Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt:
Bài nghiên cứu nghiên cứu mối quan hệ giữa 8 nhân tố đặc thù của công ty đối với khả năng sinh lời của các công ty kinh doanh bất động sản Việt Nam. Dữ liệu sử dụng 24 công ty bất động sản niêm yết trên HOSE từ năm 2013 đến năm 2024. Nghiên cứu sử dụng nhiều mô hình hồi quy tuyến tính, cụ thể là bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), hiệu ứng cố định (FEM) và hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) để kiểm tra các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Có 8 nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của công ty bao gồm: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, đầu tư tài sản cố định, vòng quay tài sản, tỷ lệ thanh toán hiện hành, tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát. Kết quả nghiên cứu mô hình FGLS cho thấy các nhân tố ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của các công ty BĐS tại Việt Nam là quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, đầu tư tài sản cố định, hệ số vòng quay tài sản, tỷ lệ lạm phát. Trong khi đó, biến tỷ số thanh toán hiện hành và tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có tác động ngược chiều.
Từ khóa: Khả năng sinh lời, công ty bất động sản, lợi nhuận trên tổng tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
ABSTRACT
Title: Factors Aecting the Profitability of Vietnam Real Estate Publicly-listed Companies on HOSE
Abstract: Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
The research studies the relationship between eight firm-specific factors on the profitability of real estate Vietnam companies. The data uses twenty-four real estate companies listed on Ho Chi Minh Stock Exchange for the period of 2013 to 2024. The study utilized multiple linear panel regression models, namely, ordinary least squares (OLS), fixed effects (FEM) and random effects (REM) in examining the effect on the return on asset of firm-specific factors, which include: size of the company, financial leverage, fixed asset investment, asset turnover ratio, current ratio, sales growth, GDP and inflation rate. The results of the FGLS model study show that the factors that positively affect the profitability of real estate companies in Vietnam are company size, financial leverage, fixed asset investment, asset turnover ratio, inflation rate. Meanwhile, variable current ratio, economic growth rate has the negative.
Keywords: Profitability, Real estate, Return on asset, Return on equity.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hội nhập, Việt Nam đang từng bước vươn lên để hòa nhập cùng với nền kinh tế thế giới, việc nâng cao khả năng sinh lời đối với mỗi công ty lại càng quan trọng hơn vì nó không chỉ ảnh hưởng đến sự sống còn của các công ty mà còn ảnh hưởng đến triển vọng phát triển của nền kinh tế đất nước. Vì thế, khả năng sinh lời được coi là một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một công ty.
Một nghiên cứu gần đây của Hiệp hội Bất động sản Việt Nam đả chỉ ra rằng, thị trường bất động sản đóng góp khoảng 14% vào GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2021 – 2023 và thị trường này có khả năng lan tỏa đến trên 40 ngành quan trọng khác của nền kinh tế và trở thành nhịp cầu nối cho các thị trường khác từ đó giúp góp phần phát triển đồng bộ các loại thị trường. Khi thị trường bất động sản phát triển sẽ giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, thúc đẩy các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, nội thất, kiến trúc, các đơn vị thi công xây dựng phát triển; thị trường này phát triển còn mở rộng thị phần cho vay của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và giúp quay nhanh vòng vốn cho vay, tạo ra lợi nhuận lớn để tái đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh; công ty bất động sản có lãi sẽ giúp Nhà nước tăng thêm nguồn vốn vào ngân sách thông qua việc điều tiết thu thuế…
Hơn nữa, thị trường bất động sản Việt Nam nói chung và công ty bất động sản nói riêng mặc dù đã có nhiều đóng góp đáng ghi nhận cho việc giúp kinh tế đất nước ngày càng tăng trưởng phát triển, tuy nhiên từ năm 2014 tới nay đã trải qua nhiều khó khăn, thách thức, khá trầm lắng, thanh khoản kém, cũng như đưa ra các biện pháp kiểm soát chặt hơn đối với dòng vốn tín dụng chảy vào thị trường bất động sản. Đặc biệt, với tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn ra phức tạp, khó lường nguồn lực tài chính ở cả trong nước và ngoài nước càng bị siết chặt gây tác động đáng kể tới hoạt động kinh doanh của các công ty bất động sản. Tuy nhiên, do lĩnh vực này có lợi nhuận tương đối cao, đóng vai trò đầu kéo trong nền kinh tế đã thu hút và khuyến khích các công ty tăng cường mở rộng quy mô hoạt động cũng như tăng cường kinh doanh từ đó đã tạo ra “cơn sốt ảo” đối với thị trường bất động sản và hiện tượng “bong bóng” bất động sản xuất hiện là điều khó có thể tránh khỏi.
Khả năng sinh lời là thước hiệu quả của công ty, đóng vai trò quan trọng và là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi công ty vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, công ty có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định chính là khả năng sinh lời của công ty. “Bên cạnh đó, trong giai đoạn từ 2014 – 2017, thị trường bất động sản hoạt động khá trầm lắng, chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh lời của các công ty ngành xây dựng trong giai đoạn này” (Linh, 2022). Các chính sách của Chính phủ để kiềm chế lạm phát, giảm đầu tư công, các chính sách tiền tệ, hạn chế cho vay phi sản xuất… khiến các công ty bất động sản gặp không ít khó khăn, thách thức. Thách thức lớn nhất là sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường với các đối thủ mạnh hơn về vốn, công nghệ và cách thức quản lý. Từ thực tế đó, việc phân tích “Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty bất động sản niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh” là vấn đề cần được quan tâm trong bối cảnh hiện nay.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các nhân tố đến các công ty BĐS tại Việt Nam. Thông qua kết quả nghiên cứu, đưa ra đề xuất những hàm ý chính sách cho các công ty BĐS Việt Nam.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Thứ nhất, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các công ty BĐS tại Việt Nam.
- Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến KNSL của các công ty BĐS tại Việt Nam.
- Thứ ba, đề xuất các hàm ý chính sách cho các công ty BĐS Việt Nam nhằm duy trì sự ổn định và nâng cao KNSL trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến KNSL của các công ty BĐS tại Việt Nam?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến KNSL của các công ty BĐS tại Việt Nam như thế nào?
- Thứ ba, các hàm ý chính sách nào được đề xuất cho các công ty BĐS tại Việt Nam duy trì sự ổn định và nâng cao KNSL trong tương lai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các công ty BĐS tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Luận văn sẽ sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ BCTC của 24 công tyBDS niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh.
- Thời gian: từ năm 2013 đến năm 2024
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 công ty BĐS niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2014 – 2024 sau đó phân tích hồi quy đa biến trên cơ sở dữ liệu bảng cân đối để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đến KNSL của các công ty BĐS Việt Nam. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Dữ liệu bảng được sử dụng để tiến hành hồi quy, mô hình bình phương bé nhất Pooled OLS sẻ được đưa vào ước lượng hồi quy các biến trong mô hình trước, sau đó tiền hành kiểm tra các khuyết tật của mô hình để xem có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan hay không. Nếu xảy ra khuyết tật của mô hình, mô hình tác động cố định FEM (Fix Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) sẻ được hồi quy tiếp theo. Sau đó tiến hành các kiểm định khác nhau để lựa chọn mô hình phù hợp nhất trong các mô hình Poolde OLS, FEM, REM thông qua kiểm định lần lượt các kiểm định: Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM hay REM. Breusch-Pagan lagrangian để lựa chọn giữa mô hình hồi quy Pooled OLS và REM, kiểm định F-test để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và mô hình FEM.
Ngoài ra, tác giả sẽ thực hiện kiểm định về các giả định hồi quy của mô để đảm bảo kết quả hồi quy có ý nghĩa các hệ số ước lượng thu được bằng phương pháp hồi quy có ước lượng hiệu quả có tính đại diện cho tổng thể nghiên cứu. Khi mô hình xảy ra các khuyết điểm trên thì phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares – FGLS) được nghiên cứu đưa vào sử dụng để khắc phục các vi phạm này để đưa ra kết quả hồi quy.
Ngoài ra, trong bài nghiên cứu tác giả cũng có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính:
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các lý thuyết có liên quan đến KNSL và các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của các công ty cũng như các chỉ tiêu đo lường cho các nhân tố và KNSL. Đồng thời, xác định các khoảng trống của đề tài nghiên cứu và xây dựng mô hình phù hợp.
1.6. Đóng góp của đề tài
Đóng góp về mặt lý thuyết: Nghiên cứu này giúp hệ thống hóa khung lý thuyết liên quan tới KNSL. Ngoài ra, nghiên cứu mang tính cập nhật về các khoảng trống của các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về số liệu hoặc nghiên cứu đầy đủ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL tại các công ty. Mặt khác, kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo có cùng lĩnh vực mở rộng hướng tiếp cận sâu hơn.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL tại công ty BĐS Việt Nam dựa trên số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2013 – 2024. Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm đó tác giả sẽ dựa trên mức độ, chiều ảnh hưởng của các nhân tố để đưa ra các hàm ý chính sách và khuyến nghị cho các nhà quản trị công ty BĐS Việt Nam nhằm có chiến lược hợp lý để duy trì và nâng cao KNSL.
1.7. Kết cấu luận văn Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu luận văn gồm:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược nghiên cứu
- Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này luận văn đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu đề ra. Nhằm giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn cũng đã xác định đối tượng cũng như phạm vi nghiên cứu cần giải quyết và các phương pháp dự kiến để giải quyết các vấn đề. Đồng thời, chương này cũng trình bày một số đóng góp của luận văn và kết cấu dự kiến của các chương.
Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây sẽ được nghiên cứu ở chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Khả năng sinh lời và chỉ tiêu đo lường trong công ty
2.1.1. Khái niệm khả năng sinh lời
Theo nguyên tắc kế toán doanh thu điều 78 thông tư 200 “doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của công ty ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông. Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi thu được lợi ích về mặt kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền. Doanh thu của các công ty bất động sản phần lớn đến từ chuyển nhượng bất động sản, bán hàng và hoạt động khác như cho thuê bất động sản đầu tư, dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí, y tế và giáo dục” (Điều 78 thông tư 200). Doanh thu của các công ty BĐS phần lớn đến từ chuyển nhượng bất động sản, bán hàng và hoạt động khác như cho thuê bất động sản đầu tư, dịch vụ khách sạn, du lịch, vui chơi giải trí, y tế và giáo dục. Doanh thu bán bất động sản của công ty là chủ đầu tư phải thực hiện theo nguyên tắc: (1) đối với các công trình, hạng mục công trình mà công ty là chủ đầu tư (kể cả các công trình, hạng mục công trình công ty vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi công), công ty không được ghi nhận doanh thu bán bất động sản theo Chuẩn mực kế toán Hợp đồng xây dựng và không được ghi nhận doanh thu đối với số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ. (2) Đối với các công trình, hạng mục công trình mà công ty là chủ đầu tư (kể cả các công trình, hạng mục công trình công ty vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi công), trường hợp khách hàng có quyền hoàn thiện nội thất của bất động sản và công ty thực hiện việc hoàn thiện nội thất của bất động sản theo đúng thiết kế, mẫu mã, yêu cầu của khách hàng thì công ty được ghi nhận doanh thu khi hoàn thành, bàn giao phần xây thô cho khách hàng. Trường hợp này, công ty phải có hợp đồng hoàn thiện nội thất bất động sản riêng với khách hàng, trong đó quy định rõ yêu cầu của khách hàng về thiết kế, kỹ thuật, mẫu mã, hình thức hoàn thiện nội thất bất động sản và biên bản bàn giao phần xây thô cho khách hàng. (3) Đối với bất động sản phân lô bán nền, nếu đã chuyển giao nền đất cho khách hàng (không phụ thuộc đã làm xong thủ tục pháp lý về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa) và hợp đồng không hủy ngang, chủ đầu tư được ghi nhận doanh thu đối với nền đất đã bán.
