Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Luận văn trình bày và hệ thống các vấn đề cơ bản và phương pháp nghiên cứu cách vận dụng tiêu chí CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu đầu tư ngành ngân hàng đang niêm yết trên HOSE tại thị trường Việt Nam. Mô hình nghiên cứu thực hiện việc đánh giá này dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp được tập hợp từ báo cáo tài chính của 17 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ các năm 2016 đến 2021, thông qua công cụ hỗ trợ là phần mềm kinh tế lượng Stata phiên bản 15.

Nội dung của luận văn có các phần sau (1) Phân tích các tiêu chí thuộc CANSLIM, các chỉ tiêu quan trọng cần chú ý đối với việc lựa chọn cổ phiếu; (2) Phân tích việc vận dụng CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE và (3) Đề xuất các khuyến nghị đối với việc vận dụng CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE.

Nghiên cứu này triển khai phương pháp hồi quy định lượng để đo lường sự ảnh hưởng của các biến số đại diện cho các tiêu chí trong phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM đến giá cổ phiếu các ngân hàng được niêm yết trên HOSE tại thị trường cổ phiếu Việt Nam. Sau đó nghiên cứu dùng phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh và phân tích các dữ liệu thứ cấp đã thu thập từ báo cáo tài chính. Dựa theo các tiêu chí được đưa ra trong phương pháp CANSLIM, luận văn so sánh theo từng tiêu chí trong CANSLIM, cổ phiếu nào đáp ứng tiêu chí trước sẽ được giữ lại để tiến hành đo lường cho tiêu chí sau để tìm ra cổ phiếu phù hợp nhất đáp ứng tiêu chí CANSLIM.

Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các tương quan biến số trong mô hình hồi quy đại diện cho các tiêu chí trong phương pháp CANSLIM và giá cổ phiếu, đồng thời nghiên cứu cũng nêu được chi tiết phương thức vận dụng mô hình đầu tư CANSLIM cho việc lựa chọn cổ phiếu ngân hàng được niêm yết trên HOSE tại thị trường Việt Nam.

ABSTRACT

The thesis introduced the theories and calcualating methods on how to apply CANSLIM model in selecting banking stocks listed on the HOSE (Ho Chi Minh City Stock Exchange) in Vietnam. This research is based on secondary data gathered from the financial statements of 17 commercial banks in Vietnam for the period from 2016 to 2021, with the support of the econometric software Stata version 15th.

Research contents included (1) Analysis of CANSLIM factors, important criteria to note for stock selection; (2) Analyzing the application of CANSLIM in selecting banking stocks listed on HOSE and (3) Proposing recommendations for applying CANSLIM in selecting banking stocks listed on HOSE.

This study uses a quantitative regression method to measure the influence of variables representing the criteria in the CANSLIM stock selection method on the price of banking stocks listed on HOSE in Vietnam. After that, the research uses methods of synthesis, statistics, comparison and analysis of secondary data collected from financial statements, based on the criteria given in the CANSLIM method, the study conducts a comparison by each criterion in CANSLIM, which stocks that meet the first criteria will be kept for measurement for the following criteria to find out the most suitable stock that meets the CANSLIM standards.

The research results show how the variables correlations in the regression model represent the criteria in the CANSLIM method with the stocks price, and the study also details how to apply the CANSLIM investment model. for the selection of banking stocks listed on HOSE in Vietnam stock market. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Nội dung chương 1 nêu tổng quát lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng của nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cấu trúc của luận văn.

1.1. Lý do chọn đề tài

1.1.1. Đặt vấn đề

Ngành ngân hàng đang là một ngành nghề được chú ý từ phía nhà đầu tư trong vài năm gần đây. Trong năm 2021, nhóm ngành này chứng kiến những chuyển biến tích cực khi giá cổ phiếu (CP) liên tục tăng trên thị trường Việt Nam. Theo BSC (2022), ngành ngân hàng có nhiều triển vọng và cơ hội đầu tư khả quan trong năm 2022. Tuy vậy, nhà đầu tư cũng cần có phương pháp thích hợp để chọn lọc cổ phiếu khi có nhu cầu tham gia đầu tư. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Phương pháp và hệ thống đầu tư là công cụ giúp cho nhà đầu tư chọn mua cổ phiếu tăng khả năng sinh lời và quan trọng hơn là xác định được thời điểm bán để chốt lời hoặc cắt lỗ, giúp kiểm soát độ rủi ro trong giới hạn cho phép. Việc xác định phương pháp và hệ thống đầu tư phù hợp là rất quan trọng để nâng cao lợi nhuận và quản lí rủi ro khi tham gia đầu tư.

Trên thế giới, có rất nhiều phương pháp lựa chọn cổ phiếu được các nhà đầu tư áp dụng như phương pháp Top-down và Bottom-up xuất phát từ nghiên cứu của Kinchala & Wolfe (1979), phương pháp đầu tư tăng trưởng của Fisher (1958), tuy nhiên phương pháp được xem là có hệ thống chi tiết và được biết đến rộng rãi nhất là CANSLIM. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM được O’Neil (1988) đề xuất, cho đến nay đây vẫn là hệ thống đầu tư nổi tiếng và được nhiều nhà đầu tư áp dụng. Có rất nhiều nghiên cứu về tính hiệu quả của hệ thống CANSLIM như nghiên cứu của Deboeck (2000), Lutey, Crum & Rayome (2013), Sareewiwatthana & Janin (2017) đều cho kết quả lợi nhuận vượt trội so với thị trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên dựa trên thị trường cổ phiếu Mỹ, vốn hóa lớn hơn rất nhiều so với thị trường Việt Nam, vì vậy tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này tại thị trường Việt Nam vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Riêng tại Việt Nam, các nghiên cứu khoa học được công bố về việc vận dụng phương pháp CANSLIM cho thị trường Việt Nam còn khá hạn chế, mà chủ yếu là các thông tin, hướng dẫn sử dụng CANSLIM phổ biến trên mạng điện tử.

Luận văn được thực hiện nhằm đóng góp bằng chứng thực nghiệm về lĩnh vực vận dụng mô hình CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu niêm yết phù hợp cho nhà đầu tư tại Việt Nam, từ đó chọn lọc cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE có kỳ vọng về suất sinh lời cao. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

1.1.2. Tính cấp thiết của đề tài

Đối với nhà đầu tư vừa bắt đầu tham gia thị trường và không có nền tảng về tài chính, rất khó để họ có thể lựa chọn cổ phiếu đầu tư trong số hàng nghìn cổ phiếu trên thị trường, song rủi ro mất vốn đầu tư là rất cao.

Tại Việt Nam hiện nay đã có nhiều nhà đầu tư biết đến và áp dụng phương pháp đầu tư CANSLIM, tuy nhiên phương pháp CANSLIM chỉ nêu khái quát chung về các tiêu chí lựa chọn cổ phiếu đầu tư mà chưa được cụ thể và chi tiết hóa về phương pháp áp dụng, do đó, cách vận dụng phương pháp này hiện nay còn khá đơn giản và chưa được hệ thống hóa cụ thể. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về cách áp dụng phương pháp đầu tư CANSLIM tại Việt Nam còn khá ít, đặc biệt là nghiên cứu phương pháp để áp dụng CANSLIM sao cho phù hợp với các cổ phiếu, chứng khoán tại Việt Nam.

Với nhu cầu cần thiết phải có một phương pháp đầu tư có khả năng sinh lợi nhuận bền vững của các nhà đầu tư và sự cần thiết trong việc cụ thể hóa những giá trị cốt lõi trong phương pháp CANSLIM để giúp nhà đầu tư áp dụng thực chiến khi đầu tư cổ phiếu ngân hàng tại thị trường Việt Nam, luận văn này thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh”.

Nghiên cứu lựa chọn cổ phiếu trên HOSE để chọn lọc vì tính minh bạch của các tổ chức niêm yết trên HOSE, các yêu cầu cao về vốn điều lệ và kết quả kinh doanh tốt của doanh nghiệp có mã chứng khoán niêm yết trên sẽ được các nhà đầu tư tổ chức và quỹ đầu tư nước ngoài ưa chuộng hơn, các tiêu chí này là rất quan trọng để áp dụng phương pháp CANSLIM. Và quan trọng hơn là hầu hết các ngân hàng lớn hiện nay đều đang được niêm yết tại HOSE.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Luận văn này tập trung vào phân tích các yếu tố CANSLIM để vận dụng mô hình này vào lựa chọn các cổ phiếu niêm yết trên HOSE, qua đó đề xuất các khuyến nghị dành cho nhà đầu tư cá nhân trong việc vận dụng CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu đầu tư ngành ngân hàng trên HOSE.

1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 

Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả tiến hành chi tiết hóa thành các mục tiêu cụ thể như sau:

  • Phân tích chi tiết các chỉ tiêu thuộc CANSLIM, các vấn đề quan trọng cần chú ý đối với việc lựa chọn cổ phiếu.
  • Phân tích việc vận dụng CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE. Cụ thể là (1) xem xét cách vận dụng phương pháp đầu tư CANSLIM một cách phù hợp cho chứng khoán tại Việt Nam; (2) lựa chọn cổ phiếu ngân hàng trên HOSE có suất sinh lời phù hợp với kỳ vọng của nhà đầu tư; (3) kiểm định sự hiệu quả về suất sinh lời từ các cổ phiếu ngân hàng được lựa chọn bằng phương pháp CANSLIM.
  • Đề xuất các khuyến nghị dành cho nhà đầu tư cá nhân trong việc vận dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE.

