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế và cũng là kênh đầu tư tiềm năng của công chúng.
- Đối với nhà đầu tư
TTCK mang đến cho NĐT những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú phù hợp với từng đối tượng có tâm lý và chiến lược riêng. Với điều kiện tham gia vào TTCK một cách dễ dàng, giúp các NĐT nhỏ lẻ có thể dễ dàng tham gia mặc dù nguồn vốn eo hẹp hay lớn mạnh để có thể tìm kiếm được lợi nhuận mong muốn cao hơn các kênh đầu tư khác. TTCK hệ thống các cổ phiếu ở các ngành kinh tế khác nhau, NĐT có thể tự mình lựa chọn hoặc thông qua các nhà tư vấn tài chính chuyên nghiệp từ đó lựa chọn những hình thức đầu tư phù hợp nhất, nguồn vốn nhà rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào đầu tư. Vốn đầu tư sinh lời càng kích thích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dân chúng. Nếu không có TTCK thì nguồn vốn tiết kiệm trong dẫn chúng vẫn có thể nằm dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiết kiệm và không đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế.
Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đó nâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự phát triển kinh tế.
- Đối với các doanh nghiệp
TTCK giúp các doanh nghiệp đa dạng hóa các hình thức huy động vốn bằng cổ phiếu hoặc trái phiếu, từ đó có thể giảm bớt các khoản vay ngân hàng với lãi suất cao. Doanh nghiệp có chứng khoán được niêm yết trên TTCK mang lại sự uy tín đối với công chúng, với thông tin về kết quả kinh doanh được công khai minh bạch và cập nhật thường xuyên từ đó giúp doanh nghiệp huy động được các nguồn vốn giá rẻ, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn.
Việc tham gia vào TTCK giúp doanh nghiệp thu hút được nguồn vốn nước ngoài, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng cơ hội kinh doanh trong nước. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đã bao hàm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó ở hiện tại và dự đoán trong tương lai. Nói cách khác, giá cổ phiếu của một doanh nghiệp cao hay thấp thể hiện ở khả năng mang lại cổ tức cho các cổ đông của doanh nghiệp đó.
- Đối với nền kinh tế
TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế. Thêm vào đó, TTCK giúp tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân. Nhờ có TTCK, Chính phủ có thể huy động các nguồn lực tài chính mà không bị áp lực về lạm phát, đặc biệt khi nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước còn hạn chế.
TTCK được coi như “phong vũ biểu” của nền kinh tế, TTCK có thể phản ánh triển vọng nền kinh tế cho giai đoạn sắp tới. Theo giới phân tích thì TTCK sẽ đi trước sự thay đổi của nền kinh tế 6 tháng. Cụ thể là, giá chứng khoán tăng sẽ cho thấy đầu tư đang mở rộng một nền kinh tế phát triển, và ngược lại, giá chứng khoán giảm cho thấy các dấu hiệu suy thoái, dự báo không mấy tốt đẹp về triển vọng của nền kinh tế trong tương lai.
TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thiếu hụt ngân sách và hạn chế lạm phát. Cùng với những chính sách và biện pháp tác động vào TTCK, chính phủ có thể định hướng đầu tư, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế.
TTCK còn hỗ trợ cho công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cùng với hệ thống tín dụng của ngân hàng tạo ra một cơ cấu thị trường vốn Việt Nam cân đối hơn, hiệu quả hơn, hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế.
2.1.3. Thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
TTCK Việt Nam chính thức được khai sinh khi Nghị định số 48/CP của Chính phủ được ký vào ngày 11-7-1998.
Ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức đi vào hoạt động, thực hiện phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiếu REE và SAM.
Từ năm 2001- 2005 thị trường không có nhiều biến đổi, đây là thời điểm các NĐT và các doanh nghiệp làm quen với thị trường. Lúc này vốn hóa thị trường chỉ chiếm 1% GDP. Tuy nhiên vào năm 2005, trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam được thành lập. Cùng với đó là sự ra đời của Trung tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (tiền thân của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội – HSX) vào ngày 8/3/2005. TTCK bắt đầu được mở rộng với 2 sở giao dịch, giúp quy mô và chất lượng của TTCK ngày càng phát triển nhanh chóng.
Trong năm 2006, 74 doanh nghiệp mới đã được niêm yết trên sàn HOSE, điều này đã giúp giá trị vốn hóa thị trường tăng từ 7.400 tỷ đồng lên 148.000 tỷ đồng. Chỉ số VN-Index cũng lên mức 752 điểm, tăng 144% chỉ sau 1 năm.
Ngày 12/3/2007, chỉ số VN-Index đạt đỉnh lịch sử khi kết phiên ở 1.170,67 điểm. Con số này cao hơn khoảng 3,9 lần so với thời điểm đầu năm 2006. Vào năm 2006, vốn hóa TTCK chỉ chiếm khoảng 22% GDP. Thế nhưng chỉ sau 1 năm, vào năm 2007, con số này là 40%. Làn sóng IPO của doanh nghiệp nhà nước là tác động chủ yếu khiến VN-Index đạt đỉnh vào năm này. Sau năm 2007, 2008 là thời điểm đen tối nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam. Bị ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu, VN-Index khép lại năm 2008 với mức giảm 66%, rơi xuống 316 điểm. Giá trị vốn hóa trên HOSE cũng đồng thời “bốc hơi” 195.000 tỷ đồng.
Giai đoạn 2010 – 2020, đã có nhiều bước tiến vượt bậc tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn Covid-19. Quy mô hụy động vốn trong giai đoạn này đạt gần 2.9 triệu tỷ đồng tăng gấp 10 lần so với giai đoạn 2000- 2010, đóng góp bình quân 19.5% tổng mức đầu tư toàn xã hội, góp phần cơ cấu lại hệ thống tài chính Việt Nam theo hướng cân đối và bền vững hơn. Trên thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2020 có 745 cổ phiếu niêm yết và 910 cổ phiếu đăng ký giao dịch, bao gồm đa dạng các cổ phiếu từ các ngành nghề và lĩnh vực khác nhau.
