Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu về Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

2.1.1. Quá trình ra đời và phát triển của VAMC

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2012 cộng với những khó khăn nội tại của nền kinh tế đã đẩy nền kinh tế Việt Nam vào giai đoạn đặc biệt khó khăn, nhất là giai đoạn 2014-2016. Ngành ngân hàng, là huyết mạch của sự sống, là nhiệt kế đo lường sự tốt xấu của nền kinh tế, đồng thời cũng là ngành kinh tế thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất trong những năm gần đây. Kể từ giữa năm 2013, nhiều tổ chức tài chính đã trải qua tình trạng nợ xấu tăng nhanh, thanh khoản giảm, khả năng sinh lời và tăng trưởng tín dụng giảm do suy thoái kinh tế. Theo báo cáo được công bố của NHNN Việt Nam, tính đến 30/09/2014, nợ xấu ngành ngân hàng chiếm 17,21% tổng dư nợ. Trước tình hình đó, Chính phủ cùng toàn ngành ngân hàng cần có những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ để khơi thông dòng tín dụng, đẩy nhanh xử lý nợ xấu, đảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ thống tín dụng đang chịu nhiều áp lực và sức ép.

Theo kinh nghiệm xử lý nợ xấu của nhiều nước trên thế giới, việc thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) của các TCTD là giải pháp được nhiều nước trên thế giới coi là đặc biệt quan trọng trong xử lý nợ xấu. Theo đó, chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2015 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Ngày 31 tháng 5 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 843/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2015 về việc lập Đề án quản lý nợ xấu trong hệ thống các tổ chức tín dụng và công ty quản lý tài sản. Việt Nam. VAMC có trụ sở chính tại 22 Hàng Vôi, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, được thành lập chi nhánh, đại diện tại nhiều tỉnh, thành phố quan trọng trực thuộc trung ương. Để triển khai Nghị quyết số 843/QĐ-TTg, ngày 27/6/2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 1459/QĐ-NHNN về nghĩa vụ niêm yết của công ty cổ phần. Việc xử lý nợ xấu của VAMC chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 9 năm 2015 của Ngân hàng Nhà nước, Thông tư số 19/2015/TT-NHNN. Vì vậy, VAMC là một công cụ đặc biệt của đất nước, có lợi cho việc giải quyết nhanh vấn đề nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro của các tổ chức tài chính và doanh nghiệp, thúc đẩy tín dụng nền kinh tế tăng trưởng hợp lý, thúc đẩy tín dụng phát triển lành mạnh.

Kể từ ngày 1/10/2015, VAMC chính thức mua lại nợ xấu của các TCTD theo kế hoạch hàng năm đã được NHNN phê duyệt. VAMC đã triển khai đồng bộ các giải pháp, xử lý nhanh chóng, triệt để, có kết quả nợ xấu, nó đã từng bước thể hiện vai trò của mình trong toàn ngành ngân hàng. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

2.1.2. Chức năng nhiệm vụ của VAMC

VAMC với hoạt động kinh doanh cốt lõi là mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã phát huy vai trò và góp phần quan trọng trong việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. VAMC đã giúp các tổ chức cho vay loại bỏ một lượng lớn nợ xấu khỏi bảng cân đối kế toán bằng cách sử dụng các giao dịch nợ dựa trên thị trường. Điều này đã giúp giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3%, tạo thêm dòng tiền cho hoạt động cho vay và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Gần đây nhất, VAMC đã bán đấu giá một số khoản nợ xấu của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và AMC từ các tổ chức tín dụng để giúp khách hàng phục hồi hoạt động kinh doanh (thông qua các chính sách cơ cấu lại nợ và tài trợ vốn cổ phần). (VAMC không trực tiếp cho vay mà thông qua các tổ chức tài chính hoặc tài sản thế chấp chung), cụ thể như sau:

  • Hoạt động thu mua nợ xấu của các
  • Hoạt động thu hồi nợ, đòi nợ, rao bán nợ và tài sản bảo đảm.
  • Hoạt động cơ cấu lại khoản nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay;
  • Hoạt động đầu tư, sửa chữa, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được Công ty Quản lý tài sản thu nợ;
  • Hoạt động quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra quản lý các tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu.
  • Hoạt động tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
  • Hoạt động tổ chức bán đấu giá tài sản;

Hoạt động, bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của TCTD Từ năm 2015 đến năm 2017, nhiệm vụ chính của VAMC là thu hồi nợ xấu từ các tổ chức tài chính để giảm bớt áp lực phòng ngừa theo quy định và phát hành trái phiếu đặc biệt để đầu tư vào các khoản tín dụng mới nhằm góp phần tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh việc phát hành trái phiếu đặc biệt thu hồi nợ xấu, VAMC phân loại các khoản phải thu đã mua như một giải pháp hợp lý để quản lý nợ xấu. Đồng thời, VAMC đã tích cực hỗ trợ các tổ chức cho vay xử lý nợ xấu, miễn, giảm lãi suất vay vốn cho khách hàng. Mục tiêu tổng quát của chiến lược là phát triển VAMC thành trung tâm xử lý nợ xấu liên quan đến hoạt động cơ cấu lại hệ thống TCTD, thúc đẩy phát triển thị 1\trường mua bán trái phiếu, đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của VAMC Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Hình 2. 1. Mô tả tổ chức của VAMC

Theo Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 18/05/2015 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam. VAMC là đơn vị trực thuộc NHNN Việt Nam thực hiện các chức năng: mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng; thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay; Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê TSBĐ đã được Công ty Quản lý tài sản thu nợ; Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảo đảm tiền vay; Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản; Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; Tổ chức bán đấu giá tài sản; Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng; Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của VAMC sau khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Căn cứ vào Quyết định số 1459/QĐ-NHNN của NHNN Việt Nam ban hành ngày 27/06/2015 về “ Quyết định về việc thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam” quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Công ty Quản lý tài sản. Ngày 05/01/2020, NHNN ban hành Quyết định số 28/QĐ-NHNN về việc phê duyệt Đề án cơ cấu lại và nâng cao năng lực của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam giai đoạn 2019 – 2022 và hướng tới 2024. Hiện nay, VAMC có 12 đơn vị trực thuộc (bao gồm 09 Ban, 01 Văn phòng giúp việc HĐTV và 02 chi nhánh là Chi nhánh TP Hồ Chí Minh và Chi nhánh Sàn Giao dịch Nợ), cụ thể như sau:

Ban Mua và Quản lý nợ (gọi tắt là Ban 1) có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc: xây dựng kế hoạch và cơ chế nghiệp vụ liên quan đến hoạt động mua, quản lý và xử lý nợ theo quy định của pháp luật đối với các khoản nợ xấu mua bằng TPĐB; Hoạt động nghiệp vụ liên quan đến mua, quản lý và xử lý nợ đối với các khoản nợ xấu mua bằng trái phiếu đặc biệt; Phối hợp, hướng dẫn Chi nhánh thực hiện các hoạt động nghiệp vụ thuộc chức năng, nhiệm vụ của Ban.

Ban Kế hoạch và Quản lý rủi ro (gọi tắt là Ban 2), có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc: hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch hoạt động của VAMC; thực hiện công tác báo cáo thống kê của VAMC; thẩm định hoạt động mua, bán nợ theo giá trị thị trường, đánh giá rủi ro trong hoạt động của VAMC, cảnh báo, kiểm soát rủi ro đối với hoạt động mua, bán, xử lý nợ mua theo giá trị thị trường và các hoạt động khác của VAMC, đề xuất các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo hoạt động của VAMC trong giới hạn an toàn, xem xét, đề xuất việc trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của VAMC; huy động vốn cho VAMC; phối hợp, hướng dẫn các Chi nhánh thực hiện các hoạt động nghiệp vụ thuộc chức năng nhiệm vụ của Ban.

Ban Đầu tư và Mua bán nợ thị trường (gọi tắt là Ban 3) có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc: Xây dựng kế hoạch, cơ chế nghiệp vụ liên quan đến hoạt động mua, quản lý và xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường và hoạt động đầu tư, môi giới, bảo lãnh theo quy định của pháp luật;Hoạt động nghiệp vụ liên quan đến mua, quản lý, xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ xấu mua theo giá trị thị trường và hoạt động đầu tư, môi giới, bảo lãnh theo quy định của pháp luật;Hoạt động hợp tác đầu tư trong quá trình thực hiện mua, quản lý và xử lý nợ; phối hợp, hướng dẫn các Chi nhánh thực hiện các hoạt động nghiệp vụ thuộc chức năng nhiệm vụ của Ban.

Ban Đấu giá tài sản có chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc: Xây dựng kế hoạch liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá; Xây dựng quy chế, quy trình và các quy định nội bộ khác về nghiệp vụ liên quan đến hoạt động bán đấu giá tài sản; Tổ chức, thực hiện các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến bán đấu giá tài sản.

Ban Pháp chế có chức năng tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc về những vấn đề pháp lý liên quan đến chính sách, chế độ và hoạt động của VAMC nhằm tuân thủ đúng quy định của pháp luật, đảm bảo an toàn, phòng tránh những rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình hoạt động của VAMC; Tham mưu cho các đơn vị trong hệ thống những vấn đề pháp lý liên quan đến các hoạt động và nghiệp vụ của VAMC; Hướng dẫn, chỉ đạo việc áp dụng pháp luật, phổ biến kiến thức pháp luật trong toàn hệ thống VAMC. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Ban Kiểm tra – Giám sát có chức năng tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc trong việc thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, tuân thủ quy trình, qui định, chính sách nội bộ, thủ tục đã được ban hành trong nội bộ VAMC; xây dựng kế hoạch, nội dung kiểm tra, giám sát các hoạt động ủy quyền của VAMC cho tổ chức tín dụng; Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống quy trình, quy định, góp phần bảo đảm VAMC hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.