1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, luận văn tiến hành trả lời các câu hỏi sau:

  • Các yếu tố, các chỉ tiêu nào cần lưu ý khi lựa chọn cổ phiếu theo phương pháp CANSLIM?
  • Việc vận dụng phương pháp CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE được tiến hành ra sao?
  • Các khuyến nghị nào được đề xuất dành cho nhà đầu tư cá nhân đối với việc vận dụng CANSLIM khi lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE?

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Vận dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên HOSE”. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Trong đó, đối tượng phục vụ của của luận văn này (đối tượng thụ hưởng nghiên cứu) là các nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư nhỏ lẻ đang tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam và cần có cho mình phương pháp phù hợp, hiệu quả để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng.

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Số liệu trong luận văn là các số liệu về cổ phiếu được thu thập theo năm và quý trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021 của các ngân hàng thương mại cổ phần đang niêm yết tại HOSE.

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai theo trình tự sau đây

1.4.1. Phương pháp tiếp cận thông tin

Luận văn tiếp cận các khái niệm và những khía cạnh liên quan đến thuật ngữ như cổ phiếu, cổ phiếu niêm yết, nhà đầu tư (tổ chức, cá nhân, v.v.), các vấn đề lưu ý và tiêu chí khi lựa chọn cổ phiếu, mô hình CANSLIM là gì, ý nghĩa và các lưu ý khi vận dung mô hình này.

  • Luận văn trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan, bao gồm:

Phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM (O’Neil, 1988) đề xuất nhằm lựa chọn cổ phiếu để đầu tư hiệu quả. Với mỗi chữ cái trong phương pháp CANSLIM ứng với một tiêu chí mà cổ phiếu phải thỏa mãn thì mới đủ điều kiện để được chọn.

Phương pháp lựa chọn cổ phiếu Top-Down (Kinchala & Wolfe, 1979): Nhấn mạnh vào bối cảnh kinh tế vĩ mô, phân tích tình hình chung của toàn nền kinh tế tới các ngành, sự ảnh hưởng chung của ngành đến các doanh nghiệp trong ngành, từ đó tìm hiểu về doanh nghiệp một cách chi tiết hơn.

  • Phương pháp lựa chọn cổ phiếu Bottom-Up (Kinchala & Wolfe, 1979):

Ngược lại với phương pháp Top- Down, phương pháp Bottom-Up là cách thức đầu tư bắt đầu từ việc phân tích mỗi mã cổ phiếu và không đặt nặng những ảnh hưởng của chu kì kinh tế vĩ mô hay thị trường.

Lý thuyết về thị trường hiệu quả (Fama, 1970): Cổ phiếu được mua bán với giá trị hợp lí của chúng trên thị trường, khiến các nhà đầu tư không thể mua cổ phiếu với giá thấp hoặc bán cổ phiếu với giá cao.

Lý thuyết triển vọng (Kahneman & Tversky, 1979): Hầu hết mọi người đều có tâm lý sợ thua lỗ hơn là sự phấn khích khi thu về được món hời. Nếu phải đưa ra sự kỳ vọng trước hai tình huống, họ sẽ chọn tình huống không đem lại thua lỗ, thay vì tình huống mang lại nhiều lợi nhuận mà có rủi ro cao hơn. Lý thuyết này được xem là tiền đề của lý thuyết tài chính hành vi.

Lý thuyết tài chính hành vi (Thaler, 2003; Shiller, 2003; Lo, 2004): Các lý thuyết tài chính hành vi rất đa dạng nhưng chủ yếu là kết hợp giữa lý thuyết triển vọng về tâm lý học hành vi con người và kinh tế học vào thị trường tài chính nhằm giải thích các quyết định phi lý trí của nhà đầu tư. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Lý thuyết thị trường thích ứng (Lo, 2004): Lý thuyết này tin rằng các nhà đầu tư qua các thử nghiệm cũng như thất bại sẽ rút ra quy luật để đối phó với các tình huống trên thị trường, hay nói cách khác là trở nên tiến hóa để thích ứng với thị trường.

Khi so sánh với các lý thuyết khác về lựa chọn cổ phiếu đầu tư, cách tiếp cận của O’Neil (1988) cũng có nhiều điểm chung với các lý thuyết nổi tiếng khác như luôn đi theo xu hướng của thị trường, chỉ lựa chọn các cổ phiếu đang tăng giá, trên đà tăng trưởng và không bị định giá thấp trên thị trường. CANSLIM cũng có ưu điểm nổi trội hơn các lý thuyết đầu tư kể trên là các chỉ tiêu lựa chọn cổ phiếu được cụ thể hóa bằng con số và nhờ đó có sự chi tiết hơn, cụ thể và rõ ràng hơn.

  • Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước:

Nghiên cứu nước ngoài: Deboeck (2000), Beyoglu & Ivanov (2008), Gilligan (2009), Wisudanto (2010), Lutey và các cộng sự (2013), Gunn (2013), Lutey, Crum & Rayome (2014), Rawlin (2015), Sareewiwatthana, & Janin (2017), Lutey, Hassan & Rayome (2018), Pan & Long (2021), Lutey & Rayome (2022), v.v.

Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Lê Duy (2009), Nguyễn Bảo Giang (2017), nghiên cứu khoa học được công bố mà tác giả được biết thì khá hạn chế ở trong nước, mà chủ yếu là các thông tin, hướng dẫn sử dụng CANSLIM phổ biến trên mạng điện tử.

Việc tổng hợp các lý luận trên tạo nên căn cứ quan trọng để tác giả phát hiện ra khoảng trống nghiên cứu, từ đó luận án được thực hiện để cung cấp bằng chứng thực nghiệm, bổ sung vào lĩnh vực nghiên cứu vận dụng CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu và chọn lọc cổ phiếu niêm yết ngành ngân hàng phù hợp với phương pháp CANSLIM.

1.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

  • Luận văn xác định dữ liệu thu thập là dữ liệu thứ cấp.

Dữ liệu thứ cấp trong luận văn được thiết kế theo dạng dữ liệu bảng ngắn có cấu trúc không cân bằng. Nghiên cứu chọn dạng dữ liệu bảng vì (1) Yêu cầu của phương pháp CANSLIM là so sánh tốc độ tăng trưởng EPS theo thời kì của từng cổ phiếu, vì vậy cần thu thập số liệu theo thời gian của nhiều mã cổ phiếu; (2) Nghiên cứu cần xem xét chu kỳ tăng trưởng của chỉ số EPS là ổn định hay không ổn định.

Kiểu dữ liệu này cho phép nghiên cứu xem xét được thay đổi của đối tượng khảo sát theo thời gian, giúp nghiên cứu tìm thấy cổ phiếu có sự tăng trưởng đột biến so với chính nó và so với các cổ phiếu khác.

Nguồn dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán được các ngân hàng niêm yết trên HOSE công bố từ năm 2016 đến năm 2021. So với các nghiên cứu tương tự trước đây tại thị trường Việt Nam của Nguyễn Lê Duy (2009) và Nguyễn Bảo Giang (2017), luận văn có cùng dạng dữ liệu và nguồn dữ liệu. Tuy nhiên, luận văn có sự khác biệt về mốc thời gian chọn dữ liệu và chỉ tập trung xem xét cổ phiếu giao dịch của ngành ngân hàng trên HOSE nên không tương thích với các nghiên cứu trước để so sánh kết quả sau này. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

1.4.3. Phương pháp xử lý dữ liệu

Luận văn sử dụng phương pháp định lượng để xử lý và thống kê dữ liệu. Ưu điểm của phương pháp xử lý định lượng là (1) Hạn chế ý kiến chủ quan của người viết; (2) Tiến hành nhanh chóng nhờ các công cụ và phần mềm tin học về định lượng; (3) Độ tin cậy của kết quả nghiên cứu cao. Song, phương pháp này có hạn chế là (1) Cần quy mô mẫu lớn, khi tổng hợp dữ liệu số lượng cổ phiếu lớn hơn sẽ mất nhiều thời gian hơn; (2) Sự phức tạp trong việc lựa chọn mô hình nghiên cứu; (3) Không giải thích được các yếu tố về tâm lý cũng như hành vi con người.

Các phương pháp phân tích định lượng sử dụng trong luận văn bao gồm:

  • Phân tích thống kê mô tả
  • Phân tích hồi quy và các kiểm định liên quan.

Luận văn này này áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường sự ảnh hưởng của các biến là đại diện cho các tiêu chí trong phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM đến giá các cổ phiếu ngân hàng trên HOSE tại thị trường cổ phiếu Việt Nam.

Sau đó nghiên cứu dùng phương pháp tổng hợp, thống kê để phân tích các dữ liệu thứ cấp đã thu thập từ báo cáo tài chính. Dựa theo các tiêu chí được đưa ra trong phương pháp CANSLIM, luận văn so sánh theo từng tiêu chí trong CANSLIM, cổ phiếu nào đáp ứng tiêu chí trước sẽ được giữ lại để tiến hành đo lường cho tiêu chí sau gồm so sánh theo (1) tiêu chí C – EPS theo quý của từng cổ phiếu với chính nó; (2) tiêu chí A – tốc độ tăng trưởng kèm với tăng trưởng ROE; (3) tiêu chí N – thu thập những bước đạt đỉnh mới của giá cổ phiếu; (4) tiêu chí S – xem xét khối lượng giao dịch cổ phiếu; (5) tiêu chí L – xếp hạng chỉ số sức mạnh giá của cổ phiếu; (6) tiêu chí I – số lượng cổ đông lớn là các quỹ đầu tư, nhà đầu tư tổ chức của từng cổ phiếu và (7) tiêu chí M xu hướng thị trường chung để tìm ra cổ phiếu phù hợp nhất đáp ứng tiêu chí CANSLIM.