Tổng tài sản của công ty là toàn bộ giá trị tài sản hiện có thuộc quyền sở hữu, quản lý của công ty. Đây cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để so sánh quy mô giữa các công ty. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Khả năng sinh lời hay còn được gọi tỷ suất lợi nhuận là một phạm trù kinh tế chỉ ra khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của công ty. “Khả năng đạt được lợi nhuận có thể được gọi là khả năng sinh lời của công ty. Khả năng sinh lời của một công ty là kết quả so sánh hiệu quả được cụ thể hóa trong doanh thu, cùng với sự nỗ lực, được phản ánh thông qua chi phí” (Andreica và Alexa, 2014). “Lợi nhuận được xác định bằng cách trừ đi chi phí ra khỏi doanh thu. Lợi nhuận có thể trở thành thước đo tốt về hiệu quả của công ty, vì thế sử dụng khả năng sinh lời như một thước đo hiệu quả tài chính của công ty, cũng như khả năng sinh lời là lời hứa duy trì hoạt động liên tục trong tương lai” (Agha, 2016). Theo Shosha (2016) lợi nhuận có một vai trò to lớn đối với sự sống còn của một công ty trong một môi trường cạnh tranh. “Đạt được lợi nhuận là ý tưởng chính của tất cả các công ty. Đo lường khả năng sinh lời trong quá khứ và hiện tại là rất quan trọng. Đồng thời việc dự đoán khả năng sinh lời trong tương lai cũng là việc thiết yếu đối với sự tồn tại của công ty”. Hay Velmathi (2017) cho rằng KNSL là một dấu hiệu thể hiện rằng công ty đã đạt được một mức độ thu nhập nhất định. “Khả năng sinh lời là khả năng tạo được lợi nhuận và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự tồn tại của công ty”.
Tóm lại, “khả năng sinh lời là một phạm trù kinh tế thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận và phản ánh hiệu quả của công ty. Tỷ suất này như là một thước đo hiệu quả hoạt động của công ty là lời hứa duy trì hoạt động liên tục trong tương lai và là một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự tồn tại của công ty” (Diaz, 2019).
2.1.2. Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời trong công ty
Để đánh giá khả năng sinh lời của công ty thì các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận thường được sử dụng, vì nó đo lường mức độ hiệu quả của hoạt động công ty, xác định công ty có hoạt động hiệu quả hay không và thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà kinh doanh trong việc sử dụng các nhân tố đó.
Theo Lesakova (2009) khả năng sinh lời là biểu thị chỉ số về sức khỏe tài chính của công ty. “Khả năng sinh lời thường được đo lường thông qua biến số tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROA và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE”. Có một số nghiên cứu chỉ sử dụng ROA để đo lường khả năng sinh lời của công ty như nghiên cứu của Tailab (2016), Lee (2016), Odusanya và cộng sự (2020), Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2022). “Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản là chỉ số đo lường mức sinh lợi của một công ty so với chính tài sản của nó. Chỉ tiêu ROA cho biết công ty có quá trình tổ chức và quản ý hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có hiệu quả hay không. Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, phán ánh hiệu quả sử dụng tài sản”. Bên cạnh đó, ROE cũng là chỉ tiêu đo lường phổ biến được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của công ty Andersson và Minnema (2020), Fatimah và Prakoso (2021). Khác với ROA, ROE phản ánh khả năng sử dụng đồng vốn của công ty để đem lại lợi nhuận cho công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập, giúp phản ánh năng lực tạo sản phẩm có chi phí thấp hoặc giá bán cao của công ty. Việc xem xét chỉ tiêu này là vô cùng quan trọng và giúp cho ban lãnh đạo công ty xác định được mục tiêu kinh doanh của đơn vị là tối đa hóa quy mô của công ty.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản là thước đo đo lường lợi nhuận thu được trên mỗi đồng tài sản của công ty. Tỷ suất này được tính bằng tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản. Tỷ suất này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tùy thuộc vào mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh, sẽ có ngành tỷ suất này sẽ rất cao (ăn uống, dịch vụ, du lịch, …). Ngược lại có một số ngành tỷ suất này sẽ khá thấp (kinh doanh vàng bạc, kinh doanh ngoại tệ, gia công, …)
- Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên = X 100 % tổng tài sản (ROA) Tổng tài sản
ROA là một trong những nhân tố quan trọng, giúp các nhà quản trị công ty đầu tư theo chiều rộng như mua sắm trang thiết bị, xây dựng nhà xưởng, mở rộng thị phần, …điều đó càng quan trọng hơn đối với các công ty BĐS. Để có được những khối BĐS lớn, giá trị cao như cao ốc, chung cư cao cấp, căn hộ dịch vụ, nhà đất, …thì công ty cần khối tài sản lớn để xây dựng, sửa chửa. Vì vậy chỉ số ROA có tác động rất lớn đến việc đánh giá xem tài sản đó có được công ty sử dụng hiệu quả hay chưa.