Ban Công nghệ thông tin có chức năng tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc: Hoạch định, xây dựng chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển CNTT và truyền thông của VAMC; Quản lý, vận hành và phát triển hệ thống CNTT gồm: Cơ sở vật chất, thiết bị phần cứng, phần mềm ứng dụng,… của VAMC đảm bảo hoạt động an toàn, liên tục, thông suốt và hiệu quả. Đầu mối quản lý toàn bộ hệ thống CNTT bảo đảm thống nhất trong toàn hệ thống VAMC và cung cấp, chuyển giao các hệ thống CNTT với các đơn vị ngoài hệ thống VAMC; Nghiên cứu, xây dựng, phát triển và bảo trì các ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động VAMC; Hỗ trợ các đơn vị trong VAMC về CNTT trong việc khai thác, vận hành các chương trình ứng dụng; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT và sử dụng CNTT cho toàn bộ hệ thống đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án CNTT; Kiểm tra, giám sát hoạt động CNTT tại các đơn vị trong VAMC, đảm bảo sự tuân thủ, an toàn và hiệu quả.

Ban Tài chính – Kế toán có chức năng tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc trong lĩnh vực tài chính, xây dựng cơ bản, tài sản cố định, tổ chức công tác hạch toán kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh, quản lý vốn và tài sản của VAMC; tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra công tác tài chính kế toán trong toàn VAMC.

Ban Hành chính – Nhân sự có chức năng tham mưu cho Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc trong công tác Tổ chức cán bộ, Hành chính quản trị và Thư ký tổng hợp của VAMC; tổ chức, kiểm tra các đơn vị thực hiện các quy định, quy chế, quy trình, nội quy lao động và các chế độ chính sách liên quan đến người lao động.

Văn phòng giúp việc Hội đồng thành viên là đơn vị thuộc bộ máy tham mưu, giúp việc cho Hội đồng thành viên, có chức năng xây dựng chương trình, nội dung làm việc của Hội đồng thành viên, các thành viên Hội đồng thành viên. Giúp Hội đồng thành viên theo dõi tình hình thực hiện các Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng thành viên; tổng hợp và cung cấp các thông tin cho Hội đồng thành viên trong quản lý, điều hành hoạt động các đơn vị thuộc bộ máy tổ chức của VAMC; kiểm tra việc tuân thủ chương trình công tác, quy chế điều hành của Hội đồng thành viên đối với Ban Điều hành, các Ban tại Trụ sở chính và các đơn vị thành viên. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị thuộc Công ty Quản lý tài sản có chức năng, nhiệm vụ đại diện cho Trụ sở chính Công ty để xử lý nợ, thực hiện mua, bán nợ theo giá trị thị trường và quản lý tài sản của VAMC tại thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam; và các nhiệm vụ khác theo quy định về quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam – Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.

Chi nhánh Sàn Giao dịch Nợ là đơn vị thuộc Công ty Quản lý tài sản, các hoạt động chính của Sàn giao dịch nợ gồm: Tạo lập kho dữ liệu về nợ xấu, tài sản bảo đảm (TSBĐ) của khoản nợ xấu từ đó giới thiệu, cung cấp thông tin chính thức, khách quan về khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu trên cơ sở hồ sơ, tài liệu do khách hàng cung cấp. Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, các nhà đầu tư quan tâm tiếp cận thông tin, kết nối các giao dịch về nợ xấu, TSBĐ của khoản nợ xấu; thực hiện dịch vụ tư vấn đối với khoản nợ xấu, TSBĐ của khoản nợ xấu về: hồ sơ pháp lý; điều kiện, phương thức mua bán, xử lý; phân tích, đánh giá, tư vấn về pháp lý, rủi ro của khoản nợ xấu, TSBĐ của khoản nợ xấu; hoàn thiện hợp đồng mua, bán và hồ sơ tài liệu liên quan…; thực hiện dịch vụ môi giới mua, bán khoản nợ xấu, TSBĐ của khoản nợ xấu: đàm phán để các bên thống nhất việc mua, bán; thu xếp và tổ chức cho các bên ký hợp đồng và hỗ trợ các bên hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật…

2.2. Thực trạng xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

2.2.1. Cơ sở pháp lý cho xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

Ở Việt Nam Nam hiện nay, khi hành lang pháp lý chưa hoàn thiện thì công tác xử lý nợ xấu chưa được sử dụng ngân sách nhà nước. Vì vậy, nhận thức được sự quan trọng về sự cần thiết xây dựng cơ sở pháp lý cho việc xử lý nợ và tạo hàng lang pháp lý trong quá trình xử lý nợ xấu, Chính phủ đã ban hành các văn bản cụ thể như sau:

Tại Nghị định 53/2015/NĐ-CP ngày 18/05/2015 của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam và được sửa đổi bởi Nghị định số 34/2017/NĐ-CP, Nghị định số 18/2018/NĐ-CP. Theo định hướng của Chính phủ và NHNN, VAMC là cơ quan tổ chức có vai trò trung tâm trong hoạt động xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu hệ thống các TCTD, là tổ chức có cơ chế đặc thù của Chính phủ nhằm bảo đảm xử lý nhanh và hiệu quả nợ xấu trong khuôn khổ các quy định pháp luật liên quan. Từ đó VAMC được thành lập và các cơ sở pháp lý cho hoạt động mua bán nợ xấu của các TCTD.

Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/05/2015 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng và đề án thành lập công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

Quyết định số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam v/v thành lập công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và được sửa đổi bổ sung bởi Quyết định số 835/QĐ-NHNN ngày 20 tháng 04 năm 2020;

Quyết định số 1590/QĐ-NHNN ngày 22/7/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam v/v phê duyệt Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

Thông tư số 19/2015/TT-NHNN ngày 06/09/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam v/v quy định về việc mua bán xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và được sửa đổi bởi Thông tư 14/2017/TT-NHNN, Thông tư 08/2018/TT-NHNN, Thông tư 09/2019/TT-NHNN, Thông tư 32/2021/TT-NHNN;

Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN ngày 03/02/2022 của Ngân hàng Nhà nước (hợp nhất các Thông tư 19/2015/TT-NHNN, Thông tư 14/2017/TT-NHNN, Thông tư 08/2018/TT-NHNN, Thông tư 09/2019/TT-NHNN, Thông tư 32/2021/TT- NHNN) Quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

Thông tư số 18/2017/TT-NHNN ngày 22/10/2017 quy định về việc tái cấp vốn trên cơ sở trái phiếu đặc biệt của công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam; (viii) Quyết định số 618/QĐ-NHNN ngày 04/12/2018 v/v Phê duyệt việc xây dựng và triển khai Phương án mua nợ xấu theo giá trị thị trường của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

Nghị quyết số 42/20237/QH14 ngày 21/06/2019 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực từ ngày 15 tháng 8 năm 2019 trong thời hạn 5 năm. Nghị quyết số 42 ban hành năm 2019 gồm 19 điều và phụ lục về xác định nợ khó đòi, năm 2019 các khoản nợ phát sinh trước ngày 15 tháng 8 năm 2019 được xác định là nợ khó đòi tại thời điểm Nghị quyết này có hiệu lực thi hành; Nghị quyết 42 cũng quy định rõ về xử lý nợ xấu, giao dịch nợ xấu, quyền thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm, quyền ưu tiên thanh toán trong việc xử lý tài sản bảo đảm, chuyển giao bằng tài sản bảo đảm. Nghị quyết 42 ra đời đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cùng với việc tăng năng lực về vốn (Vốn điều lệ của VAMC tăng từ 500 tỷ đồng lên 000 tỷ đồng năm 2019 và tăng từ 2.000 tỷ đồng lên 5.000 tỷ đồng năm 2021) đã tạo điều kiện cho VAMC tập trung triển khai mua nợ theo giá trị thị trường, tạo tiền đề để hình thành thị trường mua bán nợ mà trong đó, VAMC là tổ chức trung tâm của thị trường với các hoạt động cụ thể như: đẩy mạnh việc tìm kiếm, khai thác danh sách các khoản nợ đã mua bằng TPĐB, các khoản nợ đang hạch toán nội, ngoại bảng tại TCTD, triển khai làm việc với các TCTD và đối tác, lựa chọn các khoản nợ có tính khả thi trong việc xử lý sau khi mua để có cơ sở thực hiện mua khoản nợ theo giá thị trường; ưu tiên chuyển các khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB sang mua theo giá trị thị trường theo quy định.

Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2018-2022; Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Quyết định số 28/QĐ-NHNN ngày 05/01/2020 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt Đề án cơ cấu lại và nâng cao năng lực của VAMC giai đoạn 2019 – 2022 và hướng tới 2024;

Quyết định số 2024/QĐ-NHNN ngày 27/11/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt Chiến lược phát triển của VAMC đến năm 2030, định hướng đến năm 2030;

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu cấp bách là phải xây dựng lại hệ thống các tổ chức tín dụng, trong đó tập trung xử lý căn bản, toàn diện nợ xấu, các tổ chức tín dụng yếu kém.

2.2.2. Các tổ chức tham gia xử lý nợ xấu hiện nay

Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc sở hữu của các ngân hàng Hiện nay, có khoảng 30 công ty quản lý nợ và thu hồi tài sản đã đăng ký trực thuộc Ngân hàng TMCP tại Việt Nam (AMC). Tuy nhiên, các AMC đang hoạt động thực tế là Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) AMC, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP Việt Thịnh Vượng (VPBank), Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBank). Tuy nhiên, phần lớn hoạt động của các AMC hiện nay chỉ gồm thanh lý tài sản gán nợ, quản lý tài sản cầm cố, thu hồi nợ cho ngân hàng mẹ. Các AMC cũng có mua bán nợ với các ngân hàng khác nhưng không nhiều, việc mua nợ từ các tổ chức, cá nhân khác gần như chưa được thực hiện”, Bộ Tài chính nhận xét. Lý giải nguyên nhân khiến các AMC hoạt động chưa hiệu quả, cơ quan này cho rằng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp này còn ít và thiếu kinh nghiệm. Bên cạnh đó là sự hạn chế về nguồn vốn, trong nghiên cứu này tác giả chọn ra 02 trong số 04 AMC để làm rõ là Techcombank AMC và MB AMC cụ thể như:

Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank AMC): Với vốn điều lệ 410 tỷ đồng, trong giai đoạn cuối cùng của chu trình tín dụng, Techcombank AMC chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ khó đòi và nợ quá hạn do Techcombank ủy thác. Với đội ngũ gần 300 nhân viên trẻ, chuyên nghiệp và am hiểu pháp luật, Techcombank AMC tự hào là một trong những công ty xử lý nợ và thu hồi tài sản hàng đầu trên thị trường. Năm 2022, Techcombank AMC đã đạt được các con số đáng ghi nhận và góp một phần không nhỏ vào kết quả hoạt động của Techcombank: Tổng số tiền thu hồi nợ trong năm đạt 2.830 tỷ đồng, trong đó Techcombank AMC đã đóng góp trực tiếp 1.260 tỷ đồng vào lợi nhuận của Techcombank thông qua thu nợ nhóm khách hàng đã xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro, số thu 1.570 tỷ đồng còn lại từ nhóm khách hàng nội bảng đã góp phần giữ tỷ lệ nợ xấu của Techcombank theo kế hoạch, đồng thời góp phần đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn cho Techcombank theo quy định. Trong năm 2022, Techcombank AMC tập trung phát triển phần mềm Quản lý nợ – là công cụ hỗ trợ quản lý công tác xử lý nợ quan trọng, đồng thời nâng cấp các tính năng của phần mềm. Bên cạnh các mục tiêu về tài chính, trong năm 2023, Techcombank AMC sẽ tiếp tục hướng đến mục tiêu tối ưu hóa công tác xử lý nợ thông qua dự án cải tiến mô hình xử lý nợ, đồng thời tiếp tục nâng cấp hệ thống phần mềm, số hóa và tự động hóa công tác dự báo số thu nhằm chuẩn bị sẵn sàng theo kịp các thay đổi cũng như các mục tiêu tham vọng của Techcombank trong phát triển tín dụng.

Công ty TNHH một thành viên Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Quân Đội (MBAMC): Vốn điều lệ 665,86 tỷ đồng. Năm 2022, Công ty đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế 8% so với 2021, trong đó doanh số xử lýnợ tăng trưởng 18% và số lượng báo cáo tư vấn thẩm định giá tăng 21%. MBAMC là mắt xích quan trọng trong quy trình tín dụng của MB, góp phần tích cực xử lý nợ và chiếm 56% trong tổng số thu hồi nợ xấu của Chất lượng hoạt động và dịch vụ của MBAMC tiếp tục được cải thiện rõ rệt. Hướng tới năm 2023, MBAMC đặt mục tiêu tăng trưởng toàn diện và bền vững tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình. Công ty đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm nghiệp vụ, phần mềm kế toán, quản lý… nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ tốt hơn nhu cầu của MB và MB. trải qua quá trình chuyển đổi kỹ thuật số. gặp gỡ khách hàng.

2.2.2.2. Công ty cung cấp dịch vụ mua bán nợ Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hội nhập như hiện nay các giao dịch thương mại, dân sự đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro như nợ quá thời hạn không trả (đối với cá nhân), nợ xấu, chiếm dụng vốn (đối với Doanh nghiệp) đã và đang là một vấn đề nhức nhối đối các doanh nghiệp, cá nhân. Thực tế, rất nhiều doanh nghiệp gặp phải tình trạng nợ xấu nhưng không thể tự giải quyết, bởi các doanh nghiệp này không có kinh nghiệm và phương pháp thu hồi nợ chuyên nghiệp. Nhìn chung, kết quả thu hồi nợ của các doanh nghiệp không có nghiệp vụ thu hồi nợ đều không khả quan, dẫn đến việc khoản nợ bị kéo dài. Doanh nghiệp thiếu hiểu biết pháp luật, không nắm được quy định trong thu hồi nợ để biết và đảm bảo quyền lợi của mình. Vì vậy, các doanh nghiệp có thể lựa chọn các dịch vụ của công ty mua bán nợ. Công ty mua bán nợ hợp pháp là công ty được nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Đây là những công ty cung cấp dịch vụ mua bán nợ hợp pháp có đầy đủ quyền và nghĩa vụ thực hiện các biện pháp thu hồi khoản nợ đó. Theo Nghị định 69/2018/ NĐ-CP của Thủ tướng của Chính Phủ đã nêu rõ, điều kiện đối với doanh nghiệp kinh doanh hoạt động mua bán nợ có mức vốn điều lệ, vốn đầu tư tối thiều phải là 100 tỷ đồng. Vì vậy các doanh nghiệp hoạt động mua bán nợ đều phải đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Thu hồi nợ có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ nhằm đảm bảo về sự lành mạnh tài chính, lợi nhuận của tổ chức cá nhân, doanh nghiệp mà còn quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Sau khi nền kinh tế vừa trải qua thời gian khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid kéo dài, vấn đề thu hồi công nợ đối với các doanh nghiệp, các cá nhân càng trở nên cấp thiết khi dòng tiền của doanh nghiệp bị suy yếu, cạn kiệt và thậm chí có thể khiến doanh nghiệp phá sản. Chính vì thế, dịch vụ thu hồi nợ hiện nay là một giải pháp vô cùng quan trọng và cần thiết để giải quyết vấn đề công nợ của doanh nghiệp.

Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (gọi tắt là VAMC) do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. VAMC hoạt động nhằm mục tiêu xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận; công khai, minh bạch trong hoạt động mua, xử lý nợ xấu; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu. VAMC là doanh nghiệp đặc thù, chịu sự quản lý nhà nước, thanh tra, giám sát của NHNN và các cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định của pháp luật. Có thể thấy nguồn vốn của VAMC lớn hơn rất nhiều so với các AMC của các tổ chức tín dụng đơn lẻ. Tuy nhiên, do mục tiêu của VAMC không chỉ tập trung vào một định chế cho vay đơn lẻ như AMC nên việc VAMC tài trợ vốn là rất cần thiết để VAMC xử lý nợ xấu. Phát triển theo giá trị thị trường. Ngày 16 tháng 6 năm 2024, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 63/2024/QH15. Nghị quyết này thống nhất kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ quy định tại Nghị quyết số 42/2019/QH14 của Quốc hội về xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, các TCTD sẽ được gia hạn từ ngày 15 tháng 8 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025. Đồng thời, NHNN Việt Nam đã có văn bản số 5962/NHNN-TTGSNH, đề nghị các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài tiếp tục triển khai, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2019/QH14. Để tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 42 trong thời gian kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ các quy định của Nghị quyết, Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược là phát triển VAMC trở thành trung tâm trong hoạt động xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại hệ thống các TCTD, thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ, đảm bảo sự phát triển an toàn, bền vững của các TCTD, có đủ năng lực và nguồn lực để thực hiện chức năng và nhiệm vụ mua, bán và xử lý nợ xấu, định giá, đấu giá tài sản. Với chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sự ủng hộ của các Bộ, ngành và chính quyền trong cả nước; với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, có năng lực, phẩm chất tốt, kinh nghiệm lâu năm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng, hoạt động của VAMC đang từng bước vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, đóng góp vào sự ổn định của hệ thống TCTD, phát triển kinh tế đất nước.

2.2.3. Các phương pháp xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Căn cứ điều 12 Nghị Định 53/2015/NĐ-CP ngày 18/05/2015 Về việc thành lập, tổ chức hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam; Căn cứ Chương III Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN ngày 03/02/2022 của Ngân hàng Nhà nước (hợp nhất các Thông tư 19/2015/TT-NHNN, Thông tư 14/2017/TT-NHNN, Thông tư 08/2018/TT-NHNN, Thông tư 09/2019/TT-NHNN, Thông tư 32/2021/TT- NHNN) Quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam; Căn cứ Chương III Quyết định 01/QĐ-HĐTV ngày 03/02/2023 Quyết định ban hành Quy chế mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản; VAMC có nhiều phương thức nghiệp vụ xử lý thu hồi nợ xấu mua từ các TCTD, trong số đó, hiện nay VAMC đã và đang thực hiện hiệu quả một số phương thức xử lý nợ xấu, cụ thể như sau:

2.2.3.1. Bán khoản nợ

Theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP ngày 01/07/2018 về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, “Mua bán nợ” là việc bên bán nợ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ và các quyền khác liên quan đến khoản nợ cho bên mua nợ và bên mua nợ trả tiền cho bên bán nợ.

Bán khoản nợ là phương pháp xử lý nợ khá phổ biến tại VAMC vì tính nhanh gọn, thuận lợi, giảm bớt được những thủ tục liên quan đến việc thu giữ tài sản bảo đảm, chuyển nhượng tài sản, theo dõi khách hàng vay, … so với các phương án khác. Ngoài ra, do VAMC hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên sẽ ưu tiên việc bán khoản nợ để tiết kiệm thời gian và chi phí, tối đa hóa việc quay vòng vốn, tận dụng được nguồn vốn, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu cho các tổ chức tín dụng.

Bảng 2. 1. Phương thức bán khoản nợ

Phương thức Bán đấu giá Chào giá cạnh tranh Bán thỏa thuận
Điều kiện bán (theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN ngày 03/02/2022) Thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.

 

Phải có sự tham gia của ít nhất 02 bên mua nợ không phải là người có liên quan với nhau theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Giá bán khoản nợ không thấp hơn giá Công ty Quản lý tài sản mua khoản nợ đó.
  • Đối với trường hợp bán thỏa thuận khoản nợ

Bảng 2. 2. Quy trình bán thỏa thuận khoản nợ Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Quy trình Nội dung
Bước 1 Ký kết thỏa thuận chứng minh tài chính với đối tác
Bước 2 Trình mua khoản nợ và phương án xử lý nợ
Bước 3 Ký HĐ đặt cọc không hủy ngang về việc đối tác quan tâm cam kết mua lại khoản nợ từ VAMC sau khi mua tại TCTD, Phòng MB&XLN phối hợp với Phòng Kế toán theo dõi và thực hiện hạch toán chuyển số tiền đặt trước chứng minh tài chính sang số tiền đặt cọc theo Hợp đồng đặt cọc đã ký
Bước 4 VAMC ký HĐ mua nợ với TCTD
Bước 5 Thông báo cho bên mua nợ về việc VAMC là chủ nợ mới của khoản nợ và chuẩn bị nguồn lực tài chính để ký kết HĐ mua bán nợ
Bước 6 Ký kết Hợp đồng mua bán nợ với Bên mua nợ
Bước 7 Thông báo cho Bên nợ và Bên có nghĩa vụ liên quan về việc VAMC chuyển nhượng khoản nợ cho Bên mua nợ

Tại thời điểm trình mua khoản nợ và phương án xử lý nợ VAMC đã hoàn tất bước ký thỏa thuận chứng minh tài chính với đối tác quan tâm, nhằm chứng minh đối tác quan tâm có đủ năng lực tài chính mua khoản nợ; theo dõi số tiền đặt trước chứng minh tài chính theo đúng thỏa thuận.