Kiểm tra lại sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu được chọn nhằm kiểm chứng liệu lợi nhuận trung bình mà danh mục cổ phiếu ngân hàng được lựa chọn bằng phương pháp CANSLIM mang lại có lớn hơn đáng kể so với chỉ số thị trường đại diện là hay không. Từ đó nghiên cứu đưa ra nhận xét về tính hiệu quả của việc vận dụng phương pháp CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu đầu tư tại thị trường Việt Nam, thông qua việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE.

1.5. Quy trình nghiên cứu Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu

Xác định vấn đề nghiên cứu: Luận văn này đặt trọng tâm vào phân tích các yếu tố CANSLIM để áp dụng phương pháp này vào lựa chọn cổ phiếu, qua đó đề xuất các khuyến nghị trong việc vận dụng CANSLIM để chọn lọc cổ phiếu ngành ngân hàng theo tiêu chí có suất sinh lời cao trên HOSE

Lựa chọn thiết kế nghiên cứu: Dựa trên phương pháp nghiên cứu đã trình bày, luận văn lựa chọn phương pháp hồi quy định lương và kết hợp với phương pháp tổng hợp, thống kê và so sánh các dữ liệu như giá, EPS, kết quả kinh doanh, tăng trưởng giá, khối lượng giao dịch cổ phiếu, chỉ số sức mạnh giá, số lượng nhà đầu tư là tổ chức và chỉ số VNINDEX được công bố của các mã cổ phiếu trên HOSE, từ kết quả so sánh tổng kết để cho ra kết quả nghiên cứu.

Thu thập dữ liệu: Dữ liệu được tổng hợp từ báo cáo tài chính được 17 ngân hàng đang niêm yết trên HOSE công bố theo quý, từ năm 2016 đến năm 2021 gồm 408 quan sát cho mỗi biến.

Phân tích dữ liệu: Từ các dữ liệu đã tổng hợp, tiếp tục phân tích dữ liệu bằng các phương pháp (1) Phương pháp sử dụng Mô hình hồi quy sử dụng hỗ trợ từ phần mềm Stata phiên bản 15; (2) Thống kê mô tả; (3) Đối chiếu, so sánh, sử dụng hỗ trợ từ phần mềm Excel để lọc ra cổ phiếu phù hợp với mô hình CANSLIM.

Báo cáo kết quả nghiên cứu: Trình bày các chỉ tiêu của CANSLIM được thể hiện thế nào và làm sao để vận dụng CANSLIM lựa chọn cổ phiếu trên HOSE, lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE có chỉ số sinh lời phù hợp dành cho nhà đầu tư. Kiểm định lại tính hiệu quả khi vận dụng phương pháp CANSLIM trong việc tìm kiếm cổ phiếu đầu tư.

1.6. Đóng góp của đề tài

1.6.1. Đóng góp về mặt lý thuyết

Luận văn bóc tách được các yếu tố thuộc CANSLIM và các chỉ tiêu quan trọng cần lưu ý đối với việc lựa chọn, tìm kiếm cổ phiếu cho nhà đầu tư. Qua đó, luận văn cung cấp một nghiên cứu đóng góp vào trong lĩnh vực lựa chọn cổ phiếu đầu tư.

1.6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn làm rõ được quy trình vận dụng CANSLIM trong lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết tại HOSE. Cụ thể là:

Luận văn cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về việc vận dụng phương pháp đầu tư CANSLIM một cách phù hợp cho thị trường cổ phiếu tại Việt Nam

Luận văn cung cấp một bằng chứng thực nghiệm về việc vận dụng CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng trên HOSE có suất sinh lời phù hợp với kỳ vọng của nhà đầu tư.

Luận văn kiểm tra tính hiệu quả trong mặt tăng trưởng về giá cổ phiếu từ việc vận dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân tại HOSE.

Luận văn đưa ra được các khuyến nghị trong việc vận dụng CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE.

1.7. Cấu trúc của luận văn

Chương 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Nội dung chương 1 giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu đề tài, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, đóng góp của đề tài và cấu trúc của luận văn.

Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Nội dung chương 2 trình bày chi tiết các khái niệm liên quan, cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước.

Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Căn cứ vào việc tiếp cận cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để làm cơ sở cho quá trình phân tích của luận văn, nội dung chương 3 trình bày chi tiết phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý dữ liệu.

Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Nội dung chương 4 trình bày bối cảnh và thực trạng lựa chọn cổ phiếu trên HOSE, các tiêu chí dùng để lựa chọn cổ phiếu trên HOSE được thể hiện ra sao, các chỉ tiêu của CANSLIM được thể hiện và vận dụng thế nào để lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên HOSE có chỉ số sinh lời phù hợp dành cho nhà đầu tư.

Chương 5. KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

Nội dung chương 5 trình bày định hướng phát triển của các quy định liên quan tới thị trường cổ phiếu, liên quan tới nhà đầu tư; bên cạnh đó, thông qua các căn cứ về lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, cũng như kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn, một số khuyến nghị cũng được tác giả đề xuất đối với nhà đầu tư để góp phần áp dụng CANSLIM trong việc lựa cổ phiếu ngành ngân hàng đang niêm yết tại HOSE có chỉ số sinh lời phù hợp dành cho nhà đầu tư. Tiếp theo, phần kết luận sẽ khẳng định lại tính cần thiết của việc vận dung mô hình CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng niêm yết trên HOSE, khẳng định các nội dung đã đạt được tương ứng với các mục tiêu đề ra. Cuối cùng, nội dung chương 5 trình bày các hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Tài liệu trích dẫn trong bài và liệt kê trong danh mục tham khảo trong luận văn được thực hiện theo quy định APA.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Nội dung chương 2 trình bày chi tiết các khái niệm liên quan, cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước.

2.1. Các khái niệm liên quan

2.1.1. Cổ phiếu

2.1.1.1. Khái niệm về cổ phiếu

Hiện nay có nhiều thuật ngữ dành cho cổ phiếu dựa trên nhiều quan điểm và góc nhìn, tuy nhiên về bản chất các định nghĩa này không có quá nhiều sự khác nhau.

Theo Hayes (2021), cổ phần (hay vốn chủ sở hữu) đại diện cho một phần quyền sở hữu của một công ty, đồng nghĩa với việc được sở hữu một tỉ lệ tài sản tương đương với lượng cổ phần mà họ sở hữu. Người mua cổ phần hay còn gọi là cổ đông, được cấp giấy xác nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu. Còn theo quan điểm của O’Shea (2021), cổ phiếu là chứng khoán đại diện cho một phần sở hữu trong một công ty. Phát hành cổ phiếu là cách huy động vốn để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của họ. Đối với các nhà đầu tư, cổ phiếu là một kênh đầu tư để tránh mất giá đồng tiền của họ bởi lạm phát.

Trong luận văn này, khi nhắc đến cổ phiếu, luận văn muốn đề cập đến cổ phiếu của các công ty đã niêm yết. Theo đó, cổ phiếu niêm yết là cổ phiếu của doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và có các ưu điểm so với cổ phiếu chưa niêm yết như sau.

Tính thanh khoản cao: Cổ phiếu đã niêm yết thường dễ dàng mua đi, bán lại, giúp cho nhà đầu tư giảm các rủi ro về việc khó bán cổ phiếu để thu hồi vốn như các loại tài sản khác (vàng, bất động sản,v.v).

Tiềm năng tăng trưởng tốt hơn: Khi xem xét về dài hạn, giá của đa số cổ phiếu đều sẽ tăng so với mức giá tại thời điểm trước khi niêm yết.

Mức độ uy tín – an toàn được nâng cao: Để được niêm yết, các công ty phải đảm bảo đạt những yêu cầu về tài chính, hiệu quả kinh doanh, cơ cấu tổ chức. Do đó, các công ty niêm yết thường hoạt động ổn định, lâu dài và ít rủi ro đầu tư hơn.

2.1.1.2. Phân loại cổ phiếu Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Trên thế giới, theo các văn bản pháp luật và các quy định chung của các cơ quan liên quan đến lĩnh vực chứng khoán thì thông thường, cổ phiếu có 2 loại là:

Cổ phiếu phổ thông (common stock) và Cổ phiếu ưu đãi (preferred stock) (US SEC, 2021; SSC Viet Nam, 2021).

Người sở hữu cổ phiếu phổ thông, hay còn gọi là cổ phiếu thường, được gọi là cổ đông phổ thông, có các quyền lợi cơ bản về việc hưởng cổ tức, biểu quyết và giao dịch mua bán. Người sở hữu số lượng cổ phiếu như nhau sẽ có các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.