Theo tiêu chuẩn quốc tế chỉ số ROA của một công ty có đủ năng lực tài chính phải lớn hơn 7.5%. Tuy nhiên không có con số tuyệt đối ROA bao nhiêu là tốt. Các công ty cũng cần xem xét chỉ số này trong nhiều năm, tốt nhất là 3 năm trở lên để có thể đưa ra các đánh giá khả quan. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Nếu một doanh nghiệp có thể duy trì được ROA lớn hơn hoặc bằng 10% ít nhất trong 3 năm thì được đánh giá là hiệu quả kinh doanh tốt. Doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả khi ROA có xu hướng tăng lên.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thiết kế để đo lường KNSL trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu. Tỷ suất này được xác định bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ. “Chỉ số ROE thể hiện mức độ hiệu quả khi sử dụng vốn của các công ty, hay nói cách khác việc một đồng vốn công ty bỏ ra sẽ đem lại được bao nhiêu đồng lời” (Diaz, 2019). Tỷ suất này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty trong kỳ, quy mô và mức độ rủi ro của công ty.
- Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên
- = X 100 %
- vốn chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất này càng cao càng chứng tỏ công ty này sử dụng đồng vốn có hiệu quả, khả năng thu hồi vốn của các cổ đông cao. Tỷ suất này suy giảm là một bằng chứng cho thấy việc đầu tư của công ty không mang lại hiệu quả so với thời gian trước đây. Chỉ số ROE của một công ty là nên đánh giá theo khoảng thời gian, ít nhất là ba năm. Công ty có ROE>20% thì được xem là có sức cạnh tranh tốt.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
2.2.1. Nhóm nhân tố bên ngoài công ty
2.2.1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Khi kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao sẽ làm cho các công ty có điều kiện mở rộng sản xuất, mở rộng quy mô, thị phần và gia tăng lợi nhuận. Từ đó khả năng sinh lời của công ty cũng tăng lên.
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế là tiền đề giúp mỗi quốc gia giảm bớt được trình trạng đói nghèo, khắc phục lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng. Nhờ vậy, mức sống của người dân sẽ được cải thiện, người dân có mức thu nhập tốt hơn, dẫn đến nhu cầu mua sắm của người dân cũng tăng theo và đẩy mạnh kích cầu thị trường từ đó giúp các công ty gia tăng thêm lợi nhuận.
2.2.1.2. Tỷ lệ lạm phát
“Lạm phát cao làm cho giá nguyên liệu đầu vào tăng và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự bất ổn định của quá trình sản xuất. Nếu một công ty nào đó có khả năng sinh lời thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản. Vì vậy, lạm phát ảnh hưởng xấu đến sản xuất” (Odusanya, 2020); (Vătavu, 2016).
Tuy nhiên, lạm phát vừa phải tức là từ dưới 10% sẽ mang lại một số lợi ích cho nền kinh tế, chẳng hạn như: kích thích tiêu dùng, đầu tư vốn cũng như giảm tình trạng thất nghiệp trong xã hội. Lúc này giá hàng hóa sẽ tăng nhanh hơn so với chi phí sản xuất đầu vào từ đó tăng kỳ vọng lợi nhuận của công ty.
2.2.2. Nhóm nhân tố bên trong công ty Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
2.2.2.1. Quy mô công ty
Quy mô công ty được chia ra thành công ty nhỏ, công ty vừa và công ty lớn và có thể được đo lường dựa trên tổng tài sản, doanh thu hoặc tổng số lượng nhân viên. Tuy nhiên, trong bài luận văn này tác giả sử dụng thước đo tổng tài sản để đánh giá quy mô của các công ty BĐS.
- SIZE = logarit (tổng tài sản)
“Trong thị trường tập trung, công ty có quy mô lớn sẽ có lợi thế về vốn, nhà xưởng, kho bãi và có nhiều cơ hội sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn” (Alarussi, 2020). Hay nói cách khác, quy mô công ty càng lớn thì sẽ thuận lợi hơn trong việc bành trướng thị phần, giành được sự ảnh hưởng nhiều hơn đến các đối tượng khách hàng và đẩy nhanh tiêu thụ.
Tuy nhiên, những công ty với quy mô nhỏ giúp cho nhà quản trị dễ dàng hơn trong việc quản lý nguồn vốn, nguồn nhân lực. Từ đó, công ty có quy mô nhỏ sẽ giúp tiết kiệm được nhiều chi phí hơn và sẽ quản lý đơn giản hơn.
Do đặc trưng là ngành BĐS nên quy mô của công ty có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả bán hàng của công ty. Các công ty có quy mô càng lớn thì khả năng sinh lời càng cao. Tuy nhiên, khi việc gia tăng sản lượng vượt quá cầu thị trường thì việc công ty có tiếp tục mở rộng quy mô thì lợi nhuận cũng không tăng thêm.