TTCK đã thu hút đông đảo các NĐT trong nước và nước ngoài với trình độ ngày càng cao, từ 3.000 tài khoản năm 2000, đến 30/11/2022 đã đạt trên 6.755.418 tài khoản, bao gồm 42.458 tài khoản của các NĐT nước ngoài giúp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần phát triển nhiều doanh nghiệp niêm yết thành các doanh nghiệp có thương hiệu quốc tế và quảng bá hình ảnh kinh tế Việt Nam. Giá trị danh mục đầu tư của NĐT nước ngoài chiếm khoảng 20% vốn hóa thị trường cổ phiếu.
Hơn 20 qua, TTCK Việt Nam đã trải qua nhiều biến động, không ngừng củng cố, hình thành và phát triển trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, một kênh đầu tư phổ biến giúp các NĐT có những khoản thu nhập đáng kể. Hoạt động của thị TTCK ngày càng được công khai, minh bạch, phù hợp với các tiêu chuẩn và thông lệ về quản trị công ty, năng lực quản lý, giám sát, thanh tra và thực thi của các cơ quan quản lý nhà nước được tăng cường.
2.2. Cổ phiếu Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Theo khoản 1 điều 121 Luật doanh nghiệp năm 2020, cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Nói cách khác, cổ phiếu là giấy chứng nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của công ty cổ phần.
Tùy thuộc vào trách nhiệm và quyền hạn của cổ đông đối với công ty, theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) cổ phiếu được phân loại thành hai loại: cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu phổ thông là cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cổ đông nắm giữ thường là một trong những người chủ doanh nghiệp nên là người trực tiếp thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh cũng như chịu rủi ro trong kinh doanh. Giá cổ phiếu phổ thông biến động rất nhạy, đặc biệt trên thị trường thứ cấp. Sự biến động về giá không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận công ty mà còn rất nhiều yếu tố khác như: môi trường kinh tế, quy luật cung cầu của thị trường hay sự biến động lãi suất. Cụ thể hơn nữa, thị giá cổ phiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biến động theo chiều ngược lại với biến động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công cụ nợ vay dài hạn lãi suất cố định và lãi suất tiền gửi ngân hàng.
Cổ phiếu ưu đãi là giấy chứng nhận cổ đông được ưu tiên hơn so với cổ đông thường về mặt tài chính, nhưng bị bạn chế quyền hạn với công ty góp vốn. Người giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng quản trị hoặc ban kiểm soát công ty, nhưng được ưu tiên chia cổ tức trước cổ đông thường, ưu tiên được trả nợ trước cổ đông thường khi thanh lý tài sản trong trường hợp công ty bị phá sản. Cổ phiếu ưu đãi có quyền nhận được thu nhập cố định từ một tỷ lệ lãi suất cố định không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu phụ thuộc vào sự thay đổi của lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty.
Như vậy, việc đầy tư vào cổ phiếu không chỉ đơn giản là nhận cổ tức và công ty chi trả cho NĐT, mà quan trọng hơn chính là đầu tư chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trường. Khi cổ phiếu công ty được nhiều người mua, chứng tỏ thị trường tin tưởng vào hiện tại và khả năng phát triển của công ty trong tương lai và ngược lại.
2.3. Phân loại giá cổ phiếu Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Theo Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), giá cổ phiếu được phân loại thành:
2.3.1. Mệnh giá
Là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu. Mệnh giá của cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa, ít có giá trị kinh tế. Mệnh giá không có giá trị thực tế đối với NĐT nên nó không liên quan đến giá trị thị trường của cổ phiếu đó.
Căn cứ khoản 2, điều 13 của bộ luật chứng khoán 2019 đã quy định mệnh giá của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ khi phát hành và chào bán là 10.000 VNĐ.
2.3.2. Thư giá
Giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán, phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty tại một thời điểm nhất định. Con số này thường được phân tích và tính toán dựa trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Vốn cổ phần+thặng dư+tích luỹ
- Thư giá =
- Tổng số cổ phiếu lưu hành
Thư giá sẽ không có sự thay đổi trong một kỳ kế toán, khi giá trị này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp càng vững mạnh và lợi nhuận càng tiềm năng hơn. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Khi giá trị thị trường của cổ phiếu lớn hơn thư giá, tức là cổ phiếu đó đang được các NĐT trên thị trường đánh giá cao. Ngược lại, những cổ phiếu có giá trị thị trường nhỏ hơn thư giá chứng tỏ thị trường không có sự kỳ vọng cao.
2.3.3. Giá trị lý thuyết
Giá trị tính toán cổ phiếu của công ty tại thời điểm hiện tại, xác định căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường.
Đây là căn cứ quan trọng cho NĐT đầu tư vào cổ phiếu, sau khi xác định giá trị lý thuyết của cổ phiếu, NĐT có thể so sánh với giá thị trường từ đó đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.
2.3.4. Giá trị thị trường
Trong TTCK, giá trị khớp lệnh của một cổ phiếu ở một thời điểm cụ thể sẽ được hiểu là giá trị thị trường của cổ phiếu tại thời điểm đó. Trên thực tế, giá trị thị trường của cổ phiếu không phải do công ty ấn định hay do cá nhân nào quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó. Hay nói cách khác, giá thị trường của cổ phiếu được xác định dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường.
Thị giá cổ phiếu sẽ biến động theo thời gian và phụ thuộc nhiều vào sự biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô, lãi suất, sự tăng trưởng – suy thoái của công ty, chính sách chi trả cổ tức…đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho giá cổ phiếu thường xuyên biến động mạnh hơn so với các loại chứng khoán khác.