Trước khi ký Hợp đồng mua nợ với TCTD, VAMC đã thực hiện ký Hợp đồng đặt cọc không hủy ngang về việc đối tác quan tâm cam kết mua lại khoản nợ từ VAMC sau khi mua tại TCTD. Sau khi mua khoản nợ từ TCTD, đầu tiên VAMC lập thông báo cho Bên mua nợ về việc VAMC là chủ nợ mới của khoản nợ, đồng thời sắp xếp thời gian cũng như nguồn lực tài chính thực hiện ký kết Hợp đồng mua bán nợ. Sau đó, thực hiện ký kết Hợp đồng mua bán nợ với Bên mua nợ, ngay sau khi Hợp đồng mua bán nợcó hiệu lực, Phòng Mua bán và xử lý nợ phối hợp với Phòng Kế toán thực hiện hạch toán tiền đặt cọc theo Hợp đồng đồng đặt cọc trước đó chuyển thành tiền thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp đồng mua bán nợ. Cuối cùng là lập thông báo cho bên nợ và bên có nghĩa vụ liên quan về việc VAMC chuyển nhượng khoản nợ cho Bên mua nợ trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày Hợp đồng mua bán nợ có hiệu lực.

  • Đối với trường hợp bán đấu giá khoản nợ

VAMC cùng với ban đấu giá để thực hiện các thủ tục liên quan đến đấu giá khoản nợ:

  1. Bàn giao hồ sơ cho Ban đấu giá
  2. Lập tờ trình phương án đấu giá (từng lần) Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Theo quy định của Luật Đấu Giá 2018 và Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị định 61/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 quy định: “2. Trường hợp bán đấu giá khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu quy định tại khoản 1 Điều này không thành: Đối với bán đấu giá khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản mua theo giá trị thị trường, Công ty Quản lý tài sản quyết định giá khởi điểm của khoản nợ xấu. Trường hợp Công ty Quản lý tài sản quyết định giảm giá khởi điểm, mỗi lần giảm giá không quá 10% giá khởi điểm của lần đấu giá không thành liền trước đó”.

  1. Niêm yết, thông báo đấu giá tài sản

Cán bộ được phân công trong tổ/hội đồng đấu giá tài sản thực hiện niêm yết thông báo bán đấu giá tại (các) UBND nơi có các tài sản bảo đảm tọa lạc, tại trụ sở của tổ chức tín dụng (TCTD đã cấp tín dụng cho khách hàng ban đầu), tống đạt thông báo bán đấu giá tài sản đến khách hàng và các chủ tài sản bảo đảm.

  1. Tổ chức đấu giá
  2. Báo cáo kết quả đấu giá:

Sau khi hoàn tất thanh toán tiền mua khoản nợ, cán bộ lập tờ trình trình Ban Giám đốc chi nhánh xuất tài sản để bàn giao cho bên trúng đấu giá; Cán bộ Phòng Mua bán & Xử lý nợ phối hợp với Phòng Kế toán xuất kho tài sản và VAMC tiến hành lập biên bản bàn giao hồ sơ cho bên trúng đấu giá. Phối hợp với Phòng Kế toán, xuất hóa đơn tài chính cho bên trúng đấu giá theo quy định.

  • Đối với trường hợp chào giá cạnh tranh

Bảng 2. 3. Quy trình chào giá cạnh trạnh

Căn cứ theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-NHNN, có một số lưu ý chung khi VAMC thực hiện phương thức chào giá cạnh tranh để bán khoản nợ:

  1. Công ty Quản lý tài sản tự định giá hoặc thuê tổ chức định giá độc lập định giá khoản nợ xấu để xác định giá chào bán khoản nợ xấu;
  2. Công ty Quản lý tài sản công bố thông tin về việc bán khoản nợ xấu theo hình thức chào giá cạnh tranh trên trang thông tin điện tử của Ngân hàng Nhà nước, Công ty Quản lý tài sản, tổ chức tín dụng bán nợ. Công ty Quản lý tài sản quyết định nội dung công bố thông tin, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, trong đó bao gồm các thông tin chi tiết về khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu dự kiến bán; giá chào bán khoản nợ xấu; địa điểm, thời hạn công bố thông tin và tham khảo hồ sơ pháp lý; địa điểm, thời hạn nộp hồ sơ chào giá.

Thời hạn công bố thông tin và tham khảo hồ sơ pháp lý không được ít hơn 05 ngày làm việc đối với khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là động sản và không được ít hơn 15 ngày làm việc đối với khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Việc nộp hồ sơ chào giá được thực hiện sau khi kết thúc thời hạn công bố thông tin và tham khảo hồ sơ pháp lý và không được ít hơn 03 ngày làm việc;

  1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp hồ sơ chào giá, Công ty Quản lý tài sản bán khoản nợ xấu cho bên mua nợ trả giá cao nhất. Trường hợp có từ 02 bên mua nợ trả giá cao bằng nhau thì Công ty Quản lý tài sản tổ chức bốc thăm để chọn ra bên mua được nợ;
  2. Việc bán nợ xấu theo phương thức chào giá cạnh tranh được coi như không thành trong các trường hợp sau:

Có ít hơn 02 bên mua nợ nộp hồ sơ chào giá;

Giá cao nhất đã trả thấp hơn mức chào giá của Công ty Quản lý tài sản;

Bên mua nợ trả giá cao nhất không mua khoản nợ.

2.2.4. Kết quả xử lý nợ xấu Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Với những thay đổi về mặt chính sách, cơ chế và nguồn lực về vốn được bổ sung, VAMC đã triển khai bước đầu có hiệu quả Nghị quyết 42/2019/QH về xử lý nợ xấu và Đề án tái cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2018-2022. Trong đó, năm 2019 là năm đầu tiên VAMC đạt được kết quả khả quan trong hoạt động mua nợ theo GTTT.

Phương thức mua bán nợ xấu sẽ quyết định nguyên tắc xác định giá mua bán nợ xấu. Sự đa dạng trong phương thức mua bán nợ xấu ảnh hưởng đến quản lý mua bán nợ xấu. Trong đó, phương thức mua bán nợ theo giá trị thị trường, thanh toán bằng tiền, thông thường là phương thức được quan tâm hơn cả do có lợi cho cả hai bên (TCTD và công ty mua bán nợ), mặt khác cũng giúp VAMC chủ động trong việc xử lý nợ xấu đã mua. Quá trình lập ra kế hoạch cho mua bán nợ xấu của VAMC là cơ sở để kiểm soát việc thực hiện mua bán nợ xấu tại VAMC, quá trình kiểm soát thực hiện mua bán nợ xấu.

Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ nợ xấu AMC đã mua từ các TCTD so với tổng dư nợ xấu của các TCTD.

Chỉ tiêu này phản ánh tổng khối lượng nợ xấu AMC đã mua so với tổng dư nợ xấu của các TCTD.

Bảng 2. 4. Nợ xấu VAMC mua bằng các phương thức so với tổng dư nợ xấu

Đvt: Tỷ đồng

TT

Tiêu chí

2019 2020 2021 2022 2023 Lũy kế đến 2023
1 Mua theo TBĐB 49.072 79.666 60.341 46.149 20.999 363.015
2 Mua theo GTTT 3.264 1.034 1.366 2.116 11.820
3 Tổng dư nợ xấu các TCTD 129.589 137.733 133.585 367.413 384.583 407.446

Nguồn: Báo cáo NHNN, báo cáo VAMC

Lũy kế tính đến năm 2023, VAMC đã mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt và theo giá trị thị trường xử lý ước đạt 374.835 tỷ đồng trên tổng dư nợ xấu của các TCTD đạt 407.446 tỷ đồng, chiếm 92% tỷ lệ mua nợ thành công trên tổng dư nợ xấu của các TCTD, trong đó dư nợ gốc xử lý từ khoản nợ mua bằng TPĐB đạt 363.015 tỷ đồng và dư nợ gốc xử lý từ khoản nợ mua theo GTTT đạt 11.820 tỷ đồng. Dựa vào số liệu bảng 2.4, qua 5 năm triển khai việc mua nợ tại VAMC, các Bước đầu VAMC đã đạt một số kết quả tuy nhiên trong năm 2023 do yếu tố khách quan, dịch bệnh, suy thoái của thị trường bất động sản cùng với các khó khăn nhất định của ngành ngân hàng, kết quả mua nợ, thu hồi nợ bị ảnh hưởng và gặp nhiều khó khăn.

Chỉ tiêu 2: Tỷ trọng nợ xấu được xử lý thông qua bán nợ cho AMC so với tổng nợ xấu được xử lý của các TCTD

Chỉ tiêu này được đo bằng tỷ lệ phần trăm tổng dư nợ xấu các TCTD bán cho AMC theo từng phương thức trên tổng số nợ xấu của các TCTD đã được xử lý. Tỷ lệ này thể hiện sự đóng góp xử lý nợ xấu theo từng phương thức của AMC đối với kết quả xử lý nợ xấu của toàn ngành ngân hàng.