2.2.2.2. Đòn bẩy tài chính
Đòn bầy tài chính là sự đánh giá chính sách vay nợ được sử dụng trong việc điều hành công ty. Khi đòn bẩy tài chính cao, một sự thay đổi nhỏ trong lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng có thể làm thay đổi với một tỷ lệ cao hơn về lợi nhuận đã loại trừ thuế và lãi vay so với vốn chủ sở hữu.
Sivathaasan và cộng sự (2015) “cấu trúc vốn đóng vai trò quan trọng cũng như quyết định đối với việc thực hiện hoạt động kinh doanh của công ty. Đòn bẩy tài chính là một trong những công cụ tuyệt vời giúp công ty có thể tăng cao lợi nhuận kiếm được từ các khoản đầu tư”. Việc đi vay giúp công ty bù đắp được nguồn vốn bị thiếu hụt để duy trì hoạt động kinh doanh, giúp công ty tiếp cận với những cơ hội phát triển tốt. Các khoản vay cũng như phần tiền lãi vay của công ty sẽ được tính vào chi phí. Lúc này, nó sẽ được khấu trừ vào phần thu nhập phải chịu thuế khi quyết toán. Nhờ vậy công ty sẽ phải nộp ít thuế hơn mà vẫn gia tăng được lợi nhuận. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Theo lý thuyết trật tự cấu trúc vốn (Myers và Majluf, 1984), đòn bẩy và lợi nhuận có tác động ngược chiều, lợi nhuận càng cao, rủi ro càng nhiều. Tuy nhiên, tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro của các nhà quản trị lựa chọn giữa lợi ích từ lá chắn thuế với nguy cơ suy kiệt tài chính để có thể thiết lập một cấu trúc vốn cho công ty thích hợp.
Trên thực tế, hầu hết các công ty kinh doanh bất động sản hàng đầu Việt Nam đều sử dụng nguồn vốn vay, nói cách khác, các công ty này đều đang sử dụng đòn bẩy tài chính.
- Tổng nợ phải trả
- LEV = Tổng tài sản
2.2.2.3. Đầu tư tài sản cố định Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Tailab (2016) chỉ ra rằng “khi các công ty đầu tư TSCĐ thì sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi cho việc sản xuất cũng như phục vụ cho các công tác quản lý hoạt động kinh doanh của công ty trở nên thuận lợi hơn, từ đó tạo ra nền tảng để phát triển lợi nhuận của công ty. Việc đầu tư vào TSCĐ (trang bị mới tài sản cố định, nâng cao kỹ thuật công nghệ…) cũng có thể làm gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nếu tài sản cố định được các doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu quả” (Tailab, 2016).
- Tài sản cố định TANG = Tổng tài sản
Do đó, đầu tư nhiều cho tài sản cố định có thể tốt trong dài hạn nhưng trong ngắn hạn việc đầu tư tài sản cố định thường ảnh hưởng đến KNSL do tốn kém nhiều chi phí.
2.2.2.4. Vòng quay tài sản
“Vòng quay tài sản được xem là hiệu quả hoạt động của công ty, hay có thể xem là khả năng tuần hoàn vốn của công ty và là một trong những nhân tố quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của công ty. Mặt khác, chỉ tiêu này còn phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ tài sản của công ty” (Alarussi, 2020). Vòng quay tổng tài sản cho biết một đồng tài sản tham gia vào quá trình vận hành của công ty sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Đa số các công ty đều cố gắng cải thiện chỉ số này liên tục qua các chu kỳ kinh doanh, vì chỉ số này càng cao cho thấy việc đầu tư tài sản vào hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả. Vì vậy, chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
- Doanh thu thuần AT = Tổng tài sản
2.2.2.5. Mức tăng trưởng của công ty Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
“Một công ty được cho là phát triển khi mức tăng trưởng của công ty tăng dần thông qua sự tăng lên về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, tài sản của công ty cũng như lợi nhuận mà công ty đạt được. Công ty nắm càng nhiều tài sản, có nhiều lợi nhuận và doanh thu lớn hơn có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận hơn” (Agiomirgianakis, 2008); (Yazdanfar, 2015).
Mức tăng trưởng của công ty là một số liệu quan trọng giúp các công ty đưa ra các quyết định. Nếu tỷ lệ này giảm so với các chu kỳ trước, đó có thể cho thấy đội ngũ bán hàng cần có cách tiếp cận khác để thúc đẩy doanh thu. Ngược lại, khi tỷ lệ này tăng cao thường được coi là một dấu hiệu tốt cho công ty.
- Doanh thu năm 1 – doanh thu năm 0
- GROW = Doanh thu năm 0
2.2.2.6. Khả năng thanh toán hiện thời
Khả năng thanh toán hiện thời chính là chỉ số tài chính được sử dụng để làm thước đo phản ánh khả năng chi trả hay chính xác hơn là tiềm lực tài chính của công ty. Đây là chỉ tiêu xem xét tài sản của công ty có đủ trang trải các khoản nợ phải trả trong ngắn hạn. Tỷ suất này thể hiện mối quan hệ tương đối giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn. Tỷ suất này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của công ty có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể sử dụng để thanh toán.
Một công ty có chỉ số thanh toán nhanh thấp, điều đó cho thấy công ty gặp vấn đề về tài chính và gặp nhiều rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán trong tương lai.