2.4. Biến động giá cổ phiếu Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Biến động giá (PV – Price Volatility) là sự thay đổi giá hàng ngày của cổ phiếu. Độ biến động giá cổ phiếu là thước đo mức độ không chắc chắn về lợi nhuận sẽ thu được từ cổ phiếu. Sự biến động này lớn, nghĩa là giá của cổ phiếu có khả năng được trải rộng trong phạm vi lớn. Điều này có nghĩa là, giá cổ phiếu có thể thay đổi đáng kể trong thời gian ngắn theo cả hai hướng tăng hoặc giảm. Và ngược lại, độ biến động này thấp nghĩa là giá trị của cổ phiếu không bị biến động đột ngột mà sẽ thay đổi từ từ theo một quá trình. Con số này thường được biểu hiện dưới dạng đơn vị phần trăm.
Biến động giá cổ phiếu có nhiều nguyên nhân khác nhau như:
- Tình hình kinh tế: Nếu nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định, TTCK có thể tăng giá trị. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế biến động như suy thoái hoặc khủng hoảng tài chính, giá cổ phiếu có thể biến động giảm.
- Thông tin công bố: Các thông tin liên quan đến doanh nghiệp như công bố báo cáo tài chính, tin tức về đối thủ cạnh tranh, các thông tin liên quan đến lĩnh vực kinh doanh hay chính sách của chính phủ có thể gây ra biến động giá cổ phiếu.
- Sự thay đổi trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh, sản phẩm và dịch vụ mới, các thỏa thuận đối tác, hoạt động tài chính như phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
- Tâm lý NĐT: sự biến động trong giá cổ phiếu có thể được tác động bởi tâm lý NĐT, ví dụ như khi có một sự kiện xảy ra hoặc thông tin không chính thức được phổ biến, có thể dẫn đến các hành động mua bán của NĐT và tác động đến giá cổ phiếu. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Có rất nhiều nguyên nhân gây tác động đến biến động giá của cổ phiếu, tuy nhiên trong bài nghiên cứu của tác giả chỉ lựa chọn một số nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp làm lựa chọn cho bài phân tích của mình.
Biến động giá cổ phiếu có ảnh hưởng rất lớn đến NĐT, các doanh nghiệp niêm yết và với nền kinh tế như sau:
- Đối với NĐT: biến động giá cổ phiếu là một yếu tố vô cùng quan trọng, bởi nó sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận mà NĐT thu được thông qua việc chênh lệch giá mua và giá bán. Nếu giá cổ phiếu tăng, NĐT có thể có lợi nhuận từ cổ phiếu đã mua trước đó. Tuy nhiên, khi giá cổ phiếu giảm NĐT có thể mất tiền và ảnh hưởng đến tâm lý NĐT đặc biệt khi giá cổ phiếu giảm mạnh đột ngột.
- Đối với doanh nghiệp niêm yết: biến động giá cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp niêm yết theo nhiều cách khác nhau. Nếu giá cổ phiếu của doanh nghiệp tăng, đây có thể là một dấu hiệu tích cực cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động tích cực và đạt được các mục tiêu tài chính. Tuy nhiên, khi giá cổ phiếu của doanh nghiệp giảm, điều này sẽ dẫn đến áp lực cho các cổ đông, NĐT cũng như các bên kinh doanh khác để doanh nghiệp phải đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện tình hình kinh doanh của mình.
- Đối với nền kinh tế: biến động giá cổ phiếu cũng có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế như một chỉ báo cho thấy trạng thái và xu hướng của tình hình tài chính. Nếu giá cổ phiếu ít bị biến động cho thấy nền kinh tế được kiểm soát tốt, ngược lại, nếu giá cổ phiếu biến động mạnh theo xu hướng giảm thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
2.4.1. Các lý thuyết liên quan đến biến động giá
Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient market hypothesis)
Lý thuyết thị trường hiệu quả là một lý thuyết trong thị trường tài chính, có nguồn gốc từ cuộc tranh luận giữa 2 nhà kinh tế Eugene Fama và Paul Samuelson vào những năm 1960. Theo lý thuyết này, thị trường tài chính là hiệu quả nếu giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ các thông tin liên quan đến giá cổ phiếu và giá cổ phiếu chỉ thay đổi khi có thông tin được công bố.
Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, các NĐT không thể đạt được lợi nhuận cao hơn so với trung bình của thị trường trong dài hạn bởi vì thông tin được phản ánh nhanh chóng và chính xác trong giá cổ phiếu. Điều này đối lập với quan điểm của các NĐT chủ động cho rằng họ có thể tìm ra các cổ phiếu giá rẻ hoặc tiềm năng có giá cao hơn so với trung bình của thị trường.
Lý thuyết thị trường hiệu quả góp phần định hướng cho nhiều chiến lược đầu tư cơ bản như đầu tư theo chỉ số, quỹ ETF, hay quỹ chứng khoán được phân phối công khai. Tuy nhiên, có những nhà phê bình cho rằng lý thuyết thị trường hiệu quả có những giả định quá đơn giản và bỏ qua một số yếu tố quan trọng trong việc xác định giá cổ phiếu như tính bất định trong tương lai và yếu tố tâm lý của NĐT.
- Các cấp độ của thị trường hiệu quả: Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Cấp yếu: thị trường không phản hồi hiệu quả với các sự kiện ảnh hưởng tới các công ty và giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu chỉ phản ánh về các biến động về giá trong quá khứ từ đó, NĐT không thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua sự biến động giá trong quá khứ.
Cấp trung bình: giá cổ phiếu sẽ phản ánh toàn bộ các thông tin liên quan đến biến động giá cổ phiếu trong quá khứ cũng như các thông tin liên quan đến công ty và lợi nhuận thì trường đã được công bố tuy nhiên NĐT cũng rất khó để tìm kiếm lợi nhuận.
Cấp mạnh: giá cổ phiếu phản ánh tất cả các thông tin về biến động giá trong quá khứ, các thông tin về doanh nghiệp đã được công bố và cả thông tin về nội bộ doanh nghiệp và các chuyên gia. NĐT có thông tin nội bộ có thể dễ dàng mua đi bán lại cổ phiếu để tìm kiếm lợi nhuận.
- Lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay (Bird- In- Hand Theory)
Lý thuyết chú chim trong lòng bàn tay là một lý thuyết quản trị tài chính được phát triển bởi Myron Gordon (1963) và John Litner(1962). Lý thuyết này khẳng định rằng giá trị công ty nằm trong bàn tay của người sở hữu công ty chứ không phải ở trong tài sản cụ thể của công ty.
Theo lý thuyết này, chú chim trong lòng bàn tay biểu thị cho cổ tức mà công ty chi trả cho cổ đông, một NĐT yêu thích dòng tiền đến từ cổ tức hơn là dòng tiền đến từ lãi vốn. Bởi lẽ, dòng tiền đến từ cổ tức là dòng tiền mà NĐT chắc chắn nhận được ngay lập tức họ có thể sử dụng tiền đó để chi tiêu hoặc đầu tư theo ý muốn của mình, trong khi nguồn lãi vốn có được do kết quả thành công từ việc tái đầu tư trong tương lai của công ty và đó là điều không chắc chắn. Từ đó ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của công ty.
Tuy nhiên, lý thuyết này cũng bị các nhà phê bình cho rằng lý thuyết quá đơn giản và không áp dụng được trong mọi trường hợp. Việc quyết định trả cổ tức hay đầu tư mở rộng kinh doanh của công ty còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm chiến lược kinh doanh, tình trạng tài chính và các cơ hội đầu tư khác.
- Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random Walk Theory)
Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên tuyên bố rằng giá cổ phiếu chuyển động ngẫu nhiên và không thể đoán trước được, khiến cho tất cả các phương pháp dự đoán biến động giá cổ phiếu trong dài hạn là không có tác dụng và chỉ làm lãng phí thời gian của chúng ta mà thôi. Theo Burton Malkiel trong “A Random Walk Down Wall Street” ông cho rằng mua và bán cổ phiếu trong dài hạn là tốt nhất. Sẽ rất vô ích nếu các NĐT riêng lẻ tiên đoán thị trường. Những lỗ lực trong việc phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và phân tích khác đề vô ích. Bởi các NĐT phân tích kỹ thuật chỉ tiến hành mua hoặc bán cổ phiếu sau khi xu hướng đã hình thành và phát triển đến một giai đoạn nào đó. Ngoài ra, phân tích cơ bản có thể dẫn đến phân tích sai lầm do việc yếu kém trong việc hiểu sai thông tin.
Tuy nhiên, có những nhà kinh tế học như Keyes – nhà kinh tế học vĩ đại người Anh, Warren Buffet – NĐT chứng khoán thành công bậc nhất thế giới đưa ra quan điểm phân tích cơ bản hoàn toàn có thể dành thắng lợi trong việc tìm kiếm lợi nhuận.
Giá có thể di chuyển theo xu hướng và việc nghiên cứu giá cả trong quá khứ có thể dùng dự báo giá trong tương lai. Bằng cách vận dụng lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, xác suất và toán học các NĐT hoàn toàn có thể thắng được thị trường.
2.4.2. Một số phương pháp ước lượng biến động giá cổ phiếu Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
2.4.2.1. Phương pháp độ lệch chuẩn
Độ lệch chuẩn là một thước đo để đo biến động của một tập dữ liệu, nó thể hiện mức độ phân tán của các giá trị của tập dữ liệu đó so với giá trị trung bình
- Công thức: SD =
- Trong đó:
- SD là độ lệch chuẩn
- Pi: giá cổ phiếu ở giai đoạn thứ i (i= 0,1,2…,n) P_ mean: giá trị trung bình của P n: số quan sát
Phương pháp này là thước đo phổ biến và dễ dàng sử dụng để đo biến động giá cổ phiếu, nó cho phép so sánh mức độ biến động giữa các cổ phiếu trên cùng một thước đo. Như vậy, độ biến động của giá cổ phiếu sẽ tăng tương ứng với căn bậc hai của khoảng thời gian xem xét chứ không tăng tuyến tính.
2.4.2.2. Phương pháp phương sai
Phương sai là một thước đo thống kê để đo mức độ phân tán của dữ liệu. Nó được sử dụng để do biến động giá cổ phiếu bằng các tính toán phương sai của giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhất định. Phương pháp phương sai cũng tương tự như phương pháp độ lệch chuẩn , tuy nhiên, nó cung cấp một cái nhìn khác về mức độ biến động của giá cổ phiếu Công thức: V
Trong đó:
- V là phương sai
- Pi: giá cổ phiếu ở giai đoạn thứ i (i= 0,1,2…,n) P_ mean: giá trị trung bình của P n: số quan sát
Phương sai cho phép đánh giá biến động của giá cổ phiếu bằng cách tính toán tổng các sai số bình phương so với giá trung bình, do đó phương pháp này có thể giúp phát hiện các biến động lớn hơn tại các thời điểm cụ thể.
2.4.2.3. Phương pháp đo biến động giá dựa trên chỉ số PV (Price Variance)
Phương pháp này cho phép đo lường độ biến động của giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên giá trị cao nhất và giá trị thấp nhất trong một khoảng thời gian. PV được tính dựa trên phần trăm biến động của giá, cho phép so sánh biến động giá của các cổ phiếu với nhau
- Công thức
- Trong đó:
- PVt: chỉ số biến động giá cổ phiếu tại thời điểm t
- P_maxt và P_mint: lần lượt là giá cao nhất và giá thấp nhất của cổ phiếu trong thời gian t.
Ưu điểm của phương pháp đo biến động giá dựa trên chỉ số PV so với phương pháp phương sai và độ lệch chuẩn như sau:
Đơn giản và dễ sử dụng: Công thức PV khá đơn giản và dễ sử dụng, chỉ cần tính toán giá trị giá cổ phiếu tối đa và giá trị giá cổ phiếu tối thiểu trong một khoảng thời gian cụ thể và áp dụng vào công thức để tính toán biến động giá.