Người mua cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi, đồng thời có một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông phổ thông. Hiện nay trên thị trường có bốn loại cổ phiếu ưu đãi như: (1) CP ưu đãi biểu quyết; (2) CP ưu đãi cổ tức; (3) CP ưu đãi hoàn lại; (4) CP ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Tùy vào từng loại cổ phiếu ưu đãi mà cổ đông sở hữu sẽ có các quyền lợi ưu đãi khác nhau.

Dựa trên quyền lợi mà cổ phiếu đem lại cho người nắm giữ, CP phổ thông và CP ưu đãi có những điểm khác nhau cơ bản:

Bảng 2.1 So sánh cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Tóm lại, mỗi loại CP sẽ có những quyền lợi khác nhau dành cho người sở hữu và cũng đều có những điểm hạn chế riêng. Tuy nhiên, CP phổ thông có thanh khoản cao hơn CP ưu đãi nhờ các ưu điểm (1) CP phổ thông đem lại cho người nắm giữ quyền biểu quyết, tham gia vào các quyết định điều hành công ty; (2) CP phổ thông có số lượng phát hành lớn, cổ đông dễ tìm mua và tiếp cận; (3) CP phổ thông được tự do chuyển nhượng, không bị hạn chế về thời gian nắm giữ hay quyền mua bán, chuyển nhượng.

Trên thực tế, CP phổ thông tuy không được chi trả cổ tức ổn định như CP ưu đãi nhưng bởi được tự do chuyển nhượng, người nắm giữ CP phổ thông lại chủ động hơn trong việc tìm kiếm lợi nhuận hoặc hạn chế thua lỗ bằng cách mua bán khi giá cổ phiếu tăng hoặc giảm, do đó CP phổ thông thường phổ biến hơn trên thị trường.

Chính vì các đặc điểm kể trên, nghiên cứu chỉ tập trung xem xét loại hình cổ phiếu phổ thông của các ngân hàng được niêm yết tại Việt Nam. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

2.1.1.3. Đặc điểm cổ phiếu ngành ngân hàng 

Trong số các ngành nghề, ngân hàng là ngành nghề kinh doanh đặc thù, chứa đựng nhiều rủi ro mà đặc biệt là rủi ro hệ thống.

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là rủi ro hệ thống khi sự đổ vỡ của một tổ chức tín dụng có thể gây ra nhiều rủi ro khủng hoảng đối với hệ thống ngân hàng, kéo theo khủng hoảng về kinh tế.

Theo Laeven & Valencia (2008), chi phí tiêu tốn cho quản lý khủng hoảng ngân hàng có thể rất đáng kể (khoảng 13,3% của GDP trung bình). Họ cũng cho rằng, thiệt hại sản lượng của các cuộc khủng hoảng ngân hàng có thể lớn và phạm vi từ 0% đến 98% của GDP trong 4 năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng ngân hàng (khoảng 20% của GDP trung bình). Có thể thấy, ổn định tình hình kinh doanh ngân hàng là hết sức hệ trọng đối với nền kinh tế và tài chính của một đất nước, do đó, cổ phiếu ngân hàng sẽ là lựa chọn đầu tư an toàn vì ngành ngân hàng sẽ luôn nhận được sự hỗ trợ từ phía chính phủ.

Một đặc điểm khác của cổ phiếu ngành ngân hàng, đây là loại cổ phiếu chu kỳ (cyclical stock). Theo Graham & Dodd (1934), cổ phiếu chu kỳ là cổ phiếu mà giá của chúng sẽ biến động theo chu kỳ của nền kinh tế. Ưu điểm chính của việc đầu tư vào các cổ phiếu theo chu kỳ là lợi nhuận mang lại từ các cổ phiếu này khi kinh tế và xu hướng chung của thị trường cổ phiếu đi lên là rất cao. Tuy nhiên, nếu kinh tế suy thoái hay chứng khoán có dấu hiệu lao dốc, cổ phiếu chu kỳ cũng sẽ giảm giá theo sự suy giảm của nền kinh tế.

Nhìn chung, cổ phiếu ngành ngân hàng được xem là an toàn và ít gây ra rủi ro mất vốn cho nhà đầu tư hơn cổ phiếu của các loại hình doanh nghiệp khác do đặc thù về rủi ro hệ thống có nguy cơ ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, nhóm ngành ngân hàng luôn nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước. Ngân hàng cũng thuộc nhóm cổ phiếu chu kỳ, đối với loại cổ phiếu chu kỳ, nhà đầu tư có thể dựa vào vào mối tương quan giữa chúng và nền kinh tế để chủ động tìm thấy cơ hội đầu tư hoặc rút lui để bảo toàn vốn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về phương pháp lựa chọn cổ phiếu ngành ngân hàng hiệu quả trong giai đoạn hiện nay.

2.1.2. Nhà đầu tư

2.1.2.1. Khái niệm

Nhà đầu tư thường là cá nhân hoặc tổ chức tham gia đầu tư với mục tiêu lợi nhuận, thường là tham gia các hoạt động về kinh doanh, sản xuất, chứng khoán.

Theo Graham và Dodd (1934), đầu tư là hoạt động phân tích, tham gia góp vốn để nhận về khoản lợi tức nhất định. Thực tế, rất khó để tìm ra một định nghĩa chung duy nhất và đúng nhất về nhà đầu tư, Graham (1934) cũng đã thừa nhận không có định nghĩa duy nhất về đầu tư được chấp nhận chung.

Trong luận văn này khi nhắc đến nhà đầu tư, luận văn muốn đề cập đến những nhà đầu tư mua cổ phiếu của các công ty, tổ chức đang được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán để mua bán lại nhằm tìm kiếm lợi nhuận khi cổ phiếu tăng giá hoặc nắm giữ để được hưởng mức cổ tức mà công ty, tổ chức chia lại khi kinh doanh có lời.

2.1.2.2. Phân loại nhà đầu tư Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Trong giới đầu tư mà đặc biệt là lĩnh vực chứng khoán hay bất động sản thường phân loại nhà đầu tư thành hai nhóm chính, nhà đầu tư (investor) và nhà đầu cơ (speculator).

Carret (1930) cho rằng nhà đầu cơ tìm kiếm cơ hội tiềm ẩn trên thị trường, còn nhà đầu tư luôn tìm kiếm những món đầu tư có thị giá phù hợp với giá trị đầu tư. Theo Graham và Dodd (1934), đầu tư phải bao gồm quá trình phân tích toàn diện khoản đầu tư, nhà đầu tư phải nhận thấy sự an toàn khi bỏ vốn và khoản lợi tức thu về phải thỏa mãn với kỳ vọng, các hoạt động không thỏa các yêu cầu này được gọi là đầu cơ. Keynes (1936) sử dụng thuật ngữ đầu cơ cho hoạt động dự đoán giá của tài sản dựa vào tâm lý thị trường, thuật ngữ đầu tư cho việc dự đoán lợi suất tiềm năng của tài sản cho đến hết vòng đời của chúng. Theo Bogle (2012), đầu tư đơn giản là sở hữu và nắm giữ tài sản trong một thời gian dài, còn đầu cơ chỉ thực hiện các giao dịch mua bán ngắn hạn, ông tin rằng ngày nay, sự khác nhau trong tư tưởng của đa số nhà đầu tư và nhà đầu cơ đã bị xóa mờ và khó có thể phân biệt được.

Tóm lại, nhà đầu tư được dùng để gọi cá nhân hay tổ chức nắm giữ các tài sản trong một thời gian dài với tìm hiểu và kỳ vọng sẽ có được lãi vốn. Trong khi đó, nhà đầu cơ dựa vào các biến động liên tục của thị trường để thu lợi từ chênh lệch giá trong ngắn hạn.

Trong nghiên cứu này, về tư cách pháp nhân, nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức, trong hay ngoài nước, khi tham gia thị trường đều có thể lựa chọn sử dụng phương pháp CANSLIM để xây dựng phương pháp đầu tư cho riêng mình miễn là phù hợp với. Dựa trên quan điểm của Bogle (2012), ranh giới giữa đầu tư và đầu cơ ngày nay cũng không còn quá rõ ràng, tuy nhiên, CANSLIM sẽ là công cụ hỗ trợ phù hợp cho các nhà đầu cơ hơn là nhà đầu tư, bởi các lí do sau, bao gồm (1) Chiến lược CANSLIM xoay quanh việc tìm kiếm cổ phiếu được kỳ vọng sẽ tăng mạnh giá trị thị trường trong tương lai gần, tuy có xem xét các yếu tố cơ bản nhưng không tập trung quá nhiều vào việc định giá cổ phiếu hay quan tâm đến nguồn thu từ cổ tức nếu nắm giữ cổ phiếu trong dài hạn; (2) Yếu tố thị trường luôn phải được quan tâm hàng đầu trong phương pháp CANSLIM, mua khi thị trường giảm, bán khi thị trường tăng và tuyệt đối không đi ngược lại thị trường. Như vậy, CANSLIM là phương pháp hỗ trợ nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận từ các giao dịch mua bán hơn là đầu tư trong dài hạn.

2.1.2.3. Lựa chọn cổ phiếu của nhà đầu tư

Dù đầu tư hay đầu cơ, khi tham gia đầu tư chứng khoán mỗi nhà đầu tư đều cần một chiến lược đầu tư, một phương pháp lựa chọn cổ phiếu phù hợp.