Về lâu dài, việc công ty không thể trả được các khoản nợ, có thể dẫn đến việc phá sản. Nếu khả năng thanh toán hiện thời cao, chứng tỏ công ty có năng lực tài chính tốt, đảm bảo khả năng chi trả tốt các khoản nợ của công ty.
- Tài sản ngắn hạn
- CR = Nợ ngắn hạn
2.3. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
2.3.1. Nghiên cứu nước ngoài
“Trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tất cả các công ty sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Colombia, Sri Lanka giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014. Tác giả xem xét tác động của các nhân tố quy mô, tốc độ tăng trưởng, cấu trúc vốn và cả cấu trúc tài sản đến khả năng sinh lời của các công ty. ROA và ROE là hai biến đại diện đo lường cho khả năng sinh lời của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến độc lập có thể giải thích được 76,6% và 84,7% cho mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự tăng trưởng ROA và ROE của công ty. Trong đó, các biến cấu trúc tài sản, quy mô công ty và tốc độ tăng trưởng không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với ROE và ROA, chỉ có cấu trúc vốn là có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời của các công ty” (Sivathaasan, 2015).
Tailab (2016) trong nghiên cứu “ảnh hưởng của cấu trúc vốn tới lợi nhuận của các công ty năng lượng tại Mỹ, thông qua thu thập dữ liệu thứ cấp của 30 công ty niêm yết trên TTCK Mỹ và sử dụng nghiên cứu định lượng thông qua mô hình SEM kết hợp với phần mềm hệ thống SmartPLS để cho ra kết quả hồi quy”. Trong nghiên cứu này tác giả đã sử dụng chỉ tiêu ROA, ROE để đại diện cho lợi nhuận của các công ty. Bên cạnh đó, sử dụng những nhân tố nội tại của công ty như tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn, tổng các khoản nợ, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính để làm các biến độc lập. Kết quả của mô hình hồi quy cấu trúc tuyến tính SEM cho thấy nợ ngắn hạn tác động cùng chiều đến ROA và ROE. Trong khi tổng các khoản nợ và quy mô công ty lại có ảnh hưởng ngược chiều đến ROA, ROE. Luận giải cho điều này thì tác giả đã nói rằng các khoản nợ ngắn hạn giúp cho công ty xoay vòng vốn nhanh hơn tạo điều kiện để thực hiện các hoạt động kinh doanh và kích thích giải phóng hàng tồn kho. Ngược lại, tổng các khoản nợ làm cho công ty đối diện với áp lực thanh toán dù chưa hẳn sự đầu tư này đã là hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Tailab (2016) trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty phi tài chính tại Mỹ, tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 100 công ty phi tài chính Mỹ trong giai đoạn 2011 – 2015 thông qua sử dụng mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS. “Để đại diện cho lợi nhuận của các công ty tác giả đã sử dụng chỉ tiêu ROA, các biến độc lập là đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ đầu tư, số năm thành lập công ty, quy mô công ty, quy mô thị phần, tốc độ tăng trưởng bán hàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến ROA vì các công ty này nếu sử dụng nợ quá nhiều thì lại đối mặt với áp lực thanh toán nhất là các công ty ưu tiên các nguồn tài trợ ngắn hạn”. Mặt khác, các nhân tố tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ đầu tư, tăng trưởng bán hàng, quy mô thị phần và quy mô công ty lại có ảnh hưởng tích cực đến ROA. Hay nói cách khác, các nhân tố này thể hiện cho năng lực tài chính, sức mạnh thị trường của công ty và các cơ hội đầu tư đúng đắn của công ty làm cho gia tăng được ROA. Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Lee (2016) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty kinh doanh bảo hiểm tại Đài Loan, mở rộng nghiên cứu đối với các nhân tố vĩ mô nền kinh tế. Tác giả đã hồi quy đa biến GMM từ số liệu của các công ty từ năm 1999 – 2011 để đưa ra kết quả nghiên cứu. “Để đại diện cho lợi nhuận của các công ty thì tác giả đã sử dụng chỉ tiêu ROA. Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế và ROA có tác động cùng chiều. Ngược lại, rủi ro kinh doanh, chi phí đầu vào, tỷ lệ nắm giữ tài chính và đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng ngược chiều đến ROA”. Diaz và Hindro (2019) trong bài nghiên cứu về việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty kinh doanh BĐS đang niêm yết trên TTCK Indonesia, nhóm tác gải đã sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2012 – 2016 của các công ty, đồng thời sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM để khẳng định kết quả nghiên cứu. Kết quả chỉ ra rằng số ngày khoản phải thu có mối quan hệ tiêu cực với khả năng sinh lời, số ngày tồn kho có mối quan hệ tiêu cực với khả năng sinh lời nhưng không tác động đến các công ty bất động sản quy mô trung bình và nhỏ của Indonesia, nhưng ngược lại với các công ty lớn, vì công ty bất động sản lớn có nhiều tài sản thanh khoản hơn để trang trải các chi phí bảo trì liên quan đến hàng tồn kho bất động sản. “Quy mô và tăng trưởng doanh số bán hàng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận cho cả các công ty bất động sản Indonesia lớn và nhỏ” (Diaz, 2019). Bên cạnh đó, hệ số thanh toán nhanh có mối quan hệ cùng chiều ở các công ty lớn, trong khi mối quan hệ ngược chiều được lại xuất hiện ở các công ty có quy mô nhỏ với tài sản lưu động thấp hơn.