(1) Mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt

Bảng 2. 5: Tổng thu hồi nợ xấu đã mua nợ bằng TPĐB

Đơn vị: tỷ đồng Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Năm

2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 Luỹ kế
Dư nợ gốc 4.875 21.756 30.138 49.072 78.000 69.778 47.561 24.821 322.187
Tổng thu hồi nợ 4.469 17.142 28.853 30.852 37.250 32.480 15.344 15.195 182.042
Tỷ lệ 92% 79% 96% 63% 48% 47% 32% 61% 57%

Nguồn: Báo cáo thường niên các năm của VAMC

Lũy kế tính đến năm 2023, VAMC đã phối hợp cùng các TCTD xử lý, thu hồi nợ đạt 182.042 tỷ đồng trên tổng dư nợ gốc đạt 322.187 tỷ đồng. Đặc biệt từ năm 2019, sau khi Nghị quyết 42/2019/QH được Quốc Hội ban hành và có hiệu lực, tỷ lệ thu hồi nợ xấu của các TCTD được cải thiện đáng kể, nhiều ngân hàng có dư nợ xấu giảm dần. Đến ngày 31/12/2021 đã giảm còn 1,63%, trong khi năm 2018 là 2,46%, năm 2019 là 1,99%, năm 2020 là 1,91%. Đặc biệt trong 2 năm 2020, 2021, kết quả thu hồi nợ xấu của VAMC đạt được số liệu khả quan:

  • Năm 2020, xử lý được 78.000 tỷ đồng dư nợ gốc, đạt 226% kế hoạch NHNN phê duyệt, với giá trị thu hồi nợ đạt 37.702 tỷ đồng.
  • Năm 2021, xử lý được 69.778 tỷ đồng dư nợ gốc, đạt 140% kế hoạch NHNN phê duyệt, với giá trị thu hồi nợ là 32.480 tỷ đồng.
  • Năm 2022, xử lý nợ được 561 tỷ đồng dư nợ gốc, đạt kế hoạch NHNN phê duyệt, với giá trị thu hồi nợ là 15.195 tỷ đồng.
  • Năm 2023, xử lý nợ được 821 tỷ đồng dư nợ gốc, đạt kế hoạch NHNN phê duyệt với giá trị thu hồi nợ là 15.195 tỷ đồng.

Luỹ kế từ năm 2016-2023, VAMC đã thực hiện mua được 27.852 khoản nợ của 17.244 khách hàng tại 42 TCTD, với tổng dư nợ gốc nội bảng là 395.724 tỷ đồng, giá mua nợ là 363.015 tỷ đồng. Đối với các khoản nợ mua bằng TPĐB, lũy kế đếnn31/12/2023, VAMC đã phối hợp với các TCTD xử lý nợ đạt 182.042 tỷ đồng (bao gồm các biện pháp bán nợ/bán TSBĐ, bán lại nợ cho TCTD….). Trong đó, trong năm 2019, nhờ có sự ra đời của Nghị Quyết số 42/2019 của Quốc Hội, VAMC đã thu được 30.852 tỷ đồng (gần bằng 2/3 tổng giá trị thu hồi nợ của cả 4 năm trước đó), tăng gần 2.000 tỷ đồng so với năm 2018, hoàn thành vượt mức kế hoạch 40%. Năm 2020, VAMC đã phối hợp với các TCTD xử lý nợ đạt 74.452 tỷ đồng dư nợ gốc, thu hồi được 33.702 tỷ đồng. Tới năm 2023, VAMC đã xử lý được 15.195 tỷ đồng trên 24.821 tỷ đồng dư nợ gốc.

Trong đó, kết quả nợ xấu bằng TPĐB của VAMC hàng năm luôn hoàn thành kế hoạch của NHNN giao. Cụ thể như sau:

Bảng 2. 6: Mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt

Đơn vị: tỷ đồng

Tiêu chí 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 Luỹ kế tính đến 31/12/2023
Số TCTD 28 36 38 22 14 13 7 7
Khách hàng 5.304 9.772 832 414 500 162 213 123 17,244
Khoản nợ 8.618 14.326 1.240 565 761 381 281 172 27,852
Dư nợ gốc nội bảng 92.418 107.928 42.183 32.377 30.917 20.544 15,218 21,102 395,724
Giá mua 77.705 99.257 40.035 31.831 29.812 19.846 14,649 20,999 363,015

Nguồn: Báo cáo thường niên các năm của VAMC Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Có thể thấy các TCTD có tỷ lệ nợ xấu trên 3% của hệ thống NH đều tham gia bán nợ cho VAMC, số lượng này có thể tăng lên hoặc giảm đi theo từng năm, tăng cao nhất là 2017 với 42 TCTD, trong khi năm 2016 và các năm sau đó thấp hơn. Nguyên nhân là thời gian đầu đi vào hoạt động, các TCTD còn e ngại việc bán nợ sang VAMC sẽ ảnh hưởng đến thông tin các khoản nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu, tuy nhiên sau hai năm đi vào hoạt động VAMC đã khẳng định được vài trò của mình trong việc giúp các TCTD tiếp cận được nguồn vốn với và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Năm 2018, 2019 có 18 TCTD tham gia bán nợ, do tỷ lệ nợ xấu của nhiều TCTD đã giảm xuống còn dưới 3%, đạt ở ngưỡng cho phép.

(2) Mua nợ theo giá trị thị trường

Bảng 2. 7: Tỷ lệ nợ xấu được xử lý bằng biện pháp bán nợ theo GTTT cho VAMC trên tổng nợ xấu được xử lý của các TCTD giai đoạn 2019 – 2023

Đơn vị tính: tỷ đồng

TT

Tiêu chí

2019 2020 2021 2022 2023
1 Tổng nợ xấu VAMC mua theo GTTT (theo dư nợ gốc nội bảng) 2.939 2.943 2.131 1.952 1.761
2 Tổng nợ xấu đã xử lý của các TCTD 115.541 163.141 159.733 159.762 161.900
3 Tỷ lệ 2,54% 1,80% 1,33% 1,22% 1,10%

Căn cứ Bảng 2.7, giai đoạn từ năm 2019- 2023, tất cả các TCTD đã xử lý được 758 tỷ đồng; phần lớn là các TCTD sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý khoản nợ, trường hợp thu hồi nợ bằng việc khách hàng trả nợ, hoặc bán nợ cho VAMC chiếm tỷ trọng rất nhỏ (20%). VAMC đã sự đóng góp trong hoạt động của VAMC đối với kết hoạt động của ngành ngân hàng. Tuy nhiên tỷ lệ xử lý thông qua VAMC còn rất nhỏ và khá khiêm tốn so với kỳ vọng và quy mô nợ xấu cần giải quyết.

Năm 2019 là năm đầu tiên VAMC đã thực hiện thành công hoạt động mua nợ theo giá trị thị trường, với tổng giá mua nợ đạt 3.141,07 tỷ đồng, tổng dư nợ gốc là 2.938,6 đạt 100% kế hoạch được NHNN phê duyệt, trong đó tổng nợ xấu đã mua theo GTTT đạt 2.939 tỷ đồng và tổng nợ xấu xử lý của các TCTD đạt 115.541 tỷ đồng. Luỹ kế đến 31/12/2023, VAMC đã mua được 11,820 tỷ đồng nợ xấu theo giá trị thị trường (theo giá mua nợ).

Đối với các khoản nợ mua theo GTTT: Ngay sau khi mua nợ, VAMC đã triển khai ngay các giải pháp xử lý nợ phù hợp như thường xuyên đôn đốc khách hàng trả nợ, áp dụng các biện pháp cơ cấu lại nợ, thu giữ, bán đấu giá, bán thỏa thuận tài sản, hỗ trợ bên mua tài sản hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan đến chuyển nhượng dự án…để thu hồi nợ. Ngay những tháng đầu năm 2020, VAMC đã tập trung thu hồi các khoản nợ đã mua từ 2019. Tính đến 30/6/2020, VAMC đã thu hồi được 2.909,43 tỷ đồng, tương ứng với hơn 90% tổng giá trị mua nợ của các khoản nợ đã mua theo GTTT năm 2019, chênh lệch tài chính từ hoạt động mua nợ thị trường lúy kế ước đạt 52 tỷ đồng. Kết quả năm 2020 VAMC đã thu hồi được 3.548,52 tỷ đồng. Năm 2021, VAMC đã thu hồi được 1.630 tỷ đồng, xử lý nợ gốc đạt 1.430 tỷ đồng. Luỹ kế đến 31/12/2023, VAMC đã thu hồi được 173.171 tỷ đồng.

Bảng 2. 8: Thu hồi nợ xấu đã mua theo giá trị thị trường

Đơn vị: tỷ đồng Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Chỉ tiêu 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
Tổng thu hồi nợ 3.548 1.630 1.305 2.960

Nguồn: Báo cáo thường niên các năm của VAMC

Song song với hoạt động xử lý các khoản nợ đã mua, từ đầu năm 2020 đến nay, VAMC đã rà soát, đánh giá các khoản nợ có khả năng xử lý, trình NHNN phê duyệt phương án mua thị trường, đồng thời thực hiện đàm phán với các TCTD để triển khai mua nợ theo GTTT theo phương án mua nợ đã được NHNN phê duyệt.

Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ thu hồi nợ xấu của AMC so với tổng nợ xấu AMC mua về. Tỷ lệ này thể hiện AMC xử lý thu hồi được bao nhiêu so với tổng khối lượng nợ AMC mua về.

Bảng 2. 9: Tỷ lệ thu nợ xấu của VAMC theo từng giải pháp trong kỳ 2019 – 2023

Đvt: Tỷ đồng

TT

Chỉ tiêu

2019 2020 2021 2022 2023
1 Tổng giá trị thu hồi thực tế 49.072 82.930 61.375 24.824 322.187
2 Tổng thu hồi nợ xấu của VAMC 30.641 37.250 32.480 15.344 15.248
3 Tỷ lệ 62% 45% 53% 62% 5%

Nguồn tham khảo: Báo cáo nội bộ VAMC năm 2019 – 2023

Năm 2019, thực tế đã thu hồi được đã thu hồi được 49.072 tỷ đồng, trong đó VAMC thu hồi 62% các khoản nợ đã mua của năm 2019, còn lại 10% là VAMC thu hồi ngay được từ các khoản nợ mua của năm 2020. Sang năm 2021, kết quả thu hồi giảm hơn 50% so với năm 2020, VAMC chỉ thu hồi được 1.630 tỷ đồng. Nguyên nhân một phần đến từ sự thiếu đồng bộ trong các quy định để các nhà đầu tư có thể dễ dàng tham gia vào thị trường, quyết định bỏ vốn để mua xử lý khoản nợ, xử lý tài sản, đồng thời thời gian để xử lý cũng kéo dài bởi một số thủ tục quy định liên quan đến xử lý, đấu giá tài sản.