Phản ánh chính xác sự biến động giá cổ phiếu: Công thức PV được tính dựa trên sự khác biệt giữa giá trị giá cổ phiếu tối đa và tối thiểu trong một khoảng thời gian nhất định, và áp dụng trọng số trung bình giá cổ phiếu để đưa ra kết quả. Do đó, công thức này phản ánh chính xác sự biến động giá cổ phiếu trong một khoảng thời gian nhất định.
Dễ hiểu và dễ giải thích: Vì công thức PV dễ sử dụng và phản ánh chính xác sự biến động giá cổ phiếu, nó dễ hiểu và dễ giải thích cho nhà đầu tư và những người quan tâm đến thị trường chứng khoán.
2.5. Nhân tố ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu
2.5.1. Nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
- Lạm phát (INF)
Lạm phát là hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho TTCK vì khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu.
Giả thuyết Modigliani và Cohn (1979) dự đoán, lạm phát cao dẫn đến thị trường được định giá thấp hơn và lạm phát thấp dẫn đến thị trường được định giá cao. Một số nghiên cứu thực nghiệm của Al-Tamimi và cộng sự (2011), Campbell và Vuolteenaho (2004), Fama và Schwert (1977), Geske và Roll (1983) đã ghi lại mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và giá cổ phiếu. Khi lạm phát tăng quá cao vượt quá tầm kiểm soát, cộng với việc thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ khiến TTCK suy giảm nhanh. Đồng thời, lạm phát khiến tăng trưởng kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực giá cổ phiếu giảm.
- Lãi suất tiết kiệm (INT)
Lãi suất tiết kiệm là mức lãi suất các ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng của các tổ chức, cá nhân. Tùy thuộc vào kỳ hạn gửi, phương thức nhận lãi cũng như quy mô tiền gửi mà mức lãi suất sẽ khác nhau.
Tiết kiệm được xem là một hình thức đầu tư an toàn, không bị rủi ro khi thua lỗ, lại được ngân hàng bảo hộ do đó quyền lợi của người dùng được đảm bảo một cách hiệu quả nhất. Tuy tiền lời không cao nhưng nó lại tăng theo một cách cực kì vững chắc.
Còn đầu tư chứng khoán thì lại là một hình thức hoàn toàn khác, đây được xem là một cách thức đầu tư với khả năng sinh lời cao tuy nhiên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vì vậy việc lựa chọn hình thức đầu tư nào tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro cũng như mong muốn lợi nhuận của NĐT.
Lãi suất và giá cổ phiếu có mối quan hệ chặt chẽ và ngược chiều nhau. Khi lãi suất tiết kiệm thấp, các NĐT sẽ tìm kiếm các lựa chọn thay thế mang lại lợi nhuận và cổ phiếu là một trong những lựa chọn thay thế. Khi các NĐT chuyển từ thị trường tiền tệ, giá cổ phiếu có khả năng tăng do nhu cầu tăng.
Afirenyika và Abel Sanderson (2009), Gan, Lee, Yong và Zhang (2006) cho rằng, tồn tại mối mối quan hệ tiêu cực giữa giá cổ phiếu và lãi suất tiết kiệm. Khi lãi suất tiết kiệm tăng cao, NĐT có nhiều khả năng gửi tiết kiệm, nơi có lợi nhuận được đảm bảo thay vì TTCK nơi lợi nhuận không chắc chắn, từ đó lượng cầu giảm, tác động giá chứng khoán. Mukherjee và Naka (1995) chỉ ra rằng, giá cổ phiếu Nhật Bản có mối quan hệ thuận chiều với lãi suất trong ngắn hạn, tuy nhiên trong dài hạn, mối quan hệ này là ngược chiều.
2.5.1.3. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị bằng tiền của các hàng hóa dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
Theo Al-Tamimi và cộng sự (2011), GDP có các động tích cực nên giá cổ phiếu. Khi nền kinh tế tăng trưởng, hộ gia đình sẽ có thu nhập/ đầu người cao hơn, họ sẽ sẵn sàng chi tiêu hơn, thúc đẩy thị trường sản xuất phát triển và TTCK phát triển. Ngoài ra đối với doanh nghiệp, khi sản lượng tiêu thụ gia tăng theo nhu cầu của hộ gia đình, doanh nghiệp sẽ có xu hướng mở rộng đầu tư, để tận dụng xu hướng ở trên. Như vậy, doanh nghiệp sẽ gia tăng doanh thu và lợi nhuận và qua đó, phát triển TTCK. Ở khía cạnh của chính phủ, ngân sách nhà nước sẽ được gia tăng thông việc các doanh nghiệp đóng thuế nhiều hơn từ đó giúp chính phủ mở rộng đầu tư công. Tất cả những điều này sẽ thúc đẩy TTCK phát triển.
Thực tế, giai đoạn 2006 – 2007 khi Việt Nam có mức tăng trưởng GDP ở mức cao (8.5%/ năm) giá cổ phiếu tăng trưởng ở mức cao và hấp dẫn. Giai đoạn 2008 – 2009, khi GDP bắt đầu giảm ở mức thấp kỉ lục và giá cổ phiếu bắt đầu giảm.
2.5.1.4. Thị trường chứng khoán Mĩ (DJIA) Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng mang tính quốc tế của các thị trường lớn như Mĩ , Nhật Bản, Trung Quốc đến các thị trường nhỏ hơn như các nghiên cứu của Đoan và Hiền (2011); Hamao và cộng sự (1990); Le và Kakinaka(2010); Liu và Pan (1997). Các nghiên cứu này hầu hết đều khẳng định tìm thấy mối quan hệ cùng chiều từ TTCK lớn đến TTCK nhỏ.
Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ được coi là một trong những TTCK lớn nhất và quan trong nhất thế giới, vì vậy những biến động trong thị trường này có thể ảnh hưởng đến nhiều TTCK khác trên toàn cầu trong đó có TTCK Việt Nam.