Dựa trên giả thuyết về thị trường hiệu quả của Fama (1970), cổ phiếu luôn biến động quanh giá trị hợp lí của chúng trên thị trường, những người tin vào thuyết này sử dụng phương pháp đầu tư thụ động. Theo nhà đầu tư thụ động, phương pháp đầu tư cổ phiếu chủ động sẽ khiến nhà đầu tư phát sinh nhiều chi phí giao dịch nhưng không chắc sẽ đem lại lợi nhuận như kỳ vọng. Hai trường phái đầu tư chủ động thụ động cho đến hiện nay vẫn là hai trường phái được các nhà đầu tư áp dụng rộng rãi trên thị trường. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Phương pháp lựa chọn chọn cổ phiếu được xem là hoàn toàn không cần thiết với chiến lược thụ động. Ngược lại, phương pháp lựa chọn cổ phiếu là một tiền đề bắt buộc, là nhu cầu thiết yếu đối với tất cả các nhà đầu tư chủ động luôn mong muốn tìm kiếm mức lợi nhuận vượt trội hơn thị trường.

Mục tiêu của nhà đầu tư theo chiến lược chủ động là né tránh những nhược điểm mà chiến lược thụ động mang lại. Chiến lược thụ động có những hạn chế nhất định như: (1) Lợi nhuận từ chiến lược đầu tư này mang lại không thể vượt trội hơn thị trường; (2) Tính linh động thấp, không thể tự cắt giảm rủi ro bằng cách bán chứng khoán khi nó giảm giá vì phải tuân theo t trọng phân phối của bộ chỉ số thị trường mà danh mục thụ động đang mô phỏng; (3) Phụ thuộc hoàn toàn vào biến động lên xuống của thị trường, do đó chỉ có thể áp dụng trong giai đoạn thị trường đi lên và có xu hướng tích cực. Nhà đầu tư theo chiến lược thụ động sẽ không thể tìm kiếm lợi nhuận nếu thị trường có xu hướng đi ngang hoặc tệ hơn là bước vào giai đoạn điều chỉnh hoặc giảm giá.

Khi xem xét tìm kiếm cổ phiếu đầu tư, khẩu vị rủi ro là vấn đề lớn ảnh hưởng đến việc ra quyết định của đa số nhà đầu tư. Theo nghiên cứu của Gai và Vause (2005), khẩu vị rủi ro (risk appetite) là mức độ có thể chấp nhận của nhà đầu tư đối với một điều không chắc chắn và mức độ của sự không chắc chắn đó.

Như vậy, tùy thuộc vào chiến lược của nhà đầu tư là thụ động hoặc chủ động mà họ sẽ có chiến lước đầu tư, xu hướng lựa chọn cổ phiếu khác nhau. Và tùy theo khẩu vị rủi ro, nhà đầu tư sẽ có những quyết định đầu tư không giống nhau.

2.1.3. Một số phương pháp lựa chọn cổ phiếu của nhà đầu tư

Phương pháp tìm kiếm cổ phiếu đầu tư là công cụ giúp nhà đầu tư tim ra cổ phiếu, tìm điểm mua – bán và kế hoạch giao dịch, dựa trên mức chấp nhận rủi ro và kinh nghiệm riêng của bản thân, mỗi nhà đầu tư sẽ có phương pháp đầu tư khác nhau. Việc xác định phương pháp và hệ thống đầu tư phù hợp là rất quan trọng để tìm kiếm lợi nhuận và quản lí rủi ro khi tham gia đầu tư trên thị trường. Sau đây là một số phương pháp đầu tư cơ bản, đang được sử dụng phổ biến.

2.1.3.1. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu Top- Down

Trường phái Top-Down có nguồn gốc từ nghiên cứu của Kinchala & Wolfe (1979) bắt đầu từ xem xét thị trường chung, sau đó tìm ra ngành nghề triển vọng nhất từ xu hướng thị chung và cuối cùng chọn ra cổ phiếu tiềm năng nhất trong ngành nghề đã xác định. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Phương pháp Top-Down tập trung vào toàn bộ nền kinh tế vĩ mô để xem xét tác động các chỉ số vĩ mô đến các ngành, sau đó xem xét sự ảnh hưởng chung của ngành đến các doanh nghiệp trong ngành, từ đó tìm hiểu về doanh nghiệp một cách chi tiết hơn.

Để đánh giá được tình hình vĩ mô nền kinh tế, một số các chỉ tiêu thường được nhà đầu tư sử dụng là GDP, CPI, chỉ số lạm phát, tỉ giá hối đoái, lãi suất, thuế, v.v.

Tiếp theo, nhà đầu tư đi sâu vào tìm hiểu các ngành trong nền kinh tế, để xem ở giai đoạn tiếp theo ngành nào sẽ có khả năng tăng trưởng mạnh hơn so với các ngành khác. Cuối cùng là việc đọc và phân tích tình hình tài chính của các doanh nghiệp trong ngành để tìm là doanh nghiệp tốt nhất để đầu tư.

2.1.3.2. Phương pháp lựa chọn cổ phiếu Bottom-Up

Ngược lại với phương pháp Top-Down, phương pháp Bottom-Up cũng phát triển dựa trên nghiên cứu của Kinchala & Wolfe (1979) là phương pháp đầu tư dựa trên những phân tích cá thể mỗi mã cổ phiếu trước tiên, không đặt nặng các vấn đề vĩ mô hay thị trường.

2.1.3.3. Phương pháp CANSLIM

Phương pháp lựa chọn cổ phiếu CANSLIM được O’Neil (1988) nghiên cứu bằng cách quan sát và thống kê các đặc tính của 500 cổ phiếu được xem là có mức tăng giá mạnh nhất trong lịch sử chứng khoán Mỹ từ năm 1993 đến năm 2005 như Dell Computer, Cisco Systems, America Online, v.v. CANSLIM là phương pháp giúp nhà đầu tư lựa chọn cổ phiếu có kì vọng đem lại tỉ suất sinh lời cao dựa trên 7 tiêu chí tương ứng với 7 chữ cái như trình bày dưới đây.

Tiêu chí C – EPS quý gần nhất (Current quarterly earnings per share)

Tiêu chí C đề cập đến mối quan hệ giữa việc tăng trưởng lợi nhuận quý gần nhất và sự tăng giá của cổ phiếu.

Tiêu chí C yêu cầu cổ phiếu được chọn phải có sự tăng trưởng EPS quý hiện tại so với EPS của cùng kỳ quý trước, để tránh các yếu tố về chu kỳ, mùa vụ trong kinh doanh tác động đến sự tăng trưởng EPS, và tỉ lệ tăng trưởng này tốt nhất nên đạt trên 20%. Sự tăng trưởng EPS phải liên tục và tăng dần qua ba quý để cho thấy độ ổn định của sự tăng trưởng EPS.

Một tín hiệu cần lưu ý khi xem xét tiêu chí C khi đầu tư là sự tăng trưởng đột biến của EPS trong quý gần nhất. Một cổ phiếu tốt sẽ có tỉ lệ tăng trưởng EPS tăng dần theo thời gian và đạt được sự đột biến (breakout) trong tăng trưởng EPS quý gần nhất, cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp tăng trưởng ổn định và tăng mạnh trong quý gần nhất, điều này sẽ tạo động lực thúc đẩy giá cổ phiếu tăng vọt.

Tiêu chí A – Tăng trưởng hàng năm (Annual earnings growth)

Tiêu chí A yêu cầu cổ phiếu phải có lợi nhuận hoặc EPS tăng dần trong suốt 3 năm liên tục, có thể chấp nhận nếu có 1 năm bị sụt giảm nhưng các năm sau đó phải tăng và đạt được đỉnh cao mới. Lợi nhuận ở đây chỉ tính đến lợi nhuận của hoạt động cốt lõi trong kinh doanh của doanh nghiệp, mà không phải bởi các nguồn đầu tư tài chính khác ngoài hoạt động kinh doanh chính của công ty. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Bên cạnh đó, tỉ suất sinh lời trên một cổ phần (ROE) hàng năm của doanh nghiệp cũng cần được quan tâm. Doanh nghiệp phù hợp tiêu chí CANSLIM sẽ có ROE nhỏ nhất là 17% mỗi năm.

Tiêu chí N – Sản phẩm mới, lãnh đạo mới, mức giá mới (New products, New Management, New Highs)

Tiêu chí N nhấn mạnh đến những thay đổi mới có thể khiến việc kinh doanh của doanh nghiệp trở nên đột phá, từ đó, giá cổ phiếu có thể tăng vọt trên thị trường cổ phiếu.

Trong lý thuyết của mình, O’Neil (1988) đưa ra ví dụ về những cổ phiếu có sự tăng giá đột phá trên thị trường cổ phiếu Mỹ nhờ những điểm mới, những thay đổi cách mạng trong kinh doanh của họ như McDonald, Microsoft tăng gần 18 lần từ tháng 03/1993 đến cuối năm 1999.

Tiêu chí N cho rằng cổ phiếu đã tăng giá cuối cùng sẽ còn tăng cao hơn nữa, trong khi cổ phiếu nào trông có vẻ thấp và rẻ cuối cùng lại giảm sâu hơn. Điều này hàm ý rằng chiến thuật mua đáy, bán đỉnh là sai lầm mà rất nhiều nhà đầu tư gặp phải khi họ cảm thấy mua một cổ phiếu đang giảm giá sẽ an toàn hơn và có vẻ rẻ hơn.