Năm 2023, VAMC chịu nhiều khó khăn, tác động do dịch Covid 19, tuy nhiên với những nỗ lực của tập thể cán bộ VAMC dưới sự chỉ đạo sát sao của Ban Lãnh đạo VAMC, trong hoạt động đã đạt được 2.960 tỷ số tiền thu hồi, so với kết quả của năm 2022 tăng 127%. Trong tổng kết quả thu hồi nợ: 40% thu hồi từ giải pháp bán khoản nợ; 52% thu hồi từ bán TSBĐ và 8,2% thu hồi bằng giải pháp khác như: Khởi kiện, đề nghị Thi hành án; cho phép khách hàng tự thanh toán; cơ cấu lại khoản nợ theo quy định của VAMC.

Năm 2022 và năm 2023: với mục tiêu tập trung xử lý những khoản nợ tồn đọng, vướng mắc từ các năm trước, VAMC đẩy mạnh các giải pháp mang lại tính hiệu quả cao như bán TCĐB, tìm đối tác có năng lực tài chính và kinh nghiệm tham gia cùng VAMC trong việc xử lý nên trong hai năm này tỷ lệ thu hồi nợ xấu từ phương án bán TSĐB tăng so với các năm trước

Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ dư nợ được cơ cấu nợ/tổng dư nợ xấu nội bảng VAMC đã mua

Tỷ lệ này thể hiện bao nhiêu phần trăm nợ xấu AMC mua về đã được AMC cơ cấu nợ.

Bảng 2. 10: Tỷ lệ nợ được cơ cấu trên tổng dư nợ được VAMC mua theo các phương thức giai đoạn 2019 – 2023

Đvt: tỷ đồng Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

STT

Chỉ tiêu

2019 2020 2021 2022 2023
1 Dư nợ gốc được cơ cấu 0 0 723 0 152
2 Tổng nợ VAMC mua 34.770 32.755 21.977 16.601 23.115
3 Tỷ lệ (%) 3% 1%

Trong thời gian này, xét theo các số liệu về cơ cấu nợ, VAMC thực hiện được rất ít số nợ cơ cấu trên tổng số nợ. Tỷ lệ năm 2021 cao nhất là 3%. Mặc dù gia hạn nợ, cơ cấu là giải pháp rất tốt, tạo được sự phục hồi cho doanh nghiệp và đi vào thực tiễn hỗ trợ khách hàng, tuy nhiên cũng có các rủi ro gặp phải trong quá trình gia hạn. Cần có đội ngũ nhân sự am hiểu về các ngành nghề để quản trị. Ngoài ra khách hàng cũng phải đáp ứng các điều kiện, quy định chặt chẽ, do vậy tỷ lệ này còn khiêm tốn. Nhằm hỗ trợ khách hàng đang gặp khó khăn có triển vọng phục hồi, các khách hàng có thiện chí trả nợ, có cơ hội khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh và trả nợ ngân hàng, VAMC đã phối hợp với các TCTD rà soát, đánh giá tình hình tài chính, năng lực hoạt động của các khách hàng có nợ xấu, từ đó phân loạn và đề xuất áp dụng các biện pháp cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn giảm lãi vay theo quy định.

Chỉ tiêu 5: Tỷ lệ dư nợ thu hồi từ xử lý TSBĐ trên tổng dư nợ thu hồi.

Tỷ lệ này thể hiện trong tổng số nợ thu hồi được thì thu nợ thông qua xử lý TSBĐ chiếm tỷ lệ bao nhiêu.

Bảng 2.11: Tỷ lệ thu hồi, xử lý nợ bằng biện pháp xử lý TSBĐ trên tổng dư nợ được thu hồi theo các phương thức giai đoạn 2019 – 2023

Đvt: tỷ đồng

STT

Chỉ tiêu

2019 2020 2021 2022 2023
1 Thu hồi từ xử lý TSĐB 130 2.808 290 92 1.612
2 Tổng dư nợ thu hồi theo các phương thức 61.304 20.564 37.444 32.192 15.344
3 Tỷ lệ 0.2% 13.7% 0.8% 0.3% 10.5%

Nguồn: Báo cáo hoạt động của VAMC giai đoạn 2019 – 2023

Có thể nói, xử lý TSBĐ là giải pháp chính trong hoạt động thu đòi nợ của VAMC trong giai đoạn 2019 – 2023. Số nợ thu hồi đạt cao nhất vào năm 2020. Sau đó giảm dần qua các năm và thấp nhất năm 2022.

Biện pháp xử lý TSBĐ cũng phụ thuộc khá nhiều vào các yếu tố như sự ủng hộ từ địa phương, cơ quan quản lý, sự hợp tác của khách, năng lực tổ chức bán đấu giá tài sản, yếu tố pháp lý của tài sản. Ngoài ra sự hiệu quả cũng ảnh hưởng từ thị trường, nhà đầu tư, room tín dụng của các ngân hàng. Do vậy VAMC cũng cần có các giải pháp kết hợp với các biện pháp khác mang lại sự nhanh chóng, hiệu quả, linh hoạt động giải pháp xử lý. Tiêu chí 6: Tỷ suất lợi nhuận trên trên vốn

Đây là tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ sinh lời của các AMC. Để tính toán chính xác tiêu chí này, thông thường các ngân hàng căn cứ vào lợi nhuận sau khi trích lập dự phòng rủi ro.

Năm 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
Giá trị thu hồi TT 90.634 107.100 42.140 35.317 33.857 22.675 17.170 22.863
Giá trị thực tế đã mua về 76.456 98.481 39.994 34.972 32.631 22.093 16.147 23.115
Tỷ lệ 19% 9% 5% 1% 4% 3% 6% -1%

Các nguồn lực của VAMC tiếp tục được Chính phủ, NHNN quan tâm hỗ trợ và không ngừng được củng cố vững chắc. Tháng 12/2021, VAMC mới được quyết định tăng vốn điều lệ lên thành 5.000 tỷ đồng, Tuy nhiên, thực tế VAMC vẫn chưa được tiếp cận nguồn vốn đủ 5000 tỷ đồng. Năm 2023, VAMC đã được cấp đủ vốn điều lệ 5000 tỷ đồng theo Quyết định số 1699/QĐ-TTg ngày 27/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ (trong năm 2023 VAMC được cấp thêm 752 tỷ đồng). Từ đây, có thể thấy năng lực hoạt động của VAMC ngày càng được nâng cao.

2.3. Đánh giá kết quả xử lý nợ của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế

2.3.1. Đánh giá những kết quả đạt được trong xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Thứ nhất, VAMC luôn phấn đấu đạt kế hoạch NHNN giao trong các hoạt động của mình. Từng bước củng cố vị trí và vai trò trong lĩnh vực mua bán nợ xấu. Mặc dù nền kinh tế sẽ gặp khó khăn do dịch Covid-19 trong năm 2023, nhưng VAMC dự kiến sẽ phối hợp, triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để xử lý nợ xấu hiệu quả, phương án đã được NHNN phê duyệt và đang nỗ lực hoàn thiện.

Theo Báo cáo kết quả hoạt động năm 2023 ngày 31 tháng 12 năm 2023, kết quả hoạt động như sau: NHNN (vượt 99% từ năm 2022), vượt 21,71% kế hoạch lợi nhuận NHNN giao năm 2023 (vượt 36% kết quả năm 2022). Tỷ suất lợi nhuận sau cổ phần hóa vượt kế hoạch NHNN giao là 19,74%. Thu hồi và quản lý nợ khó đòi đạt 2.116 tỷ đồng (giá trị ước tính). Chi phí mua lại đạt 83% kế hoạch hợp nhất nợ. Tỷ lệ thu hồi nợ xấu tính trên giá trị VAMC mua lại nợ xấu tăng dần qua các năm. Năm 2023, VAMC sẽ xử lý thu hồi nợ xấu 2.960 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2022, theo giá trị hợp lý năm 2023. Tại ngày 31 tháng 12 năm 2023, giá trị hợp lý của tỷ lệ thu hồi nợ xấu là khoản nợ xấu tỷ lệ thu hồi đối với VAMC đã mua đạt 80,99%. Trong số 9.573,38 tỷ đồng được VAMC thu hồi 40,3% giá trị hợp lý của các khoản nợ xấu được thu hồi dưới hình thức bao thanh toán là 51,5% từ việc bán tài sản đảm bảo và 8,2% dưới hình thức thu hồi, tố tụng và thi hành án.

Thứ hai, người cho vay bị loại bỏ, giảm áp lực dự phòng rủi ro, nâng cao năng lực tài chính, thu hồi vốn nhanh, dư địa phát triển tín dụng, có thực lực để bán nợ TTTT cho VAMC là có thể. Bằng cách bán các khoản phải thu, người cho vay có thể nhanh chóng đưa tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3%, có khả năng làm tăng thêm hoạt động cho vay. Điều này giúp các tổ chức tín dụng nâng cao uy tín trên thị trường. Uy tín, huy động vốn giá rẻ và triển khai thành công Thông tư 11/2023 của NHNN ngày 30/07/2023.

Thứ ba, nguồn lực của VAMC tiếp tục được hỗ trợ từ Chính phủ và các ngân hàng nhà nước và luôn được liên kết chặt chẽ. Theo Nghị quyết số 1699/QĐ-TTg ngày 27/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ, VAMC được Ngân hàng Nhà nước cấp 100% vốn ban đầu là 5 nghìn tỷ đồng, trong năm 2023 sẽ cấp thêm 752 tỷ đồng cho VAMC. dự kiến là năng lực hoạt động của VAMC đang dần được cải thiện. Trên cơ sở Đề án tái cơ cấu, nâng cao năng lực VAMC giai đoạn 2023-2030 theo Quyết định 1058/QĐ- NHNN ngày 19/7/2019, VAMC sẽ đẩy mạnh kiện toàn cơ cấu tổ chức, hoàn thiện mô hình hoạt động theo hướng ngày càng tập trung. Sau thời gian hoạt động, các đơn vị mới được thành lập (Phòng Mua bán và Quản lý nợ, Phòng Kế hoạch và Quản lý rủi ro, Phòng Đầu tư và Mua bán nợ thị trường, Ủy ban đấu giá, Chi nhánh TP.HCM. Sàn giao dịch nợ TP.HCM). Nâng cao hiệu quả hoạt động mua, xử lý nợ tuân thủ GTTT nói chung và GTTT nói riêng thông qua việc hỗ trợ VAMC thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được NHNN Việt Nam giao.