Mollah và cộng sự (2016) đã kiểm tra các chỉ số hàng ngày của MSCI (Morgan Stanley Capital International) từ 55 TTCK bằng cách sử dụng mô hình DCCGARCH và phát hiện ra rằng, có sự lây lan từ TTCK Hoa Kỳ sang một số thị trường khác trên thế giới trong các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khu vực đồng Euro. Naser (2016) lại tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của tích hợp ngắn hạn giữa TTCK ở các nước mới nổi và các nước phát triển thông qua mô hình đồng liên kết và sửa lỗi. Sugimoto và cộng sự (2014) đã sử dụng phương pháp tiếp cận chỉ số lan tỏa và phát hiện ra rằng các TTCK châu Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi sự lan tỏa từ các TTCK toàn cầu.
Trên thực tế, các biến động trong thị trường chứng khoán Hoa Kỳ có thể ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam theo nhiều cách như:
- Ảnh hưởng qua kênh thị trường tài chính toàn cầu: sự biến động trong TTCK Hoa kỳ có thể dẫn đến sự thay đổi trong giá trị các quỹ đầu tư toàn cầu, bao gồm các quỹ đầu tư tại Việt Nam. Việc thay đổi này có thể ảnh hưởng đến cảm giác đầu tư của các NĐT dẫn đến việc mua bán chứng khoán khiến giá cổ phiếu bị biến động.
- Ảnh hưởng qua các tác động kinh tế và chính trị toàn cầu: TTCK Hòa Kỳ có mối liên hệ mật thiết với kinh tế và chính trị toàn cầu, vì vậy các biến động kinh tế và chính trị toàn cầu có thể ảnh hưởng đến TTCK Hoa Kỳ từ đó ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam.
- Ảnh hưởng qua các quan hệ thương mại và đầu tư các nước: Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng của Việt Nam vì vậy những biến động trong TTCK Hoa Kỳ có thể ảnh hưởng đến quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước từ đó ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam.
Như vậy, TTCK Hoa Kỳ có thể ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam thông qua nhiều kênh khác nhau với các mức độ ảnh hưởng khác nhau, tuy nhiên đến nay có rất ít các nghiên cứu khảo sát vấn đề này tại TTCK Việt Nam.
TTCK Hoa Kỳ trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn đại diện là chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA) một trong những thị trường có giá trị vốn hóa và khối lượng giao dịch hàng đầu thế giới.
2.5.1.5. Giá vàng (GOLD)
Thị trường vàng đóng một vai trò quan trọng đối với các NĐT, đặc biệt là trong những thời điểm nên kinh tế khó khăn, vàng luôn được lựa chọn và là nơi chú ẩn an toàn.
Theo nguyên tắc thông thường: các NĐT khi mới tham gia TTCK, khi thấy giá vàng giảm giá có dấu hiệu bán chứng khoán để mua vàng. Lúc này, giá cổ phiếu đi xuống và giá vàng tăng lên nhanh chóng theo sức cung cầu của thị trường.
Nghiên cứu của von Furstenberg và cộng sự (1989) trên các sàn chứng khoán: New York, London, Frankfurl và Tokyo về các nhân tố tác động lên giá cổ phiếu, kết quả cho thấy giá vàng có mối quan hệ ngược chiều với mức giá trung bình với giá chứng khoán của London, Frankfurt và Tokyo, tuy nhiên mối quan hệ này không tồn tại ở thị trường New York.
Nghiên cứu của Trương Đông Lộc ( 2014) về sự tác động của giá vàng lên sự biến động giá của 20 cổ phiếu niêm yết trên HOSE theo kết quả của phân tích hồi quy đã chỉ ra rằng, sự biến động của giá vàng có mối quan hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lời của mỗi cổ phiếu. Nghĩa là, khi giá vàng tăng thì đầu tư vào vàng là một kênh đầu tư hấp dẫn, từ đó dòng tiền sẽ dịch chuyển từ TTCK sang thị trường vàng làm giá cổ phiếu sẽ giảm xuống và ngược lại.
2.5.2. Nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
2.5.2.1. Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) là phần lợi nhuận của công ty phân bổ cho từng cổ phiếu thường đang lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp và cũng được sử dụng trong định giá cổ phiếu EPS =
Chỉ số EPS còn đại diện cho thu nhập vốn của cổ đông. EPS tăng đồng nghĩa với việc vốn của cổ đông được sử dụng hiệu quả hơn, cổ phiếu càng thu hút được các NĐT từ đó giá cổ phiếu sẽ tăng. Các nghiên cứu được khảo lược như Al-Tamimi và cộng sự (2011); Manoppo (2016) Pudji ( 2017)… cũng chỉ ra mối quan hệ tác động tích cực và đáng kể giữa EPS và cổ phiếu.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Islam và cộng sự (2014), Gursida (2017) chỉ ra rằng giá cổ phiếu không tăng mặc dù EPS đang tăng hoặc EPS không có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
2.5.2.2. Tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS)
Là tỷ lệ của tổng số tiền cổ tức chi trả cho NĐT trên thu nhập ròng của công ty. Đó là phần trăm thu nhập chi trả cho cổ đông dưới dạng cổ tức. Các NĐT trên thị trường đều ưa thích một công ty lịch sử chi trả cổ tức ổn định vì nó phản ánh tình hình kinh doanh, sức khỏe tài chính cũng như hoạt động quản trị của công ty ở mức tốt.