Tiêu chí S – Cung và cầu (Supply and demand)

Theo tiêu chí S, cung và cầu gần như là một quy luật cơ bản trong mọi giao dịch hay nguyên tắc kinh doanh.

Trong tiêu chí này, nhà đầu tư cần quan sát số lượng giao dịch của cổ phiếu. Thanh khoản hay số lượng cổ phiếu giao dịch lớn không đồng nghĩa với việc cổ phiếu sẽ tăng giá, nhưng nó là một tín hiệu kết hợp với giá cổ phiếu để nhà đầu tư dự đoán xu hướng của cổ phiếu trong tuong lai. Ví dụ, khi cổ phiếu tăng giá, khối lượng tham gia giao dịch cổ phiếu so với các phiên trước đó cũng tăng là một tín hiệu khẳng định cổ phiếu có sự tăng giá chắc chắn. Tiêu chí này cũng tỏ ra hiệu quả hơn khi dùng chung với phương pháp phân tích kỹ thuật sử dụng biểu đổ nến thể hiện giá cổ phiếu.

Tiêu chí L – Cổ phiếu dẫn dắt (Leading industry)

Tiêu chí L đề cập đến việc chọn ra cổ phiếu sau khi nhà đầu tư đã xác định được ngành mà mình muốn đầu tư.

Để nhận biết rõ hơn về cổ phiếu dẫn đầu trong ngành, O’Neil (1988) sử dụng Chỉ số sức mạnh giá tương đối (Relative Strength – RS) để so sánh và sàng lọc những cổ phiếu có mức biến động giá mạnh mẽ (sức mạnh về giá) so với các cổ phiếu khác để đầu tư.

Chỉ số được tính trên mức độ thay đổi giá của tất cả cổ phiếu trên thị trường trong giai đoạn là một năm (52 tuần) và được gán 1 điểm số từ 1 đến 99. Một cổ phiếu có RS = 99 là cổ phiếu đó ưu việt hơn 99% các cổ phiếu khác về sức mạnh giá cổ phiếu.

Tiêu chí I – Sự ủng hộ của các nhà đầu tư tổ chức (Institutional Sponsorship)

Tiêu chí I dùng để chỉ số lượng cổ đông lớn của công ty là nhà đầu tư tổ chức hoặc các quỹ đầu tư..

Tại thị trường mà O’Neil (1988) tìm ra mô hình CANSLIM là thị trường cổ phiếu Mỹ, lệnh mua bán của nhà đầu tư tổ chức có thể chiếm đến 70% tổng số lượng giao dịch của các cổ phiếu, vì vậy, đây là động lực quan trọng và bền vững đằng sau những con sóng tăng giá mạnh. Một lợi ích khác là sự bảo trợ của các nhà đầu tư tổ chức đem đến thanh khoản cho mã cổ phiếu.

Tuy nhiên, khi một cổ phiếu bị sở hữu quá mức bởi một chủ thể, nó tiềm ẩn nguy hiểm bị bán tháo đồng loạt một khi có thông tin xấu hoặc thị trường con gấu (thị trường có xu hướng giảm giá mạnh) xuất hiện.

Tiêu chí M – Xu hướng thị trường (Market direction)

Tiêu chí cuối cùng, nhưng được xem là chỉ tiêu quan trọng nhất trong phương pháp CANSLIM, đó là không bao giờ đi ngược lại với xu hướng thị trường hiện tại.

Nhà đầu tư có thể dựa vào các chỉ số để dự đoán thị trường sắp tới có hướng đi như thế nào, tại thị trường Mỹ đó là các chỉ số Standard & Poor’s 500 (S&P 500), NASDAQ, Dow Jones, v.v. tại thị trường Việt Nam, chỉ số này thường là VNINDEX, VN30, HNX-INDEX, VNXAllShare, v.v.

Nhìn chung, điều mà phương pháp CANSLIM hướng tới là nhận diện các công ty có yếu tố cơ bản tốt như tăng trưởng lợi nhuân và có EPS cao trong thời gian gần, sau đó mua cổ phiếu của công ty này trước khi giá cổ phiếu bắt đầu tăng mạnh, khi thị trường chung đang ở trong xu hướng tăng giá.

2.2. Cơ sở lý thuyết Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Trên thế giới có rất nhiều lý thuyết về đầu tư, những lý thuyết về đầu tư ra đời nhằm giải thích cho những xu hướng và chuyển động của thị trường. Các lý thuyết đầu tư giữ nhà đầu tư đi đúng hướng trong quá trình tham gia đầu tư từ đó giúp việc đầu tư có hiệu quả hơn.

2.2.1. Lý thuyết về thị trường hiệu quả 

Lý thuyết thị trường hiệu quả tuy gây ra nhiều tranh cãi nhưng không thể phủ nhận tầm quan trọng của lý thuyết này trong lĩnh vực đầu tư và kinh tế.

Theo Fama (1970) – giả thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis), cổ phiếu luôn biến động quanh giá trị hợp lí của chúng. Giả thuyết thị trường hiệu quả nhấn mạnh rằng do nhà đầu tư sẽ giao dịch dựa theo các thông tin mới một cách nhanh chóng nên những thay đổi giá cả trong tương lai được điều chỉnh một cách ngẫu nhiên so với giá trị cơ bản của chứng khoán.

2.2.2. Lý thuyết triển vọng 

Lý thuyết triển vọng được Kahneman và Tversky (1979) giới thiệu. Lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng hầu hết mọi người đều có tâm lý sợ thua lỗ hơn là sự phấn khích khi thu về được món hời. Nếu phải đưa ra sự kỳ vọng trước hai tình huống, họ sẽ chọn tình huống không đem lại thua lỗ, thay vì tình huống khả năng có nhiều lợi nhuận hơn mà rủi ro lại cao hơn.

2.2.3. Lý thuyết tài chính hành vi Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Dựa trên Lý thuyết triển vọng được Kahneman và Tversky (1979) giới thiệu, Thaler (2003), Shiller (2003), Lo (2004) thực hiện các nghiên cúu kết hợp giữa tâm lý học hành vi con người và kinh tế học, kết quả các nghiên cứu này chỉ ra rằng con người, cụ thể là các nhà đầu tư cá nhân, đôi khi sẽ ra các quyết định phi lý trí trong đầu tư mà không phải lúc nào cũng đem lại lợi nhuận cho họ.

2.2.4. Lý thuyết thị trường thích ứng

Lý thuyết thị trường thích ứng (Adaptive Market Hypothesis) là sự kết hợp giữa Lý thuyết thị trường hiệu quả của Fama (1970) và tài chính hành vi được Lo (2004) giới thiệu.

Lý thuyết này tin rằng các nhà đầu tư qua các thử nghiệm cũng như thất bại sẽ rút ra quy luật để đối phó với các tình huống trên thị trường, hay nói cách khác là trở nên tiến hóa để thích ứng với thị trường.

Nhà đầu tư thường hành động theo lí trí nhưng có thể trở nên phi lí trí trong những giai đoạn thị trường biến động mạnh. Hoặc có thể nói, nếu chiến lược của một người thất bại, người đó sẽ chuyển sang một chiến lược khác nếu gặp tình huống tương tự. Nếu chiến lược thành công, người này có thể sẽ tiếp tục sử dụng chúng. Giả thuyết thị trường thích ứng dựa trên các nguyên tắc, cụ thể là (1) mọi người được thúc đẩy bởi lợi ích riêng của bản thân; (2) họ mắc phải những sai lầm một cách tự nhiên; (3) họ thích nghi và học hỏi từ sai lầm.

2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Từ khi được công bố lần đầu bởi O’Neil (1988), phương pháp CANSLIM đã nhận được nhiều sự chú ý của giới đầu tư sinh lợi cũng như các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới, đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành nhằm chứng minh tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM.

Deboeck (2000) đã sử dụng các tiêu chí CANSLIM đối với các chứng khoán trong rổ chỉ số S&P 500 đã cho thấy kết quả rất tốt, đặc biệt là khi thêm các trọng số khác nhau vào các tiêu chí lựa chọn cổ phiếu CANSLIM có thể tạo ra lợi nhuận vượt trội trên thị trường. Hệ thống CANSLIM đem lại sự tăng trưởng lợi nhuận 20,6% so với chỉ số S&P 500 là 8,28%.

Lutey (2013) nhận thấy rằng phiên bản sửa đổi của hệ thống CANSLIM đã hoạt động với kết quả vượt trội được so sánh với S&P 500; đồng thời, dựa trên mô hình đơn giản về thu nhập quý hiện tại và hàng năm (tiêu chí C và A trong

CANSLIM) trên mỗi cổ phiếu, Lutey và các cộng sự (2013) tìm được danh mục cổ phiếu có chỉ số giá tăng cao hơn chỉ số S&P 500 0,82% mỗi tháng từ năm 2001 đến 2012.

Tiếp đó, Lutey (2014) cũng đã thực hiện một nghiên cứu tương tự khi so sánh rổ danh mục cổ phiếu được chọn bởi phương pháp CANSLIM và rổ chỉ số NASDAQ 100 từ năm 1999 đến năm 2013, kết quả danh mục CANSLIM đem đến lợi nhuận vượt trội hơn chỉ số NASDAQ 100 trong cả ba giai đoạn thị trường tăng, điều chỉnh và đi ngang.