Thứ tư, VAMC sẽ tiếp tục thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, quyết định của Quốc hội, Chính phủ và NHNN.

Thực hiện Nghị quyết 42/2019-QH, Nghị quyết số 689/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2024 về Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2023 – 2030”; được phê duyệt. VAMC thực hiện đồng thời giải pháp tạo thuận lợi cho việc bán, xử lý nợ xấu theo số lượng giao dịch, tăng cường vai trò của VAMC trong xử lý nợ của hệ thống TCTD. Đặc biệt, Nghị quyết 42 với nhiều giải pháp đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, tài sản đặc biệt tại VAMC. Kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, công tác bán và xử lý nợ xấu theo giá trị hợp lý của VAMC đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Việc mua 11.822 tỷ đồng đã giúp VAMC đạt được mục tiêu gắn kết sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán trái phiếu, cơ quan trung tâm của thị trường, với giá trị tiền tệ.

Thứ năm, trên cơ sở kết quả đạt được, VAMC sẽ đảm nhận nhiệm vụ phát triển thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam. (i) thành lập sàn giao dịch nợ và (ii) hỗ trợ hoạt động của Câu lạc bộ AMC. Sự ra mắt của trao đổi nợ đã được Tạp chí Tài chính và Tiền tệ vinh danh là một trong 10 điểm nhấn hàng đầu của ngành ngân hàng năm 2023. Việc thành lập sàn giao dịch đã đưa VAMC trở thành trung tâm cung cấp thông tin về nợ xấu của các tổ chức tín dụng, giúp minh bạch hóa thông tin nợ xấu trên thị trường, nhằm thúc đẩy thị trường giao dịch nợ xấu trên thị trường. Việt Nam. Bên cạnh đó, hoạt động của Câu lạc bộ AMC (bao gồm VAMC và AMC của TCTD) sẽ tiếp tục được duy trì và khuyến khích nhằm tạo diễn đàn chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm trong lĩnh vực mua bán, xử lý nợ. Trong năm 2023, VAMC đã tổ chức một số cuộc họp của Câu lạc bộ AMC nhằm tổng kết hoạt động của các thành viên Câu lạc bộ, đánh giá tác động của dịch Covid-19 đối với công tác xử lý nợ và tổng hợp ý kiến đóng góp vào các dự thảo luật. Xử lý nợ của các tổ chức tín dụng.

Thứ sáu, VAMC đang tích cực xem xét các phương án cơ cấu lại nợ để tạo điều kiện cho khách hàng tiếp tục sản xuất, hoạt động. VAMC cùng với các khách hàng có năng lực và hợp tác đẩy mạnh cơ cấu lại nợ, giúp khách hàng trả nợ, từng bước phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, mang lại lợi ích cho xã hội.

2.3.2. Những hạn chế trong xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Thứ nhất, nguồn nhân lực và tài chính của VAMC còn hạn chế so với lượng nợ xấu đã mua cần xử lý. Tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đa dạng, phân tán nhiều nơi, làm cho việc nắm bắt đầy đủ thực trạng các khoản nợ và thực hiện xử lý tài sản để thu hồi nợ còn kém hiệu quả. Nguồn vốn của VAMC còn thiếu linh hoạt và giới hạn, chưa có dòng tiền thật trong công tác xử lý nợ xấu, gây nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt trong công tác mua bán nợ theo GTTT. Trái phiếu đặc biệt được TCTD thế chấp để vay tiền tại NHNN. Những ngân hàng có thanh khoản yếu do nợ xấu cao sẽ nhận được nguồn vốn để tiếp tục hoạt động của mình. Mỗi năm, các NHTM này chỉ phải trích lập dự phòng 20% nợ xấu trong vòng 5 năm (có thể gia hạn đến 10 năm), thay vì phải trích lập dự phòng ngay lập tức. Như vậy, việc xử lý nợ này chủ yếu vẫn là NHNN bơm tiền vào TCTD có nợ xấu lớn, dẫn đến quá trình xử lý nợ xấu chỉ tập trung vào vấn đề “kỹ thuật” và khó mang lại hiệu quả cao. Để tạo động lực cho VAMC cũng như đảm bảo hiệu quả của việc xử lý nợ xấu, có thể quy định giá trị chiết khấu khi mua nợ thay vì quy định như Nghị định số 53/NĐ-CP ngày 18/5/2015 (mua nợ theo giá trị sổ sách nếu mua bằng trái phiếu đặc biệt, hoặc mua nợ theo giá trị thị trường nếu mua bằng nguồn khác) trong bối cảnh việc định giá nợ theo giá trị thị trường còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, công ty quản lý tài sản (AMC) thường phải mua lại nợ xấu của ngân hàng bằng tiền thật và sau đó tìm cách xử lý khoản nợ này.

Thứ hai, thị trường mua bán nợ chưa phát triển và thiếu tính cạnh tranh. Hiện tại hành lang pháp lý để vận hành thị trường mua bán nợ tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, như chủ thể tham gia thị trường bị giới hạn theo quy định của pháp luật, việc thu giữ và phát mại tài sản bảo đảm gặp nhiều vướng mắc pháp lý; quyền và trách nhiệm của người mua, bán nợ chưa được quy định rõ ràng.

Việc mua bán nợ ngoài VAMC chỉ có Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) của Bộ Tài chính là hoạt động tích cực, ngoài ra có 28 AMC của các ngân hàng thương mại nhưng nguồn lực rất hạn chế và hầu hết chỉ xử lý nợ nội bộ cho chính các ngân hàng mẹ, không tham gia thị trường mua bán nợ. Cùng với những hạn chế về năng lực, phương thức mua bán nợ của các công ty này trên thị trường còn thiếu tính đa dạng. Các AMC thường áp dụng một phương pháp duy nhất là mua bán nợ theo thỏa thuận nên thiếu tính linh hoạt.

Thứ ba, quá trình xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu của VAMC và các TCTD còn tồn tại nhiều vướng mắc pháp lý. VAMC cũng như các TCTD không thể chủ động thu giữ tài sản bảo đảm nếu các chủ tài sản không đồng thuận, khiến thời gian xử lý kéo dài. VAMC cũng không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, do đó khó có thể bán những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, gắn liền với đất cho cá nhân, tổ chức không phải là TCTD. Khi xử lý tài sản bảo đảm, việc đáp ứng đầy đủ điều kiện chuyển nhượng dự án bất động sản theo quy định trong Luật Kinh doanh bất động sản 2016 cũng không khả thi vì về cơ bản rất nhiều khoản nợ xấu đã bán cho VAMC có tài sản đảm bảo là dự án bất động sản chưa hoàn thành công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt, hoặc chủ đầu tư chưa có đủ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ hoặc một phần dự án chuyển nhượng. Bên cạnh đó, chi phí và các loại phí trong quá trình bán tài sản bảo đảm cao, gây thêm áp lực về tài chính, giảm thiểu giá trị khoản nợ được thu hồi. Trong nhiều trường hợp, chủ nợ khó có thể thu hồi đủ giá trị khoản nợ, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên được thi hành án. Việc phải nộp các khoản thuế trước khi thực hiện nghĩa vụ ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm là TCTD cũng đã làm giảm số tiền thu hồi nợ của TCTD.

Thứ tư, thiếu cơ chế trong xử lý tài sản đảm bảo tại các khâu định giá khoản nợ, tài sản đảm bảo và tổ chức bán đấu giá tài sản; chưa có tiêu chí, căn cứ chung để đảm bảo giá nợ xấu được đưa ra là khách quan, minh bạch. Cơ chế xử lý lãi/lỗ khi bán nợ xấu, thu hồi và phát mãi tài sản đảm bảo cần phải có những quy định cụ thể. Các khoản mua nợ theo giá thị trường thì sẽ có lãi/lỗ khi bán, do đó cần phải giải quyết ba vấn đề: (i) Cơ chế phân bổ hài hòa các khoản lãi, lỗ giữa TCTD bán nợ, VAMC và ngân sách nhà nước; (ii) Không truy cứu trách nhiệm các cá nhân có liên quan đến mua, bán khoản nợ xấu bị lỗ nếu họ chấp hành đúng các quy định về mua và bán các khoản nợ xấu và tài sản đảm bảo; (iii) Bổ sung quy định về tiêu chí, cách thức lựa chọn nơi tổ chức đấu giá tài sản và vai trò của các cơ quan liên quan.

Thứ năm, sự phối hợp giữa VAMC và các TCTD chưa hiệu quả khiến tốc độ xử lý nợ còn chậm trong khi các TCTD không tích cực bán nợ cho VAMC. Mặc dù đã bán nợ cho VAMC và nhận lại trái phiếu đặc biệt, nhưng phần lớn các khoản nợ vẫn được xử lý bởi chính các TCTD đã bán. Tuy nhiên, phương án, kế hoạch xử lý cũng như việc giải quyết những vướng mắc trong quá trình xử lý các khoản nợ đã mua bán chưa thống nhất và có cơ chế rõ ràng, dẫn tới thiếu sự chủ động trong công tác xử lý nợ xấu của cả hai bên. Trên thực tế, sau khi bán nợ xấu cho VAMC, các TCTD được ủy quyền chủ động thực hiện việc xử lý các khoản nợ đã bán và báo cáo VAMC theo định kỳ. Như vậy, trong khi động lực thu hồi nợ đối với các TCTD là khá rõ ràng (bởi nếu không tích cực xử lý, các TCTD sẽ phải gánh lại những khoản nợ xấu đã bán sau 5 năm), thì động lực xử lý nợ xấu của VAMC chưa rõ ràng. Đối với một số khoản nợ xấu chưa bán, các TCTD tự thực hiện trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của NHNN với các tỷ lệ khác nhau căn cứ vào số dư nợ cho vay, giá trị khấu trừ tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập của từng nhóm nợ. Nếu bán nợ cho VAMC, các TCTD sẽ phải thực hiện trích lập dự phòng hàng năm 20% giá trị trái phiếu VAMC trong thời gian 5 năm. Như vậy, các TCTD sẽ không còn được chủ động trong việc trích lập dự phòng đối với các khoản nợ đã bán cho VAMC, trong khi số nợ bán cho VAMC càng nhiều đồng nghĩa với số tiền trích lập dự phòng càng lớn, chi phí tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các TCTD. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