Cổ phiếu của các công ty này thu hút được sự chú ý của nhiều NĐT có ý định mua và nắm giữ để hưởng cổ tức. Khi nhiều NĐT mua cổ phiếu để tận dụng lợi ích này, sẽ làm cho giá cổ phiếu của công ty có xu hướng tăng mạnh và ngược lại, với những công ty có dấu hiệu chi trả cổ tức thấp hơn bình thường hoặc không chi trả, nó là dấu hiệu thể hiện công ty đang gặp khó khăn. Điều này phù hợp với những nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hiếu và cộng sự (2020) khi cho rằng công ty càng trả nhiều cổ tức hơn thì giá cổ phiếu của nó càng biến động thuận chiều.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Hashemijoo Ardekari, and Younasi (2012) tại Malaysia với quy mô 142 công ty giai đoạn 2005 – 2010 bằng mô hình hồi quy bội số lại tìm thấy mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và giá cổ phiếu.
2.5.2.3. Hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E)
P/E là chỉ số đánh giá giá thị trường của cổ phiếu với thu nhập trên một cổ phiếu. Ý nghĩa của chỉ số này thể hiện mức giá mà NĐT sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lợi nhuận thu được từ cổ phiếu. P/E =
Chỉ số P/E ở mức cao, chứng tỏ giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá lợi nhuận mỗi cổ phần đem lại nên khi P/E cao hơn mức trung bình ngành thì cổ phiếu của công ty trở nên kém hấp dẫn hơn so với các cổ phiếu khác, từ đó dẫn đến giá cổ phiếu sẽ điều chỉnh giảm.
Tuy nhiên ở một quan điểm khác, P/E ở mức cao có nghĩa là cổ phiếu có tiềm năng tốt, NĐT kỳ vọng cho việc tăng trưởng thu nhập của cổ phiếu trong tương lai từ đó mức cầu cổ phiếu tăng, tác động giá cổ phiếu tăng và ngược lại. P/E ở mức thấp, NĐT nhận định thu nhập từ cổ phiếu kém hấp dẫn, giá cổ phiếu sẽ giảm.
Một số nghiên cứu thực nghiệm của Bhattarai (2016), Tandon và Malhotra, (2013) cũng cho thấy hệ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu.
2.5.2.4. Quy mô của doanh nghiệp (SIZE)
Quy mô doanh nghiệp là một thước đo tài chính quan trọng được sử dụng để thể hiện giá trị của công ty. Quy mô doanh nghiệp có thể được đo lường qua hiều cách như: doanh thu thuần, lợi nhuận, tổng tài sản, vốn hóa thị trường… và được đo bằng cách lấy logarith tự nhiên của giá trị vốn hóa thị trường của công ty. Trong đó: Vốn hóa = giá trung bình * khối lượng cổ phiếu đang lưu hành cuối năm Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hiếu và cộng sự (2020), Hashemijoo và cộng sự (2012) cho rằng Quy mô của công ty có quan hệ phủ định với sự biến động giá cổ phiếu. Đầu tư vào cổ phiếu của các công ty vừa và nhỏ là rủi ro vô cùng lớn, do khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế, độ minh bạch của thông tin chưa được đánh giá cao, vì vậy giá cổ phiếu thường biến động lớn, điều này đồng quan điểm với nghiên cứu của Hussainey và cộng sự (2011).
Ngoài ra, những doanh nghiệp lớn thường có nhiều cơ hội hơn trong việc đa dạng hóa danh mục ngành nghề và đầu tư nên sẽ hạn chế được các rủi ro phi hệ thống, kết quả kinh doanh vì thế cũng ổn định hơn và cổ phiếu thường ít chịu sự biến động về giá trong ngắn hạn. Trong dài hạn, danh mục đầu tư sản xuất đa dạng cho doanh nghiệp nhiều cơ hội để tăng trưởng phát triển và đạt lợi nhuận. Đây chính là yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định trong dài hạn của các doanh nghiệp quy mô lớn.
2.6. Lược khảo các nghiên cứu trước đây
TTCK luôn là một đề tài được quan tâm và nghiên cứu bởi các chuyên gia ở Việt Nam và trên thế giới. Trước đó có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến biến động của giá cổ phiếu, tuy nhiên những nghiên cứu này được thực hiện tại thời điểm khác nhau, biến phân tích khác nhau, mô hình khác nhau, quy mô khác nhau và quốc gia khác nhau nên kết quả có sự thống nhất chưa hoàn toàn tuyệt đối.
2.6.1. Các nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
- Hussein A. Hassan Al -Tamimi (2011)
Al-Tamimi và cộng sự (2011) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại thị trường tài chính UAE giai đoạn từ 1990 – 2005, với mẫu là 17 công ty thuộc lĩnh vực tào chính và phi tài chính. Thông qua mô hình bình phương nhỏ nhất thông thường để ước lượng các tham số trong mô hình hồi quy, tác giả đã đưa ra được những kết luận của nghiên cứu như sau: Các yếu tố tác động đến giá của cổ phiếu bao gồm: luật chính phủ, lạm phát, điều kiện kinh tế, thói quen NĐT, lượng cung tiền, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu…; Mô hình hồi quy đã loại bỏ biến DPS do công ty không chi trả cổ tức thường xuyên nên không tác động mạnh lên giá cổ phiếu như EPS; với mức ý nghĩa 1%, kết quả cho ra biến số EPS có tác động cùng chiều với giá cổ phiếu; Lạm phát có tác động tiêu cực đến cổ phiếu trong khi GDP có tác động tích cực cùng chiều với sự biến động của giá cổ phiếu.
- Tandon và Malhotra (2013)
Tandon và Malhotra (2013) nghiên cứu về cổ phiếu của 100 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, giao dịch trên National Stock Exchange (NSE) tại Ấn Độ giai đoạn 2007 – 2012. Các biến phụ thuộc của mô hình bao gồm: giá trị sổ sách của công ty (BV), tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS), cổ tức, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E), lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS)…
Các kết quả nghiên cứu 100 cổ phiếu công ty cho thấy rằng, có một mối quan hệ cùng chiều giữa lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) công ty và giá thị trường của cổ phiếu công ty đó. Sự gia tăng thu nhập trên mỗi cổ phiếu luôn mang lại sự tăng giá đáng kể của cổ phiếu trên thị trường và theo tác giả EPS cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chính của giá cổ phiếu. Ngoài ra, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (P/E) cũng mối quan hệ cùng chiều với sự biến động giá cổ phiếu của công ty.