“Trong nghiên cứu mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính với lợi nhuận của các công ty tư vấn tại Thủy Điển, nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 130 công ty trong giai đoạn 2015 – 2017 với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS. Kết quả chỉ ra rằng tồn tại một mối quan hệ tuyến tính và ngược chiều giữa tổng nợ và khả năng sinh lời ROE. Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực với khả năng sinh lời, mặc dù tỷ lệ này không đáng kể. Luận giải cho kết quả này thì tác giả cho rằng tổng nợ của các công ty càng lớn thì áp lực thanh toán và chi phí lãi sẽ nhiều hơn sẽ làm lợi nhuận của công ty từ đó giảm đi” (Minnema, 2020). Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Odusanya và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên TTCK Nigeria, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp thu thập từ 14 công ty niêm yết từ năm 1998 – 2014 cùng với mô hình GMM. Với biến độc lập sử dụng đo lường khả năng sinh lời là ROA, trong đó nợ ngắn hạn, tỷ lệ lạm phát, rủi ro tài chính, lãi suất đi vay ảnh hưởng tiêu cực đến ROA.
Fatimah và Prakoso (2021) nghiên cứu “tác động của tỷ lệ thanh khoản, khả năng sinh lời và đòn bẩy tài chính đối với tình trạng kiệt quệ tài chính đối với các công ty bất động sản sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia năm 20172019”, đồng thời sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM để khẳng định kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy “không có sự ảnh hưởng của tính thanh khoản (hệ số thanh toán hiện hành) đến tình trạng kiệt quệ tài chính nhưng lại có một ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy (tổng nợ trên tổng tài sản) đến tình trạng kiệt quệ tài chính và có một ảnh hưởng tiêu cực của khả năng sinh lời (tỷ suất lợi nhuận ròng) đến tình trạng kiệt quệ tài chính”.
Putra và Sedana (2021) trong nghiên cứu xác định ảnh hưởng của khả năng sinh lời, tính thanh khoản và cấu trúc vốn tác động lên giá trị công ty trong các công ty bất động sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) trong giai đoạn 2015 – 2019, đồng thời sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM. Dựa trên kết quả thu được, khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản và cấu trúc vốn có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến giá trị công ty. Kiểm định Sobel cũng cho thấy rằng biến cấu trúc vốn có khả năng làm trung gian cho mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời đối với giá trị công ty.
2.3.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2016) trong nghiên cứu phân tích “các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam” đã chọn 58 công ty bất động sản đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội thông qua hai chỉ tiêu là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS. “Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vay, đầu tư tài sản cố định, tỷ lệ hàng tồn kho ảnh hưởng tiêu cực đến ROA, ROE. Ngược lại, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ cổ phiếu quỹ trên VCSH và thời gian hoạt động của công ty có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh”.
Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2022) trong nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của công ty với bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam đã chọn 20 công ty dầu khí đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội với 100 quan sát từ năm 2016 đến 2020. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi chịu ảnh hưởng bởi: Lãi ròng, Hệ số vòng quay tổng tài sản, Quy mô công ty, Hệ số nợ, Hệ số chi phí và được đo lường thông qua chỉ số ROA. Trong đó kết quả nghiên cứu cụ thể khi điều chỉnh theo phương pháp FGLS cho mô hình REM thì vòng quay tài sản và quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến ROA, ngược lại đòn bẩy tài chính lại có ảnh hưởng tiêu cực đến ROA của công ty.
Ngô Thị Hằng và Nguyễn Thị Thùy Linh (2022) trong nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 27 công ty BĐS niêm yết trên HOSE giai đoạn 2012- 2021, sử dụng mô hình FEM, REM. Nhóm tác giả đã sử dụng hai chỉ tiêu ROA và ROE để đo lường cho khả năng sinh lời của các công ty này. Kết quả nghiên cứu chính thức đã chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính, quy mô công ty, tuổi của công ty, quy mô hội đồng quản trị, sự đa dạng chủng tộc trong hội đồng quản trị, tỷ lệ đi vay có ảnh hưởng cùng chiều đến ROA, ROE. Ngược lại, quy mô tài sản có tác động ngược chiều đến ROA, ROE. Tuy nhiên trong nghiên cứu này có đề cập đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng kết quả không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng.
Phan Thu Hiền và Nguyễn Nhật Hà (2023) trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của các công ty ngành dệt may đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội giai đoạn 2011 – 2020. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi quy OLS, FEM, REM, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra “các nhân tố quy mô công ty, thời gian hoạt động của công ty, tăng trưởng doanh thu, khả năng thanh toán và vòng quay tổng tài sản tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của công ty. Ngược lại, đòn bẩy tài chính và mức độ tập trung thị trường lại tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời. Các nhân tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát đều không mang ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời của công ty”.