2.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, với nguồn lực hạn chế về con người và mạng lưới hoạt động, trong khi số lượng khoản nợ VAMC đã mua rất lớn (gần 26.000 khoản), TSBĐ của các khoản nợ xấu đa dạng, phân tán tại nhiều nơi nên VAMC chưa thể trực tiếp quản lý để nắm bắt được đầy đủ thực trạng các khoản nợ mua từ TCTD, việc tổ chức thực hiện xử lý tài sản để thu hồi nợ chưa đạt hiệu quả cao. – Nguồn lực của VAMC còn hạn chế và chưa phù hợp với yêu cầu xử lý nợ theo chức năng, nhiệm vụ của VAMC, đặc biệt trong công tác mua nợ theo GTTT. Việc xử lý nợ xấu của VAMC không thể triệt để và hiệu quả nếu không có dòng tiền thực sự để hỗ trợ các TCTD, khách hàng (theo lộ trình tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2019, đến năm 2022, VAMC được tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn mua nợ xấu theo GTTT, bổ sung cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và nâng cao năng lực tài chính, uy tín thị trường nhằm triển khai việc mua bán nợ xấu theo GTTT có hiệu quả. Tuy nhiên đến ngày 27/11/2021, VAMC mới được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng theo Quyết định số 1699/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.). Trong khi tới 31/12/2021, doanh số mua nợ theo GTTT của VAMC đã đạt 8.207 tỷ đồng và mục tiêu đề ra đối với hoạt động của VAMC là mua nhanh và xử lý dứt điểm nợ xấu. Mặt khác, trong các hình thức giao dịch nợ thì hình thức giao dịch nợ theo thuế GTGT được coi là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất để VAMC hoàn thành công tác thu hồi nợ. Theo đó, vốn cổ phần của VAMC không phản ánh khối lượng và khả năng VAMC tiếp tục mua trái phiếu thị trường sau đó. Vì vậy, vấn đề vốn hiện đang là một trong những vấn đề cấp bách nhất đối với VAMC. Do hoạt động mua trái phiếu theo GTTT mới được VAMC tiến hành nên chưa chuyên môn hóa cao, khả năng tiếp cận và kết nối với các nhà đầu tư tiềm năng còn hạn chế.

Thứ hai, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của mình. VAMC hiện đang hoàn thiện phương án và thành lập ban quản lý rủi ro để thực hiện hoạt động này. Quyết định số 28/QĐ-NHNN ngày 05/01/2020 nêu rõ việc đánh giá rủi ro trong hoạt động của VAMC, cảnh báo và quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động mua, bán, xử lý nghĩa vụ mua hàng theo GTTT và các hoạt động khác của VAMC. Đề xuất các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo hoạt động của VAMC trong giới hạn an toàn. Rà soát, đề xuất việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của VAMC. Tuy nhiên, cần đề cao vai trò quản trị rủi ro và thận trọng trong hoạt động mua bán nợ theo giá trị thị trường trong hoạt động thanh toán.

Thứ ba, hệ thống dữ liệu của VAMC không liên kết, hiện đại và dễ sử dụng. Ngoài thông tin cập nhật về khoản nợ khi mua nợ, VAMC còn liên hệ trực tiếp với hệ thống của tổ chức cho vay để cập nhật thường xuyên và cập nhật độ mới của khoản nợ, đặc biệt đối với các lượt tìm kiếm, thu nhập và tỷ lệ mua nợ. Để hoạt động hiệu quả, VAMC phải có khả năng phân loại nợ và đánh giá khả năng thu hồi. Việc thiếu thông tin đã hạn chế một phần khả năng mua bán, xử lý nợ theo GTTT.

2.3.3.2. Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Thứ nhất, pháp lý về hoạt động mua, bán, xử lý nợ xấu chưa được Luật hóa, còn đang trong giai đoạn thí điểm. Các quy định liên quan còn rải rác tại nhiều văn bản và thực sự chưa có sự đồng bộ, còn nhiều hạn chế và chưa thực sự phù hợp thực tế.

Khung pháp lý cho hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu tại Việt Nam đã hình thành và cơ bản đáp ứng được thực tiễn mua bán, xử lý nợ xấu cho VAMC. Tuy nhiên, hoạt động mua bán, xử lý nợ xấu hiện nay của VAMC đang được điều chỉnh bởi rất nhiều các quy định pháp luật khác nhau, ngoài Nghị quyết số 42/2019/QH14, khi áp dụng xử lý đối với từng biện pháp VAMC còn phải căn cứ vào các quy định khác của pháp luật như Luật đấu giá, Luật giá, Luật Đất đai 2015.  Nghị quyết số 42/2019/QH14 ra đời đã tháo gỡ căn bản nhiều vướng mắc pháp luật liên quan đến hoạt động xử lý nợ xấu, tuy nhiên Nghị quyết này chỉ mang tính chất thí điểm và có thời hạn áp dụng trong vòng 05 năm kể từ năm 2019, vừa qua đã được gia hạn hiệu lực đến 31/12/2025. Do đó, nếu quy định pháp luật không có sự thay đổi thì các biện pháp xử lý nợ xấu được đánh giá là tích cực trong thời gian qua chỉ mang tính chất tạm thời và sẽ kết thúc khi hết thời hạn áp dụng của Nghị quyết 42.

Thứ hai, về việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp theo Điều 8 Nghị quyết 42: Nghị quyết 42 cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến TSBĐ của khoản nợ xấu của TCTD/VAMC tại Tòa án. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 3 Điều 317 và Khoản 4 Điều 323 Bộ luật tố tụng dân sự 2017, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình tiết mới mà các bên đương sự không thống nhất làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án phải ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Đối với các trường hợp khách hàng không hợp tác, chống đối, rất dễ dẫn đến trường hợp khách hàng/ bên đảm bảo/ chủ tài sản và các bên liên quan không thể thống nhất được nhằm kéo dài thời gian giải quyết vụ việc và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho TCTD/VAMC. Vì vậy, nếu không có hướng dẫn cụ thể đối với các quy định nêu trên, việc áp dụng các thủ tục rút gọn được quy định tại Nghị quyết 42/2019/QH14 có thể khó thực hiện trong quá trình triển khai thực tế.

Thứ ba, về hướng dẫn hồ sơ khi thực hiện đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sử hữu tài sản gắn liền với đất hiện được thực hiện theo quy định tại khoản 8 Điều 7 Thông tư số 33/2019/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tuy nhiên thành phần hồ sơ không có biên bản thu giữ TSBĐ như quy định tại khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 42 nên một số Văn phòng đăng ký đất đai từ chối việc đăng ký biến động cho người mua tài sản là khoản nợ xấu thu giữ theo Nghị quyết 42.

Nghiệp vụ định giá nợ xấu (đặc biệt liên quan đến doanh nghiệp nhà nước) phức tạp và chưa có cơ chế xử lý phần chênh lệch (giữa giá mua và giá bán theo thị trường). Các quy định pháp lý chưa rõ ràng để bảo vệ cán bộ VAMC cũng như cán bộ của tổ chức định giá khi xử lý nợ xấu theo GTTT bị lỗ do nguyên nhân khách Việc xác định giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá, định giá khoản nợ để xử lý còn gặp nhiều khó khăn.

Chính sách thuế chưa hỗ trợ tích cực cho quá trình xử lý TSBĐ thu nợ xấu; Chưa có chính sách khuyến khích khách hàng vay/bên bảo đảm tự nguyện bàn giao tài sản cho VAMC/TCTD để xử lý thu hồi nợ.

Công tác khởi kiện, thi hành án của VAMC còn gặp khó khăn, vướng mắc. Công tác cưỡng chế, phối kết hợp của các bên liên quan (tòa án, thi hành án, công an, chính quyền địa phương…) còn nhiều hạn chế.

Về cơ bản các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thi hành Nghị quyết 42 theo thẩm quyền. Tuy nhiên, một số Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự quan tâm phối hợp trong quá trình xử lý nợ xấu, đặc biệt là thu giữ TSBĐ vì cho rằng việc xử lý nợ xấu là lĩnh vực riêng của ngành ngân hàng. Thực tế, việc hỗ trợ của chính quyền địa phương trong quá trình thu giữ TSBĐ còn hạn chế, mới chỉ tham gia vào quá trình chứng kiến và ký tên vào biên bản làm việc hoặc công an xã chỉ tham gia vào quá trình bảo đảm an ninh trật tự và an toàn trong quá trình thu giữ, không thực hiện cưỡng chế khi khách hàng chống đối. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

Cơ chế, hành lang pháp lý đối với việc bán nợ xấu của VAMC chưa hoàn thiện, nhất là trường hợp có sự tham gia đầu tư mua nợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng làm ảnh hưởng đến khả năng xử lý nợ theo phương thức dứt điểm của VAMC

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam đã hình thành và phát triển đến nay đã được 9 năm, VAMC đã đóng vai trò quan trọng trong việc mua bán, xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Hoạt động mua nợ của VAMC đã góp phần đáng kể vào việc giữ tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống TCTD dưới 3% trong giai đoạn 2017 đến nay. Xử lý nợ xấu của VAMC đã đạt được những kết quả tích cực, nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết 42. Giải pháp của VAMC là phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay, bởi phương thức xử lý nợ xấu của VAMC không phải là mua nợ mà là làm sạch bảng cân đối kế toán. Ngoài việc khuyến khích các tổ chức tín dụng tiếp tục cho vay, VAMC còn trực tiếp cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi vay, để doanh nghiệp tái sản xuất, kinh doanh. So với tình hình nợ xấu hiện nay, việc thực hiện mua nợ xấu còn chậm, thực hiện bán nợ và tài sản bảo đảm còn khiêm tốn, chưa bán được nợ và tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài. của các Bộ, Ban, Ngành, Ngân hàng nhà nước. Luận văn: Thực trạng xử lý nợ xấu tại công ty Quản lý tài sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp xử lý nợ xấu tại công ty Quản ly tài sản

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537