Biến số tỷ lệ chi trả cổ tức (DPS) theo nghiên cứu, không có ảnh hưởng đến giá của cổ phiếu công ty.
- Mochammad Fahlevi (2019)
Nghiên cứu Fahlevi (2019) về sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường LQ45 của Indonesia từ 2013 – 2017. Phương pháp nghiên cứu của mô hình là hồi quy đa biến, trong đó các biến phụ thuộc là: tỷ giá hối đoái, lãi suất tiết kiệm và lạm phát ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.
Kết luận nghiên cứu của tác giả: tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn và tích cực lên chỉ số LQ45; lãi suất tiết kiệm có ảnh hưởng ngược chiều đến giá cổ phiếu điều đó giải thích khi lãi suất tiết kiệm tăng, mọi người sẽ chọn hình thức gửi tiết kiệm làm kênh đầu tư an toàn thay cho đầu tư chứng khoán, làm giá chứng khoán giảm xuống; Lạm phát có ảnh hưởng tích cực nên giá cổ phiếu và LQ45, tuy nhiên ảnh hưởng không lớn.
2.6.2. Các nghiên cứu trong nước
- Trương Đông Lộc (2014)
Nghiên cứu của Trương Đông Lộc về “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi giá của cổ phiếu: Các bằng chứng là sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh”. Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm chuỗi giá, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 20 cổ phiếu niêm yết trên HOSE, lãi suất cho vay, tỷ giá USD/VND, giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) theo thời gian với tần suất quý trong giai đoạn từ 31/12/2006 đến 31/12/2012.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, EPS có tương quan tích cực với sự thay đổi của giá cổ phiếu với ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Ngược lại, biến động của giá vàng và tỷ lệ lạm phát có tương quan tỷ lệ nghịch với giá cổ phiếu. Trong khi đó, lãi suất không có ý nghĩa về mặt thống kê. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
- Đinh Bảo Ngọc và Nguyễn Chí Cường (2016)
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng phân tích 95 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2013 với 570 quan sát. Ứng dụng mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố nội sinh của doanh nghiệp như khả năng sinh lời (ROA), quy mô, cấu trúc vốn và chính sách cổ tức có tác động đến dao động giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xác định được một số nhân tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát cũng có ảnh hưởng đến dao động giá cổ phiếu.
Kết quả của nghiên cứu: Quy mô doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến biến động giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 5%; Lạm phát có tác động cùng chiều đến biến động giá cổ phiếu với mức ý nghĩa 1%; GDP tác động ngược chiều ở mức ý nghĩa 1%.
- Lê Chính Trung (2020)
Trong nghiên cứu của Lê Chính Trung (2020) tác giả đã lựa chọn về các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu niêm yết trên Hose giai đoạn từ 2010- 2019 với không gian nghiên cứu là 353 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Hose. Thông qua phương pháp thống kê mô tả và định lượng với 10 biến được đưa vào mô hình, tác giả đã tìm ra được 8 biến có ý nghĩa và 2 biến không có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đã xác định được tác động có ý nghĩa thống kê của các nhân tố tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, doanh thu thuần, chỉ số giá tiêu dùng, tổng sản phẩm quốc nội có ảnh hưởng cùng chiều với biến động giá cổ phiếu, trong khi đó lợi tức cổ phần, thu nhập cổ phần, giá vàng và quy mô công ty có ảnh hưởng ngược chiều nên biến động giá cổ phiếu.
- Hoàng Hoa Sơn Trà (2021) Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Trong nghiên cứu của Hoàng Hoa Sơn Trà (2021), tác giả đã tiến hành phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu niêm yết trên Hose giai đoạn 2014- 2020. Nghiên cứu được thực hiện thông qua mẫu dữ liệu là 30 công ty niêm yết có quy mô lớn, đảm bảo tính đại diện cho xu hướng của thị trường. Phương pháp thu thập thông tin sử dụng chủ yếu là phương pháp thứ cấp và được xử lý thông qua phần mềm thống kê Eviews 10.0. Các biến được tác giả nghiên cứu đưa vào mô hình bao gồm nhân tố bên trong doanh nghiệp như EPS và các nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp như: tỷ giá, lãi suất, giá vàng, chỉ số giá tiêu dùng.
Thông qua xác định sự phù hợp của mô hình, kết quả nghiên cứu cho thấy các biến được đưa vào nghiên cứu đều có tác động đến biến động giá cổ phiếu với mức ý nghĩa thống kê 1%. Trong đó, EPS,tỷ giá và lãi suất có tác động cùng chiều với biến động giá cổ phiếu, những biến còn lại là giá vàng và chỉ số giá tiêu dùng có tác động ngược chiều với biến động giá cổ phiếu.
Tóm tắt chương 2
Trong chương 2, tác giả đã cung cấp các thông tin lý thuyết cơ bản về : khái niệm, vai trò cũng như lịch sử hình thành của thị trường chứng khoán Việt Nam. Các lý thuyết cơ bản về giá cổ phiếu và phân loại giá cổ phiếu. Các lý thuyết liên quan đến biến động giá cổ phiếu và cách tính biến động giá cổ phiếu của các nghiên cứu trước đây, từ đó là cơ sở cho tác giả trong việc lựa chọn công thức tính giá cổ phiếu phù hợp trong chương 3. Luận văn: Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu.
Ngoài ra trong chương 2, tác giả cũng phân tích các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu được đưa vào bài nghiên cứu bao gồm: lạm phát, lãi suất tiết kiệm, GDP, TTCK Mĩ, giá vàng, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, tỷ lệ chi trả cổ tức hàng năm, hệ số giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và quy mô của các doanh nghiệp niêm yết. Thông qua việc khảo lược các nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước là cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết cũng như phân tích trong các chương sau của tác giả.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