Bảng 2.1 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây: Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
| Tác giả/năm | Vấn đề nghiên cứu | Phương pháp nghiên cứu | Biến phụ thuộc | Kết quả nghiên cứu |
| Sivathaasan và cộng sự (2015) | Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tất cả các công ty sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Colombia, Sri Lanka giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, FEM, REM | ROA, ROE | Cấu trúc vốn có ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE.
|
| Tailab (2016) | Cấu trúc vốn ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp năng lượng tại Mỹ | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính SEM | ROA, ROE | Nợ ngắn hạn có ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA và ROE. Tổng các khoản nợ và quy mô doanh nghiệp lại có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA, ROE |
| Tailab (2016) | Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp phi tài chính tại Mỹ trong giai đoạn 2011 – 2015 | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS | ROA | Tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ đầu tư, tăng trưởng bán hàng, quy mô thị phần và quy mô doanh nghiệp lại có ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA. Đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA |
| Lee (2016) | Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tại Đài Loan từ năm 1999 – 2011 | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến GMM | ROA | Tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA. Đòn bẩy tài chính, rủi ro kinh doanh, chi phí đầu vào, tỷ lệ nắm giữ tài chính có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA. |
| Diaz và Hindro (2019) | Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công kinh doanh BĐS niêm yết trên TTCK Indonesia trong giai đoạn 2012 – 2016 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM | ROA, ROE | Quy mô, tăng trưởng doanh số bán hàng, hệ số thanh toán có ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE. Số ngày khoản phải, số ngày tồn kho có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA, ROE. |
| Andersson và Minnema (2020) | Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính với lợi nhuận của các doanh nghiệp tư vấn tại Thủy Điển trong giai đoạn 2015 – 2017 | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS | ROE | Tổng nợ, nợ ngắn hạn và nợ dài hạn có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA, ROE. |
| Odusanya và cộng sự (2020) | Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Nigeria từ năm 1998 – 2014 | Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến GMM | ROA | Nợ ngắn hạn, tỷ lệ lạm phát, rủi ro tài chính, lãi suất đi vay ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA. |
| Fatimah và Prakoso (2021) | Anh hưởng của tỷ lệ thanh khoản, đòn bẩy và khả năng sinh lời đối với tình trạng kiệt quệ tài chính đối với các công ty bất động sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia năm 2017- 2019 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS. | ROE | Đòn bẩy tài chính, hệ số thanh toán hiện hành ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROE. |
| Putra và Sedana (2021) | Xác định ảnh hưởng của khả năng sinh lời, tính thanh khoản và cấu trúc vốn tác động lên giá trị công ty trong các công ty bất động sản niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) trong giai đoạn 2015 – 2019 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM | ROA, ROE | Khả năng thanh khoản và cấu trúc vốn hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE. |
| Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2016) | Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS | ROA, ROE | Đòn bẩy tài chính, tỷ lệ cổ phiếu quỹ trên VCSH và thời gian hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE. Tỷ lệ vay, đầu tư tài sản cố định, tỷ lệ hàng tồn kho ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA, ROE. |
| Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2022) | Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp với bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam từ năm 2016 đến 2020 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM | ROA | Vòng quay tài sản và quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA. Đòn bẩy tài chính lại có ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA. |
| Ngô Thị Hằng và Nguyễn Thị Thùy Linh (2022) | Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty BĐS niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2012- 2021 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình FEM, REM | ROA, ROE | Đòn bẩy tài chính, quy mô doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp, quy mô hội đồng quản trị, sự đa dạng chủng tộc trong hội đồng quản trị, tỷ lệ đi vay ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE. |
| Phan Thu Hiền và Nguyễn Nhật Hà (2023) | Phân tích và đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên Thị Trường Chứng Khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 | Nghiên cứu định lượng cùng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM | ROA, ROE | Quy mô doanh nghiệp, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu, khả năng thanh toán và vòng quay tổng tài sản ảnh hưởng tích cực (+) đến ROA, ROE. Đòn bẩy tài chính và mức độ tập trung thị trường ảnh hưởng tiêu cực (-) đến ROA, ROE. |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.3.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Dựa trên việc tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến khả năng sinh lời của công ty, các nhân tố lý thuyết ảnh hưởng đến tỷ suất này và thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan thì tác giả nhận thấy các khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, tính đến hiện tại thì các nghiên cứu mà tác giả lược khảo thì thời gian thu thập số liệu thu thập vẫn chưa đến năm 2023, có nghĩa là chưa có tính cập nhật về thời gian. Do đó, tạo khoảng trống về phạm vi thời nghiên cứu.
Thứ hai, có những nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến các nhân tố thuộc vĩ mô nền kinh tế nhưng lại thu được những kết quả khác nhau hoặc thậm chí là các nghiên cứu không đề cập vai trò của các nhân tố tốc độ tăng trưởng kinh tế hay lạm phát. Tuy nhiên, trong thực tế thì các tỷ lệ này ảnh hưởng rất nhiều trong việc phát triển hoạt động kinh doanh hay nói cách khác tạo ra môi trường thuận lợi hay khó khăn cho khả năng sinh lời của công ty.
Thứ ba, đa phần các nghiên cứu có đề cập đến đòn bẩy tài chính hay cơ cấu khoản nợ ngắn hạn hay dài hạn của công ty nhưng vẫn chưa đề cập nhiều đến hệ số thanh toán nhanh hay hệ số thanh toán hiện hành của công ty. Trong khi, chỉ số này thể hiện khả năng công ty đủ trang trải các khoản nợ phải trả trong ngắn hạn. Do đó, tạo ra khoảng trống nghiên cứu mà tác giả cần bổ sung cho nghiên cứu này ứng với bối cảnh công ty BĐS Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS.
Chương 2 đã nêu lên khái niệm về khả năng sinh lời, cách thức đo lường theo tiêu chuẩn Việt Nam. Đồng thời thông qua các nghiên cứu trước đây và tổng hợp khung lý thuyết liên quan, nghiên cứu cũng đã khái quát về những nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty BĐS ở Việt Nam. Từ đó đưa ra được khoảng trống nghiên cứu cũng như là cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp được trình bày ở chương tiếp theo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Cty BĐS […]