Lutey (2018) lại tiếp tục thực hiện nghiên cứu tương tự khi so sánh rổ cổ phiếu chọn lọc bằng phương pháp CANSLIM với chỉ số Dow Jones, sử dụng kiểm định Z cho suất sinh lời của danh mục CANSLIM so với chỉ số Dow Jones từ 1999 đến 2015, dùng Beta và R bình phương để khẳng định mức ý nghĩa dữ liệu, tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lần này đã thất bại trong việc chứng minh tính hiệu quả của rổ cổ phiếu CANSLIM so với chỉ số Dow Jones.

Lutey (2022) công bố kết quả đầu tư của danh mục cổ phiếu được lựa chọn theo CANSLIM sử dụng bộ dữ liệu có sẵn trên finviz.com kết hợp với các hệ thống quản lí danh mục miễn phí tại Barchart.com và Google Portfolios từ năm 2014 đến năm 2017 có hiệu quả vượt trội hơn so với thị trường, cụ thể là vượt trội hơn 20% so với chỉ số S&P 500, 17% so với Dow Jones và 9% so với Nasdaq. Tuy đã dừng theo dõi và điều chỉnh danh mục từ năm 2017 nhưng có đến 4/5 cổ phiếu trong danh mục này đạt mức tăng trưởng trên 100% tính đến hiện tại. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Tại thị trường Ấn Độ, Rawlin, Shanmugham và Kiran (2015) đã thực hiện áp dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu đầu tư ngành ngân hàng, bằng phương pháp so sánh phân tích dữ liệu bảng từ năm 2010 đến năm 2013, họ đã chọn lọc được 5 ngân hàng thỏa mãn tiêu chí CANSLIM và các ngân hàng này đều được đánh giá có nhiều cơ hội xa hơn trên thị trường cổ phiếu.

Sareewiwatthana & Janin (2017) nghiên cứu kiểm chứng độ hiệu quả của các phương pháp đầu tư nổi tiếng thế giới, trong đó bao gồm nhiều phương pháp khác nhau của Graham (1949), Dreman và Lufkin (1997), Fisher (1984), O’Neil (1988), Slater (2010) và Neff (2001), O’Shaughnessy (2006), Greenblatt (2006), Carlisle (2014), Piotroski (2000), áp dụng cho cổ phiếu tại thị trường Thái Lan. Nghiên cứu so sánh dữ liệu chéo về lợi nhuận của 11 danh mục cổ phiếu được chọn bằng các phương pháp đầu tư nổi tiếng khác nhau từ năm 2002 đến 2015. Kết quả chiến lược CANSLIM có trung bình lợi nhuận hằng năm là 19,58%.

Pan & Long (2021) xây dựng các mô hình đầu tư thông minh cho cổ phiếu tại thị trường Trung Quốc gồm có hai mô hình là mô hình lựa chọn cổ phiếu đa nhân tố và mô hình CANSLIM từ năm 2012 đến năm 2017, sau đó quan sát danh mục từ năm 2018 đến năm 2019. Kết quả cho thấy cả hai mô hình đều đem lại lợi nhuận cao hơn so với thị trường, tuy nhiên lợi nhuận đem lại từ mô hình CANSLIM là vượt trội hơn.

Như vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng thành công kết quả mà phương pháp CANSLIM mang lại cho nhà đầu tư. Dẫu vậy, bên cạnh các nghiên cứu thành công trong việc chứng minh tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM, cũng có những nghiên cứu đã chỉ ra tính chưa hiệu quả của phương pháp này.

Wisudanto (2013) đã sử dụng kiểm định t-test cho một danh mục được lập từ phương pháp CANSLIM và một danh mục có quy mô vốn tương đương được chọn bởi người đầu tư kinh nghiệm từ tháng 02/2009 đến tháng 01/2010 trên thị trường cổ phiếu Indonesia, kết quả cho thấy danh mục được lập bởi phương pháp CANSLIM không tạo ra hiệu suất đầu tư lớn hơn thị trường. Đồng thời cũng đưa ra một khoảng trống trong phương pháp CANSLIM là phương pháp này không đề cập đến cách phân chia trọng số của mỗi cổ phiếu trong danh mục. Tuy nhiên, khoảng thời gian nghiên cứu này lựa chọn khá ngắn, dẫn đến độ tin cậy là chưa cao, thêm vào đó trong thời kỳ từ tháng 02/2009 đến tháng 01/2010, thị trường cổ phiếu Indonesia biến động rất phức tạp và thị trường chung có xu hướng giảm, trong khi đó, phương pháp CANSLIM luôn đi theo xu hướng của thị trường và chỉ phù hợp để chọn lọc những cổ phiếu tăng giá tốt nhất khi thị trường chung tăng.

Gunn (2013) so sánh dữ liệu chéo suất sinh lời của danh mục cổ phiếu được lựa chọn bởi hệ thống CANSLIM và một số các chỉ báo khác (dựa vào phân tích kỹ thuật) từ năm 2003 đến năm 2012, kết quả chỉ ra rằng hệ thống CANSLIM có thể được thay thế bằng các chỉ báo khác đem lại hiệu quả về lợi nhuận cao hơn. Thế nhưng phân tích đầu tư chỉ dựa vào phân tích kỹ thuật và đồ thị mà không chú trọng đến các chỉ số cơ bản hay tình hình kinh doanh của cổ phiếu có thể đem lại lợi nhuận lớn nhất thời, tuy nhiên cũng dễ gặp phải những rủi ro nếu cổ phiếu bị thao túng giá hay sự không trung thực trong báo cáo tài chinh, những điều có thể khiến giá cổ phiếu rớt giá rất sâu mà những nhà phân tích kỹ thuật không thể lường trước được, Phương pháp đầu tư dựa trên phân tích kỹ thuật sẽ phù hợp cho những nhà đầu cơ có mức chịu đựng rủi ro cao hơn mà luận văn này hướng tới.

Nhìn chung, phương pháp CANSLIM mang lại những kết quả có ý nghĩa nhất định trong đầu tư đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu, tuy nhiên, cách thức lựa chọn và sàng lọc danh mục cổ phiếu CANSLIM là cực kỳ quan trọng, khi một số yếu tố trong phương pháp CANSLIM có thể áp dụng linh hoạt, do đó dù cùng dùng phương pháp này thì danh mục cổ phiếu của mỗi nhà đầu tư vẫn có thể rất khác nhau. Kế đến phải nói đến thời điểm tham gia thị trường sau khi đã chọn ra danh mục cũng khá quan trọng, nếu đi ngược hướng với xu thế của thị trường, người đầu tư cũng dễ gặp phải tổn thất không mong muốn khi áp dụng phương pháp CANSLIM. Để xác định điểm mua, thông thường có thể kết hợp phương pháp CANSLIM cùng một số phương pháp phân tích kỹ thuật đơn giản như phương pháp của Beyoglu & Ivanov (2008).

Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu có đề cập đến độ hiệu quả của phương pháp CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu, bao gồm cả các nghiên cứu chứng minh phương pháp CANSLIM là hiệu quả và chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra thêm một vài nghiên cứu không liên quan đến tính hiệu quả của mô hình CANSLIM nhưng liên quan đến các phương pháp phân tích kỹ thuật kết hợp để tạo thành hệ thống đầu tư CANSLIM hoàn chỉnh, có thể tham khảo cho các phần sau của nghiên cứu như sau. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Bảng 2.2 Tổng hợp các nghiên cứu liên quan

Năm nghiên cứu Lý thuyết nghiên cứu Phương pháp xử lý Kết quả
A. Các nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của CANSLIM
Deboeck (2000) Lựa chọn cổ phiếu đầu tư dựa trên giá trị bản thân doanh nghiệp ứng dụng phương pháp CANSLIM So sánh dữ liệu về giá của 8 cổ phiếu được chọn lọc bằng phương pháp CANSLIM từ 30/09/1999 đến 30/11/1999 Hệ thống CANSLIM đem lại sự tăng trưởng lợi nhuận 20,6% so với chỉ số S&P500 là 8,28%
Lutey và các cộng sự (2013) Kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM so với chỉ số S&P500 Sử dụng kiểm định t-test  cho danh mục ngẫu nhiên gồm 10 cổ phiếu thiết lập bằng phương pháp CANSLIM và chỉ số S&P500 từ năm 2001 đến 2012 Hệ thống CANSLIM đem đến lợi nhuận vượt trội hơn Chỉ số S&P 500 0,82% mỗi tháng
Lutey và các cộng sự (2014) Kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM so với chỉ số NASDAQ 100 Sử dụng kiểm định t-test  cho danh mục ngẫu nhiên gồm 10 cổ phiếu thiết lập bằng phương pháp CANSLIM và chỉ số NASDAQ 100 từ năm 1999 đến 2013 Hệ thống CANSLIM đem đến lợi nhuận vượt trội hơn Chỉ số NASDAQ 100 trong cả 3 giai đoạn thị trường
Rawlin & Shanmugham & Kiran (2015) Vận dụng phương pháp CANSLIM để lựa chọn cổ phiếu đầu tư trong số các ngân hàng tư nhân tại Ấn Độ So sánh phân tích dữ liệu bảng từ năm 2010 đến năm 2013 Lập được danh sách gồm 5 ngân hàng tư nhân đáp ứng được các tiêu chí trong CANSLIM và các ngân hàng này có cơ hội tăng trưởng trên thị trường cổ phiếu
Sareewiw atthana & Janin (2017) Kiểm chứng tính hiệu quả của các phương pháp đầu tư nổi tiếng, áp dụng tại thị trường Thái Lan So sánh dữ liệu chéo về lợi nhuận của 11 danh mục cổ phiếu được chọn bằng các phương pháp đầu tư nổi tiếng khác nhau từ năm 2002 đến 2015 Các chiến lược mang lại lợi nhuận khả quan hơn so với thị trường, riêng chiến lược CANSLIM có trung bình lợi nhuận hằng năm là 19,58%
Lutey và các cộng sự (2018) Kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM so với chỉ số Dow Jones Sử dụng kiểm định Z cho khả năng sinh lời của danh mục CANSLIM so với chỉ số Dow Jones từ 1999 đến 2015, dùng Beta và R bình phương để khẳng định mức ý nghĩa dữ liệu Nghiên cứu thất bại trong việc chứng minh phương pháp CANSLIM tạo ra lợi nhuận đáng kể so với chỉ số Dow Jones nhưng vẫn cho kết quả lợi nhuận đáng kể lớn hơn 0
Lutey và các cộng sự (2022) Kiểm chứng tính hiệu quả của phương pháp CANSLIM so với thị trường chung Sử dụng bộ dữ liệu có sẵn trên finviz.com kết hợp với các hệ thống quản lí danh mục miễn phí tại Barchart.com và Google Portfolios từ năm 2014 đến năm 2017 để lựa chọn danh mục đầu tư theo CANSLIM Danh mục vượt trội hơn 20% so với chỉ số S&P 500, 17% so với Dow Jones và 9% so với Nasdaq. Đến nay, 4/5 cổ phiếu có mức tăng trưởng hơn 100%.
Pan & Long (2021) Xây dựng các mô hình đầu tư thông minh cho cổ phiếu tại thị trường Trung Quốc gồm có hai mô hình là mô hình lựa chọn cổ phiếu đa nhân tố và mô hình CANSLIM Lập danh mục theo mô hình lựa chọn cổ phiếu đa nhân tố và mô hình CANSLIM dựa trên số liệu cổ phiếu từ năm 2012 đến năm 2017, sau đó quan sát danh mục từ năm 2018 đến năm 2019 Cả hai mô hình đều đem lại lợi nhuận cao hơn so với thị trường, tuy nhiên lợi nhuận đem lại từ mô hình CANSLIM là vượt trội hơn
B. Các nghiên cứu chứng minh tính chưa hiệu quả của CANSLIM
Wisudant o (2013) Phân tích hiệu quả danh mục chứng khoán CANSLIM trên thị trường vốn Indonesia Sử dụng kiểm định t-test cho một danh mục được lập từ phương pháp CANSLIM và một danh mục có vốn đầu tư tương đương được chọn bởi nhà đầu tư từ tháng 02/2009 đến tháng 01/2010 Danh mục được lập bởi phương pháp CANSLIM không tạo ra hiệu suất đầu tư lớn hơn thị trường
Gunn (2013) Các chỉ báo tiềm năng có thể thay thế hệ thống CANSLIM So sánh dữ liệu chéo suất sinh lời của danh mục cổ phiếu được lựa chọn bởi hệ thống CANSLIM, thị trường và các chỉ báo khác từ năm 2003 đến năm 2012 Hệ thống CANSLIM có thể được thay thế bằng các chỉ báo khác
C. Các nghiên cứu kết hợp phân tích kỹ thuật và CANSLIM
Gilligan (2009) Phân tích chiến lược bán cho các cổ phiếu được lựa chọn bằng phương pháp CANSLIM Chọn một danh mục cổ phiếu được thành lập bằng phương pháp CANSLIM và kiểm tra mức hiệu quả khi áp dụng các phương pháp bán khác nhau cho phiên giao dịch ngày 16/07/2019 Các phương pháp xác định điểm bán trong bài nghiên cứu không phù hợp cho danh mục cổ phiếu CANSLIM
Beyoglu & Ivanov (2008) Phân tích kỹ thuật kết hợp với sàng lọc theo CANSLIM Kết hợp các công cụ phân tích kỹ thuật và hệ thống đầu tư CANSLIM để tìm ra phương pháp phân tích kỹ thuật kết hợp phù hợp nhất Chiến lược phân tích kỹ thuật bằng giao điểm của các dường MA (đường trung bình giá di động) kết hợp tốt nhất với phương pháp CANSLIM khi mang lại kết quà lợi nhuận cao nhất

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

Nghiên cứu của Gilligan (2009), Beyoglu và Ivanov (2008) là những gợi ý về việc kết hợp giữa phương pháp CANSLIM và một số phương pháp phân tích kỹ thuật, bù đắp được sự thiếu sót về hướng dẫn cách thức giao dịch, xác định điểm mua bán của phương pháp CANSLIM. Một gợi ý đáng xem xét để áp dụng tại thị trường có nhiều biến động như Việt Nam.

2.3.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

Các nghiên cứu trên tuy dựa vào phương pháp đầu tư CANSLIM nhưng nhìn chung được thực hiện tại các thị trường lớn nước ngoài, rất khác so với thị trường có vốn hóa và khối lượng giao dịch còn khá khiêm tốn tại Việt Nam.

Tại Việt Nam, những đề tài trực tiếp liên quan đến đề tài này là nghiên cứu của Nguyễn Bảo Giang (2017) và Nguyễn Lê Duy (2009), v.v.

Nghiên cứu của Nguyễn Bảo Giang (2017) ứng dụng lý thuyết CANSLIM để lựa chọn danh mục cổ phiếu đầu tư trên HSX và HOSE bằng phương pháp định tính, thống kê để chọn lọc cổ phiếu theo đủ bảy tiêu chí CANSLIM từ 2014 đến 2016, kết quả chọn lọc được danh mục gồm cổ phiếu HBC và CTD với lợi nhuận chung cho danh mục là 4%.

Nghiên cứu của Nguyễn Lê Duy (2009) sự kết hợp phương pháp định tính và định lượng khi nghiên cứu chọn lọc cổ phiếu bằng phương pháp CANSLIM gồm danh mục các cổ phiếu ACB, DBC, SCJ, SD9, S99 và kết hợp phương pháp phân tích kỹ thuật cùng hàm SOLVER của Excel để điều chỉnh còn ACB, DBC, SCJ, cuối cùng là dùng kiểm định Beta để kiểm định lợi suất của danh mục, thu được lợi nhuận trung bình các cổ phiếu được lựa chọn là 10,96%.

Tuy nhiên, các nghiên cứu này sử dụng mốc thời gian cũ và chưa được kiểm chứng lại với nền kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại, khi mà dịch bệnh COVID 19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến vĩ mô. Các báo cáo này cũng chưa chỉ ra công thức tính toán để tìm ra giá trị phù hợp cho các tiêu chí, đặc biệt là hai tiêu chí C và A. Chính vì vậy, luận văn được thực hiện nhằm đóng góp bằng chứng thực nghiệm về lĩnh vực vận dụng mô hình CANSLIM trong việc lựa chọn cổ phiếu và lựa chọn cổ phiếu niêm yết ngành ngân hàng phù hợp cho nhà đầu tư tại HOSE.

Nhìn chung, hiện nay có rất nhiều lý thuyết về đầu tư cũng như các phương pháp lựa chọn cổ phiếu, tuy nhiên tại nước ta vẫn còn thiếu vắng các nghiên cứu về việc áp dụng các phương thức lựa chọn cổ phiếu đầu tư sao cho phù hợp, cụ thể là phương pháp đầu tư CANSLIM. Do đó, nghiên cứu này được tiến hành nhằm xem xét cách vận dụng phương pháp đầu tư CANSLIM cho thị trường cổ phiếu tại Việt Nam, từ đó áp dụng để lựa chọn các cổ phiếu niêm yết ngành ngân hàng.

2.4. Tóm tắt chương 2

Tóm lại, các lý thuyết và phương pháp được trình bày trong chương này đều là những phương pháp, công cụ phân tích rất cần thiết cho việc xây dựng và chọn lọc danh mục cổ phiếu, trong đó, mô hình CANSLIM đã được chứng minh tính khả thi qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại nhiều quốc gia khác nhau cũng như các giai đoạn thời gian khác nhau. Và tất nhiên, cũng như nhiều phương pháp đầu tư khác, phương pháp chọn lọc cổ phiếu CANSLIM cũng không thể cam kết mang lại lợi nhuận một cách chắc chắn cho nhà đầu tư và rủi ro trong đầu tư là không thể né tránh. Điều quan trọng là nhà đầu tư cần lưu ý vận dụng phương pháp CANSLIM linh hoạt sao cho phù hợp với thị trường. Một điểm thiếu hụt trong phương pháp đầu tư CANSLIM là chỉ giúp chọn lọc được cổ phiếu nhưng không hướng dẫn về thời điểm thực hiện giao dịch mua bán cụ thể, phương pháp chọn lọc cổ phiếu CANSLIM kết hợp với các công cụ phân tích kỹ thuật sẽ giúp nhà đầu tư khắc phục bớt thiếu hụt này. Nội dung chương 2 cũng chính là căn cứ củng cố lập luận của tác già về phương pháp nghiên cứu ở chương 3. Luận văn: Vận dụng phương pháp Canslim để lựa chọn cổ phiếu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC Vận dụng Canslim để lựa chọn cổ phiếu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537